Điên như Kiệt Tấn
Bài 1. Em vịt vàng nhỏ của tôi ơi!
Thuở còn bé, St Exupéry vẽ một con trăn nuốt con voi mà bao
nhiêu người lớn nọ cứ tưởng là vẽ một cái mũ. Cái hồn mộng mị mà người lớn
không sao hiểu được ấy, mãi sau này, giữa sa mạc mông mênh, giữa chết và sống,
chú mới tìm được người đồng cảm. Đó là một cậu bé mong manh như ánh trăng từ một
tinh cầu bé xíu đi lạc xuống trần gian, nhờ vẽ cho một cái rọ bịt mõm. Phải mất
một lúc lâu, từ người lớn trở lại làm đứa bé, anh mới vẽ được một cái thùng
hình hộp đủ cho trí tưởng tượng của chú bé tin là mình đang nhốt một con cừu.
Hoàng tử bé của tôi ơi! Biết bao người ở khắp nơi trên thế giới
đã từng kêu lên như thế. Nhờ cậu mà tâm hồn khô cằn của họ bỗng dưng xanh mướt
như cỏ tháng giêng, để cho đứa bé của năm xưa bước đi núng nính. Nhưng họ là những
cư dân của phố thị giàu có rộn ràng. Họ reo vui khi tìm lại được thiên đường tuổi
nhỏ nhưng với một anh nông dân cho dù là ở xứ Bạc Liêu giàu có nếu một hôm bất
ngờ gặp hoàng tử bé thì cũng chỉ biết giương mắt ếch mà nhìn. Vì sao? Vì chú
mong manh quá, cao sang quá, con của vua mà lại!
Cho dù Kiệt Tấn đã có bằng đại học ở Canada và đang
sống ba mươi năm hơn ở Pháp, tôi vẫn tin ông là một nông dân. Mà lại là nông
dân thứ thiệt, chẳng tin, thử đọc Em vịt vàng nhỏ của tôi ơi thì hết
cãi. Kiệt Tấn không kêu Hoàng tử bé của tôi ơi mà lại kêu em vịt vàng nhỏ của
tôi ơi!, kêu lên giữa Paris hoa lệ, giữa xứ sở của St Exupéry, kêu lên giữa lúc
khôn nguôi nhớ về cái tuổi nhỏ quê mùa ở tận Hậu Giang, chỉ mong đến Tết để được
ăn thèo lèo cứt chuột!
Mà lại kêu bằng em mới dễ thương và dễ ghét làm
sao! Dễ thương vì một cậu bé sáu tuổi tưng tiu con vịt bé xíu như em út của
mình là thương đứt đuôi con nòng nọc rồi, không trật một ly ông cụ nào. Còn dễ
ghét là vì anh dám gọi con vịt bằng em trong khi tôi là vợ anh cho dù đã già
nhưng rất hiền lại cứ bị gọi mụ nọ mụ kia! Hay là tại ông điên như
Bùi trung niên thi sĩ đã từng kêu các nàng dê bằng em! Kêu sướng miệng quá, ước
gì tôi cũng điên được như ông.
Nói vậy mà chơi chứ ông không điên đâu, ông khôn bỏ mẹ. Ông
mượn cái chết của con vịt vàng để chửi Pháp, chửi chiến tranh, chửi thằng con
bà chủ, chửi luôn cả bà, lại nói kháy cả ông cụ sinh ra mình. (Cái chi tiết bà
chủ đi ra bờ ao xả nước thải bị con vịt xiêm cồ cuồng dâm rỉa cái bàn tọa la
choi chói đã lạ rồi mà ông bố bảo gặp tao, tao cũng rỉa huống hồ là con vịt, quả
thật là có một không hai trong văn chương Việt).
Xin được trở lại với em vịt vàng. Câu chuyện bắt đầu bằng một
cái trứng vịt ( trứng sinh ra vịt đấy nhé, đừng có cãi cù nhầy nữa). Cậu bé Kiệt
sáu tuổi một hôm nhặt được một cái trứng giữa đám ruộng trước nhà. Cậu lấy mực
đánh dấu rồi nhờ con vịt xiêm mẫu hậu ấp nở giùm. Con vịt xiêm là mẹ nuôi còn cậu
tự xưng là anh ruột. Nhưng vịt vàng xinh xinh lại tưởng mẫu hậu là mẹ ruột nên
suốt ngày cứ lẻo đẻo chạy theo. Và rồi một hôm trước tết, bị một đoàn xe nhà
binh và xe thiết giáp của Pháp cán chết. Chỉ có vậy thôi, nhưng tôi nghĩ Trường
hận ca của Bạch Cư Dị khóc Dương Quý Phi, hay Tự Đức khóc Trịnh Bằng Phi cũng
không lâm ly não nuột bằng chú bé Kiệt Tấn khóc em vịt vàng của mình. Không bằng,
bỡi vì cái chết của con vịt vàng tội nghiệp quá. Mười mấy chiếc xe mười bánh và
xe tăng xích sắt kêu loảng xoảng cán qua thì còn gì là xương thịt. Không bằng,
cũng bỡi ông quan tư mã áo xanh và ông vua ốm yếu mặc hoàng bào ấy dẫu sao cũng
đã là người lớn. Mà người lớn thì đã chắc gì khóc thiệt nhất là khóc bằng
cách “đập cổ kính ra tìm lấy bóng/ xếp tàn y lại để dành hơi”
Có một thời tôi cũng đã khóc con chó mực của mình, nhưng khi
cột ba đồng tiền vào cổ liệng xuống sông là hết khóc ngay. Có đâu như Kiệt Tấn,
qua Canada rồi qua Paris mà vẫn còn khóc đến tận bây giờ.
Xem cái đoạn cậu bé sáu tuổi phải mất một buổi ngồi nhặt từng sợi lông, cạy từng
chút đất sỏi dính máu dính thịt bỏ vào tờ báo gói đem đi chôn, tôi không khỏi liên
tưởng đến người mẹ Gio Linh nghẹn ngào không nói một câu mang khăn gói đi
lấy đầu. Có biết bao người mẹ đi nhặt xác con, người chị đi nhặt xác em,
người vợ đi nhặt xác chồng trong cuộc chiến dài lê thê vừa qua! Bây giờ ông hãy
còn khóc là khóc cho bọn họ, những nạn nhân không tên không tuổi ở quê hương
mình.
Cái tuổi thơ của những người Việt nay sáu bảy chục tuổi là vậy.
Mất mát nhiều quá. Chỉ một con vịt vàng bé xíu kêu lép kép đã đau như thế huống
hồ mất mẹ, mất cha, mất cả quê hương.
Em vịt vàng nhỏ của tôi ơi! Từ ngày em bị chiếc xe nhà binh
mười bánh và chiếc xe tăng nghiến nát, cuộc chiến tranh không ngừng tiếp diễn
khốc liệt ở quê hương hai anh em mình Tôi tô đậm sáu chữ này để khắc
sâu một lần nữa cái quê hương đằng đẵng ba mươi năm chiến tranh khiến một người
giàu xúc cảm như ông xót xa khi nhớ tới. Con vịt vàng bé xíu bị hàng chục chiếc
xe mười bánh và những chiếc xe tăng nghiền nát sao giống với thân phận của nước
Việt mình quá.
Năm nay đào lại nở, năm nào đào chẳng nở, nhưng ông chẳng nhớ
tới ông đồ già, cũng chẳng nhớ tới một nhân diện đào hoa tương ánh hồng nào, lại
càng không nhớ tới một tà áo tiểu thư hay tóc vàng sợi nhỏ mà nhớ tới em vịt
vàng nhỏ của mình. Nhớ tiếng kêu lép kép, nhớ màu lông vàng tức là nhớ tới cái
xóm Mới tuy nghèo vẫn rộn ràng đón xuân. Nhớ tài kho thịt của cha, quần áo mới
do má xỏ kim may có hai túi thẳng hai bên coi cũng le lói lắm. Trên tầng thứ mười
lăm của một cao ốc lạnh lẽo ở ngoại ô Paris, ông nhớ thương quê cha đất tổ
còn hơn bà huyện Thanh Quan nhớ nước đau lòng con quốc quốc / thương nhà mỏi
miệng cái gia gia khi đi qua đèo Ngang.
Ông Kiệt( không có chữ Trụ) ơi, bắt chước một câu thơ nổi tiếng,
tôi cũng kêu lên rằng, ông ơi, ông ở rất xa/ mà sao tôi thấy rất là Việt Nam.
Ông đã là dân Paris rồi nhưng không mất gốc, những người đã gần bảy
chục tuổi đầu mà còn biết nhớ tới con vịt vàng bé xíu là không bao giờ mất gốc.
Nỗi nhớ như rễ đước cắm sâu ở rừng Cà Mâu thì sóng gió nào nhổ bật lên được.
Cũng đừng bảo rằng chuyện một con vịt be bé bị xe cán có chi
đâu mà phải ầm ĩ. Hãy nhớ rằng đối với một đứa bé sáu tuổi, con vịt xấu xí đó
đã được cậu yêu thương hơn cả cha, yêu như yêu mẹ đó, thì trên đời này không có
gì to tát bằng. Yêu nước, yêu dân, cậu không biết yêu ra làm sao, nhưng bảo
yêu con vịt từ lúc xí được cái trứng cho đến khi biết kêu lép kép là cậu hiểu
được và yêu được. Yêu mãi cho đến già, đến chết.
Trở lại câu chuyện Hoảng tử bé. Tác giả bảo cảnh đẹp nhất là
cảnh vẽ một ngôi sao cô độc trên nền trời sa mạc. Còn đây là cảnh đẹp và buồn
nhất mà ông Kiệt vẽ ra cho tôi, một người đồng niên ở tận quê nhà: trên cụm
mây xa thiệt xa, tôi hình dung một đứa nhỏ sún răng đang ôm con vịt vàng nhỏ của
mình trong lòng và hai anh em đang bồi hồi ngó xuống trần gian ngắm thiên hạ nở
pháo rộn ràng đón Xuân…
Cảm ơn ông đã cho tôi sống lại thuở lên năm lên sáu bằng một
truyện nhỏ đầy chất dân dã mộc mạc như những câu hát buồn muốn chết mà thương
cũng muốn chết trên Cửu Long giang.
Bài 2; Năm nay đào lại nở
Ờ, đào lại nở trên đất Paris! Lại một mùa xuân rưng rức
hoa đào làm lạnh thêm một người xa xứ. Để ấm lòng, ông Kiệt Tấn hết nhớ em vịt
vàng bé xíu lại nhớ đến những người đàn bà mà có lẽ chỉ có ông trên đời này mới nhớ
tới họ mà thôi.
Những người đàn bà ấy, một bà lượm lon, một bà bán càrem, một
bà bán đậu phộng. Ba người ấy là những “mối tình đầu” theo như cách nói của
ông. Mối tình đầu của tuổi học trò! Ông có đùa dai không đấy. Sao không là Diễm
để những chiều mưa sao em không lại? Sao không là Ngọ để theo Ngọ về? Sao không
là người em xóm học để em ơi “khoóc” đi em? Mà lại là những bà cụ hom hem chít
khăn mỏ quạ đi dép Nhựt cũ đến nỗi cao su bè ra, hoặc đội một chiếc nón rách
tơi tả, hoặc để đầu trần đi cẳng không, áo trắng rách lưng đã ngã màu vàng xỉn!
Yêu lần đầu mà yêu như thế, bảo sao người ta không bảo ông
điên!
Người tình đầu thứ nhất ông gặp ở xóm Hàng Xanh. Mới Tết xong
ba bữa đã lại hỏi: thưa ông cho nhà cháu hỏi thăm, còn mấy hôm nữa thì là
tết ạ? Còn lâu lắm cụ ạ! Thế hở ông? Thế mà cháu quên mất, làm phiền ông quá.
Ông cho nhà cháu xin lỗi.
Những câu nói làm tôi bỗng giật mình. Cụ bà đồng bằng bắc bộ
di cư ấy những năm mươi năm trước đây sao ăn nói lễ phép và lịch sự đến như vậy.
Chả bù với bây giờ, nào nỡm, nào cút xéo ngay không bà đánh cho nát mặt!
Và cụ lại hỏi: Phiền ông cho nhà cháu hỏi thêm. Ông có
biết nhà ông Đa ở lối nào, xin ông chỉ hộ cho nhà cháu! Lịch sự hơn cả
Tây, hơn cả Mỹ!
Ông Đa là ông nào, có trời mà biết, nhưng bà cụ lượm lon cứ
quanh quẩn ở xóm Hàng Xanh hỏi mãi. Ông Kiệt đoán chừng có thể là người tình cũ
lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm, cũng có thể là người chồng đi lạc lúc
trốn lên tàu di cư vào Nam. Một cụ bà còm cõi lẩn thẩn đi tìm người xưa cứ
tới lui hỏi mãi khiến ông Kiệt đa đoan của chúng ta “yêu” lúc nào không hay. Vì
yêu nên thương. Vì thương nên lo. Vì lo nên sợ. Và ông sợ rằng, xe tăng
thiết giáp rần rần rộ rộ kéo lê những khẩu đại bác dài ngoằng băng qua xóm Hàng
Xanh một ngày nào đó sẽ làm cho cái khăn mỏ quạ, đôi dép Nhựt bổn, mấy cái lon
vừa lượm được văng tung toé và trái tim vẫn còn ấp ủ hình bóng người xưa còn đập,
nhảy trên mặt đường!
Người tình đầu thứ hai là một bà già bán cà rem lúc tác giả
còn học tiểu học. (Yêu sớm quá ông Kiệt nhĩ?). Không như bây giờ, kem đông cứng
thơm ngon đựng trong thùng xốp, kem của sáu mươi năm trước xanh đỏ toàn nước đá
đụng một tí là vỡ tan, lại giữ trong tẹt mốt làm bằng thuỷ tinh, nên người bán
phải nâng niu ôm giữ trong lòng. Bà không thể chạy theo khách hàng là đám học
trò nghịch phá như quỷ, không thể cạnh tranh với bọn con trai ma mảnh bày trò đổ
xíngầu để vét sạch túi bọn nhỏ. Bà chỉ ngồi một chỗ vẩy vẩy cái chuông bằng đồng
bóng loáng, leng keng, leng keng mời mọc như con chó hiền lành chỉ chờ có
người ngó là vẩy đuôi ngoắc! Bà già nghèo xấu xí đó không ngờ hiện ra dưới
mắt cậu bé Kiệt thân thương đến nỗi cậu thấy đó là má tôi đang ngồi
chồm hổm. Gọi má ngon lành, má tôi tay xách bình cà rem, đứng
ngó thằng con trai của bà đang xếp hàng đi vào lớp.
Yêu như ông đúng là điên thật, một người điên vô lượng thanh
khiết, dẫu tôi có muốn điên cũng đâu có dễ.
Người tình đầu thứ ba là một bà già bán đậu phộng ở bến xe Mỹ
Tho. Bà cũng rách rưới, xập xệ nhưng lúc nào cũng sẵn sàng tặng không một nụ cười
móm mém cho khách. Cũng như bà bán cà rem, bà không thể nào tranh khách được với
các cô gái nhanh nhẹn trẻ trung. Vì vậy bà bán ế. Mà càng ngày càng ế ẩm hơn nữa
vì bà buộc phải bán đậu lép. Trời hỡi! Sao khốn cùng tới mức phải đi bán đậu
lép! Tác giả kêu lên nghe đứt ruột. Đứt ruột vì một người biết việc bán đậu
lép là không lương thiện mà vẫn cứ phải bán. Dù có lí nhí cảm ơn, dù có tặng
không bao nhiêu nụ cười thì trong lòng bà vẫn nặng trĩu xấu hổ xót xa. Con trai
đi lính chết, con dâu phải tần tảo nuôi con. Hạt chắc cô dâu luộc bán ban ngày,
hạt lép để bà lập lờ đánh lận con đen lừa bán trong đêm. Có vậy mới kiếm được
chút tiền lời nuôi mình và nuôi cháu! Thế là những người nghèo muốn sống lương
thiện cũng khó mà sống được. Cứ phải dối gạt một chút. Một chút nhưng mà cả một
đời dài thì dối gạt bao nhiêu?! Cho nên những hạt đậu ấy tan vào miệng ông đắng
chát.
Ngồi ở tầng cao Paris bên ly rượu vàng sóng sánh mà ông không
nhấm nháp được hương vị nồng nàn của mùa xuân vì ông nhớ ra không chỉ ờ Hàng
Xanh, ở sân trường tiểu học Bạc Liêu, ở bến xe Mỹ Tho mà còn ở bến
phà Rạch Miễu, Cần Thơ, Vàm Cống…nhiều không đếm hết những bà
già quê hương, những bà có làn da nhăn thơm tho mùi đất, có nụ cười rì rào tre
trúc, có bàn chân nứt nẻ phù sa, có trái tim từ bi vô lượng đã bơm máu vào rún
tôi từ thưở còn trong bụng mẹ. Những bà mẹ Việt Nam không một
chút anh hùng, những bà mẹ bình thường của bao nhiêu năm chinh chiến. Vẫn còn
đó những mối tình đầu của ông. Vẫn còn đó cho dù thời gian qua mau và cuộc sống
quay cuồng khiến chúng ta vô tình hay ơ hờ không thấy.
Ông Kiệt ( không có Trụ ) ơi, đọc xong truyện này tôi thấy mắc
cỡ quá. Mắc cỡ vì tôi đã từng gặp bao nhiêu người lượm lon, bán cà rem, bán đậu
phộng, bán chuối chiên, cóc ổi xoài như ông mà sao lòng tôi lúc ấy và cả đến
bao năm sau vẫn cứ dửng dưng. Tôi không khinh họ nghèo vì tôi có giàu có gì hơn
đâu, nhưng tôi lại chỉ động lòng trắc ẩn với những người ăn mặc lành lặn và nói
ra ông chớ cười, xinh đẹp một chút, trẻ trung một chút, sẵn sàng lao vào dòng
xe cộ như mắc cửi để nhặt cho nàng một chiếc khăn rơi, hay gồng mình làm Lục
Vân Tiên trước bọn lục lâm thảo khấu cho dù sau đó ôm đầu máu vì dở hơi trói gà
không chặt. Tôi nào dám gọi một bà bán cà rem, bà lượm lon hay bà bán đậu phộng
bằng má một cách thực lòng như ông.
Nhiều người khen ông là bồ tát nhưng tôi không nghĩ vậy. Ông
yêu họ một cách thực lòng vì cuống rún của ông chưa lìa, vì mùi bùn đất phù sa
vẫn chưa rửa sạch ở tim ông dù ông đang sống ở Paris. Sống ở Paris mà lòng
ông thì ở Bạc Liêu, ở Việt Nam, còn tôi và chắc cũng có nhiều người khác sống ở
Việt Nam mà hồn mộng ở tận Paris hay Nữu Ước! Sống xa quê hương mà ông lại nhớ,
lại yêu. Còn tôi sống giữa quê hương mà lại quên lại ghét. Đôi khi ghét quá vì
nghèo đói, vì tụt hậu, vì …hàng trăm thứ…!
Có ngứa ngáy cầm bút một đôi khi, tôi mới thấy viết được một
truyện như ông viết, nếu có phải lăn ra chết thì cũng thực là sướng. Sướng vì
ít ra cũng làm được một việc nhỏ có ích cho mình và cho đời. Mà đọc lại cho kỹ
thì thấy ông đâu có viết, ông chỉ trải lòng mình ra, không như trải thảm đỏ ở
nhà hàng khách sạn hay các cuộc đón rước phương diện quốc gia quan trên ngó xuống
người xa trông vào, mà là trải như lúa rạp mình trên đồng ruộng, như nước phù
sa đong đưa vào tận thềm nhà, trải như nghé con goi mẹ như cháu sà vào lòng bà.
Tự nhiên phơi hết gan ruột chứ không kỳ khu gọt dũa, không làm văn theo kiểu
cách tân.
Ông Kiệt ơi, cảm ơn ông đã cho tôi tìm gặp lại quê hương ngay
chính giữa quê hương mình. Tôi cũng như ông, chỉ mỗi một quê hương chiến tranh
nghèo đói, nhưng đó là một quê hương thật với những bà mẹ quê hương, mà dù
có đi khắp năm châu bốn bể cũng không dễ gì tìm ra được. Ờ, cũng như ông, tôi
yêu họ, dù đây là tình cuối chứ không phải tình đầu....
Bài 3: Em điên xoả tóc
Bệnh viện Paul Brousse, ngày…
“ Có hai điều tôi sợ nhất trên đời là bệnh tật và cô đơn. Mà
rồi bây giờ tôi cô đơn và bệnh tật. Hôm nay là ngày đầu tiên tôi ở nhà thương
điên…”
Đó là những dòng mở đầu cho nhật ký của ông. Và câu chuyện ở
nhà thương điên, cho dù là nhà thương điên của Tây có mỹ từ là bệnh viện tâm lý
thì cũng như Nguyễn Ngu Í và Bùi Giáng ở Chợ Quán Biên Hoà, có chi mà đáng nói
đáng viết. Đúng là không có chi nếu không có cái sự vụ một em tóc vàng sợi nhỏ
cũng điên như ông!
Khoan nói về nhà thương điên của Tây, hãy nói về nhà thương
điên của ta trước đã. Hồi học trung học, một anh chàng si tình phát điên bị
nhốt trong phòng có song sắt, hắn ta miệng nói làm xàm không ngớt và leo trèo
lòng vòng như khỉ phát chóng mặt. Bận khác đi thăm con nhỏ cháu tôi ở Chợ Quán.
Nó bị nhốt chung với rất nhiều người điên, nhà giam giống như chuồng nhốt súc vật
ở sở thú. Mùi hôi hám nhớp nhúa hực ra tanh thúi không thể tả. Nó đứng vịn song
sắt khóc ròng đòi về..Bỗng có một mụ dơ dáy quần áo rách bươm tới nắm tóc nó
kéo đi, tru tréo sao nó giết con mụ ta…
Bị đưa vào một nơi như thế ai mà không sợ. Nhà thương điên ở
bất cứ nơi nào trên thế giới cũng giống như một cái ruột thừa. Xã hôi tộng vào
đó những kẻ không chịu ăn như họ, nói như họ, ngủ nghê và làm tình như họ. Tộng
vào đó cho khuất mắt chứ chữa chạy được gì. Những người được coi là hết bệnh chẳng
qua là sợ quá nên chẳng dám điên nữa vậy thôi. Ông Kiệt bị đưa vào đó, tuy ở
Tây sạch sẽ hơn, văn minh hơn, nhưng là vẫn phải sống chung với bọn người mà xã
hội nôn mửa không muốn nhìn mặt. Với một người nhiều xúc cảm như ông thì nơi ấy
chính là địa ngục. Vậy mà rồi sau một giấc ngủ đầu tiên ở bệnh viện đen ngòm
như chén chí-bá phù, thức dậy ông lại thấy trời xanh nắng ấm, thấy chim chóc
cây cỏ bên ngoài cửa kính vẫn đẹp vẫn đáng yêu, ấy là bỡi thấp thoáng bên ông
có một mái tóc dài. Mái tóc thần tiên gợi nhớ những cô em trên Cửu Long giang,
trên những đường phố Sài Gòn Gia Định.
Nàng đẹp, phải công nhận nàng đẹp, nhưng đẹp đâu phải là một
lý do để nổi điên, ông nói. Điên phải có lý do chính đáng chứ. Như ông là vì mất
ngủ đến tám tháng, vì thất nghiệp, vì khổ đau xấu hổ phải để vợ đi làm ở nhà
hàng có ông chủ hay bốc hốt ẩu tả, vì cuộc chiến vừa qua làm bạn bè đứa chết,
đứa cụt tay cụt chân, đứa đi cải tạo và những thứ triết lý con tiều làm ông mệt
óc. Hay như anh chàng tây sún răng bị vợ bỏ theo người đàn ông khác, hay như mấy
ả đứng đường cũng biết yêu rồi thất tình hoá điên. Còn nàng tóc nhỏ mà dài như
thế, gót chân hồng như thế, ăn mặc trang nhã và tinh tươm như thế sao lại vào
đây? Ông cũng như tôi cứ tưởng điên là phải xấu, phải dơ, phải ăn nói quàng
xiên, múa may nhảy nhót bậy bạ, chứ đâu có mà ngồi yên một chỗ với cái nhìn xa
vắng như theo đuổi một hình bóng xa xăm ở cõi trời nào.
Đầu tiên ông tưởng nàng là một y tá của bệnh viện để mơ mòng
đợi nàng nghiêng mái tóc xuống mặt mình mà nhớ tới tàng cây vú sữa rì rào
trong nắng trưa, với những trái tròn căng như vú có sữa trắng, leo lên cây
không để hái trái mà để ngắm trộm nàng có lông tơ trên cánh tay, chị nàng có nước
da trắng trẻo…Cái máu mê gái đến thành bệnh của ông trong nhà thương điên này
không có chi là bậy bạ, mê một mái tóc dài thì có chết thằng tây đen nào đâu.
Cho nên ta thấy ông không sàm sỡ, trái lại đàng hoàng rất mực nếu không muốn
nói là hơi cả ngố. Tôi thò tay đặt lên giường nàng trái táo, như lén lút rồi
vội vã trở về phòng mình đóng cửa lại, tim đập mạnh.Không phải ông tán tỉnh
đâu, ông thương nàng quá đấy thôi, thương đứt ruột là bỡi một người đẹp có mái
tóc yêu kiều thướt tha như em sao lại nỡ nổi điên?
Dần dà rồi ông cũng làm quen được nàng. Khi trái táo, khi ly
sữa, khi cây cà rem. Cái cảnh ông và nàng ngồi trên ghế gỗ bên đường mút cà rem
là cảnh mà tôi thấy dễ thương nhứt, ngây thơ nhứt mà cũng tình tứ nhứt của những
người điên yêu nhau mà không hề biết. Rồi đó nàng tỉ tê kể cho ông nghe chuyện
mình. Nàng trước đây cũng là một y tá, nhưng ba mẹ kình cãi nhau miết khiến
nàng phải dùng dao cắt đứt gân tay. Người ta sợ nàng hoá điên nên phải đưa vào
đây.Thực ra là nên đưa mẹ nàng vì bà ghen với nàng, cứ ám ảnh chồng mình đã ngủ
với con gái! Cơ sự như thế đúng là đâu cái điền!
Không ai cạy miệng cho nàng nói mà ông làm được. Rồi nàng rủ
ông đi học vẽ, ông rủ nàng đi chơi phố, hứa dẫn nàng xuống Paris xem
xi nê. Nghĩa là hai người đang hết điên mà chẳng phải nhờ đến bác sĩ hay thuốc
men gì ráo trọi. Vậy mà bọn người duy kiến thức ấy lại định đưa nàng đi nơi
khác để chạy điện! Tôi bủn rủn. Người ta sẽ tra hai cực điện lên màng tang
Evelyne và phóng điện vào óc nàng, tóc nàng cháy khét lẹt. Làm sao chịu nổi! Còn
nàng: đôi mắt van lơn, anh, em không muốn đi! Nhưng cuối cùng họ vẫn
phải xa nhau để giờ này anh ngồi trên băng đá, nước mắt lưng tròng. Em ơi,
em ở đâu, em đã bớt điên chưa hay có còn sống sót?!
Cái thế giới người tỉnh với những Hitler, Mỹ, Nga, với bom
nguyên tử, với những chủ thuyết truy bức con người đến tận cùng, với Thượng đế
do họ dựng nên để rồi quỳ lạy cầu xin, cái thế giới ngu si loảng xoảng tiếng
xích sắt ấy quả thực là chẳng ai hiểu được người điên, chẳng ai giải cứu được họ
ngoài chính họ. Những người tỉnh chỉ làm cho họ điên hơn nếu không muốn nói là
giết họ từng ngày. Evelyne ơi, ngày nào em rời khỏi bệnh viện, ngày nào
anh rời khỏi bệnh viện, ngày nào anh và em hết khật khùng, anh hứa sẽ mua cho
em cây cà rem và dắt em đi coi hát bóng. Sẽ không coi phim thằng khùng ăn cắp
con gà đồng, mà sẽ coi phim thằng con người gỗ…Với những người duy ý chí, duy kỷ
luật, duy máy móc…thì ngày đó xa, xa quá, ngày mà ông mơ em sẽ không bao
giờ lớn thêm, anh sẽ không bao giờ trưởng thành, hai đứa mình không ai lớn lên
hết, ngày của thiên đường vì màu thời gian thanh thanh của tuổi thơ như ngừng
lại nên xanh hơn bao giờ, ngày đó không bao giờ gặp lại nữa.
Bên cạnh một gã ồn ào huênh hoang lý thuyết này nọ, một gã
râu rậm gãy mất hai răng cửa vì phải dùng cây cạy răng để đổ thuốc vào mồm, một
ả đứng đường vào nhà thương điên mà vẫn không bớt đi cái thói õng à õng ẹo,thì
Evelyne buồn và nghiêm trang như Đức mẹ Maria, thuần hậu như gái Miền Nam, u uẩn
như Trương Quỳnh Như có làm cho Kiệt Tấn tương tư cũng không có gì lạ. Không ngờ
ở cái xứ có nhiều người em xóm học, nhiều giai nhân nằm phơi loã thể như ở Paris lại
có một Evelyne bí ẩn, tội nghiệp đến như vậy.
Viết về tình yêu rất dễ vì một người cầm bút ai chẳng có ít
nhiều tình yêu nếu không muốn nói là quá dư thừa, nhưng viết cho người khác (chứ
không phải cho mình) đọc mà phải ngẩn ngơ, rồi muốn rồi thèm được nhốt vào nhà
thương điên như Kiệt Tấn là không phải dễ. Một mối tình bàng bạc hồn nhiên của
tuổi ấu thơ giữa hai người điên sao mà tinh khiết và thơm tho đến như vậy.
Nguyễn Mộng Giác trong bài tựa nói Kiệt Tấn đã sống hết
mình và viết hết mình, khi sự chân thành đã đền độ giống như sự khoả thân trước
cuộc đời cọng với tài ba ắt phải thành nghệ thuật. Liệu có muốn đưa Kiệt Tấn
lên ngồi cùng chỗ với các nhà văn Tây phương hay Nhựt Bản? Liệu vinh danh hay ô
danh? Trong những truyện tôi vừa mới nêu tên và cả tập truyện gần hai mươi truyện
của nhà xuất bản văn hoá Sài Gòn, tôi chẳng thấy ông sống hết mình đâu
hết mà chỉ thấy ông thương hết mình, thương lai láng, thương con vịt vàng chết
oan, thương bà lượm lon, bà bán cà rem, bán đậu phụng lép, thương một em tây bị
mẹ ghen là ngủ với cha mình. Nếu bảo tác giả sống hết mình thì chắc ông đã hãm
nàng rồi vì xem những tranh ảnh và sách khiêu dâm ai đó để trong nhà thương ông
đã lại thấy cương cứng lên rồi khiến ông mừng rơn vì thấy mình đang khỏi bệnh.
Còn bảo viết hết mình thì cũng chưa vì một nhà văn thực sự là
người chưa viết được hết những gì muốn viết. Vả lại cũng không nên viết hết
mình vì còn để cho người đọc viết thêm bằng những xúc cảm của họ. Như truyện
này, có chết thằng tây đen nào đâu mà ông không dám viết hôn nàng một cái dù
ông rất muốn! Vây mà ông không chịu hạ bút, ông để cho chính mình và người đọc
thèm chơi. Đó chính mới là nghệ thuật, một nghệ thuật vừa che dấu vừa khơi gợi.
Kiệt Tấn là ai vật cà? Xin thưa là một Việt kiều yêu nước thầm
lặng, một nhà thơ trước 75 có trình làng tập Tình yêu và trái phá, bẵng đi mấy
chục năm không viết, mới viết lại như chơi, viết cho đỡ nhớ nhà và mới đây nhờ
bạn là Thân Trọng Minh in ở Sài Gòn để gọi là chữ thương còn một chút này, xin
cầm cho vững đừng dày cho tan! Còn tôi là ai? Là đồng niên, chứ không phải đồng
hương hay đồng song đồng chí gì ráo. Thấy thương ông và thương mình cũng nổi máu
điên viết chơi mà viết trộm chứ ông cũng đâu có biết tôi là ai. Đọc ông tôi chẳng
thấy chỗ nào hơi thở rướn cong cả,chỉ thấy hồn mình trở nên mênh mông
bát ngát, thấy mình thơ trẻ trở lại, thấy ông đi cùng trời cuối đất mà vẫn rất
gần trong khi quanh đây có biết bao nhiêu người ngồi nói đứng cười sát bên cạnh
mà vẫn cứ thấy xa cách nghìn trùng. Ông là một người tự trọng nên muốn khen
cũng không dám khen. Tôi chỉ muốn nói,viết được như ông thì quả là không uổng mấy
mươi năm đất khách quê người. Phải cảm ơn sự hắt hủi chia lìa vì nếu còn sống ở
Bạc Liêu tức là sống giữa ruột rà quê hương chắc gì ông đã viết được hay đến nỗi
muốn khóc.
Ở trong còn lắm điều hay, xin mượn câu thơ Kiều để được
nói thêm rằng ngoài câu chuyện tình bảng lảng như sương như khói, còn có cả những
chiêm nghiệm trầm tư của một người mất ngủ vì nhớ nước thương nhà, những giải
đáp rất gàn rất điên nhưng rất đúng cho những tra vấn hiện hữu hay không hiện hữu,
sống chết ra răng…còn có Tây mà cũng thế a? khi thấy gã bị vợ bỏ lấm lét chỉa quần
lót trong cửa hàng, nghĩa là một góc xã hội Tây phương già cỗi huênh hoang được
tác giả thu nhỏ lồng bên cạnh mái tóc dài đà đuột phương đông.
Viết đến đây tôi lại nhớ tới những nụ cười được tặng không của
các bà già quê hương, xin cũng được quảng cáo không công cho tác giả rằng,
ngoài ba truyện tôi vừa đọc trên ây còn rất nhiều truyện tràn ngập chất thơ với
một văn phong rất riêng của Kiệt Tấn, nếu không muốn nói sợ tác giả mắc cỡ rằng
khi đọc ông một đôi lúc tưởng chừng đang đọc Bồ Tùng Linh.
3/11/2009 Khuất Đẩu
3/11/2009


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét