Phan Khôi sinh tại làng Bảo An xã Điện Quang huyện Điện Bàn tỉnh
Quảng Nam; cha (Phan Trân, 1861-1934) và ông nội (Phan Văn Tự, tức Khắc Nhu) đều
đỗ đạt và làm quan; mẹ (Hoàng Thị Lệ, 1867-1893) là con gái cố tổng đốc Hà Nội
Hoàng Diệu.
Phan Khôi được học chữ Hán từ lúc 6 tuổi; ban đầu học tại nhà
do cha dạy; về sau được gửi đến học trường của thầy Trần Quý Cáp. Trong sự trù
định thông thường của cha ông, Phan Khôi sẽ phải theo con đường thi cử để đỗ đạt
rồi đi làm quan.
Người ta biết, cuối năm 1906, Phan Khôi ra Huế dự khoa thi
Thành Thái Bính Ngọ, chỉ đỗ Tú tài (theo lệ, phải đỗ Cử nhân mới có thể được
nhà nước bổ dụng). Cuối năm ấy, khi Phan Châu Trinh từ Nhật Bản về nước, đến thăm
nhàPhó bảng Phan Trân (cựu tri huyện Diên Khánh, Khánh Hòa), thì mấy ngày sau,
người con trai Phan Trân là Phan Khôi và một số nho sĩ trẻ như Mai Dị, Nguyễn
Bá Trác, Lê Dư, đã đi cùng Phan Tây Hồ tới một số cơ sở của “đảng” duy tân
trong vùng. Trong chuyến đi này, mấy nhà nho trẻ, được cụ Tây Hồ kích thích, đã
cắt tóc ngắn và trở thành thành viên chính thức của “minh xã” duy tân (1). Phan
Khôi sau đấy còn làm ra bài “Vè cúp tóc”, sẽ được coi là “có địa vị lớn trong
văn học sử và duy tân sử Việt Nam”. (2)
Công việc thông thường của Phan Khôi trong phong trào, như
sau này ông có dịp nhắc đến, là “kiếm tiền, kiếm học sinh gởi ra ngoại quốc”, (3) tức
là tham gia công việc vận động Đông du; đây là phạm vi hoạt động thuộc “minh
xã”, gắn với Phan Châu Trinh, chứ không nằm trong các hoạt động của “ám xã” vốn
gắn với Phan Bội Châu. Cũng thời gian này, tức là từ 1907, Phan Khôi theo
học chữ Pháp và chữ Quốc ngữ với ông Phan Thành Tài, là người bà con trong họ.
Đầu năm 1908, Phan Khôi ở trong số những thành viên trẻ tuổi
được phong trào duy tân Quảng Nam cử ra Hà Nội. Lúc này trường Đông Kinh nghĩa
thục vừa bị giải thể, nên một số thành viên đi Nam Định, ở lại nhà riêng cụ
Nguyễn Bá Học, được cụ dạy tiếng Pháp. Khoảng tháng 4/1908, nhóm thanh niên này
trở lên Hà Nội thì được tin Phan Châu Trinh đã bị bắt giải về Huế; liền đó,
chính họ cũng bị bắt giải về Quảng Nam vì bị cáo giác liên can trong vụ “xin
xâu” hoặc “dân biến” ở Quảng Nam đầu năm 1908. Áp dụng luật Gia Long,
Phan Khôi bị kết vào nhóm tội “mưu bạn vị hành” (có mưu phản mà chưa làm được);
trong hai hạng “vi thủ” (chủ mưu) và “vi tùng” (can dự), ông bị áp vào “vi
tùng”; ngoài ra, Phan Khôi và Mai Dị còn bị kết thêm hai tội danh phụ là “Xướng
dân quyền tự do chi thuyết, hữu khinh thê tử chi ý” (đề xướng thuyết tự do dân
quyền, xem thường trách nhiệm với vợ con) và “Âu trang nhập văn chỉ” (mặc Âu phục
vào nơi thờ tự Khổng Tử)! (4)
Phan Khôi chịu hình phạt tù giam 3 năm tại nhà lao Quảng Nam.
Đầu năm 1911, hết thời hạn tù giam, ông được thả về nhà, nhưng vẫn bị quản thúc
vô thời hạn. Ông thực hiện nghĩa vụ với gia đình là lấy vợ sinh con, đồng thời
vẫn tham gia hoạt động của “đảng” duy tân, lúc này không còn “minh xã” mà chỉ
còn “ám xã”, hoạt động bí mật, công việc vẫn chủ yếu là quyên tiền và tìm học
sinh đưa đi du học. Phần vì bị người cha can ngăn, phần vì tự thấy năng lực
mình ít tương thích với hoạt động chính trị, Phan Khôi đã dần dần đi đến quyết
định: xin ra khỏi tổ chức hội, chuyển hướng đời mình sang hoạt động học thuật,
văn hóa. Tại một cuộc họp, trước mặt một vị thủ lĩnh vùng Quảng Nam-Quảng Ngãi,
Phan Khôi đã bày tỏ ý nguyện của mình. “Được đồng ý, tôi về ở nhà vừa dạy học
trò vừa tự học”.(5)
Vậy là sau gần 10 năm tham gia phong trào duy tân, Phan Khôi
đã tự chấm dứt đoạn đời hoạt động như một chí sĩ. Trước mắt ông, con đường cử
nghiệp (đi thi, đỗ đạt, làm quan) cũng đã đóng lại. Ông mày mò tìm thầy học tiếng
Pháp, tập viết văn quốc ngữ,“dự định tương lai viết sách làm báo, phục vụ tổ quốc
về mặt văn hóa”.(6)
Mở đầu là cộng tác với tạp chí Nam phong.Năm 1917 Phan
Khôi có bài đầu tiên đăng Nam phong chữ Hán; sang năm 1918 có bài
đăng Nam phong chữ quốc ngữ, rồi từ quê ra Hà Nội tham gia bộ biên tập Nam
phong, nhưng lại bất đồng với cả hai người chủ trì tạp chí này (Phạm Quỳnh và
Nguyễn Bá Trác) nên bỏ việc sau 8 tháng. Kế đó vào Sài Gòn viết cho tờ Quốc
dân diễn đàn, sau sang tờ Lục tỉnh tân văn; nhưng vì một bài báo “kịch
liệt quá” (7) lại bị cho thôi việc, về nhà!
Năm 1920, nhân giúp lo việc hiếu nhà ông chú, Phan Khôi từ Quảng
Nam ra Hải Phòng, rồi ở lại đây, xin vào hãng tàu biển, làm thư ký cho Bạch
Thái Bưởi; 8 tháng sau, cuối năm 1920, ông xin thôi việc, từ Hải Phòng lên Hà Nội.
Tại đây, từ đầu năm1921 đến hết năm 1925, Phan Khôi viết cho các tờ Thực
nghiệp dân báo, Hữu thanh, nhưng thời gian chính dành cộng tác với hội Tin Lành
Hà Nội, dịch Kinh Thánh (Bible) của đạo Thiên Chúa ra tiếng Việt, dưới sự chủ
trì của nữ mục sư Grace Hazenberg (1876-1946) và chồng bà là mục sư William
Charles Cadman (1883-1948). (Đây là những thành viên của Hội truyền giáo Phúc
âm liên hiệp /Christian and Missionary Aliance; viết tắt C&MA/, từ Mỹvào Việt
Nam và đã rất thành công tại đây, trong khi các nhóm truyền giáo Tin Lành từ
Pháp vào Việt Nam bị Công giáo cạnh tranh, không tìm được công chúng, không còn
dấu tích gì).
Việc Phan Khôi có 5 năm liên tục cùng làm việc trong một nhóm
dịch giả thuộc những văn hóa khác nhau,là sự kiện chứa đựng những hệ quả tiếp
nhận tri thức to lớn đối với chính ông; có thể xem đây như là khóa học lớn nhất
ông được trải nghiệm kể từ sau các trường lớp Nho học thời trẻ.
Đầu năm 1926, Phan Khôi đến Huế, ở nhờ nhà riêng Nguyễn Bá
Trác, gặp Phan Bội Châu vừa bị chính quyền thuộc địa buộc an trí tại đây. Mục đích
của Phan Khôi là gặp Khâm sứ Pasquier điều đình ra một tờ báo tại Huế, nhưng
không thành. Sau đó, ông vào Sài Gòn theo lời nhắn của Phan Châu Trinh, khi ấy
vừa từ Pháp về. Phan Khôi có mặt trong số những người luôn luôn ở cạnh Phan
Châu Trinh trong những ngày giờ hoạt động và chữa bệnh cuối cùng của đời cụ;
Phan Khôi cũng có mặt trong nhóm tổ chức đám tang Phan Châu Trinh, được giao viết
bản hiệu triệu quốc dân.(8)Song chính ở đây ông lại bị đến vài năm khốn khó.
Chính cụ Tây Hồ nói cho Phan Khôi biết, cụ được tin từ Huế
báo: Phan Khôi được Khâm sứ Trung Kỳ phái vào Nam để ám sát cụ, nhưng cụ không
tin! (9)
Nguồn tin mà giám đốc sở mật thám Nam Kỳ nắm được, là Phan
Khôi được Phan Châu Trinh giao cho viết một tiểu sử của mình và nhiều tác phẩm
chính trị khác. Tập bản thảo nhan đề “Phan Châu Trinh” do Phan Khôi viết gồm 94
trang, tuy không in ra được, nhưng đã lọt vào tay mật thám Pháp.(10) Chính
mật thám Pháp đã tung tin Phan Khôi làm mật thám hòng mượn tay các cựu đồng chí
trong giới sĩ phu để hãm hại hoặc gây khó cho Phan Khôi. Ông phải luân lạc đến
một số nơi tại Nam Kỳ, như lên Tây Ninh rồi được một người bạn là Quốc Biểu tìm
giúp chỗ ngồi dạy học; hoặc có lúc hơn hai tháng liền phải trú ngụ tại một đồn
điền vắng vẻ ở CàMau; thời gian này ông chủ yếu dùng để học tiếng Pháp.
Chỉ từ đầu năm 1928, Phan Khôi mới có thể sống yên ổn tại Sài
Gòn, tiếp tục cuộc đời viết báo, làm báo.
Phan Khôi lặng lẽ tái xuất hiện trên tờ Đông Pháp thời
báo tại Sài Gòn từ đầu năm 1928 với hai chữ C. D..,ký tắt bút danh Chương
Dân ông đã dùng từ mươi năm trước. Ông khởi lên cuộc thảo luận về hiệp ước
Versailles 1787, bác bỏ luận điểm “nước Pháp giúp Nguyễn Ánh” đánh bại Tây Sơn.
Ông cũng có một loạt bài bình luận về nhiều sự kiện và vấn đề xã hội, chính trị
trong và ngoài nước. Ông cũng viết trong mục hài đàm “Câu chuyện hàng ngày” ký
Tân Việt, góp phần sáng tạo lối tạp văn hoạt kê châm biếm vốn gắn chặt với báo
chí nhưng lại có màu vẻ văn chương.
Sang năm 1929, người chủ của tờ Đông Pháp thời báo lập
ra tờ Thần chung thay thế tờ báo cũ, Phan Khôi tiếp tục cộng tác dưới
bút danh C.D. Chỉ đến gần cuối năm, ông mới ký họ tên thật Phan Khôi trong loạt
bài về “Cái ảnh hưởng Khổng giáo ở nước ta” và một số bài thảo luận việc dịch
kinh Phật.
Cũng từ đầu năm 1929, Phan Khôi đã dùng bút danh Khải Minh Tử
để ký một số bài viết bằng chữ Hán gửi lai cảo tới tờ 羣報Quần báo, một tờ báo chữ Hán của Hoa kiều ở Chợ Lớn.
Giữa năm 1929, Phan Khôi nhận lời mời của một doanh nhân là vợ
chồng ông Nguyễn Đức Nhuận, bà Cao Thị Khanh, cộng tác biên tập và xuất bản tuần
báo Phụ nữ tân văn, mạnh mẽ nêu ra “vấn đề phụ nữ” trước một xã hội Việt
Nam đang bước vào thời hiện đại, những chuẩn mực cũ của xã hội nam quyền, trọng
nam khinh nữ càng ngày càng tỏ ra bất cập.
Tháng 3.1930, tờ Thần chung bất ngờ bị thu hồi giấy
phép. Phan Khôi và một số đồng nghiệp chuyển sang cộng tác với nhật báo Trung
lập, lúc này đã đổi từ chủ Pháp sang chủ nhân người Việt.
Những năm 1930-1933, Phan Khôi cùng lúc viết cho vài ba tờ
báo; ngoài mấy tờ ở Sài Gòn, ông còn gửi bài đăng trên các tờ ở Hà Nội
như Phổ thông, Đông tây...
Các loạt bài viết, bài thảo luận, tranh luận của Phan Khôi từ
báo chí Sài Gòn những năm này, 1928-1933, đã khiến tên tuổi ông nổi bật lên
trong dư luận công chúng và dư luận làng báo làng văn.
Giữa
năm 1933 ông ra Hà Nội, viết cho tờ Thực nghiệp dân báo ít lâu rồi nhận
lời của chủ nhân Nguyễn Văn Đa làm chủ bút tờ Phụ nữ thời đàm, đổi tờ
này từ nhật báo sang tuần báo (1933-34), duy trì tờ báo suốt 22 tuần, nêu “vấn
đề phụ nữ” trước dư luận công chúng Bắc Kỳ vốn bảo thủ hơn dư luận trong nam.
Đầu
năm 1934 Phan Khôi về quê chịu tang cha, lại gửi bài cộng tác với các báo ở Sài
Gòn như Công luận (1934), Phụ nữ tân văn (1934).
Đầu năm 1935, Phan Khôi tới Huế, làm chủ bút tờ nhật
báo Tràng ancủa chủ nhiệm Bùi Huy Tín. Đầu năm 1936 ông thôi chủ bút tờ
này, chuyển sang cộng tác viết bài cho tuần san Hà nội báo ở Hà Nội.
Sau khi cho in cuốn sách Chương Dân thi thoại (nhà in Đắc Lập, Huế,
1936), Phan Khôi đứng ra sáng lập báo Sông Hương, một tờ tuần báo
thiên về học thuật, nhất là sử học, văn học, ngôn ngữ, v.v., tuy vậy ông và tờ
báo này vẫn tham dự nhiều hoạt động của báo giới giữa lúc phong trào Đông Dương
đại hội đang lên cao. Do báo thất thu, Phan Khôi phải ngừng xuất bản Sông
Hương sau 32 số, trước khi bán lại giấy phép Sông Hương cho nhóm
cộng sản Nguyễn Cửu Thạnh, Phan Đăng Lưu.
Những năm 1938-1940, Phan Khôi lúc ở Huế, lúc ở Sài Gòn, lúc ở
quê Quảng Nam, vừa dạy học, vừa viết bài cho các tờ báo ở Hà Nội như Đông
Dương tạp chí (tục bản), Thời vụ, Dư luận, Ngày nay, Tao đàn, Phổ
thông bán nguyệt san. Từ 1940 ông hầu như ở Sài Gòn, viết cho tờ Dân
báo của Bùi Thế Mỹ. Khoảng cuối 1941 đầu 1942, ông ngừng viết báo, từ Sài
Gòn về quê Quảng Nam.
Nguồn tư liệu hồi ức gia đình cho biết: khi Nguyễn Bá Trác đến
vận động ông tham gia chính phủ Trần Trọng Kim (1945), ông đã tỏ rõ thái độ cự
tuyệt, với lý do: từ lâu, ông đã tự xác định không làm chính trị. (11)
Khi Việt Minh tổ chức cướp chính quyền tại địa phương ông cư
trú, Phan Khôi giữ thái độ quan sát bình tĩnh, dần dần đi đến chấp nhận chính
thể Việt Nam Dân chú Cộng hòa, song cũng phản ứng trước một số hành động cực
đoan của chính quyền địa phương, ví dụ việc họ định phá đền thờ Hoàng Diệu, vị
Tổng đốc đã tuẫn tiết khi thành Hà Nội bị thất thủ (1882). Phan Khôi giữ lập
trường yêu nước, không tán thành hiệp định sơ bộ (6.3.1946) mà chính phủ Hồ Chí
Minh ký với Pháp.
Cũng theo nguồn tư liệu hồi ức gia đình thì khoảng tháng
6/1946, tiếp một nhóm trí thức từ Hội An, Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Nghĩa tới nhà
mình và được họ mời làm Chủ nhiệm Chi bộ Việt Nam Quốc Dân đảng vùng Nam-Ngãi,
Phan Khôi đã tạm thời gác ý chí “không làm chính trị” để nhận lời, dù chỉ là cử
chỉ đứng tên tượng trưng. (12)
Khoảng tháng 7/1946, ông nhận được giấy mời của Bộ Nội vụ do Bộ
trưởng Huỳnh Thúc Kháng ký, mời ông ra Hà Nội dự Hội nghị văn hóa toàn quốc lần
thứ nhất, sẽ khai mạc vào ngày 01/8/1946.
Phan Khôi tới Hà Nội vào ngày 6/7/1946, ở trọ tại nhà riêng
ông Lê Dư. Ông được Lê Dư cho hay: Huỳnh Thúc Kháng nhắn Phan Khôi đừng tới gặp,
vì có thể gây nghi ngờ (?).
Ngày 12/7/1946, Phan Khôi đến trụ sở Quốc Dân Đảng (80 Quán
Thánh, Hà Nội) tại tòa soạn báo Việt Nam có Khái Hưng và một số người
khác; ngay hôm đó nhà này bị công an ập đến triệt phá, bắt đi một số người,
trong đó có Phan Khôi, nhưng tại trụ sở công an Phan Khôi được thả ngay. (13)
Phan Khôi dự Hội nghị văn hóa toàn quốc (24/11/1946). Sau đó,
vào ngày bùng nổ Toàn quốc kháng chiến, ông thấy rõ chính phủ Việt Minh quyết
tâm chống Pháp, hợp với chủ ý của mình, ông ở lại Hà Nội.
Khoảng 29 Tết Đinh Hợi 1947, Phan Khôi theo dòng người tản cư
rời Hà Nội, đi Yên Hạ, Hà Đông, rồi lại theo dòng người quay lên vượt sông Hồng
định đi Bắc Giang, bị công an giữ lại, đưa về Hà Đông, rồi ông đề nghị để ông
đi Vân Đình, tới đây ông gặp gia đình Thế Lữ tại Hòa Xá. Từ đó ông và những người
này gia nhập Đoàn văn hóa kháng chiến do Nguyễn Huy Tưởng phụ trách, tản cư lên
Việt Bắc. (14)
Tại Hội
nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai (16 – 20.7.1948, tại Đào Giã, Thanh Ba, Phú
Thọ) Phan Khôi đọc tham luận “Một phương pháp dạy văn pháp tiếng ta”, sau đó được
cử làm trưởng ban Ngôn ngữ-Văn tự của Hội văn hóa Việt Nam. Ông cũng tham dự Đại
hội văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất (23-25.7.1948, tại Yên Kỳ, Hạ Hòa, Phú Thọ)
thành lập Hội văn nghệ Việt Nam, cộng tác thường xuyên với tạp chí Văn Nghệ của
Hội.
Ông tham gia nhiều hoạt động cúa Hội văn nghệ, dự hội nghị
tranh luận văn nghệ Việt Bắc (25 - 28.9.1949), tham gia đoàn văn nghệ đi chiến
dịch ngay sau hội nghị kể trên. (15)
Khi Hội văn nghệ Việt Nam đặt ra giải thưởng và xét trao giải
thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1951-1952, Phan Khôi đã được trao giải nhì cho tất
cả các bản dịch ông thực hiện tại Việt Bắc. (16)
Sau ngày phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản thủ đô,
Phan Khôi trở về Hà Nội (giữa tháng 10/1954) trong tư cách một nhân sĩ, làm việc
tại Hội văn nghệ Việt Nam.
Năm 1955, ông được cử tham gia Phái đoàn Chính phủ vào thăm
Liên khu Năm, nói chuyện về thắng lợi của cuộc kháng chiến tại hai cuộc mít
tinh ở Quảng Ngãi và Bình Định.
Cũng trong năm 1955, hầu hết các thành viên gia đình ông, bằng
các con đường khác nhau, đều tập kết ra miền Bắc.
Phan Khôi (và Tế Hanh) được cử đại diện Hội văn nghệ Việt Nam
đi dự kỷ niệm 20 năm mất nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn (từ 16.10.1956); ông đọc
tham luận tại lễ kỷ niệm này. Phan Khôi được kết nạp Hội nhà văn Việt Nam từ
1957.
Tại Hà Nội ông đưa in một số cuốn sách nghiên cứu (Việt ngữ
nghiên cứu) dịch thuật (Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn, tập I, tập II; Ánh lửa đằng
trước; Anh Hai Đen lấy vợ), viết bài cho các tạp chí Văn Sử Địa, Tập san Đại
học Sư Phạm, các báo Nhân dân, Văn nghệ, Văn, Tiền phong, v.v.
Ông cộng tác với Ban Văn Sử Địa để viết những bài cung cấp tài liệu cho bộ sách
“Tài liệu tham khảo Lịch sử cách mạng Việt Nam”, cụ thể là viết về phong trào
“Vụ xin xâu ở Quảng Nam” 1908 và “Duy Tân khởi nghĩa” 1916.
Những năm 1955-1956, cuộc cải cách ruộng đất (1953-56) gây ra
những khủng hoảng xã hội trầm trọng, khiến chính phủ và đảng cầm quyền phải xin
lỗi dân và tiến hành sửa sai. Trong văn nghệ cũng bộc lộ nhiều vấn đề do việc
quản lý tập trung quan liêu gây ra. Phan Khôi viết bài “Phê bình lãnh đạo văn
nghệ” nêu ra những cách làm việc thiếu minh bạch, như người trong ban chấm giải
(giải thưởng văn nghệ 1954-55) lại có tác phẩm dự xét giải; sự về hùa, ngầm ủng
hộ tác giả này hơn hẳn các tác giả khác, thực chất là đã xuất hiện các nhóm lợi
ích trong nền văn nghệ nhà nước hóa, v.v. Bài của ông được đăng trong tập Giai
phẩm mùa thu (tập 1, 1956) gây dư luận khá mạnh. Tháng 9/1956, Phan Khôi
nhận lời với một nhóm nhà báo và văn nghệ sĩ đứng tên làm chủ nhiệm tờ báo tư
nhân Nhân văn (xuất bản tại Hà Nội từ 20/9/1956 đến 20/11/1956); tờ
báo đăng tải những tác phẩm có những yếu tố táo bạo về sáng tạo hoặc có đề tài
không phù hợp với phạm vi các chủ đề của văn nghệ chính thống; đồng thời đăng
những ý kiến của văn nghệ sĩ đòi tự do sáng tác, những ý kiến của nhân sĩ trí
thức đòi mở rộng dân chủ trong chế độ do đảng cộng sản cầm quyền.
Năm 1958, trong cao trào đấu tranh chống Nhân Văn – Giai Phẩm
do đảng cầm quyền phát động và tổ chức, chỉ huy, Phan Khôi bị liệt vào một
trong những “phần tử” hàng đầu (Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Đức
Thảo, Thụy An, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán, v.v.), bị khai trừ vĩnh
viễn khỏi Hội nhà văn Việt Nam.
Ngày 16/1/1959, ông qua đời tại nhà riêng ở Hà Nội, sau thời
gian bệnh nặng. Gia đình ông làm bản khai tử cho ông bằng bút danh Chương Dân;
trong khi vợ, con, các cháu ông tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng thì những lời
phê phán nặng nề trên báo chí vẫn liên tục nhắm vào con người tác giả mang họ
tên Phan Khôi.
Trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, Phan Khôi được phục
hồi hội tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Các tác phẩm của Phan Khôi được sưu tầm biên
soạn và tái xuất bản. Đã có một số hội thảo dành riêng nghiên cứu tiểu sử và sự
nghiệp Phan Khôi.
Chú thích:
(1) Theo Phan Khôi (1939): “Lịch sử tóc ngắn. Cái đầu An Nam kể
từ 1906”, Ngày nay, Hà Nội, s. 149 (15.2.1939).
(2) Nguyễn Văn Xuân (1970): Phong trào duy tân, bản
tái bản, Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr. 197.
(3) Phan Khôi (1953): “Kiểm thảo sơ bộ, 28/8/53”,rút từ Phan
Khôi. Di Cảo, Phan An Sa sao lục và xử lý văn bản, Phan Nam Sinh hiệu đính
và chú thích, bản thảo chưa xuất bản.
(4) Phan Khôi (1955): “Vụ xin xâu ở Quảng Nam”, rút từ tập Phan
Khôi. Di cảo, tài liệu đã dẫn.
(5) Phan Khôi (1953): “Tự kiểm thảo”, rút từ Phan Khôi Di
cảo, tài liệu đã dẫn.
(6) Phan Khôi (1953): “Kiểm thảo sơ bộ, sau đợt học III, 28-8-53”,
rút từ Phan Khôi Di cảo, tài liệu đã dẫn.
(7) Phan Thị Nga (1936): “Ông Phan Khôi học chữ Tây và làm
quen với cô Luận Lý”, Hà Nội báo, Hà Nội, s. 10 (11.3.1936).
(8) Phương Lan Bùi Thế Mỹ (1970): Nhà cách mạng Nguyễn An
Ninh, Ấn quán Thúy Phương, Sài Gòn, 1970, tr. 130.
(10) P. Arnoux (1926): “Mật báo số 239 US ký ngày
1/6/1926 của sở mật thám Nam Kỳ, gửi Ngài Thống đốc Nam Kỳ, và Ngài giám đốc vụ
các vấn đề chính trị và an ninh chung tại Phủ Toàn quyền, Hà Nội”. Tài liệu do
bà Lê Thị Kinh (Phan Thị Minh) sưu tầm và dịch thuật từ thư khố Pháp quốc hải
ngoại tại Aix-en-Provance, Pháp. Chuyển dẫn từ: Phan Thị Mỹ Khanh, Nhớ cha
tôi, Phan Khôi, Nxb. Đà Nẵng, 2001, tr. 279-281.
(11) Xem: Phan An Sa (2013): Nắng được thì cứ nắng, Phan
Khôi từ Sông Hương đến Nhân Văn, Nxb. Tri Thức, Hà Nội, 2013, tr. 265-266.
(12) Xem sách đã dẫn, tr. 288-294.
(13) Xem sách đã dẫn, tr. 300-312.
(14) Xem sách đã dẫn, tr. 312-315.
(15) Thao Trường (Nguyễn Huy Tưởng, 1949): “Văn nghệ sĩ xuất
phát đi mặt trận”, Văn Nghệ, [Việt Bắc], s. 17&18, số Tranh luận
(tháng 11&12/1949).
(16) “Kết quả giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam
1951-1952”, Văn Nghệ [Việt Bắc], s. 39 (tháng 2/1953)
Phan Khôi, nhà sử học
Khả năng đọc nhiều biết rộng đã khiến ở Phan Khôi sớm hình
thành con mắt sử học, quan tâm đến các tiến trình lịch sử.
Năm 1928, trên tờ Đông Pháp Thời Báo ở Sài Gòn,
Phan Khôi, dưới bút danh C.D. đã khởi ra một cuộc thảo luận về việc có hay
không sự kiện “nước Pháp giúp nước Nam”, tức là nhà nước Pháp giúp quân cụ và
binh lính cho chúa Nguyễn Ánh trong nội chiến chống Tây Sơn, như một số tờ báo
chữ Pháp ở Đông Dương đương thời rao truyền, khiến một vài tờ báo chữ Việt lặp
lại. Bằng vào các nguồn sử liệu khác nhau, Phan Khôi vạch rõ: tuy giao ước
Pháp-Việt 1787 được ký kết nhưng trước sau chính phủ Pháp đã không thực thi, họ
không hề đưa quân lính hay tàu binh đến giúp Nguyễn Ánh, rốt cuộc cha Bá-đa-lộc
dùng tiền của Nguyễn Ánh gửi mua được hai tàu binh và mộ được vài chục người
Pháp, trong đó có một số võ quan Pháp bỏ ngũ đi với Bá-đa-lộc sang đầu quân
giúp Nguyễn Ánh. Biện luận của Phan Khôi cho độc giả thấy, mấy chục người Pháp
có mặt trong đội quân của Nguyễn Ánh chỉ là những lính đánh thuê nước ngoài,
không phải người do chính phủ Pháp cử đến giúp. Tuy nhiên, Phan Khôi cảnh báo,
những luận điệu tương tự thuyết “nước Pháp giúp nước Nam” có thể đã thâm nhập
vào các bộ sử do người Tàu soạn, và ông kêu đòi các sử gia truyền Nguyễn phải
làm sách để biện giải rõ về các sự kiện lịch sử Việt Nam cận đại. (1)
Năm 1929, Phan Khôi đã đóng vai trò chính tổ chức Cuộc thi quốc
sử trên báo Thần Chung, đưa ra 30 bản sự tích các nhân vật lịch sử Việt
Nam để bạn đọc bình chọn ra 10 nhân vật mà mình cho là tiêu biểu; một đề thi nữa
là yêu cầu bạn độc chọn ra trong đó một nhân vật và viết một bài dài 3 trang cắt
nghĩa vì sao mình cho đó là bậc nhất trong sử Việt. Tuy cuộc thi đã không có tổng
kết trao giải, có thể vì nhật báo Thần Chung bị đóng cửa đột ngột
(vào cuối tháng 3/1930), song những gì đã đưa lên báo trong suốt thời gian từ
khi mở ra cuộc thi (đầu tháng 7/1929) đến hết năm 1929, đã là một cuộc phổ thông
sử Việt khá hiếm hoi trên báo chí đương thời. Bằng việc đưa công chúng vào một
cuộc thi bình chọn nhân vật “bực nhất″ trong quốc sử, Phan Khôi và những người
tổ chức cuộc thi đã kích thích tinh thần tự do bình chọn của người tham dự,
cũng tức là kích thích óc phê bình -- chứ không chỉ vinh danh -- nhân vật lịch
sử. (2)
Năm 1935, khi làm chủ bút tờ Tràng An ở Huế, Phan
Khôi đã tổ chức một số chuyên đề nhân 50 năm sự kiện kinh thành thất thủ (ngày
23/5 năm Hàm Nghi Ất Dậu 1885) với các bài viết của ông và của Hoài Thanh.
Năm 1936-37, với tuần báo Sông Hương do chính ông
sáng lập, ông đã biến một phần tờ báo thành diễn đàn sử học với sự góp mặt của
nhiều nhà văn và học giả; ông cũng đã đưa lên báo này những sử liệu do chính
ông thâu nhặt được, như xác định vị trí của Thái Phiên và Trần Cao Vân trong khởi
nghĩa Duy Tân (1916); sự kiện Nghĩa Hội chiếm tỉnh Quảng Nam hồi những năm
1880s được phản ánh trong vè Khâm sai; về lệ cống nạp người vàng sang Tàu; về
lai lịch nhân vật là Bạch Xỉ từng xưng vua, v.v...
Đấy là ta chưa kể hàng loạt bài viết, dài ngắn khác nhau, về
các nhân vật và sự kiện lịch sử Trung Hoa mà Phan Khôi tỏ rõ một sự theo rõi
khá sát sao, từ hành tung các viên tướng quân phiệt đến ứng xử của các yếu nhân
thời kỳ sau các mạng Tân Hợi. Đối với đời sống chính trị ở nước Trung Hoa Dân
Quốc đương thời, Phan Khôi có cái nhìn khá tinh tường; ông thấy rõ cái bi kịch
của một quốc gia từng tồn tại dưới ách quân chủ chuyên chế suốt hàng ngàn năm,
sau cuộc cách mạng lật đổ nền quân chủ, đã không hình thành nổi một hiến pháp cộng
hòa, đành theo phương án “dĩ đảng trị quốc”, thay ngôi vua thuộc một dòng họ bằng
ngôi vua tập thể của nhóm đứng đầu đảng cầm quyền. Tình trạng “dĩ đảng trị quốc”
này chỉ có hướng xử lý khi Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc chuyển dần sang nền
chính trị đa nguyên, đa đảng, theo mô hình các quốc gia dân chủ phát triển;
trong khi đó, những quốc gia do đảng cộng sản cầm quyền thì trong thực chất lại
trở về với mô hình chế độ chuyên chế.
Chú thích
(1) Xem thêm: Lại Nguyên Ân (2003), “Phan Khôi và cuộc thảo luận
sử học năm 1928 trên Đông Pháp Thời Báo”, trong sách Mênh Mông Chật Chội, tiểu
luận phê bình văn học của Lại Nguyên Ân, Nxb. Tri Thức, Hà Nội, 2009, tr.
391-401.
(2) Xem thêm: Lại Nguyên Ân (2008): “Phan Khôi và cuộc thi quốc
sử của báo Thần Chung, Sài gòn, 1929”, trong sách Tìm lại di sản, tiểu
luận phê bình của Lại Nguyên Ân, Tp.HCM., 2013, tr. 83-114.
Phan Khôi, nhà báo, cây bút chính luận
Viết văn nghị luận là một trong những sở trường của Phan
Khôi. Văn nghị luận của ông không chỉ đề cập đến các vấn đề tư tưởng hay văn
chương, mà cũng đề cập đến thời sự xã hội chính trị.
Ngay năm 1919, ông đã có bài viết (trên Lục Tỉnh Tân
Văn, Sài Gòn) vạch mặt trò mỵ dân của Toàn quyền Alber Sarraut đằng sau việc
ông này đưa ra yêu cầu chính quốc cho Đông Dương nhiều quyền tự chủ hơn trong một
dịp diễn thuyết.
Năm 1929, trên báo Thần Chung ở Sài Gòn, Phan Khôi
viết khá nhiều bài xã thuyết ký tên tòa soạn, bênh vực những người hoạt động chống
Pháp trong các tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng, Thanh niên Cách mạng đồng chí hội,
Tân Việt đảng, bênh vực Nguyễn An Ninh, đòi cho những thành viên các tổ chức chống
đối bị chính quyền bắt phải được xét xử tại tòa án của chính quyền Pháp chứ
không được giao họ cho các quan chức của triều đình Huế xét xử, vốn áp dụng
khung hình phạt rất nặng theo luật Gia Long.
Năm 1930, khi xảy ra các vụ biểu tình ở Nam Kỳ, Phan Khôi đã
có những bài viết ký tên tòa soạn tờ Trung lập báo, yêu cầu những
thành viên đảng Lập hiến Nam Kỳ có chân trong Hội đồng quản hạt hoặc Hội đồng
thành phố Sài Gòn phải lên tiếng trước việc chính quyền thuộc địa dùng vũ lực
đàn áp người biểu tình không tấc sắt trong tay. Nhân danh tòa soạn, Phan Khôi
đã bút chiến với tờ Đuốc nhà Nam xung quanh trách nhiệm của những người
tự nhận là hoạt động chính trị, như các đảng viên Lập hiến Nam Kỳ, mà lại thiếu
khá nhiều năng lực và chuẩn hành vi cần thiết để đối phó với các tình huống
chính trị. Cuộc bút chiến này chỉ bộc lộ rõ là do một ngòi bút Phan Khôi chủ
trì, khi chủ bút Đuốc nhà Nam là Nguyễn Phan Long lâm thế bí, quay
sang dùng cách nói xấu cá nhân Phan Khôi. Những loạt bài đối thoại với đảng Lập
hiến (Về các cuộc biểu tình ở Nam Kỳ vừa rồi; Nói về đảng Lập hiến ở Nam Kỳ, v.v.)
cho thấy một thái độ phê phán rất xây dựng đối với tổ chức chính trị này, được
lập ra dường như chỉ để đối đáp với chính quyền Pháp ở thuộc địa, nhưng lại hầu
như không có liên lạc gì với quần chúng cư dân Nam Kỳ, các vấn đề về tổ chức của
đảng cũng còn nhiều bất ổn; cũng nhân đây, Phan Khôi có dịp trình bày một số tư
tưởng của mình về đảng chính trị trong xã hội hiện đại.
Năm 1935, khi được Bùi Huy Tín mời làm chủ bút đầu tiên của Tràng
An Báo tại Huế, Phan Khôi đã hướng trang thời sự của tờ báo vào việc đối
thoại với nền cai trị quân chủ đang đưa ra một vài tín hiệu thay đổi (khi vua Bảo
Đại về nước trực tiếp chấp chính), kiểm định hiệu năng hoạt động của một số cơ
quan, cơ chế trong bộ máy của nó, đôi khi cũng nêu một vài đề xuất mang tính bổ
sung, chỉnh sửa hệ thống, cơ cấu. Tất nhiên, hoạt động thường xuyên của
báo Tràng An thời kỳ Phan Khôi làm chủ bút là vạch ra những sự lạc hậu,
non kém, bất cập, thiểu năng của bộ máy triều Nguyễn, từ những cơ quan tại triều
đến những cơ quan cấp tỉnh cấp huyện.
Bên cạnh những vấn đề thuộc “lỗi hệ thống” trong cơ chế một nền
quân chủ già cỗi lại bị đặt dưới ách “bảo hộ” của ngoại bang, một phương diện
khác nữa mà Phan Khôi và báo Tràng An thường tập trung nhấn mạnh là vấn
đề phẩm chất của quan lại. Mỗi dịp có sự cố liên quan đến những quan chức nhất
định, ví dụ việc cách chức và khai phục Ngô Đình Diệm, lễ tang Nguyễn Hữu Bài với
những lời xưng tụng quá đáng, hay một viên quan tại triều quá tham lam nhũng
nhiễu chỉ bị trừng phạt nhẹ bằng cách đưa đi “trấn thủ” tỉnh ngoài, v.v. – đều
là dịp để Phan Khôi và các cộng sự của ông trên Tràng An lên tiếng tố
giác và nhân đó nhắc lại những tâm niệm lý tưởng muôn thuở của giới quan trường
xuất thân Nho học: “người bất học không đáng ở ngôi cao”, “sự hệ trọng nhất
trong phong hóa là cái đức liêm sỉ”, v.v.
Trong các loạt bài về các vụ việc kiện tụng, báo Tràng
An thời Phan Khôi làm chủ bút luôn luôn vạch rõ những xử lý sai trái do những
quan lại liên can được hối lộ hoặc câu kết nhau để moi tiền dân. Tờ báo rất chú
trọng đến người dân, nhất là những trường hợp người dân là nạn nhân sự chà đạp,
cướp bóc của hệ thống quan chức, nha lại. Những phóng sự đăng nhiều kỳ về vụ án
điền thổ ở Phú Yên, về xét xử ly hôn của vợ chồng Tham Ân ở Hội An, về vụ kiện
bị lấn chiếm mặt nước của dân làng chài Thủy Tú ngay “bên chân đền vua” đương
thời, tức thành Huế, v.v. – thường không chỉ giản đơn là những loạt bài báo mà
thực sự là những vụ việc sát cánh hỗ trợ dân oan trong các cuộc khiếu kiện dài
ngày của họ. Những trường hợp nạn nhân như “người đàn bà bị bỏ đỉa vào tai”,
người hành khách xe lửa bị nhà đoan bắt giam vì tình nghi buôn lậu thuốc phiện,
hay ông cử họ Hồ bị viên tri phủ Quỳnh Lưu hành hung, v.v. – thường được Tràng
An đề cập như những hồ sơ để ngỏ, lâu lâu lại bổ sung những tình tiết mới,
cho thấy những khía cạnh xã hội phức tạp liên quan đến mỗi vụ việc, đồng thời
cho thấy khả năng xử lý mỗi vụ việc trong những tương quan đương thời.
Với sự nỗ lực quyết liệt như thế, không có gì ngạc nhiên khi
Phan Khôi sớm rời vị trí chủ bút nhật báo Tràng An, sau chưa đầy một
năm làm việc.
Phan Khôi và sự phát triển văn học theo hướng hiện đại
Sự kiện rất nổi tiếng, gắn với tên tuổi Phan Khôi là việc đầu
năm 1932 bài báo “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” được ông công bố ở
cả hai trung tâm dư luận lớn nhất đương thời: Hà Nội và Sài Gòn. (1)
Giới làm thơ trẻ tuổi, hầu hết xuất thân từ nhà trường Pháp-Việt, đã hưởng ứng,
tạo nên phong trào thơ mới, một cuộc cải cách thơ tiếng Việt, đưa thơ của người
Việt thật sự bước sang thời hiện đại. Tên tuổi Phan Khôi được mang cái vinh dự
là người phát động phong trào đổi mới thơ ca kể trên. Tuy nhiên, đấy chỉ là một
trong khá nhiều công việc mà Phan Khôi đã làm theo hướng tác động, khích lệ sự
sáng tạo những hình thức mới, thể tài, thể loại văn học mới.
Ông sớm nhận ra một chiều hướng vận động mới về mặt thể loại:
“Bây giờ cả văn học của Á Đông đã day chiều và khuynh hướng theo văn học Thái
Tây, nhắc tiểu thuyết và kịch bổn lên ngồi kề thánh kinh hiền truyện, thì ta
cũng đã mô phỏng mà sáng tạo ra tiểu thuyết, kịch bổn rồi”. (2)
Ông chăm chú theo rõi sự phát triển của thơ và tiểu thuyết Việt
Nam và đến năm 1933, khi đã xuất hiện thơ mới, trong văn xuôi tiểu thuyết đã xuất
hiện Người sơn nhân (truyện ngắn của Lưu Trọng Lư) và Hồn bướm
mơ tiên (tiểu thuyết của Khái Hưng) thì ông reo lên: đã bắt đầu kỷ nguyên
mới của thơ và tiểu thuyết Việt Nam. (3)
Chính Phan Khôi đã viết bài mô tả khá chi tiết về bút chiến,
một thể tài và một hoạt động báo chí, (4) loại hoạt động mà ông can dự
không ít lần, suốt thời gian hiện diện trong trường ngôn luận.
“Lâu nay tôi đã nhận biết rằng trong nghề văn học rất cần có
sự phê bình. Nhưng trong làng văn ta dường như chưa có chỗ dung được sự ấy”; bởi
vậy, năm 1929, ông đã nhân dịp bàn về một bản dịch kinh Phật “để đổ chén thuốc
đắng phê bình vào trong miệng người An Nam”,(5) tức là thực sự bắt tay vào
làm công việc phê bình. Hoạt động phê bình, trong quan niệm của Phan Khôi, là rất
rộng: “Hai chữ “phê bình”, ta không nên hiểu hẹp nghĩa nó. Nói về sự viết báo,
không cứ phê bình một bài thi, một cuốn tiểu thuyết, một tác phẩm gì về mỹ thuật
mới gọi là phê bình; mà cho đến khen hay chê một vị quan lại, biểu đồng tình
hay phản đối một cuộc bãi công, cả đến nhân một cái thời sự rất tầm thường mà
phát ra nghị luận, cũng đều gọi là phê bình được hết. Chẳng những viết ra trên
giấy, mà ngày thường, giữa xã hội, ai nấy được lấy tư tưởng ý kiến mình mà bình
luận mọi sự mọi vật, cũng gọi là phê bình. Bởi vậy, ở xã hội nào mà người ta
ngôn luận được tự do, thì xã hội ấy, ta muốn kêu nó bằng “cái xã hội phê bình”
cũng có nghĩa vậy”. (6)
Ông đã viết giới thiệu lối văn phê bình nhân vật, một thể tài
của báo chí và của văn học, do nhà văn trẻ Thiếu Sơn đề xuất, (7) lối
văn mà chính Phan Khôi cũng sẽ dùng để viết khá nhiều tác phẩm đặc sắc, dưới
các tiểu mục như “tiểu phê bình về nhân vật, cả đàn bà lẫn đàn ông”, “tiểu phê
bình về phong tục”, “tiểu phê bình về báo chí”, “tiểu phê bình về sách vở”,
v.v. (8)
Ông rất quan tâm giới thiệu các thể trào phúng, khôi hài.(9) Thậm
chí, một thể tài, một loại hình ghi chép trong đời sống thông tục mà xưa kia
người Việt chưa có, là thể nhật ký, cũng được Phan Khôi quan tâm giới thiệu.(10) Ông
được đọc giả và đồng nghiệp tin cậy để có thể nhờ giải đáp nhiều vấn đề, nhiều
câu hỏi về chữ nghĩa, về văn chương và đời sống, kể cả những khái niệm như “đạo
văn”. (11)
Chú thích:
(1) Phan Khôi (1932): “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng
thơ”, Tập văn mùa xuân, báo Đông Tây xb., Hà Nội, tết Nhâm Thân
1932; Phan Khôi (1932): “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”, Phụ nữ
tân văn, Sài Gòn, s. 122 (10.3).
(2) Phan Khôi (1932): “Một lối văn mà xứ ta chưa có : nhựt
ký”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 150 (23. 6)
(3) Chương Dân (1934): “Văn nghệ xứ ta năm 1933 và trước năm ấy.
Cái kỷ nguyên mới của thơ và tiểu thuyết”, Công luận, Sài Gòn, số Tết
(14.2)
(4) (không ghi tác giả, 1929) : “Bàn thêm về bút chiến”, Thần
chung, s. 106 (28.5), s. 108 (30.5),
s. 111 (2&3.6), s. 114 (6.6).
(5) Phan Khôi (1929): “Cùng sư Thiện Chiếu bànvề lối dịch
sách, hay là phê bình lối dịch của sách Phật học tổng yếu”, Thần
chung, Sài Gòn, s. 279 (24.12).
(6) Phan Khôi (1937): “Một xã hội cũng như một tờ báo, phải có
cái thái độ phê bình và tiến bộ”, Đông Dương tạp chí, Hà Nội, s. 29
(27.11).
(7) Phan Khôi (1931): “Giới thiệu lối văn phê bình nhân vật”, Phụ
nữ tân văn, Sài Gòn, s. 93 (30.7)
(8) Các bài này ký bút danh Hồng Ngâm hoặc Chương Dân,
đăng Phụ nữ thời đàm ở Hà Nội, từ số 1 (17.9.1933) đến s. 22
(11.2.1934), có in lại trong sưu tập: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo
1933-1934, /Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn/ Hà Nội 2013: Nxb. Tri Thức,
tr. 278-360.
(9) Phan Khôi (1931): “Cái địa vị khôi hài trên đàn văn học”, Phụ
trương văn chương s. 10.Trung lập, S.G., s. 6481 (4.7).
(10) Phan Khôi (1932): “Một lối văn mà xứ ta chưa có : nhựt
ký”, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, s. 150 (23. 6)
(11) Phan Khôi (1932): “Làm vậy không phải là đạo văn. Trả lời
cho ông Mai Lan Quế”, Phụ trương văn chương s. 48.Trung lập, S.G.,
s. 6695 (2.4)
Phan Khôi, một tác gia đa dạng
Phan Khôi tham dự văn học trong khá nhiều thể tài.
Trước hết Phan Khôi đã hoạt động như một nhà phê bình
văn học, là tác giả những bài điểm bình các tác phẩm cụ thể, là người viết ra
cuốn “thi thoại” đầu tiên ở Việt Nam, lại cũng là tác giả những bài báo tác động
rõ rệt đến tiến trình văn học chung.
Phan Khôi cũng hoạt động như một nhà nghiên cứu văn học,
thường xuyên nêu lên các vấn đề nảy sinh trên tiến trình văn học Việt Nam. Phan
Khôi viết về khá nhiều tác gia, tác phẩm văn học Trung Hoa, từ các nhà tư tưởng
cổ đại, trung đại, đến cận hiện đại. Nhiều tác giả được ông nhấn mạnh ở khía cạnh
chống chuyên chế (ví dụ dịch Tư Mã Thiên: thư gửi Nhiệm An, “Thích khách liệt
truyện”… ); những tác gia hiếu cổ như Cô Hồng Minh được ông tiếp cận theo lối
châm biếm; những tác gia có chất đổi mới, “nổi loạn” như Hoàng Lư Ẩn, được ông
trân trọng. Thời kỳ 1945-58: Phan Khôi vẫn theo dõi sát tình hình văn hóa Trung
Hoa, từ thơ kiểu mới, di sản Lỗ Tấn, lý luận và sáng tác văn học Diên An, cho đến
1956 vẫn theo dõi các hiện tượng từ Hồ Phong đến phong trào chống phái hữu, tuy
không có điều kiện viết về các hiện tượng ấy.
Phan Khôi là nhà thơ, là con người đã “chín” trong truyền
thống thơ Hán-Việt lại có khát vọng bước ra khỏi quỹ đạo thơ cũ; thơ cũ của ông
không nhiều và cũng không lưu lại sưu tập, chỉ có ít bài in báo; thơ mới Phan
Khôi cũng có một số bài được ông đưa ra làm ví dụ cho “một lối thơ mới”; PK
không là tác giả xuất sắc của thơ mới những lại được nhất trí ghi nhận là người
khởi xướng; một số bài thơ Phan Khôi cho thấy lối thơ của kiểu người “lão thực”:
tín hiệu hàng đầu là tín hiệu về giá trị của hồn thơ, tứ thơ, dù hình thức khô,
đanh, mộc… chứ tuyệt nhiên không đèm đẹp…
Phan Khôi cũng là một tác giả văn xuôi tự sự. Ông đã từng
viết truyện hư cấu, bằng chữ Hán (đăng Nam Phong) hoặc bằng chữ Quốc ngữ,
tiêu biểu trong số đó là truyện dài Trở vỏ lửa ra (Phổ thông bán nguyệt
san, 1939). Nếu mạch truyện hư cấu này không mấy thành công, do tác giả mạnh
ở suy lý, logic, nhưng hơi thiếu linh hoạt, thiếu sinh động và chất sống trong
mô tả, dựng người dựng cảnh, thì ở mảng hồi ức, tự truyện, như Đi học đi
thi (đăng Sông Hương, 1937), các đoạn Phan Khôi tự truyện (đăng
một số kỳ ở các báo khác nhau, 1939, 1940, 1941), các mẩu giai thoại trong tập Độc
tại lâu bút ký (đăng Sông Hương, 1937) lại thành công rất rõ rệt.
Phan Khôi cũng là tác giả xuất sắc của văn tiểu phẩm, hoạt
kê, châm biếm. Từ 1928, với Đông Pháp Thời Báo, qua Thần Chung 1929-30, Trung
Lập, 1930-33, Thực Nghiệp Dân Báo, 1933; Phụ Nữ Thời Đàm,
1933-34, Tràng An, 1935-36, Sông Hương, 1936-37, đến tận 1941 trên Dân
Báo, Phan Khôi trước sau đã viết ngót ngàn bài tiểu phẩm. Đặc tính thẩm mỹ của
thể tài này còn chưa được nghiên cứu kỹ; nó rất mực văn chương, nhưng lại gắn với
báo chí; trên trang báo bên cạnh các bài viết theo lối “thuật”, “luận”, “chứng”
bao giờ cũng phải có các bài viết theo lối “biếm”, “hài”, “nhại”, “diễu”; nó có
bản chất thẩm mỹ ra sao mà lại hầu như không thể thiếu trên các báo, dù nhật
báo, tuần báo hay nguyệt san? Và vì sao nó dường như nhất thiết cần “mặt nạ tác
giả”? Mức đa dạng trong các kiểu tiểu phẩm Phan Khôi, mức độ ảnh hưởng từ những
mẫu mực ở Pháp (G. Fouchardière, C. Vautel) và ảnh hưởng truyền thống trào lộng
trong văn hóa Việt? So sánh văn tiểu phẩm Phan Khôi với những người có viết tiểu
phẩm đương thời: Hoàng Tích Chu, Ngô Tất Tố, Bùi Thế Mỹ, Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng,
v.v… Từ đây nên chăng khảo sát phát hiện lại dòng văn tiểu phẩm của tác gia Việt
Nam từ khi có báo in? - là những nhiệm vụ văn học sử chưa hề được đề xuất và
giải quyết.
Phan Khôi cũng là một dịch giả. Trên báo chí trước 1945
ta thấy Phan Khôi dịch nhiều tác gia Trung Hoa: Tư Mã Thiên, Viên Mai, Lỗ Tấn,
v.v.; dịch Kinh Thánh (đạo Thiên Chúa), chủ yếu là Tân Ước. Sau 1945 ông dịch một
số tác gia văn học Diên An, dịch quan điểm ngôn ngữ của J. Stalin, dịch tác phẩm
M. Gorki, dịch bài viết Chu Dương thể hiện tư tưởng văn nghệ Diên An, v.v.
Vượt
ra ngoài phạm vi văn học, người ta không quên Phan Khôi còn hoạt động như một nhà
ngữ học. Ngay từ khi tìm học chữ Quốc ngữ để viết văn viết báo (từ 1907), ông
đã bắt đầu tiếp cận tiếng Việt như một đối tượng nghiên cứu. Phan Khôi đã lên
tiếng hô hào đồng bào Nam Kỳ dùng tiếng Việt theo đúng các chuẩn mực đã được
Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của đưa vào sách từ điển. Ông đã tiến hành so sánh
ngữ pháp tiếng Việt với tiếng Pháp và chữ Hán, khi soạn sách “Hán văn độc tu”
(đăng Phụ nữ tân văn, 1932, đăng lại có sửa trên Sông
Hương, 1936-37). Trên tuần báo Sông Hương ông đã tập hợp được một
số tác giả tham gia mục “Quốc văn nghiên cứu”. Sau này, trong thời gian tham
gia khánh chiến tại Việt Bắc, ông đã thực hiện thêm những khảo sát về ngữ pháp
tiếng Việt, được các nhà soạn sách dạy tiếng Việt tham khảo; những nghiên cứu
này được ông xuất bản thành sách “Việt ngữ nghiên cứu” (1955).












Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét