Nhà dân tộc học người Pháp Giắc-cơ Đu-nê (Jacques Dournes)
khi nói về vùng đất Tây Nguyên, có một câu bất hủ: “Nếu phải hiểu để mà có thể
yêu, thì lại phải yêu để mà có thể hiểu”.
Biểu diễn cồng chiêng Tây Nguyên.
Ảnh: LÝ HOÀNG LONG
Suốt hơn thế kỷ qua, biết bao người đã yêu Tây Nguyên theo
cách riêng của mình và đã mong được hiểu, nhưng yêu nhiều mà hiểu vẫn chưa bao
nhiêu. Văn hóa cổ truyền Tây Nguyên mãi là dòng chảy bất tận và tồn tại trong
những nghịch lý phát sinh cần giải quyết. Nhưng trước hết, cần một sự hiểu biết
và một tình yêu đầy tôn trọng, chất chứa trong đó cả những ưu tư khi lý giải về
sự biến đổi của không gian văn hóa đó theo tiến trình thời gian…
Huyền hoặc và nồng nàn
Tôi cũng yêu và cảm nhận Tây Nguyên theo cách của mình. Giống
như nhiều người, vì yêu, nên cái nhìn về văn hóa bản địa ở vùng đất vốn nhiều
bí ẩn này đôi lúc vẫn còn cảm tính. Bình tĩnh hơn, chợt nhận ra, có những điều
phải kiểm chứng trong hoàn cảnh tự nhiên và xã hội đang có những biến động, dịch
chuyển nhanh chóng. Một vùng văn hóa Tây Nguyên đã và đang có những đổi khác rất
rõ ràng so với những gì mà các nhà nghiên cứu dân tộc học như Henri Maitre,
Georges Condominas, Sabatier, Jacques Dournes rồi Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng
Chi, Phan Đăng Nhật, Đặng Nghiêm Vạn, Tô Ngọc Thanh, Ngô Đức Thịnh… từng ấn định
như những giá trị nguyên thủy bất biến.
Tôi đặt mình trong dòng tâm thức của những người con Tây
Nguyên để được buồn vui cùng nỗi vui buồn của họ. Mỗi lần có dịp lang thang
trên những nẻo đường rừng xưa núi cũ, về nơi những buôn làng heo hút, tít tắp mờ
xa dưới chân Trường Sơn Nam, tâm hồn tôi lại ám ảnh với những ca từ huyền hoặc
và giai điệu khắc khoải của ca khúc “Đi tìm lời ru mặt trời” của nhạc sĩ Yphôn
K’sor: Một mình lang thang trên đất này, theo dấu chân cha ông từng ngày. Một
mình qua sông, qua núi đồi, tìm mặt trời và tìm lời ru ngàn đời… Với những giai
điệu thuần chất Ê Đê ấy, Yphôn K’sor đã tự tình thay cho nỗi lòng của biết bao
chàng trai, cô gái núi da nâu, mắt sáng, vóc dáng hiền hòa. Họ, một thế hệ lớn
lên trong những nỗi niềm băn khoăn.
Họ muốn được hát giữa mọi người không ngại ngần như khẳng định
về sự tồn tại với thời cuộc hiện đại đang đổi thay từng ngày. Họ cũng đang tìm
cách níu giữ những không gian, những khoảnh khắc huyền thoại. Họ muốn đổi thay
và phát triển nhưng lại chưa biết tìm con đường nào để không đánh mất bản sắc
văn hóa của dân tộc mình, không đánh mất những gì mà cha ông ngàn đời nay tích
góp, lưu giữ như những di sản vô giá trước vòng quay nghiệt ngã của thời gian.
Những ca từ và giai điệu trong các tác phẩm của Yphôn K’sor,
của Linh Nga Niê K’Đăm, của K’razăn Đich, K’razăn K’Plin… cứ cất lên thống thiết,
cuồng nhiệt và thẳm sâu. Những thông điệp của niềm khát khao cần một sự sẻ
chia, một lời giải đáp. Những đứa con của đại ngàn yêu biết bao những ngôi nhà
dài, những bến nước xưa, những bức tượng nhà mồ đầy ma lực, tiếng chiêng khắc
khoải đêm trường hay những đêm khan (loại hình hát kể sử thi) huyền hoặc giữa
hai miền mơ thực.
Họ khao khát được đắm chìm trong ngôn ngữ tộc người, trong
dòng chảy văn hóa của vùng đất mình đang sống. Tôi không hiểu nhiều về họ nhưng
tôi hiểu nỗi âu lo của họ. Họ đi ra với thị thành, với rộng dài đất nước, tiếp
xúc với những nền văn hóa khác nhau, tìm đến cái mới và thích nghi dần với đời sống
hiện đại. Nhưng nơi họ trở về với chính tâm thức của mình vẫn là làng buôn,
nương rẫy, núi rừng, với thiên nhiên bí ẩn mà gần gũi.
Đêm đêm, bên bếp lửa nhà sàn giữa những người đồng tộc, khi cần
rượu trên chiếc chóe cổ ngấm men lúa mẹ nồng nàn vít xuống là lúc tiếng chiêng
ngân lên những giai điệu thiết tha. Những chàng trai, cô gái Ê Đê, Ba Na, Mơ
Nông, Mạ, Cơ Ho… uống dòng nước nguồn của những con sông K’rông Nô, K’rông Ana,
Sê-rê-pốc, Đa Dâng, Đa Nhim không thể lớn lên, không thể vững vàng khi rời bỏ cội
nguồn, xa lạ với không gian văn hóa mà ông cha đã dày công gìn giữ và bồi đắp.
Trong đôi mắt mầu nâu ánh lên giấc mơ trở về với những mùa suốt
lúa thơ mộng ngày xưa. Đó là mùa cao nguyên trùng trùng những trận gió hoang dại.
Miệng ngậm đọt lúa làm khèn Đinh Puốt, mắt nhìn rẫy lúa đầy những chiếc chong
chóng mầu đang quay, vòng quay chầm chậm, tiếng quay buồn buồn. Tiếng lục lạc
giục trâu thong thả về buôn. Tiếng đàn tre đẩy nước ngoài bến sông như kéo dài
thêm dòng chảy của thời gian vĩnh cửu. Tiếng con chim Tia Chôm, con chim Phí
bay về núi xa. Tiếng con nai, con hươu gọi bầy tha thiết.
Nghề dệt thổ cẩm ngày càng mai một,
chủ yếu chỉ còn trong các
buổi trình diễn.
Đừng để mai một theo thời gian
Miền ấy, miền mơ tưởng. Nó vẫn còn đó mà như đang dần rời xa.
Những giá trị văn hóa cổ truyền đang đứng trước nguy cơ phai nhạt nhưng những
người con Tây Nguyên vẫn mãi lưu tồn tình yêu với làng buôn. Vì sao văn hóa cổ
truyền mai một? Lý do quan trọng nhất là bởi không gian thực hành văn hóa đang
dần bị xâm hại, đó là: rừng và làng…
Làng ở Tây Nguyên (boom trong tiếng Mơ Nông, buôn trong tiếng
Ê Đê, plai trong tiếng Gia Rai, veil trong tiếng Cơ Tu…) là một đơn vị cơ bản
trong xã hội cổ truyền và còn lưu dấu đậm nét cho đến ngày nay. Người ta thường
nói, người Tây Nguyên có tính cộng đồng rất cao, thì tính cộng đồng đó là tính
cộng đồng làng, thậm chí “tính làng” còn sâu đậm và cụ thể hơn cả ý thức tộc
người. Làng Tây Nguyên từng là một thiết chế xã hội bền vững và quy củ. Làng được
điều hành bằng “hội đồng già làng”, là tập hợp những người hiền minh nhất của
làng. Hội đồng già làng từng quản lý và điều hành mọi hoạt động của làng bằng một
“hệ thống luật pháp” cổ truyền đặc biệt: luật tục. Cho đến nay, luật tục Tây
Nguyên vẫn tồn tại song hành cùng luật pháp và những mặt tích cực vẫn được phát
huy giá trị trong quản lý xã hội…
Làng Tây Nguyên là một kết cấu “làng rừng” - một không gian
thực hành văn hóa và tín ngưỡng lý tưởng cho các tộc người, nó bao hàm: một cộng
đồng cư trú, một cộng đồng sở hữu và lợi ích, một cộng đồng tâm linh, một cộng
đồng văn hóa. Nói khái quát, đó là một không gian văn hóa. UNESCO hết sức tinh
tế khi không phải là công nhận “cồng chiêng” hay “âm nhạc cồng chiêng” là di sản
Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại, mà công nhận “không gian văn hóa
cồng chiêng Tây Nguyên”. Không gian đó là rừng và làng. Có lẽ, họ hiểu rằng,
khi không còn không gian thực hành đó nữa, văn hóa cồng chiêng cũng như những
giá trị văn hóa quý giá khác sẽ khó có điều kiện bảo tồn, phát huy.
Rừng, với người Tây Nguyên không chỉ là nguồn tài nguyên,
không chỉ là hệ sinh thái mà chính là cội nguồn của đời sống tâm linh. Trong thẳm
sâu tâm hồn của họ, có một tình cảm ruột thịt và một lòng kính trọng thiêng
liêng đối với rừng, họ coi cây rừng đúng như một sinh vật sống, cũng tràn đầy cảm
xúc, cũng vui sướng, hạnh phúc, khổ đau, cũng có linh hồn. Khi buộc phải chặt hạ
một cây rừng cho nhu cầu thiết yếu, bao giờ người Tây Nguyên cũng ân cần làm lễ
xin lỗi cây, tạ ơn rừng. Rừng là không gian sinh tồn, theo nhà dân tộc học
G.Con-đô-mi-nát (Georges Condominas) còn là “không gian xã hội”, và là cội nguồn
của tâm linh, phần sâu xa nhất của đời sống con người. Mất rừng thì con người
và cộng đồng người mất đi cái nền rộng lớn, bền chặt, thẳm sâu nhất của mình,
trở nên bơ vơ, tha hóa, mất gốc, mất cội nguồn. Văn hóa Tây Nguyên là văn hóa rừng.
Toàn bộ đời sống văn hóa đó, từ hệ giá trị đến những tín hiệu nhỏ đều là biểu
hiện mối quan hệ khăng khít, máu thịt của con người, của cộng đồng với rừng.
Khi không còn rừng, tất yếu văn hóa rừng sẽ mai một và dẫn đến biến mất.
Rừng đang dần mất. Kết cấu làng có nguy cơ tan rã. Cơ cấu dân
cư bị đảo lộn. Tập quán sống dựa vào rừng ít dần cùng với sự thay đổi phương thức
canh tác. Đó là những nguy cơ có thể dẫn đến sự đổ vỡ văn hóa truyền thống bản
địa Tây Nguyên. Khi nói đến văn hóa Tây Nguyên, người ta thường nói đến hệ thống
các lễ hội, nhà rông, nhà dài, cồng chiêng, các loại nhạc cụ, các làn điệu dân
ca, dân vũ…, là những thực hành văn hóa gắn chặt máu thịt với không gian rừng
và thiết chế làng.
Không gian huyền thoại đang dần dần trở về với thời dĩ vãng.
Những buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số không còn gì nhiều để phân biệt với
nhau và với làng người Kinh. Họ ăn mặc như nhau và cũng giống người Kinh. Nhà
khá giả thì xây biệt thự, đi làm rẫy bằng xe ô-tô, xe máy đời mới. Lễ hội các
dân tộc cứ nhạt nhòa dần. Sinh hoạt truyền thống cộng đồng buôn làng cũng không
còn mấy người quan tâm. Nước ngọt, bia lạnh thay cho rượu cần. Những bến nước
nguồn thiêng không còn được sửa sang, chăm chút. Những nghệ nhân dân gian trong
các buôn làng cũng dần dần ra đi và bỏ lại phía sau những khoảng trống không thể
bù đắp. Sợi dây thắt chặt một cộng đồng văn hóa hình như đang lơi lỏng, tuột dần
theo nhịp sống hiện đại. Người già ngậm tẩu ngồi im lìm bên bậc cầu thang mà
lòng nao nao buồn nhớ tháng ngày đã xa. Lứa trẻ hoang mang, khó tìm đường theo
cánh chim Phí bay về cội nguồn…
Người Tây Nguyên đang thật sự lo lắng khi phải chứng kiến những
biến động theo chiều mai một dần của hệ thống giá trị văn hóa cổ truyền Tây
Nguyên.
UÔNG THÁI BIỂU








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét