Trước hết, tôi nói về câu chuyện của Vũ Trọng Phụng. Về sáng
tác của ông, người ta bình luận như sau: “Đọc xong một đoạn văn, tôi thấy trong
lòng phẫn uất, khó chịu, tức tối. Không phải phẫn uất khó chịu vì cái vết
thương xã hội tả trong câu văn, mà chính là vì cảm thấy một tư tưởng hắc ám,
căm hờn, nhỏ nhen ẩn trong đó (…). Đọc văn Vũ Trọng Phụng thực không bao
giờ tôi thấy một tia hy vọng, một tư tưởng lạc quan. Đọc xong, ta phải tưởng tượng
nhân gian là một nơi địa ngục và chung quanh mình toàn những kẻ giết người, làm
đĩ, ăn tục nói càn, một thế giới khốn nạn vô cùng” (Nhất Chi Mai, “Ý kiến một
người đọc: dâm hay không dâm, Ngày nay, Hà Nội, s.51, 21.3.1937). Vũ Trọng
Phụng cũng có bài trả lời rất sâu cay. Nhưng điều quan trọng là: hơn nửa thế kỷ sau, tác phẩm của Vũ Trọng Phụng được dịch sang tiếng Anh và được giảng dạy ở
trường đại học thuộc loại danh tiếng nhất nước Mỹ, UC Bekerley.
Tôi lại nhớ đến câu chuyện Leo Tolstoy (1828 - 1910), nhà văn
vĩ đại người Nga. Hẳn nhiên ông rất… vĩ đại. Người ta khen ông là “Shakespeare của
nước Nga” (Gustave Flaubert). Thế nhưng điều ấy làm ông quá đỗi phiền lòng, bởi
theo ông, Shakespeare không đáng là một nhà tư tưởng, không phải là nhà văn lớn,
rằng Shakespreare rất “thấp”, và tất nhiên là không nên so sánh với ông.
Shakespeare chết trước Tolstoy đến hơn ba thế kỉ, nhà viết kịch
đại tài ấy đã không bao giờ có cơ hội tranh luận lại với Tolstoy (và chắc gì muốn
tranh luận). Và đến bây giờ, ông vẫn được xem là một trong những kịch tác gia lớn
nhất mọi thời đại.
Vậy, điều quan trọng là, dù cho hai ông này có bật dậy và nói
gì nhau thì hai ông vẫn vĩ đại, bất chấp người kia nói gì.
Đánh giá của một người chưa bao giờ làm thay đổi bất kì sự thật
nào. Đó là sự kì thú của thế giới nghệ thuật.
Tôi lại nói tiếp một câu chuyện khác, câu chuyện một nhà thơ
tên là Thi Gia và tập “Thơ trắng”.
Nếu nói về “gout”, tôi không thuộc “gout” thơ của Thi Gia.
Nhưng tôi không nghĩ rằng: “gout” khác nhau thì nhất thiết phải không thấy nhau
hay!
Công bằng mà nói, chọn được bài hay toàn vẹn là điều không dễ
trong tập “Thơ trắng”, nhưng cũng không khó nhận ra những câu thơ “ăn vào lòng”
người ta một cách tự nhiên, nhẹ nhõm một cách tự nhiên:
Ta là cỏ, là sương, ta là suối
Ta đám côn trùng, ta bóng trăng
Ta như đứa trẻ còn dây rốn
Bú mớm mẹ ta đến vĩnh hằng
(Xanh)
Cõng nhau lên chóp đỉnh tình
Học theo mây trắng nghe mình hư không
(Cõi anh)
Đã biết rằng mai tan tác mộng
Sao chẳng vào nhau cho hết đêm
(Đã biết rằng mai tan tác mộng)
Buồn từ ngày chưa ngâu
Ai yêu thì tự bắc cầu mà tớ
Đừng cứ đợi ngâu về rồi hò hẹn với mai sau.
Viết tự nhiên là khó. Cái hay và cái dễ… bị chê ở Thi Gia là ở
đó. Tự nhiên, hồn nhiên, đôi khi rất dễ chịu, dễ gần, là bản năng thơ rất đáng
gìn giữ, nhưng cũng có thể trở thành một tâm sự chưa đủ sự chưng cất.
Nhìn toàn cục, Thi Gia dường như không có xu hướng tạo tứ thơ
mang tính hệ thống, thơ Gia đôi khi không rõ hình khối và sức công phá của tứ
nhưng lại có những tứ nhỏ rất quý, một kiểu “đặc sản”, một kiểu “phong cách
thơ” rất Thi Gia:
Bới mây ra mà tìm nhau
(Bới mây ra mà tìm nhau)
Ngày đã cạn ngày
Em đã cạn anh
(Tình ơi em đắm tim mình)
Có ríu ran nào cứ thủ thỉ trong mưa
(Sài Gòn mưa)
Em phơi váy áo em ngoài dậu
Phơi cả tình em trong nắng trưa
Nhớ thương cuộn cả lên trời mộng
Đổ xuống đường xa đêm gió mưa
(Đã biết rằng mai tan tác mộng)
“Đàn bà thợ xây” có lẽ là bài thơ có tứ tốt nhất trong
“Thơ trắng”. Chủ đề “có vẻ” thời sự, hình ảnh “có vẻ” thô ráp, phong cách “có vẻ”
không gần với cô nàng Thi Gia (vốn mang giọng thơ “đa tình, “khát tình” và “vọng
dục” - không phải là “dục vọng”), nhưng bài thơ này thực sự khiến tôi nghĩ đến
bài “Người đàn bà ngồi đan” của Ý Nhi. Tôi không so sánh, nhưng tôi nghĩ đến.
Hình ảnh người đàn bà ngồi đan bao nhiêu nỗi đa đoan của đời
và của mình là một ám ảnh thơ ca quý giá trong kho tàng thơ Việt Nam. Hình ảnh ấy
quá đa diện, minh triết và mạnh mẽ vô hạn. Thế còn người đàn bà thợ xây?
Đàn bà, họ vẫn xây đấy thôi; cứ gì phải có công trường. Xây
là bản thể của đàn bà. Một sự bề bộn xây đắp cuồng điên và thiếu thốn sâu xa là
nỗi đời vĩnh cửu của người đàn bà trong một “kho xưởng” tình yêu, hạnh phúc và
hy vọng;một thế giới “đầm đầm châu sa” luôn được tạo nên từ bàn tay miệt mài
xây đắp dẫu phù du.
Những người đàn bà thợ xây
Vai tươm tả nắng
Lòng bàn tay chằng chịt vết chai
Những người đàn bà thợ xây
Giấu mình trong lớp áo dày
Tóc ủ vào khăn và những giọt mồ hôi ủ trong làn da sạm
nắng
khét mùi mưu sinh
Những người đàn bà thức dậy trước bình minh
Giặt giũ và phơi phóng
Trên dây phơi không có một chiếc váy mềm được dệt
bằng voan và ren đỏ
Cho một người đàn ông được cởi ra trong đêm
Bàn tay của người đàn bà vò thật nhẹ, thật êm
Những chiếc áo lót không rõ màu sắc
Rồi nghiến răng vò những chiếc găng tay đầy vữa vôi
và những chiếc áo bảo hộ màu xanh
Màu xanh của biển và trời
Màu xanh đã bạc phếch lâu rồi
Những người đàn bà thợ xây
theo chồng đi khắp nơi
Những người chồng theo những công trình đi khắp nơi
Chiếc giường tầng trong lán trại chung cũng là nơi ái
ân của họ
Không một tiếng rên
Không một hơi thở mạnh
Sợ sỏi đá ngoài kia biết họ làm gì
Sợ những người đàn ông nằm bên
trở mình khao khát
Tưởng nhớ một thân hình mềm mại ở quê xa
Những người đàn bà không thơm mùi nước hoa
Những thân hình chưa từng phủ lụa là
Chẳng dám khóc cho nỗi nhớ con thơ
và nỗi nhớ nhà
Trong những chiều khói bếp thành thị cay xè...
Cay xè con mắt
Cứ ngóng phía quê mà ánh nhìn hiu hắt
Những thợ xây đàn bà
Những người mẹ đi xa.
Một bài thơ quá gợi.
Một khối tình tự được nhào nặn rất tự nhiên với chủ đề về người
đàn bà làm nghề thợ xây, sau khi hoàn thành bỗng dưng phát tiết thêm một ánh
sáng khác về thiên chức “bụi bặm” và luôn dở dang của người đàn bà.
Một bài thơ vượt qua chính giới hạn của nhà thơ, giới hạn của
những tâm tình đơn giản và tương đối dễ dãi, giới hạn của những câu thơ viết
tràn theo cảm xúc mà ít tìm cách trụ lại bởi một vài “nhãn tự” sâu xa. Giới hạn
đó đã được vượt!
Câu chuyện cuối cùng về Thi Gia: cuộc truy vấn về ngôn từ
“tính dục” trong thơ.
Em ơn anh, ơn anh...
Đã mang về em biêng biếc của ngày xanh
Sau mải miết ái ân lại lụi vào nhau và khóc
Thổn thức dùm nhau mai bước đời khó nhọc
Nhìn nhau, lau nước mắt rồi cười
(Ơn anh)
Tôi cho rằng, đây là một trong những ý thơ, đoạn thơ, câu thơ
có thể đủ sức làm người ta xúc động thật sự vì… tình dục. Những câu thơ mang
tính dục bản thân nó chưa bao giờ… sai (nhìn lại lịch sử văn học và nghệ thuật
của cả thế giới thì biết); Nhưng nó thường bị đối xử rất nghiêm khắc. Tự cổ chí
kim đã thế. Thi Gia cũng chung số phận với những nhà thơ “dám” viết về tình dục.
Nhưng “lỗi” của Thi Gia lớn hơn một chút: hồn nhiên quá! Ít biến hoá quá!
Trần truồng như trẻ nhỏ
Cùng em bày cuộc vui
Cứ cười và cứ khóc
Rồi vào nhau ngủ vùi
(Cùng em bày cuộc vui)
Một ví dụ: đoạn trên này tứ rất khá nhưng thiếu một chút gì
đó (tôi cũng không rõ, hoặc là không thiếu gì nhưng tôi không nhận ra) để có thể
làm một đường nối thú vị tới câu thơ “công án” bàng hoàng của bài thơ “Sinh Tử”
(Trần Thánh Tông) từ thế kỷ XIII:
Sinh như trước sam
Tử như thoát khố
(Sống như mặc áo vào
chết như cởi bỏ quần ra)
(Đương nhiên, Trần Thánh Tông không viết về tình dục, ông viết
về bản thể, nhưng có sự hô ứng nào đó).
Viết về tình dục, có lẽ, cần một sự cô đọng nào đó lớn hơn về
tư tưởng. Mặc dù tư tưởng… không làm nên tình dục.
Tôi chợt nghĩ đến câu thơ của Chế Lan Viên:
Ôi cây cỏ cũng đầm đìa sắc dục
Chuyện cha trời mẹ đất, vũ trụ “tình tự” với nhau trong ánh
sáng giao hòa cùng tận, hay nói cách khác là “làm tình”, hình như không mới đến
nỗi cần phải ngạc nhiên và phản đối “kịch liệt”. Cuộc ái ân của thiên nhiên là
điều thiêng liêng, là nguồn suối cảm hứng. Nhân loại thời ấu thơ đã nhận biết
việc ấy và hồn nhiên tôn thờ cuộc chơi viễn mộng ấy. Người thời nay cũng nên
bình thường hoá đi chứ. Tất nhiên, nó đi vào thơ ca thế nào lại là chuyện khác.
Tôi cũng chưa thật tâm đắc một số câu thơ thắm đượm dục tính của Thi Gia theo
cách mà “Thơ trắng” thể hiện, nhưng tôi tin là tôi đã biết xúc động đúng những
câu thơ “cận nhân tình”. Viết về tình dục trong những ẩn ức xen lẫn niềm bi cảm,
tự nhiên đến khóc được, Thi Gia thuộc vào số hiếm. Có lẽ vì thế mà tập thơ đã
được đọc như một thông điệp dịu dàng về “cổ mẫu nguồn cội”, một trạng thái ít
nhiều đưa người đọc đến mỹ học tính dục đương đại: “Người đàn bà cất lên
tiếng hát bằng làn da, hát ca bằng thân xác ngân nga”. “Người đàn bà đem
chăn gối làm sông làm núi, đem châu thổ nguyên sơ làm ngã ba, đem châu thân
huyền bí làm nhà”. Những lời giới thiệu tập “Thơ trắng” này của Nhật Chiêu - một
người không còn xa lạ gì với giới trí thức và giới văn chương chuyên nghiệp suốt
mấy chục năm nay ở nước Việt Nam này - tưởng vẫn còn đủ là một uy tín cho người
ta có thể nhìn lại một chút trước khi đạp đổ một điều gì đó; một uy tín được
xây dựng không chỉ bằng tài năng, tình yêu to lớn với văn chương mà còn bởi sự
công phu, khổ học và hành trình truyền cảm hứng không thể lớn hơn cho học trò
nhiều thế hệ. Riêng tôi, tôi tin lời giới thiệu ấy.
Một phật tử chắp tay búp sen cung kính chào tha nhân không phải
vì hạ mình, mà vì tôn vinh Phật tính của người khác, ở nơi người khác. Trong
bàn cờ chữ nghĩa, người ta chấp nhận sự khác biệt tận cùng, thậm chí phủ nhận
triệt để nhau, nhưng, vẫn còn một nước cờ khác hay hơn, ít “sát thương”, đó là
tri âm. Tri âm không nằm ở chỗ hiểu hay không hiểu một cách trọn vẹn, mà đơn giản
là “cho nhau sự tồn tại”. Người làm thơ viết một trăm câu thơ dở, có một câu
hay, người đọc vẫn rất nên khóc vì câu hay ấy. Đó là một tư thế cảm nhận của kẻ
khiêm hạ trước năng lực sáng tạo của kẻ khác. Như cái chắp tay búp sen vậy.
“Hoan hô những kẻ phụ tôi, họ đã trả tôi lại cho tôi”. Tôi tiếc
là không thể nhớ tên nhà tư tưởng nào đã nói thế. Nhưng câu ấy rất hay, hay hơn
cả cho Thi Gia, một nhà thơ đang trải qua sự phũ phàng của cuộc chiến “gia vị
thẩm nhận”. Người ta có nhiều cách để làm thơ hay hơn. Một trong những cách ấy
là bị đẩy ra khỏi bờ cõi của mình, và dành lại quyền sống cho năng lượng của
chính mình. Điều này thì Thi Gia có, rất dồi dào.
Giải có trao hay không trao, đúng “quy trình” hay không đúng
“quy trình”, Thi Gia nhận hay không nhận, tất cả điều này không lớn hơn một Sự
Thật khác: dù sao, bạn ấy đã làm thơ, dù sao, thơ bạn ấy cũng không tồi, và dù
sao, chúng ta còn cả một gia tài lớn là Thời gian, thứ có thể mang lại cho mọi
người một lời phán quyết nhân từ và chín chắn về những sáng tạo thực sự của một
con người cụ thể, một con người giàu có về cảm xúc và hy vọng, biết đặt cảm xúc
và hy vọng ấy vào những vần thơ vẫn còn hé mở rất nhiều cánh cửa cho người đọc.
Quyền của thời gian - quyền phán quyết minh bạch về giá trị -
cao hơn tất thảy mọi sự luận đàm của làn sóng thượng tôn tự ngã trong thưởng
lãm.
Hiệu
Thư





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét