Có vẻ như cả giới văn học lẫn giới nghiên cứu lịch sử báo chí
hiện nay đều không còn biết gì đến ấn phẩm này; chứng cứ là không tìm thấy bất
cứ dấu vết nào của ấn phẩm này trong một vài cuốn sách thống kê hoặc chỉ dẫn,
ví dụ cuốn Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam (Nguyễn Thành soạn, Nxb.
VHTT, H., 2001), hoặc cuốn Sơ thảo lịch sử báo chí Hà Nội (Hội nhà
báo Hà Nội biên soạn, Nxb. Chính trị quốc gia, H., 2004).
Thật ra thì cũng đã có một số nhà nghiên cứu văn học ít nhiều
biết đến tập san này, nói đúng hơn là họ biết có một số Tập san phê
bình chuyên về tác gia Vũ Trọng Phụng. Tôi nhớ, hồi giữa những năm 1990,
bà Vũ Mỵ Hằng, con gái nhà văn họ Vũ, được ai đó tặng một bản in của tập san
này, và bà Hằng đã chụp nhiều bản sao (photocopy) tặng lại cho một số nhà báo,
nhà văn, nhà nghiên cứu, trong đó có tôi. Đây cũng là tài liệu đã được nhắc tới
trong các bài nghiên cứu và các thư mục nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng hồi những
năm 1990. Tuy nhiên, ngoài ấn bản lẻ kể trên, toàn bộ tập san phê bình này vẫn
nằm ngoài tầm nhận biết của giới văn nghệ và giới nghiên cứu.
Tôi chỉ mới tìm thấy Tập san Phê bình này rất gần
đây, vào đầu tháng 3/2009, nhân đọc lại một số tờ báo Hà Nội hồi giữa những năm
1950. Chính trên các nhật báo Thời mới, Hà Nội hàng ngày, tôi đã thấy dấu
vết tập san này trên những khung quảng cáo; điều đó thúc đẩy tôi xem kỹ trong
cơ sở dữ liệu các thư viện ở Hà Nội, và tôi đã tìm thấy một sưu tập của tập san
này, tuy không còn thật đầy đủ, nhưng cũng tạm cho phép hình dung đôi nét về ấn
phẩm đã gần như bị quên hẳn này.
Ban đầu, nó là một phụ san. Phụ san phê bình của nhật
báo Hà Nội hàng ngày là một ấn phẩm không định kỳ, tập 1 ra khoảng đầu
năm 1957, do Thiều Quang chủ biên, gồm 28 trang khổ A4; tập 2 ra khoảng tháng
3/1957, gồm 20 trang A4, các bài trong tập này đều là của tác giả Thiều Quang;
trong năm 1957 phụ san này còn ra thêm 4 tập nữa (hiện không có trong bộ sưu tập
hiện còn).
Sang năm 1958, nó đổi tên là Tập san Phê bình; tuy không
còn là phụ san nữa nhưng vẫn ghi rõ là năm thứ hai, tức là tiếp nối “phụ san”
năm trước; nó tự xác định “ra hàng tháng” nhưng không ghi rõ kỳ hạn in và phát
hành mỗi số; về thể tài thì ở trang bìa có ghi rõ đây là “nghị luận văn học”,
hoặc “nghị luận văn học, xã hội”, và vì đã là một ấn phẩm độc lập nên có nêu
tên chủ nhiệm là Thiều Quang, có địa chỉ tòa soạn là 64 Bạch Mai, Hà Nội; ở Tập
san Phê bình số 3/1958 có đăng thành phần ban biên tập gồm: Văn Hữu, Tân
Thanh, Thiều Quang, Lê Xuân Vũ, Chu Thiên, Danh Bình, Việt Hoài, Lê Quang, Ngọc
Hương, Dương Minh, Ngọc Điến, Phùng Văn Chính, Chu Hà, Triêu Dương, Trúc Đường,
Đình Quý; trong đó thường trực gồm Văn Hữu, Tân Thanh, Dương Minh và chủ biên
là Thiều Quang.
Xem qua nội dung bài vở đăng tải trên ấn phẩm, có thể thấy là
tập san này đã xuất hiện bằng việc tham dự vào dòng ngôn luận đang sôi động
trên báo chí Hà Nội đương thời, hưởng ứng việc phê phán báo Nhân
văn và các tập sách Giai phẩm của nhà xuất bản Minh Đức.
Tập 1/1957 Phụ san phê bình có những bài
như: Báo “Nhân văn” với vấn đề tự do dân chủ (tr.
3-5), Phê bình “Con người Trần Dần”, hồi ký của Hoàng Cầm, báo “Nhân văn”
số 1 (tr. 6-9); Nhân “Câu chuyện mấy người tự tử” thơ của Lê Đạt, báo
“Nhân văn” số 1 (tr. 10-14); Xét lại giá trị bài thơ “Nhất định thắng”
của Trần Dần (tr. 14-17); – tất cả các bài trên đều của Thiều
Quang; Vài ý kiến với ông Nguyễn Hữu Đang về vấn đề trăm hoa đua nở (tr.
18-25) của Lê Xuân Vũ.
Tập 2/1957 Phụ san phê bình có phụ đề “Những
khuynh hướng tư tưởng lỗi thời” với tất cả các bài đều của Thiều
Quang: Đều bước tiến trên con đường đấu tranh tư tưởng (tr.
3-4); Vang bóng một dĩ vãng qua “Tiếng sáo tiền kiếp” của Trần Duy, “Giai
phẩm mùa thu” tập 1 (tr. 5-9); Cách nhìn lệch lạc của Chu Ngọc về
‘con người’ của nhà tướng Nguyễn Sơn, bài trên “Nhân văn” số 5 (tr.
9-10); Tính chất con người của thi sĩ già họ Đỗ, trong truyện của Huy
Phương, “Sách tết Minh Đức” (tr. 11-12); Một khuynh hướng văn nghệ lỗi
thời ở Trần Lê Văn qua “Viết bài báo tết” - “Sách tết Minh Đức” (tr.
13-15); Quan niệm sùng bái cá nhân và cách chống sùng bái cá nhân của ông
Trương Tửu, “Giai phẩm mùa thu” tập 2 (tr. 15-18).
(Như đã nói ở trên, các tập từ 3/1957 đến 6/1957 của Phụ
san phê bình này hiện chưa tìm thấy)
Các số ra trong năm 1958 (thường gọi là “số”, cũng có lúc gọi
là “tập”), mang tên gọi Tập san phê bình, tức là một tập san độc lập
(không phải “phụ san” của ấn phẩm nào khác), bài vở vẫn hướng vào chủ đề đấu
tranh tư tưởng văn nghệ ở miền Bắc đương thời, nhất là những thảo luận và tranh
luận xung quanh các sáng tác và nghị luận đăng trên tuần báo “Văn” của
Hội nhà văn Việt Nam từ giữa 1957.
Số 1/1958 có những bài: Góp ý kiến với ông Văn Hữu về
bài trả lời ông Thế Toàn (tr. 1-3) của Duy Thanh, đáp lại bài của Văn
Hữu trên Tập san phê bình số 6/1957; Từ chủ trương chống quan điểm
phi vô sản về văn nghệ và chính trị đến vấn đề cần xét lại những khuynh hướng
tư sản từ báo “Nhân văn” đến báo “Văn” (tr. 4-5, 8) của
T.S.P.B.; Quan tâm đến công tác xuất bản sách phổ thông là thiết thực góp
phần xây dựng một nền văn hóa cho quần chúng nhân dân lao động” (tr. 6-8)
của Bảo Trâm; Góp ý kiến về vấn đề tại sao chúng ta chưa có tác phẩm lớn (tr.
9-10) của Vũ Uy; Trao đổi ý kiến: nhìn “hồng” hay “đen” là xuất phát từ tư
tưởng (tr. 11-12) của Thiều Quang; “Đống máy”, một điển hình của
khuynh hướng bôi đen thực tế (tr. 13-15) của Đông Lâm.
Số 2/1958 có những bài: Đẩy mạnh phong trào phê bình cải
lương về mặt tinh thần và tác dụng của vở (tr. 1-2) của
T.S.P.B.;Góp ý kiến với ông Ái Sơn về vở Tống Trân – Cúc Hoa (tr. 3-9) của
Sỹ Tiến; Nhân đọc bài phát biểu của ông Nguyễn Đình Thi tại Quốc hội khóa
6 (tr. 12-13, 16) của Thiều Quang; Vấn đề sáng tác dân gian (tr.
14) của Thiều Quang; Ngành sản xuất đồ chơi trẻ em với công cuộc giáo dục
nhi đồng (tr. 15-16) của Ng. Đan.
Số 3/1958 (kỳ này lại gọi là “tập 3”) có những bài: Mấy
ý kiến về vấn đề phê bình hiện nay (tr. 3-6) của Lê Xuân Vũ; Cũng học
người xưa (tr. 6) của Quốc Lang; Đã đến lúc phát triển nghệ thuật lồng
tiếng trong phim ngoại quốc (tr. 7) của Chân Dung; Vai trò quần
chúng trong công tác phê bình (tr. 8-10) của Phùng Văn Chính; Đọc báo
‘Văn’ của Hội nhà văn Việt Nam (tr. 12) của Văn Hữu; Bàn về sự thực
toàn diện trong tác phẩm văn nghệ (tr. 13-15) của Chu Thiên; Nhân xem
chuyện phim “Chiếc đu quay” (tr. 15-16) của Tân Thanh; Bức thư phê
bình (tr. 17-18) của 2 bạn đọc.
Số 4/1958 có những bài: Góp ý kiến với tạp chí “Văn nghệ”
về một số vấn đề văn nghệ hiện giờ (tr. 3-6) của T.S.P.B.; Nhân đọc
truyện ngắn “Bích-xu-ra” của Thụy An, tuần báo “Văn” (tr. 7-9) của Văn Hữu; Giới
thiệu sách “Tập truyện Liên Xô” và “Tinh-kô” (tr. 10) của Tân
Thanh; Quan điểm quần chúng đối với “đời tư” của người văn nghệ (tr.
11-12) của Văn Chính; Nhân phong trào phê bình xung quanh tiểu thuyết
“Tiêu Sơn tráng sĩ” của Khái Hưng (tr. 13-14) của Trần Chân Dung; Một
giai thoại về đời văn của Vũ Trọng Phụng (tr. 15-20) của Thiều
Quang.
Số 5/1958 có những bài: Cần phát triển phong trào tranh
luận và bút chiến rộng rãi trên báo chí (tr. 3-5) của
T.S.P.B.; Bàn với ông Trần Thanh Mại về quan điểm lịch sử trong văn học (tr.
6-10) của Phan Cự Đệ; Phê bình “Tranh tối tranh sáng”, tiểu thuyết của
Nguyễn Công Hoan (tr. 10 -14) của Đường Trường;Một ý kiến với nhà xuất
bản Quân đội nhân dân về tác phẩm “Đợt xung kích cuối cùng” (tr. 15-17) của
Quang Văn; Mạnh dạn phát hành một số phim ảnh tiến bộ ngoài khối xã hội chủ
nghĩa (tr. 17-19) của Nguyễn Dậu.
Số 6/1958 có những bài: Trả lời ông Thế Toàn trên báo “Học
tập” về bài phê bình “Bích-xu-ra” của Thụy An (tr. 1-4) của Văn Hữu; Sêch-xpia
với nền nghệ thuật phim Liên Xô (tr. 5-8) của Nguyễn Dậu; Đi tìm cái
mới trong sáng tác (tr. 9-12) của Trần Văn Bính; Phê bình sách dịch: “Truyện
người trạm trưởng máy kéo và cô kỹ sư nông nghiệp” của Ga-li-na Ni-cô-la-ê-va (Tâm
Hương và Lê Xuân Vũ dịch, Nxb. Thanh niên) (tr. 13-16) của Trần Lanh.
Số cuối cùng (trong sưu tập hiện còn) không đánh số (và có lẽ
đã ra trước số 6 kể trên, căn cứ vào một số thông tin in trong số này) được gọi
là “số đặc biệt về Vũ Trọng Phụng, đời sống và con người”, toàn bộ số này chỉ
in duy nhất một bài viết dài của Thiều Quang về con người và tác phẩm của Vũ Trọng
Phụng. Đây chính là số mà ở trên, tôi đã tin chắc rằng một số nhà nghiên cứu đã
biết tới nó và nội dung của nó đã đi vào một số sưu tập tài liệu về tác gia Vũ
Trọng Phụng.
Ngoài các nội dung bài vở như đã kể trên, hầu hết các trang
bìa (bìa 2, 3, 4 của mỗi số) và một số góc trang, nửa trang trong ruột mỗi số đều
được dùng để đăng quảng cáo. Ví dụ ở số 1/57 có tới 11 quảng cáo, số 2/57 có 5
quảng cáo; các địa chỉ được quảng cáo là nhà xuất bản, cơ quan phát hành, hiệu
sách, hiệu thuốc, phòng khám bệnh tư, phòng trà, hiệu mỹ phẩm, v.v… Theo những
lời nhận xét mang tính hồi cố của những người từng làm việc trong các ngành văn
hóa, báo chí ở Hà Nội thời kỳ này thì một lượng quảng cáo tương đối khá như vậy
có thể giúp bù lại một phần đáng kể cho các chi phí về giấy in, công in và phát
hành.
Sau khi tìm được ấn phẩm này, tôi đã tìm gặp một số nhà báo từng
làm việc với các tờ báo của Hà Nội những năm 1955-60, nhưng hầu như không ai nhớ
có tờ phụ san hoặc tập san này trong sinh hoạt báo chí Hà Nội thời đó. Có thể
là rất nhiều sự việc khác, thậm chí rất đáng kể, cũng đã không còn để lại dấu vết
gì trong trí nhớ người già, song dầu sao điều này cũng cho thấy cái ấn phẩm mà
trên thực tế đã từng có mặt suốt gần 2 năm với trên 10 số ấy thật ra chưa tạo
được điều gì khác biệt trong sinh hoạt phê bình văn nghệ đương thời. Điều này
không có gì lạ.
Trạng thái đời sống những năm ấy chỉ là nhất thời, tạm thời
trong đời sống miền Bắc. Những năm ấy đang còn nhà in tư nhân, báo chí tư nhân,
nhưng cũng đang là những năm tàn cuộc của cả kinh tế tư nhân lẫn báo chí tư
nhân. Cả hai tờ nhật báo tư nhân Hà Nội hàng ngày và Thời mới
vẫn ra hàng ngày, bên cạnh tờ Thủ đô của thành ủy ĐLĐVN Tp. Hà Nội
(thuộc loại mà đương thời gọi là “báo của đoàn thể”) chỉ mới ra mắt từ
24/10/1957.
Hà Nội hàng ngày vốn có nguồn từ tờ nhật báo Giang
sơn(1950-54) sau đổi là Sông Hồng (8/1954 -7/1955) rồi từ tháng
7/1955 mới đổi là Hà Nội hàng ngày; đến 22/12/1957, Hà Nội hàng
ngày đánh số lại từ số 1, dường như để đánh dấu việc đưa một số nhân sự “của
tổ chức” vào tòa soạn tờ báo tư nhân này; song, dù vậy, tên báo này cũng chỉ
còn tồn tại đến 10/12/1958; sau đó nó bị sáp nhập vào với tờ Thủ đô kể
trên để thành tờ Thủ đô Hà Nội (1959-67).
Thời mới vốn có xuất xứ từ nhật báo Tia
sáng (1948-1954), chào ngày tiếp quản thủ đô với tên gọi Thời mới từ
10/10/1954 (số 1); người ta nói rằng ông chủ nhiệm Hiền Nhân may mắn có sẵn kho
giấy lớn nên duy trì tờ nhật báo được lâu hơn, song đến lúc kho cạn thì cũng phải
phụ thuộc cơ chế xin-cho của nguồn giấy quốc doanh; đến tháng 12/1967, Thời
mới ra số cuối cùng, sau đó bị sáp nhập vào với tờ Thủ đô Hà Nội
thành tờ Hà Nội mới, nhật báo duy nhất của thành phố Hà Nội suốt thời bao
cấp.
Trong một tình hình như vậy, việc một cá nhân (Thiều Quang)
hoặc một nhóm nhà báo ra được ấn phẩm tư nhân như Tập san phê bình
và duy trì nó qua suốt gần 2 năm, dù sao cũng là một sự năng động đáng kể, một
sự nhanh tay hiếm có, bởi chỉ sau đó nửa năm sẽ không ai có thể làm được như vậy
nữa.
Với ấn phẩm khiêm nhường này, những cây bút trẻ các cỡ khi ấy
như Triêu Dương, Lê Xuân Vũ, Trần Văn Bính, Phan Cự Đệ, v.v… dù sao cũng có
thêm chỗ để chen chân vào làng ngôn luận vốn còn đang chật chội vì khuôn khổ hạn
hẹp của báo chí văn nghệ đương thời. Người ta biết, một người nổi tiếng như nhà
thơ Nguyễn Bính cũng rất ít được đăng tác phẩm trên tờ báo chính ngạch của Hội
Văn nghệ, đã phải tục bản tờ Trăm hoa, dù chỉ tồn tại được vài ba tháng cuối
năm 1956, để đăng tác phẩm của mình và của một số cây bút khác, từ Hữu Loan,
Đoàn Giỏi, đến Hoàng Tố Nguyên, v.v… Đối với làng văn làng báo ở Hà Nội những
năm 1955-56, việc làm báo tư nhân như thế vẫn còn được chấp nhận.
Điều đáng lưu ý hơn, là cách thức tham dự phong trào chung
khi trong làng văn làng báo Hà Nội đang có những luận bàn sôi động xung quanh
các vấn đề mở rộng tự do dân chủ, phê bình góp ý với lãnh đạo, v.v... Tập
san phê bình với các cây bút vốn thường viết cho trang văn nghệ của
báo Hà Nội hàng ngàynhư Thiều Quang, Chu Thiên, Văn Chính… đã tham dự bằng
cách đứng về phía chính thống ngay từ đầu, không chút do dự! Giọng phê phán gay
gắt của các cây bút này đã đầy tràn tờ Hà Nội hàng ngày, lại ngập đầy tờ “Tập
san phê bình”.
Chỉ sang năm 1958, khi những tranh luận xung quanh một số sáng tác và nghị luận đăng trên tuần báo “Văn” (của Hội nhà văn VN) còn chưa ngã ngũ, một vài bài trên Tập san phê bình mới dám nói chút ít ý kiến độc lập, nhưng vài nét tạm gọi là ý kiến độc lập ấy cũng chìm lấp ngay vào cao trào đấu tranh tư tưởng lại đột ngột dâng cao từ tháng 3/1958. Rất có thể Tập san phê bình này tồn tại được ít lâu chính là vì trước sau nó chỉ cố gắng hòa giọng vào xu hướng chính thống đang thiên dần về phía cực tả. Chỉ có điều, chính những người có thế lực nhất của ý thức hệ chính thống khi đó lại đang hướng tới tính chất xã hội chủ nghĩa, muốn loại trừ yếu tố tư nhân khỏi đời sống, thành thử, những tiếng nói từ một ấn phẩm tư nhân như Tập san phê bình nhiều lắm cũng chỉ có thể được coi như tiếng nói bên lề, chỉ vì nó tỏ rõ thái độ “ăn theo” nên nó không bị gạt bỏ, chứ nó tuyệt nhiên không thể được công khai biểu dương, và không ai tìm được lời biểu dương nào đối với tờ tập san này trong hầu hết những bài tổng kết cuộc đấu tranh tư tưởng đó hồi giữa năm 1958.
Chỉ sang năm 1958, khi những tranh luận xung quanh một số sáng tác và nghị luận đăng trên tuần báo “Văn” (của Hội nhà văn VN) còn chưa ngã ngũ, một vài bài trên Tập san phê bình mới dám nói chút ít ý kiến độc lập, nhưng vài nét tạm gọi là ý kiến độc lập ấy cũng chìm lấp ngay vào cao trào đấu tranh tư tưởng lại đột ngột dâng cao từ tháng 3/1958. Rất có thể Tập san phê bình này tồn tại được ít lâu chính là vì trước sau nó chỉ cố gắng hòa giọng vào xu hướng chính thống đang thiên dần về phía cực tả. Chỉ có điều, chính những người có thế lực nhất của ý thức hệ chính thống khi đó lại đang hướng tới tính chất xã hội chủ nghĩa, muốn loại trừ yếu tố tư nhân khỏi đời sống, thành thử, những tiếng nói từ một ấn phẩm tư nhân như Tập san phê bình nhiều lắm cũng chỉ có thể được coi như tiếng nói bên lề, chỉ vì nó tỏ rõ thái độ “ăn theo” nên nó không bị gạt bỏ, chứ nó tuyệt nhiên không thể được công khai biểu dương, và không ai tìm được lời biểu dương nào đối với tờ tập san này trong hầu hết những bài tổng kết cuộc đấu tranh tư tưởng đó hồi giữa năm 1958.
Có lẽ cũng chính vì vậy, sự chấm dứt của Tập san phê
bình này cũng chỉ thầm lặng như khi nó xuất hiện.
Về Thiều Quang, người có lẽ đã góp nhiều công sức nhất
cho ấn phẩm này, ông Giang Quân, nhà thơ, nhà nghiên cứu báo chí Hà Nội, khuyên
tôi đến gặp cụ Trương Uyên, một nhà báo kỳ cựu, từng có lúc là chủ bút tờ Giang
sơn (tiền thân của Hà Nội hàng ngày). Cụ Uyên nay đã ngoại bát tuần,
chỉ còn nhớ câu đùa trong giới “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu
mươi” liên quan đến bút danh của nhà phê bình chủ trì Tập san phê
bình. Đáng tiếc là về tờ tập san này thì cụ Uyên lại không còn giữ được chút ký
ức nào. Sau cùng, cụ đã chỉ cho tôi một đôi nét về tác giả Thiều Quang ghi
trong cuốn “50 năm báo “Hà Nội mới” xuất bản hàng ngày (24/10/1957 –
24/10/2007)” do báo Hà Nội mới xuất bản tháng
10/2007:
“Nhà báo THIỀU QUANG
Tên khai
sinh: Lê Quang Lộc
Bút danh:
Thiều Quang, Quốc Phong
Nguyên phóng
viên báo “Hà Nội hàng ngày”, “Thủ đô Hà Nội”
Mất ngày
30/5/1980, thọ 67 tuổi”
(Sđd, tr. 205)
Chưa biết quê quán, những có thể đoán năm sinh (1980 – 67 =
1913). Cũng có thể hiểu rằng, Thiều Quang tiếp tục làm việc ở báo Hà Nội
hàng ngày và sau đó là Thủ đô Hà Nội, chứ không làm việc ở tờ Hà
Nội mới, tính từ 1967.
Nhà giáo Nguyễn Hoành Khung cho tôi biết: Thiều Quang Lê
Quang Lộc là em ruột nhà phê bình Thiếu Sơn Lê Sĩ Quý (1907-77).
Tra cứu trong cơ sở dữ liệu của Thư viện quốc gia ở Hà Nội,
có thể thấy từ trước 1945, Thiều Quang đã là tác giả của một số cuốn truyện
như Khúc ca trường hận (Imp. Ng. Văn Giác, H., 1940), Tiếng gọi
của oan hồn (Hương Sơn, H., 1940), U uất (Imp. Duy Tân, H.,
1941), Một gia đình giữa hai thế kỷ (Á Châu, H., 1942), Lên đường (C.I.P.C.,
H., 1945).






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét