Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2022

Điên như Kiệt TấnXXXXX

Điên như Kiệt Tấn

Bài 1.  Em vịt vàng nhỏ của tôi ơi!
Thuở còn bé, St Exupéry vẽ một con trăn nuốt con voi mà bao nhiêu người lớn nọ cứ tưởng là vẽ một cái mũ. Cái hồn mộng mị mà người lớn không sao hiểu được ấy, mãi sau này, giữa sa mạc mông mênh, giữa chết và sống, chú mới tìm được người đồng cảm. Đó là một cậu bé mong manh như ánh trăng từ một tinh cầu bé xíu đi lạc xuống trần gian, nhờ vẽ cho một cái rọ bịt mõm. Phải mất một lúc lâu, từ người lớn trở lại làm đứa bé, anh mới vẽ được một cái thùng hình hộp đủ cho trí tưởng tượng của chú bé tin là mình đang nhốt một con cừu.
 
Hoàng tử bé của tôi ơi! Biết bao người ở khắp nơi trên thế giới đã từng kêu lên như thế. Nhờ cậu mà tâm hồn khô cằn của họ bỗng dưng xanh mướt như cỏ tháng giêng, để cho đứa bé của năm xưa bước đi núng nính. Nhưng họ là những cư dân của phố thị giàu có rộn ràng. Họ reo vui khi tìm lại được thiên đường tuổi nhỏ nhưng với một anh nông dân cho dù là ở xứ Bạc Liêu giàu có nếu một hôm bất ngờ gặp hoàng tử bé thì cũng chỉ biết giương mắt ếch mà nhìn. Vì sao? Vì chú mong manh quá, cao sang quá, con của vua mà lại!
 
Cho dù Kiệt Tấn đã có bằng đại học ở Canada và đang sống ba mươi năm hơn ở Pháp, tôi vẫn tin ông là một nông dân. Mà lại là nông dân thứ thiệt, chẳng tin, thử đọc Em vịt vàng nhỏ của tôi ơi thì hết cãi. Kiệt Tấn không kêu Hoàng tử bé của tôi ơi mà lại kêu em vịt vàng nhỏ của tôi ơi!, kêu lên giữa Paris hoa lệ, giữa xứ sở của St Exupéry, kêu lên giữa lúc khôn nguôi nhớ về cái tuổi nhỏ quê mùa ở tận Hậu Giang, chỉ mong đến Tết để được ăn thèo lèo cứt chuột!
 
Mà lại kêu bằng em mới dễ thương và dễ ghét làm sao! Dễ thương vì một cậu bé sáu tuổi tưng tiu con vịt bé xíu như em út của mình là thương đứt đuôi con nòng nọc rồi, không trật một ly ông cụ nào. Còn dễ ghét là vì anh dám gọi con vịt bằng em trong khi tôi là vợ anh cho dù đã già nhưng rất hiền lại cứ bị gọi mụ nọ mụ kia!  Hay là tại ông điên như Bùi trung niên thi sĩ đã từng kêu các nàng dê bằng em! Kêu sướng miệng quá, ước gì tôi cũng điên được như ông.
 
Nói vậy mà chơi chứ ông không điên đâu, ông khôn bỏ mẹ. Ông mượn cái chết của con vịt vàng để chửi Pháp, chửi chiến tranh, chửi thằng con bà chủ, chửi luôn cả bà, lại nói kháy cả ông cụ sinh ra mình. (Cái chi tiết bà chủ đi ra bờ ao xả nước thải bị con vịt xiêm cồ cuồng dâm rỉa cái bàn tọa la choi chói đã lạ rồi mà ông bố bảo gặp tao, tao cũng rỉa huống hồ là con vịt, quả thật là có một không hai trong văn chương Việt).
 
Xin được trở lại với em vịt vàng. Câu chuyện bắt đầu bằng một cái trứng vịt ( trứng sinh ra vịt đấy nhé, đừng có cãi cù nhầy nữa). Cậu bé Kiệt sáu tuổi một hôm nhặt được một cái trứng giữa đám ruộng trước nhà. Cậu lấy mực đánh dấu rồi nhờ con vịt xiêm mẫu hậu ấp nở giùm. Con vịt xiêm là mẹ nuôi còn cậu tự xưng là anh ruột. Nhưng vịt vàng xinh xinh lại tưởng mẫu hậu là mẹ ruột nên suốt ngày cứ lẻo đẻo chạy theo. Và rồi một hôm trước tết, bị một đoàn xe nhà binh và xe thiết giáp của Pháp cán chết. Chỉ có vậy thôi, nhưng tôi nghĩ Trường hận ca của Bạch Cư Dị khóc Dương Quý Phi, hay Tự Đức khóc Trịnh Bằng Phi cũng không lâm ly não nuột bằng chú bé Kiệt Tấn khóc em vịt vàng của mình. Không bằng, bỡi vì cái chết của con vịt vàng tội nghiệp quá. Mười mấy chiếc xe mười bánh và xe tăng xích sắt kêu loảng xoảng cán qua thì còn gì là xương thịt. Không bằng, cũng bỡi ông quan tư mã áo xanh và ông vua ốm yếu mặc hoàng bào ấy dẫu sao cũng đã là người lớn. Mà người lớn thì đã chắc gì khóc thiệt nhất là khóc bằng cách “đập cổ kính ra tìm lấy bóng/ xếp tàn y lại để dành hơi”
 
Có một thời tôi cũng đã khóc con chó mực của mình, nhưng khi cột ba đồng tiền vào cổ liệng xuống sông là hết khóc ngay. Có đâu như Kiệt Tấn, qua Canada rồi qua Paris mà vẫn còn khóc đến tận bây giờ. Xem cái đoạn cậu bé sáu tuổi phải mất một buổi ngồi nhặt từng sợi lông, cạy từng chút đất sỏi dính máu dính thịt bỏ vào tờ báo gói đem đi chôn, tôi không khỏi liên tưởng đến người mẹ Gio Linh nghẹn ngào không nói một câu mang khăn gói đi lấy đầu. Có biết bao người mẹ đi nhặt xác con, người chị đi nhặt xác em, người vợ đi nhặt xác chồng trong cuộc chiến dài lê thê vừa qua! Bây giờ ông hãy còn khóc là khóc cho bọn họ, những nạn nhân không tên không tuổi ở quê hương mình.
 
Cái tuổi thơ của những người Việt nay sáu bảy chục tuổi là vậy. Mất mát nhiều quá. Chỉ một con vịt vàng bé xíu kêu lép kép đã đau như thế huống hồ mất mẹ, mất cha, mất cả quê hương.
Em vịt vàng nhỏ của tôi ơi! Từ ngày em bị chiếc xe nhà binh mười bánh và chiếc xe tăng nghiến nát, cuộc chiến tranh không ngừng tiếp diễn khốc liệt ở quê hương hai anh em mình Tôi tô đậm sáu chữ này để khắc sâu một lần nữa cái quê hương đằng đẵng ba mươi năm chiến tranh khiến một người giàu xúc cảm như ông xót xa khi nhớ tới. Con vịt vàng bé xíu bị hàng chục chiếc xe mười bánh và những chiếc xe tăng nghiền nát sao giống với thân phận của nước Việt mình quá.
Năm nay đào lại nở, năm nào đào chẳng nở, nhưng ông chẳng nhớ tới ông đồ già, cũng chẳng nhớ tới một nhân diện đào hoa tương ánh hồng nào, lại càng không nhớ tới một tà áo tiểu thư hay tóc vàng sợi nhỏ mà nhớ tới em vịt vàng nhỏ của mình. Nhớ tiếng kêu lép kép, nhớ màu lông vàng tức là nhớ tới cái xóm Mới tuy nghèo vẫn rộn ràng đón xuân. Nhớ tài kho thịt của cha, quần áo mới do má xỏ kim may có hai túi thẳng hai bên coi cũng le lói lắm. Trên tầng thứ mười lăm của một cao ốc lạnh lẽo ở ngoại ô Paris, ông nhớ thương quê cha đất tổ còn hơn bà huyện Thanh Quan nhớ nước đau lòng con quốc quốc / thương nhà mỏi miệng cái gia gia khi đi qua đèo Ngang.
 
Ông Kiệt( không có chữ Trụ) ơi, bắt chước một câu thơ nổi tiếng, tôi cũng kêu lên rằng, ông ơi, ông ở rất xa/ mà sao tôi thấy rất là Việt Nam. Ông đã là dân Paris rồi nhưng không mất gốc, những người đã gần bảy chục tuổi đầu mà còn biết nhớ tới con vịt vàng bé xíu là không bao giờ mất gốc. Nỗi nhớ như rễ đước cắm sâu ở rừng Cà Mâu thì sóng gió nào nhổ bật lên được.
 
Cũng đừng bảo rằng chuyện một con vịt be bé bị xe cán có chi đâu mà phải ầm ĩ. Hãy nhớ rằng đối với một đứa bé sáu tuổi, con vịt xấu xí đó đã được cậu yêu thương hơn cả cha, yêu như yêu mẹ đó, thì trên đời này không có gì to tát bằng. Yêu nước, yêu dân, cậu không biết yêu ra làm sao, nhưng bảo yêu con vịt từ lúc xí được cái trứng cho đến khi biết kêu lép kép là cậu hiểu được và yêu được. Yêu mãi cho đến già, đến chết.
 
Trở lại câu chuyện Hoảng tử bé. Tác giả bảo cảnh đẹp nhất là cảnh vẽ một ngôi sao cô độc trên nền trời sa mạc. Còn đây là cảnh đẹp và buồn nhất mà ông Kiệt vẽ ra cho tôi, một người đồng niên ở tận quê nhà: trên cụm mây xa thiệt xa, tôi hình dung một đứa nhỏ sún răng đang ôm con vịt vàng nhỏ của mình trong lòng và hai anh em đang bồi hồi ngó xuống trần gian ngắm thiên hạ nở pháo rộn ràng đón Xuân…
 
Cảm ơn ông đã cho tôi sống lại thuở lên năm lên sáu bằng một truyện nhỏ đầy chất dân dã mộc mạc như những câu hát buồn muốn chết mà thương cũng muốn chết trên Cửu Long giang.
Bài 2;  Năm nay đào lại nở
 
Ờ, đào lại nở trên đất Paris! Lại một mùa xuân rưng rức hoa đào làm lạnh thêm một người xa xứ. Để ấm lòng, ông Kiệt Tấn hết nhớ em vịt vàng bé xíu lại nhớ đến những người đàn bà mà có lẽ chỉ có ông trên đời này mới  nhớ tới họ mà thôi. 
 
Những người đàn bà ấy, một bà lượm lon, một bà bán càrem, một bà bán đậu phộng. Ba người ấy là những “mối tình đầu” theo như cách nói của ông. Mối tình đầu của tuổi học trò! Ông có đùa dai không đấy. Sao không là Diễm để những chiều mưa sao em không lại? Sao không là Ngọ để theo Ngọ về? Sao không là người em xóm học để em ơi “khoóc” đi em? Mà lại là những bà cụ hom hem chít khăn mỏ quạ đi dép Nhựt cũ đến nỗi cao su bè ra, hoặc đội một chiếc nón rách tơi tả, hoặc để đầu trần đi cẳng không, áo trắng rách lưng đã ngã màu vàng xỉn!
Yêu lần đầu mà yêu như thế, bảo sao người ta không bảo ông điên!
 
Người tình đầu thứ nhất ông gặp ở xóm Hàng Xanh. Mới Tết xong ba bữa đã lại hỏi: thưa ông cho nhà cháu hỏi thăm, còn mấy hôm nữa thì là tết ạ? Còn lâu lắm cụ ạ! Thế hở ông? Thế mà cháu quên mất, làm phiền ông quá. Ông cho nhà cháu xin lỗi.
 
Những câu nói làm tôi bỗng giật mình. Cụ bà đồng bằng bắc bộ di cư ấy những năm mươi năm trước đây sao ăn nói lễ phép và lịch sự đến như vậy. Chả bù với bây giờ, nào nỡm, nào cút xéo ngay không bà đánh cho nát mặt!
 
Và cụ lại hỏi: Phiền ông cho nhà cháu hỏi thêm. Ông có biết nhà ông Đa ở lối nào, xin ông chỉ hộ cho nhà cháu! Lịch sự hơn cả Tây, hơn cả Mỹ!
 
Ông Đa là ông nào, có trời mà biết, nhưng bà cụ lượm lon cứ quanh quẩn ở xóm Hàng Xanh hỏi mãi. Ông Kiệt đoán chừng có thể là người tình cũ lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm, cũng có thể là người chồng đi lạc lúc trốn lên tàu di cư vào Nam. Một cụ bà còm cõi lẩn thẩn đi tìm người xưa cứ tới lui hỏi mãi khiến ông Kiệt đa đoan của chúng ta “yêu” lúc nào không hay. Vì yêu nên thương. Vì thương nên lo. Vì lo nên sợ. Và ông sợ rằng, xe tăng thiết giáp rần rần rộ rộ kéo lê những khẩu đại bác dài ngoằng băng qua xóm Hàng Xanh một ngày nào đó sẽ làm cho cái khăn mỏ quạ, đôi dép Nhựt bổn, mấy cái lon vừa lượm được văng tung toé và trái tim vẫn còn ấp ủ hình bóng người xưa còn đập, nhảy trên mặt đường!
 
Người tình đầu thứ hai là một bà già bán cà rem lúc tác giả còn học tiểu học. (Yêu sớm quá ông Kiệt nhĩ?). Không như bây giờ, kem đông cứng thơm ngon đựng trong thùng xốp, kem của sáu mươi năm trước xanh đỏ toàn nước đá đụng một tí là vỡ tan, lại giữ trong tẹt mốt làm bằng thuỷ tinh, nên người bán phải nâng niu ôm giữ trong lòng. Bà không thể chạy theo khách hàng là đám học trò nghịch phá như quỷ, không thể cạnh tranh với bọn con trai ma mảnh bày trò đổ xíngầu để vét sạch túi bọn nhỏ. Bà chỉ ngồi một chỗ vẩy vẩy cái chuông bằng đồng bóng loáng, leng keng, leng keng mời mọc như con chó hiền lành chỉ chờ có người ngó là vẩy đuôi ngoắc! Bà già nghèo xấu xí đó không ngờ hiện ra dưới mắt cậu bé Kiệt thân thương đến nỗi cậu thấy đó là  má tôi đang ngồi chồm hổm. Gọi má ngon lành, má tôi tay xách bình cà rem, đứng ngó thằng con trai của bà đang xếp hàng đi vào lớp.
 
Yêu như ông đúng là điên thật, một người điên vô lượng thanh khiết, dẫu tôi có muốn điên cũng đâu có dễ.
 
Người tình đầu thứ ba là một bà già bán đậu phộng ở bến xe Mỹ Tho. Bà cũng rách rưới, xập xệ nhưng lúc nào cũng sẵn sàng tặng không một nụ cười móm mém cho khách. Cũng như bà bán cà rem, bà không thể nào tranh khách được với các cô gái nhanh nhẹn trẻ trung. Vì vậy bà bán ế. Mà càng ngày càng ế ẩm hơn nữa vì bà buộc phải bán đậu lép. Trời hỡi! Sao khốn cùng tới mức phải đi bán đậu lép! Tác giả kêu lên nghe đứt ruột. Đứt ruột vì một người biết việc bán đậu lép là không lương thiện mà vẫn cứ phải bán. Dù có lí nhí cảm ơn, dù có tặng không bao nhiêu nụ cười thì trong lòng bà vẫn nặng trĩu xấu hổ xót xa. Con trai đi lính chết, con dâu phải tần tảo nuôi con. Hạt chắc cô dâu luộc bán ban ngày, hạt lép để bà lập lờ đánh lận con đen lừa bán trong đêm. Có vậy mới kiếm được chút tiền lời nuôi mình và nuôi cháu! Thế là những người nghèo muốn sống lương thiện cũng khó mà sống được. Cứ phải dối gạt một chút. Một chút nhưng mà cả một đời dài thì dối gạt bao nhiêu?! Cho nên những hạt đậu ấy tan vào miệng ông đắng chát.
 
Ngồi ở tầng cao Paris bên ly rượu vàng sóng sánh mà ông không nhấm nháp được hương vị nồng nàn của mùa xuân vì ông nhớ ra không chỉ ờ Hàng Xanh, ở sân trường tiểu học Bạc Liêu, ở bến xe Mỹ Tho mà còn ở bến phà  Rạch Miễu, Cần Thơ, Vàm Cống…nhiều không đếm hết những bà già quê hương, những bà có làn da nhăn thơm tho mùi đất, có nụ cười rì rào tre trúc, có bàn chân nứt nẻ phù sa, có trái tim từ bi vô lượng đã bơm máu vào rún tôi từ thưở còn trong bụng mẹ. Những bà mẹ Việt Nam không một chút anh hùng, những bà mẹ bình thường của bao nhiêu năm chinh chiến. Vẫn còn đó những mối tình đầu của ông. Vẫn còn đó cho dù thời gian qua mau và cuộc sống quay cuồng khiến chúng ta vô tình hay ơ hờ không thấy.
 
Ông Kiệt ( không có Trụ ) ơi, đọc xong truyện này tôi thấy mắc cỡ quá. Mắc cỡ vì tôi đã từng gặp bao nhiêu người lượm lon, bán cà rem, bán đậu phộng, bán chuối chiên, cóc ổi xoài như ông mà sao lòng tôi lúc ấy và cả đến bao năm sau vẫn cứ dửng dưng. Tôi không khinh họ nghèo vì tôi có giàu có gì hơn đâu, nhưng tôi lại chỉ động lòng trắc ẩn với những người ăn mặc lành lặn và nói ra ông chớ cười, xinh đẹp một chút, trẻ trung một chút, sẵn sàng lao vào dòng xe cộ như mắc cửi để nhặt cho nàng một chiếc khăn rơi, hay gồng mình làm Lục Vân Tiên trước bọn lục lâm thảo khấu cho dù sau đó ôm đầu máu vì dở hơi trói gà không chặt. Tôi nào dám gọi một bà bán cà rem, bà lượm lon hay bà bán đậu phộng bằng má một cách thực lòng như ông.
 
Nhiều người khen ông là bồ tát nhưng tôi không nghĩ vậy. Ông yêu họ một cách thực lòng vì cuống rún của ông chưa lìa, vì mùi bùn đất phù sa vẫn chưa rửa sạch ở tim ông dù ông đang sống ở Paris. Sống ở Paris mà lòng ông thì ở Bạc Liêu, ở Việt Nam, còn tôi và chắc cũng có nhiều người khác sống ở Việt Nam mà hồn mộng ở tận Paris hay Nữu Ước! Sống xa quê hương mà ông lại nhớ, lại yêu. Còn tôi sống giữa quê hương mà lại quên lại ghét. Đôi khi ghét quá vì nghèo đói, vì tụt hậu, vì …hàng trăm thứ…!
 
Có ngứa ngáy cầm bút một đôi khi, tôi mới thấy viết được một truyện như ông viết, nếu có phải lăn ra chết thì cũng thực là sướng. Sướng vì ít ra cũng làm được một việc nhỏ có ích cho mình và cho đời. Mà đọc lại cho kỹ thì thấy ông đâu có viết, ông chỉ trải lòng mình ra, không như trải thảm đỏ ở nhà hàng khách sạn hay các cuộc đón rước phương diện quốc gia quan trên ngó xuống người xa trông vào, mà là trải như lúa rạp mình trên đồng ruộng, như nước phù sa đong đưa vào tận thềm nhà, trải như nghé con goi mẹ như cháu sà vào lòng bà. Tự nhiên phơi hết gan ruột chứ không kỳ khu gọt dũa, không làm văn theo kiểu cách tân.
 
Ông Kiệt ơi, cảm ơn ông đã cho tôi tìm gặp lại quê hương ngay chính giữa quê hương mình. Tôi cũng như ông, chỉ mỗi một quê hương chiến tranh nghèo đói, nhưng đó là một quê hương thật với những bà mẹ quê hương, mà dù có đi khắp năm châu bốn bể cũng không dễ gì tìm ra được. Ờ, cũng như ông, tôi yêu họ, dù đây là tình cuối chứ không phải tình đầu....
Bài 3:  Em điên xoả tóc
 
Bệnh viện Paul Brousse, ngày…
“ Có hai điều tôi sợ nhất trên đời là bệnh tật và cô đơn. Mà rồi bây giờ tôi cô đơn và bệnh tật. Hôm nay là ngày đầu tiên tôi ở nhà thương điên…”
 
Đó là những dòng mở đầu cho nhật ký của ông. Và câu chuyện ở nhà thương điên, cho dù là nhà thương điên của Tây có mỹ từ là bệnh viện tâm lý thì cũng như Nguyễn Ngu Í và Bùi Giáng ở Chợ Quán Biên Hoà, có chi mà đáng nói đáng viết. Đúng là không có chi nếu không có cái sự vụ một em tóc vàng sợi nhỏ cũng điên như ông!
 
Khoan nói về nhà thương điên của Tây, hãy nói về nhà thương điên của ta trước đã. Hồi học trung học, một anh chàng si tình phát điên bị nhốt trong phòng có song sắt, hắn ta miệng nói làm xàm không ngớt và leo trèo lòng vòng như khỉ phát chóng mặt. Bận khác đi thăm con nhỏ cháu tôi ở Chợ Quán. Nó bị nhốt chung với rất nhiều người điên, nhà giam giống như chuồng nhốt súc vật ở sở thú. Mùi hôi hám nhớp nhúa hực ra tanh thúi không thể tả. Nó đứng vịn song sắt khóc ròng đòi về..Bỗng có một mụ dơ dáy quần áo rách bươm tới nắm tóc nó kéo đi, tru tréo sao nó giết con mụ ta…
 
Bị đưa vào một nơi như thế ai mà không sợ. Nhà thương điên ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng giống như một cái ruột thừa. Xã hôi tộng vào đó những kẻ không chịu ăn như họ, nói như họ, ngủ nghê và làm tình như họ. Tộng vào đó cho khuất mắt chứ chữa chạy được gì. Những người được coi là hết bệnh chẳng qua là sợ quá nên chẳng dám điên nữa vậy thôi. Ông Kiệt bị đưa vào đó, tuy ở Tây sạch sẽ hơn, văn minh hơn, nhưng là vẫn phải sống chung với bọn người mà xã hội nôn mửa không muốn nhìn mặt. Với một người nhiều xúc cảm như ông thì nơi ấy chính là địa ngục. Vậy mà rồi sau một giấc ngủ đầu tiên ở bệnh viện đen ngòm như chén chí-bá phù, thức dậy ông lại thấy trời xanh nắng ấm, thấy chim chóc cây cỏ bên ngoài cửa kính vẫn đẹp vẫn đáng yêu, ấy là bỡi thấp thoáng bên ông có một mái tóc dài. Mái tóc thần tiên gợi nhớ những cô em trên Cửu Long giang, trên những đường phố Sài Gòn Gia Định.
 
Nàng đẹp, phải công nhận nàng đẹp, nhưng đẹp đâu phải là một lý do để nổi điên, ông nói. Điên phải có lý do chính đáng chứ. Như ông là vì mất ngủ đến tám tháng, vì thất nghiệp, vì khổ đau xấu hổ phải để vợ đi làm ở nhà hàng có ông chủ hay bốc hốt ẩu tả, vì cuộc chiến vừa qua làm bạn bè đứa chết, đứa cụt tay cụt chân, đứa đi cải tạo và những thứ triết lý con tiều làm ông mệt óc. Hay như anh chàng tây sún răng bị vợ bỏ theo người đàn ông khác, hay như mấy ả đứng đường cũng biết yêu rồi thất tình hoá điên. Còn nàng tóc nhỏ mà dài như thế, gót chân hồng như thế, ăn mặc trang nhã và tinh tươm như thế sao lại vào đây? Ông cũng như tôi cứ tưởng điên là phải xấu, phải dơ, phải ăn nói quàng xiên, múa may nhảy nhót bậy bạ, chứ đâu có mà ngồi yên một chỗ với cái nhìn xa vắng như theo đuổi một hình bóng xa xăm ở cõi trời nào.
 
Đầu tiên ông tưởng nàng là một y tá của bệnh viện để mơ mòng đợi nàng nghiêng mái tóc xuống mặt mình mà nhớ tới tàng cây vú sữa rì rào trong nắng trưa, với những trái tròn căng như vú có sữa trắng, leo lên cây không để hái trái mà để ngắm trộm nàng có lông tơ trên cánh tay, chị nàng có nước da trắng trẻo…Cái máu mê gái đến thành bệnh của ông trong nhà thương điên này không có chi là bậy bạ, mê một mái tóc dài thì có chết thằng tây đen nào đâu. Cho nên ta thấy ông không sàm sỡ, trái lại đàng hoàng rất mực nếu không muốn nói là hơi cả ngố. Tôi thò tay đặt lên giường nàng trái táo, như lén lút rồi vội vã trở về phòng mình đóng cửa lại, tim đập mạnh.Không phải ông tán tỉnh đâu, ông thương nàng quá đấy thôi, thương đứt ruột là bỡi một người đẹp có mái tóc yêu kiều thướt tha như em sao lại nỡ nổi điên?
 
Dần dà rồi ông cũng làm quen được nàng. Khi trái táo, khi ly sữa, khi cây cà rem. Cái cảnh ông và nàng ngồi trên ghế gỗ bên đường mút cà rem là cảnh mà tôi thấy dễ thương nhứt, ngây thơ nhứt mà cũng tình tứ nhứt của những người điên yêu nhau mà không hề biết. Rồi đó nàng tỉ tê kể cho ông nghe chuyện mình. Nàng trước đây cũng là một y tá, nhưng ba mẹ kình cãi nhau miết khiến nàng phải dùng dao cắt đứt gân tay. Người ta sợ nàng hoá điên nên phải đưa vào đây.Thực ra là nên đưa mẹ nàng vì bà ghen với nàng, cứ ám ảnh chồng mình đã ngủ với con gái! Cơ sự như thế đúng là đâu cái điền!
 
Không ai cạy miệng cho nàng nói mà ông làm được. Rồi nàng rủ ông đi học vẽ, ông rủ nàng đi chơi phố, hứa dẫn nàng xuống Paris xem xi nê. Nghĩa là hai người đang hết điên mà chẳng phải nhờ đến bác sĩ hay thuốc men gì ráo trọi. Vậy mà bọn người duy kiến thức ấy lại định đưa nàng đi nơi khác để chạy điện! Tôi bủn rủn. Người ta sẽ tra hai cực điện lên màng tang Evelyne và phóng điện vào óc nàng, tóc nàng cháy khét lẹt. Làm sao chịu nổi! Còn nàng: đôi mắt van lơn, anh, em không muốn đi! Nhưng cuối cùng họ vẫn phải xa nhau để giờ này anh ngồi trên băng đá, nước mắt lưng tròng. Em ơi, em ở đâu, em đã bớt điên chưa hay có còn sống sót?!
 
Cái thế giới người tỉnh với những Hitler, Mỹ, Nga, với bom nguyên tử, với những chủ thuyết truy bức con người đến tận cùng, với Thượng đế do họ dựng nên để rồi quỳ lạy cầu xin, cái thế giới ngu si loảng xoảng tiếng xích sắt ấy quả thực là chẳng ai hiểu được người điên, chẳng ai giải cứu được họ ngoài chính họ. Những người tỉnh chỉ làm cho họ điên hơn nếu không muốn nói là giết họ từng ngày. Evelyne ơi, ngày nào em rời khỏi bệnh viện, ngày nào anh rời khỏi bệnh viện, ngày nào anh và em hết khật khùng, anh hứa sẽ mua cho em cây cà rem và dắt em đi coi hát bóng. Sẽ không coi phim thằng khùng ăn cắp con gà đồng, mà sẽ coi phim thằng con người gỗ…Với những người duy ý chí, duy kỷ luật, duy máy móc…thì ngày đó xa, xa quá, ngày mà ông mơ em sẽ không bao giờ lớn thêm, anh sẽ không bao giờ trưởng thành, hai đứa mình không ai lớn lên hết, ngày của thiên đường vì màu thời gian thanh thanh của tuổi thơ như ngừng lại nên xanh hơn bao giờ, ngày đó không bao giờ gặp lại nữa.
 
Bên cạnh một gã ồn ào huênh hoang lý thuyết này nọ, một gã râu rậm gãy mất hai răng cửa vì phải dùng cây cạy răng để đổ thuốc vào mồm, một ả đứng đường vào nhà thương điên mà vẫn không bớt đi cái thói õng à õng ẹo,thì Evelyne buồn và nghiêm trang như Đức mẹ Maria, thuần hậu như gái Miền Nam, u uẩn như Trương Quỳnh Như có làm cho Kiệt Tấn tương tư cũng không có gì lạ. Không ngờ ở cái xứ có nhiều người em xóm học, nhiều giai nhân nằm phơi loã thể như ở Paris lại có một Evelyne bí ẩn, tội nghiệp đến như vậy.
 
Viết về tình yêu rất dễ vì một người cầm bút ai chẳng có ít nhiều tình yêu nếu không muốn nói là quá dư thừa, nhưng viết cho người khác (chứ không phải cho mình) đọc mà phải ngẩn ngơ, rồi muốn rồi thèm được nhốt vào nhà thương điên như Kiệt Tấn là không phải dễ. Một mối tình bàng bạc hồn nhiên của tuổi ấu thơ giữa hai người điên sao mà tinh khiết và thơm tho đến như vậy.
 
Nguyễn Mộng Giác trong bài tựa nói Kiệt Tấn đã sống hết mình và viết hết mình, khi sự chân thành đã đền độ giống như sự khoả thân trước cuộc đời cọng với tài ba ắt phải thành nghệ thuật. Liệu có muốn đưa Kiệt Tấn lên ngồi cùng chỗ với các nhà văn Tây phương hay Nhựt Bản? Liệu vinh danh hay ô danh? Trong những truyện tôi vừa mới nêu tên và cả tập truyện gần hai mươi truyện của nhà xuất bản văn hoá Sài Gòn, tôi chẳng thấy ông sống hết mình đâu hết mà chỉ thấy ông thương hết mình, thương lai láng, thương con vịt vàng chết oan, thương bà lượm lon, bà bán cà rem, bán đậu phụng lép, thương một em tây bị mẹ ghen là ngủ với cha mình. Nếu bảo tác giả sống hết mình thì chắc ông đã hãm nàng rồi vì xem những tranh ảnh và sách khiêu dâm ai đó để trong nhà thương ông đã lại thấy cương cứng lên rồi khiến ông mừng rơn vì thấy mình đang khỏi bệnh. Còn bảo viết hết mình thì cũng chưa vì một nhà văn thực sự là người chưa viết được hết những gì muốn viết. Vả lại cũng không nên viết hết mình vì còn để cho người đọc viết thêm bằng những xúc cảm của họ. Như truyện này, có chết thằng tây đen nào đâu mà ông không dám viết hôn nàng một cái dù ông rất muốn! Vây mà ông không chịu hạ bút, ông để cho chính mình và người đọc thèm chơi. Đó chính mới là nghệ thuật, một nghệ thuật vừa che dấu vừa khơi gợi.
 
Kiệt Tấn là ai vật cà? Xin thưa là một Việt kiều yêu nước thầm lặng, một nhà thơ trước 75 có trình làng tập Tình yêu và trái phá, bẵng đi mấy chục năm không viết, mới viết lại như chơi, viết cho đỡ nhớ nhà và mới đây nhờ bạn là Thân Trọng Minh in ở Sài Gòn để gọi là chữ thương còn một chút này, xin cầm cho vững đừng dày cho tan! Còn tôi là ai? Là đồng niên, chứ không phải đồng hương hay đồng song đồng chí gì ráo. Thấy thương ông và thương mình cũng nổi máu điên viết chơi mà viết trộm chứ ông cũng đâu có biết tôi là ai. Đọc ông tôi chẳng thấy chỗ nào hơi thở rướn cong cả,chỉ thấy hồn mình trở nên mênh mông bát ngát, thấy mình thơ trẻ trở lại, thấy ông đi cùng trời cuối đất mà vẫn rất gần trong khi quanh đây có biết bao nhiêu người ngồi nói đứng cười sát bên cạnh mà vẫn cứ thấy xa cách nghìn trùng. Ông là một người tự trọng nên muốn khen cũng không dám khen. Tôi chỉ muốn nói,viết được như ông thì quả là không uổng mấy mươi năm đất khách quê người. Phải cảm ơn sự hắt hủi chia lìa vì nếu còn sống ở Bạc Liêu tức là sống giữa ruột rà quê hương chắc gì ông đã viết được hay đến nỗi muốn khóc.
 
Ở trong còn lắm điều hay, xin mượn câu thơ Kiều để được nói thêm rằng ngoài câu chuyện tình bảng lảng như sương như khói, còn có cả những chiêm nghiệm trầm tư của một người mất ngủ vì nhớ nước thương nhà, những giải đáp rất gàn rất điên nhưng rất đúng cho những tra vấn hiện hữu hay không hiện hữu, sống chết ra răng…còn có Tây mà cũng thế a? khi thấy gã bị vợ bỏ lấm lét chỉa quần lót trong cửa hàng, nghĩa là một góc xã hội Tây phương già cỗi huênh hoang được tác giả thu nhỏ lồng bên cạnh mái tóc dài đà đuột phương đông.
 
Viết đến đây tôi lại nhớ tới những nụ cười được tặng không của các bà già quê hương, xin cũng được quảng cáo không công cho tác giả rằng, ngoài ba truyện tôi vừa đọc trên ây còn rất nhiều truyện tràn ngập chất thơ với một văn phong rất riêng của Kiệt Tấn, nếu không muốn nói sợ tác giả mắc cỡ  rằng khi đọc ông một đôi lúc tưởng chừng đang đọc Bồ Tùng Linh.
3/11/2009
Khuất Đẩu
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của Anatole France, "Tôi đi học" của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đinh Hùng

Chút tản mạn về các đoản văn "Tựu trường" của  Anatole France, "Tôi đi học"  của Thanh Tịnh và "Cảm thu" của Đ...