Thứ Ba, 23 tháng 1, 2018

Tiếng chuông chùa

Tiếng chuông chùa
Ngoài trời mưa vẫn rơi, Nhung cứ lặng lẽ bước từng bước nặng nề lên dốc núi cho tới lúc hai chân rã rời Nhung mới chịu dừng lại ở một phiến đá để nghỉ chân. Nhung tủi thân khi thấy xung quanh mình ai cũng có bạn bè, người thân, còn mình thì một mình lầm lũi trên những lối mòn đầy lá khô và sỏi đá, không biết đi về đâu! Từ lâu rồi, Nhung sống cũng như chết vì tất cả mọi người đều quay lưng, ngoảnh mặt đối xử ghẻ lạnh với mình.
Nghe nói trên ngọn Phụng Hoàng Sơn có rất nhiều am, cốc, chùa, miễu là nơi tịnh tu của những tăng ni và phật tử có tấm lòng từ bi hỉ xả nên Nhung muốn tìm đến với hy vọng mong manh sẽ được họ dang tay làm phước nhưng ngại không biết họ có chịu cứu vớt một linh hồn đầy tội lỗi như mình hay không!
Đã mấy hôm rồi, Nhung thất thểu như kẻ mất hồn, hết ghé chùa này sang chùa khác nhưng tới đâu cũng bị tiếp đón lạnh lùng, ngay cả những người tu hành họ cũng tìm cách xa lánh. Sau nhiều ngày ăn quán, ngủ bờ, số tiền mang theo sắp cạn mà Nhung vẫn chưa tìm được chỗ nương thân. Nhung muốn quay về nhưng bước chân như khuỵu ngã. Những lúc tuyệt vọng Nhung cũng muốn kết liễu đời mình cho xong, nhưng mỗi lần nhìn xuống vực sâu lại có cảm giác lạnh sống lưng. Thế rồi, Nhung lại tiếp tục đi, đi mãi giữa những vườn cây hiu hắt, băng qua những xóm rẫy tiêu điều rồi rẽ qua một căn nhà vừa có tiếng con nít khóc để xin nước uống luôn tiện hỏi thăm đường lên chùa. Cảnh vật xung quanh chỗ nào cũng đìu hiu, vắng vẻ, bỗng từ đâu có tiếng chuông chùa thánh thót, rót vào không gian từng thanh âm trầm lắng, gây cho Nhung một cảm giác mênh mang bất tận. Lần theo tiếng chuông, tiếng mõ nhịp nhàng, Nhung leo thêm vài đoạn dốc nữa thì tới một ngôi chùa nhỏ ẩn mình dưới những tàng cây cao vút.
Nắng chiều trải dài trên các sườn núi cheo leo, tràn qua chiếc cổng rào bằng tre xiêu vẹo. Nhung đứng thập thò trước cổng chùa một hồi lâu. Mãi một lúc sau mới có một sư bà ra hỏi:
Mô Phật! Thí chủ ở đâu mà đến đây vào lúc này?
Dạ! Cháu tên là Nhung, quê ở Long Xuyên, vì lỡ đường nên ghé qua đây nhờ sư bà cho cháu ngủ nhờ qua đêm.
Mô Phật! Chùa này chỉ dành riêng cho những người xuất gia. Vả lại đây là nơi am sơn cùng cốc, đâu thích hợp với thí chủ.
Khuôn mặt Nhung trở nên phờ phạc, hai dòng nước mắt chảy dài xuống đôi má, Nhung nghẹn ngào van xin:
- Xin sư bà rủ lòng thương xót, nếu bà không đồng ý, cháu không còn biết bám víu vào đâu, chỉ còn cách ngồi đây cho tới sáng. Thú thật với sư bà, cháu là kẻ không nhà, bị cha mẹ, anh em, bạn bè bỏ rơi, cùng đường mới đến nương nhờ cửa Phật.
Sư bà Diệu Thanh cám cảnh bảo:
- Bây giờ đã tối rồi, thôi thí chủ hãy vào đây nghỉ tạm qua đêm rồi sáng mai sẽ tính. Nhưng dù sao, nhà chùa cũng phải trình cho khu vực biết chuyện này.
Đêm hôm đó, thời tiết sập sùi, bên ngoài mưa bay gió lạnh, những thân tre chạm nhau răng rắc nghe đến rợn người. Nhung ngồi thu mình bên ngọn đèn tù mù kể hết cảnh đời đau thương để sư Diệu Thanh thấu hiểu:
"Hồi đó cháu học rất giỏi nhưng đến hết lớp 12, mẹ cháu không may bị bệnh qua đời, cha đi lấy vợ khác, đứa em kế còn nhỏ dại nên buộc lòng cháu phải đi làm công cho một nhà hàng. Được ít lâu, cháu khờ khạo bị một người đàn ông dụ dỗ hãm hại đời cháu. Vì đã lỡ phóng lao nên đành phải theo lao, cháu chuyển qua làm tiếp viên cho một cửa hàng bán bia ôm và cuối cùng đã phải trả một cái giá quá đắt giữa tuổi đời hai mươi. Sau khi xét nghiệm biết mình bị nhiễm HIV, cháu đã tìm cách trốn tránh vì ai nấy đều nhìn cháu với cặp mắt lạnh lùng và khinh bỉ…”
Sáng hôm sau, thay vì mở cổng tiễn Nhung ra về để khỏi phiền phức, sư bà Diệu Thanh lại bảo ni cô Diệu Liên dọn một căn phòng bên cạnh nhà củi để đưa Nhung qua đó tạm nghỉ, chờ xin ý kiến của chính quyền địa phương.
Như người sắp chết đuối vớ được phao, Nhung muốn đem hết nghị lực ra để sống nốt những ngày còn lại. Thường ngày, Nhung ra rừng kiếm củi, hái thuốc hoặc trồng rau, cố quên đi cái quá khứ đau buồn và khỏi bị ám ảnh về cánh cửa thời gian đang từ từ khép lại. Nhưng gió mưa rầu rĩ, càng muốn quên, bao cảnh tượng chết chóc cứ lại hiện về khiến Nhung không một lúc nào yên ổn.
Sư bà Diệu Thanh hết lòng an ủi và khuyên Nhung nên giữ cho tâm hồn thanh tịnh. Người nói: "Nếu cứ níu kéo quá khứ thì hiện tại sẽ không bao giờ an lạc. Chỉ có tình thương và hy vọng mới có thể làm lành các vết thương đau”. Nhung vâng vâng, dạ dạ nhưng trong lòng lúc nào cũng lo âu buồn bã. Có những đêm khuya lơ khuya lắc mà Nhung vẫn còn ngồi một mình bên ngọn đèn leo lét nhìn chiếc bóng vật vờ trên vách lá mà tự xót thương cho số phận.
Chỉ vài tháng sau, Nhung bắt đầu nhớ nhà nhớ quê như điên như dại. Tiếng bìm bịp vang lên từ khe suối và tiếng cuốc khắc khoải ở đầu non đã níu kéo Nhung về với quê mẹ. Nhung thèm một buổi tối cùng gia đình ngồi xem Ti vi, hoặc cùng bạn bè rủ nhau bơi xuồng ra đồng nhổ bông súng đem về chấm mắm kho. Nỗi đau bị hắt hủi đằng đẵng hai năm qua đã lần hồi gặm mòn sức lực, hằn lên đôi má và ánh mắt khiến Nhung ngày càng xanh xao, héo hắt, niềm tin hoàn toàn bị sụp đổ. Cơ quan y tế dưới triền núi hay tin cử người lên tư vấn và động viên, an ủi Nhung yên tâm để vượt qua những tháng ngày cô quạnh, nhưng linh tính báo cho Nhung biết cái chết đang không còn xa lắm. Nhung thiết tha xin sư bà Diệu Thanh cất cho một cái chòi tranh bé nhỏ bên cạnh dòng suối để Nhung ra đó sống gần gũi với cỏ cây hoa lá, đồng thời cũng nhẹ bớt gánh nặng cho nhà chùa. Sư bà đồng ý và hứa sẽ cung cấp gạo muối, thức ăn cho Nhung. Thật ra Nhung chỉ mới bị nhiễm HIV nhưng do tinh thần bị khủng hoảng nên cơ thể ngày càng suy nhược.
Trong căn chòi mới dựng lên, Nhung đang nhúm lửa nấu cơm, khói chiều bay lên quấn quýt trên những chòm cây rồi lan toả ra xa. Vài tiếng sáo vỗ cánh bay đi cất tiếng kêu rời rạc như gợi cơn buồn. Từ phía bên kia vách núi, một nhóm người cuốc rẫy thường hay qua đây lấy nước nhưng mỗi lần gặp Nhung họ đều tìm cách lẩn tránh. Đặc biệt hôm nay lại có một người đàn ông áo quần xộc xệch bước đến làm quen khiến Nhung không khỏi ngạc nhiên.
- Nhà anh ở gần đây à? - Nhung hỏi.
- Dạ, tôi đang ở đậu nhà một người bạn phía bên kia ngọn đồi này. Từ hôm cô dọn nhà về đây tôi muốn ghé qua chơi nhưng không có dịp.
- Xin lỗi, ông tên chi?
- Tôi tên là Mẫn.
- Còn tôi tên là Nhung. Có người còn gọi tôi là Nhung Si đa. Ông đến đây bộ không sợ bị lây nhiễm sao?
- Thưa cô, nếu sợ thì tôi không đến. Hôm nay tôi đến đây là có ý muốn chia sẻ cùng cô. Ở đời, mỗi người đều có một số phận. Tôi cũng thế thôi!
Kể từ hôm ấy, Mẫn thường xuyên đến thăm Nhung. Hai người lúc đầu còn rụt rè, thận trọng từ lời nói, cử chỉ nhưng chẳng bao lâu họ đã trở thành đôi bạn thân.
Mẫn buồn bã kể:
- "Nhà tôi nghèo, mẹ mất sớm, cha lại bỏ nhà đi theo người đàn bà khác nên tôi phải bỏ học nửa chừng, lang thang kiếm sống, hết khuân vác rồi chạy xe ôm… Chú tôi thấy vậy bảo lên núi cho 5 công đất rừng để làm rẫy, đợi khi nào khá mới dọn hẳn về đây.”
Nghe Mẫn kể, Nhung cảm thấy lòng mình se lại. Nhìn Mẫn, một thanh niên chưa đầy ba mươi tuổi mà râu tóc bờm xờm trông cằn cỗi như một cụ non.
Từ lâu, Nhung đã quen lủi thủi một mình, nay lại có Mẫn khiến cho căn chòi vốn đã hiu quạnh nay bỗng nhiên ấm cúng lạ thường. Tuy vậy, hai người vẫn có một khoảng trời riêng, một ước mơ riêng.
Nhiều lúc "Đêm nằm nghe vạc trở canh. Nghe sư gõ mõ, nghe anh thì thầm” chỉ làm cho Nhung thêm tê tái. Có lúc Nhung muốn từ chối sự có mặt của Mẫn, muốn trở về với thực tại cô đơn để sống một khoảng trời riêng nhưng mỗi lần Mẫn đến thăm mang theo nải chuối, củ khoai hoặc mớ rau rừng, Nhung cảm thấy lòng mình trở nên yếu đuối.
Sư bà Diệu Thanh đã hiểu rõ hoàn cảnh đáng thương của hai người nên đã tìm cách động viên an ủi họ, sẵn sàng trích bớt phần lương thực của nhà chùa để giúp Nhung vượt qua những tháng ngày bão tố. Thỉnh thoảng Mẫn rủ Nhung vào rừng kiếm thuốc, hái rau rồi dần dần làm quen với cư dân để tìm cơ hội hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng. Mẫn tìm mọi cách để thuyết phục họ rằng bệnh AIDS không lây nhiễm qua đường hô hấp và tiêu hoá nhưng chẳng một ai tin, ngược lại họ còn bêu rếu chàng đã quan hệ bất chính với một cô gái si đa khiến chàng vô cùng thất vọng và đau khổ. Do đó, cuộc sống của hai người ngày càng bị cô lập và chìm dần vào góc khuất của cuộc đời.
Rồi cái gì đến cũng sẽ đến. Mẫn bắt đầu yêu Nhung, yêu một cách nồng nàn say đắm. Anh đã phát hiện trên gương mặt tiều tụy của Nhung còn đọng lại một dung nhan hồn hậu và quyến rũ diệu kỳ. Thế là Nhung và Mẫn bắt đầu thay đổi cách xưng hô, không còn khoảng cách xa lạ nữa. Đặc biệt, Mẫn rất quan tâm đến sức khoẻ của Nhung, ngày nào chàng cũng ép Nhung ăn rau, ăn thịt và uống nước thốt lốt thật nhiều để có đủ chất bổ dưỡng. Mẫn nghe nói có người bị nhiễm HIV nhưng sức khoẻ vẫn bình thường nhờ tập luyện và ăn uống đầy đủ, nhất là phải có niềm tin. Lúc nào Mẫn cũng gieo vào lòng Nhung một tia hy vọng và cố giữ vững niềm tin của nàng như giữ gìn màu xanh của những chiếc lá còn lại trên cành. Nhung cảm thấy vô cùng hạnh phúc vì cuộc đời này chưa bao giờ cô cảm nhận được một thứ tình cảm cao quý tuyệt vời đến thế. Nhung xúc động nói:
- Em chết không đáng tiếc, chỉ tiếc không được gần gũi bên anh mãi mãi. Em vô cùng cảm ơn anh. Chính anh đã nhóm lên ngọn lửa diệu kỳ giúp cho trái tim băng giá của em được ấm lại phần nào.
Thôi, đừng nói chuyện đó nữa! Cán bộ y tế cho biết nếu các bệnh nhân nhiễm HIV biết sống vui, sống lạc quan thì sau 5 năm, 10 năm sức khỏe vẫn bình thường và cũng có thể khỏi hẳn, không cần uống thuốc. Ngược lại, nếu em sống bi quan, chán nản, bệnh rất dễ phát sinh. Mẫn vừa nói vừa cầm tay Nhung khen: "Độ này nước da em hồng hào, trông đẹp lắm đó!”
Chiều hôm ấy, trời êm như ru, từng hồi chuông vang lên vọng vào hư vô, tiếng chuông thật yên bình khiến cho tâm hồn Nhung thơ thới, nhẹ nhàng. Bất giác Nhung đề nghị:
- Hay là mình lên chùa thăm các sư cô!
- Đi thì đi - Mẫn nói.
Lễ Phật xong, sư bà Diệu Thanh mời hai người dùng trà và có ý khuyên nhủ: "Cuộc đời này cũng giống như một vở kịch, nếu biết rõ cốt truyện thì không còn gì để đau khổ nữa. Các con hãy giữ cho lòng mình thanh thản, đừng níu kéo quá khứ, vì càng níu kéo càng vướng bận lo âu...”
Tuy nhiên, ngày tháng cứ dằng dặc trôi đi, đêm nào Nhung cũng thao thức, lòng miên man nghĩ đến những giây phút cuối cùng của một đời người. Có lúc cô ngồi trầm mặc dưới gốc bồ đề, nghe tiếng ve sầu vang lên tha thiết.
Một hôm Mẫn về quê khoảng một tuần để bán nhà, gom tiền lên núi dự định cất nhà sống chung với Nhung. Ở lại một mình, Nhung bị cảm nằm bẹp mấy ngày, khi trở dậy đầu ê ẩm, da mặt xanh xao. Sáng nào ni cô Diệu Liên cũng mang cháo đến ép cô ăn nhưng cô nhớ Mẫn đến cồn cào không ăn không uống. Lẽ ra căn bệnh chưa quật ngã Nhung trong lúc này nhưng do buồn phiền, nên cô đổ bệnh.
Trên đường trở về núi, Mẫn cảm thấy bối rối lạ kỳ, tâm trạng không yên. Vừa bước vào nhà chàng hoảng hốt thấy ni cô Diệu Liên đang ngồi bên giường, còn Nhung thì đôi mắt nhắm nghiền.
- Nhung! Nhung! Anh về đây, em sao rồi?
Chàng ngơ ngẩn hết nhìn Nhung rồi lại nhìn sang ni cô Diệu Liên.
Ni cô day sang Mẫn:
- Mô Phật! Cô Nhung đang trở bệnh mấy ngày nay.
Mẫn nắm chặt tay Nhung. Mắt Nhung từ từ hé mở, đôi môi mỉm cười, nụ cười thật tươi.
Giây lát, Nhung đã ngồi dậy giữa đất trời bao la, tâm hồn khoan khoái, nhẹ nhàng. Nét mặt nàng từ từ khởi sắc lại, không còn vướng bận gì đến giữa cái sống và cái chết…
Hoài Phương 
Theo http://chuaphuclam.vn/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...