Người Đức đóng góp cho
khoa học và nhân văn
Những thế kỷ trước con người phải đương đầu với thời tiết,
thiên tai và các bệnh như: dịch tả, dịch hạch, ho lao, thương hàn, đậu mùa... Vì
sinh tồn, con người đã khắc phục và vượt qua. Sự thành đạt nầy do việc nghiên cứu
và phát minh của những nhà bác học trên thế giới. Cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ
thứ 19, người Đức đã đóng góp lớn lao cho thế giới về khoa học, kỹ thuật, văn học,
thi ca, triết học và âm nhạc.
Dân tộc Đức thông minh, sáng tạo, năng động, cầu tiến. Người
lao động chân tay cũng như trí thức đều làm việc đúng giờ, tôn trọng ý kiến xây
dựng trong nghề nghiệp, sống có nề nếp, trật tự, kỷ luật. Người tài được giữ chức
vụ cao đúng khả năng với công việc phát triển khoa học, kỹ thuật và kinh tế, họ
không bị chi phối bởi các đảng phái chính trị. Thế kỷ thứ 18 các nước Âu Châu
phát triển về công nghiệp mạnh, nước Đức còn thua xa Anh Quốc, vì sự cạnh tranh
về phẩm chất hàng hóa nên năm 1887, chính quyền Anh ban hành luật
"Merchandise Marks Acts" bắt buộc hàng nhập cảng từ Đức phải mang
nhãn hiệu "Made in Germany". Hàng sản xuất với nhãn hiệu từ Đức lúc đầu
chưa được ưa chuộng mấy về phẩm chất, nhưng nhờ sự cải tiến, phát triển không
ngừng, nên sau đó hàng sản xuất ra thị trường càng ngày càng có phẩm chất tốt,
bền, đẹp hơn được thế giới ưa thích.
Việt Nam ảnh hưởng thời thuộc địa Pháp, hàng hoá sản xuất từ
Pháp (Made in France) được đánh giá phẩm chất cao đẹp, nên người Việt chuộng
hàng của Pháp hơn. Ít người biết đến hàng mang nhãn hiệu Made in Germany. Về vấn
đề Văn hoá, kỹ thuật và khoa học của Đức cũng không được ảnh hưởng sâu rộng. Thời
Việt Nam Cộng Hòa cho đến năm 1973, có khoảng 2000 sinh viên từ miền Nam du học
ở Tây Đức, sau năm 1975 phần lớn những cựu sinh viên du học thành tài đều ở lại
Đức.
Những phát minh của người Đức cho thế giới
Những nhà bác học người Đức đóng góp rất nhiều cho Y khoa,
khoa hoc, vật lý, toán học...
Johannes Gutenberg (1390-†1468) nổi tiếng vì phát minh ra
phương pháp in dấu năm 1450 góp phần cho việc in ấn phát triển nhanh hơn về
khoa học kỹ thuật. Đến năm 1810- 812 thì Friedrich Kưnig (1774-†1833)
sáng chế máy in nhanh hình trụ (Zilinder) thời đó vượt kỷ lục in 1000 trang/ 1giờ.
Thành lập Cty Kưnig & Bauer cho đến ngày nay và Ernst Vogel thành công với
phương pháp in ba màu.Hình Johannes GutenbergWilliam Herschel (1738-†1822) nhà thiên văn học phát hiện
Thiên Vương Tinh năm 1781 và bức xạ tia hồng ngoại, từ ngoại của Ritter,
Johann Wilhelm Ritter (1776-†1810) là nhà khai sinh ra hóa học
mới, điện giải và tách được đồng và bạc, sau đó phát hiện tia cực tím,
utraviolet, bạc clorua silver chloride.
Carl Friedrich Gauss (1777-†1855) cùng Whilhelm Weber phát
minh điện tín bằng điện tử tại Gưttingen dựa trên định luật cảm ứng của
Faraday, có thể truyền đi khỏang 3km phát minh đầu tiên. Ông được mệnh danh là
"hoàng tử của các nhà toán học" và "lý thuyết chuyển động của
thiên thể"
Joseph Fraunhofer (1787-†1826) đưa ra lý thuyết nhiễu xạ ánh
sáng, phát hiện các vạch quang phổ sắc nét và tối trong quang phổ mặt trời, được
mang tên "vạch Frauenhofer"
Friedrich Krupp (1787-†1826) thành lập nhà máy đúc tại Essen,
năm 1826 người con kế nghiệp cha là Alfred Krupp (1812-†1887) thành công biến nhà
máy nhỏ thành lập Cty khổng lồ tại Âu Châu để sản xuất vũ khí, đại bác có tầm bắn
xa, tốc độ bắn nhanh hơn, và cũng chính xác quân Phổ (Đức) đánh thắng Hoàng đế
Napoléon III. Về kỷ nghệ đúc thép còn có nhà máy tại Berlin-Tempelhof của
August Borsig (1804-†1854) từ năm 1841 chế tạo đầu máy xe lửa danh tiếng có tên
"Borsig Lokomotive Werk-GmbH"
Georg Simon Ohm (1789-†1854) ở Erlangen phát minh định luật về
điện trở mang ký hiệu (Symbol U?). 1U? bằng điện kháng giữa hai điểm trong một
filiform, đều tempered conductor và kim loại đồng nhất, mà trong điện điện áp của
1 volt (V) giữa hai điểm cố định một temporally điện hiện tại sức mạnh của 1
ampere (A) in SI-Eiheiten.Chritian Friedrich Schưnbein (1799-†1868) ở Baden Baden phát
minh nitrozellulose loại chất nổ mới có sức công phá mạnh hơn thuốc nổ cũ
Friedrich Wưhler (1800-†1882) ở Escherheim tổng hợp được hợp
chất hữu cơ từ những vật vô cơ. Là người sáng lập ngành hoá hữu cơ, chế acid
sulphuric và tách được cocain, tổng hợp được urê và acit Oxalit, (đã giúp
Liebig thành công chế phân bón vào nông nghiệp và sinh lý học) Wưhler chế tạo
nhôm, tách nhôm thành sản phẩm tốt và định được tỷ trọng.
Julius Plücker (1801-†1868) và Heinrich Geißer (1814-†1879)
nghiên cứu khi hiện tượng dòng điện chạy qua ống thủy tinh chân không
"Gasentladungsrưhre" phát ra tia sáng, "Geißlerschen
Rưhre" tiền thân cho loại đèn quảng cáo ngày nay. Năm 1869 Johann Wilhelm
Hittorf (1824-†1914) ở Bonn tiếp tục nghiên cứu chứng minh trong ống thuỷ tinh
"Hittorfrưhe" ở áp suất khí thấp sự phát sáng biến mất nhưng ở thành ống
đối diện với tia cathot sẽ sáng lên, phải có một dòng điện âm đi xuyên qua ống
thủy tinh, mắt thường không thể nhìn thấy, tia cathot khi đi qua chạm vào thủy
tinh phát sáng (fluorescene/ huỳnh quang). Tia sáng được Eugen Goldstein
(1850-†1930) gọi là tia Kathodenstrahlen/ cathode ray tubes, tiếp theo những
nhà nghiên cứu phát hiện electron cho ngành vật lý nguyên tử.
Christian Doppler (1803-†1853) phát hiện hiệu ứng mang tên
ông, là sự thay đổi tần số theo vận tốc tương đối giữa nguồn phát âm và người
quan sát, ứng dụng trước cho âm thanh học sau đó cho thiên văn, vật lý và y
khoa.
Justus von Liebig (1803-†1873) nhà hóa học đóng góp to lớn
trong lĩnh vực nông nghiệp là "cha đẻ của ngành công nghiệp phân
bón". Hóa học hữu cơ trong ứng dụng của nó vào nông nghiệp và sinh lý hóa.
Ông đã mang lại cuộc cách mạng cho nông nghiệp canh tác biết dùng phân bón làm
cho đất màu mỡ, thu hoạch thực phẩm tăng đáp ứng đời sống con người sung túc
hơn
Whilhelm Weber (1804-†1891) ở Wittenberg đo được tỷ lệ giữa
cường độ điện từ và tĩnh điện bằng tốc độ ánh sáng, phát minh điện tín bằng điện
từ dựa theo định luật của Faraday, đây là điện tín đầu tiên của thế giới.
Robert Wilhelm Bunsen (1811-†1899) nhà Hoá học ở Gưttingen chế
tạo nhôm bằng điện phân nóng chảy nhôm là vật liệu cần thiết để sản xuất trong
ngành chế tạo máy bay.
Julius Robert Mayer (1814-†1878) là bác sĩ cũng là nhà Vật
lý, phát minh định luật bảo toàn năng lượng làm ảnh hưởng lớn đến các ngành
khoa học với tập xét về lực lượng, tính chất của inanimate "Bemerkungen
über Kräfte der unbelebten Natur/ Remarks on forces of inanimate nature".Werner von Siemens (1816-†1892) ở Lenthe gần Hanover là người
sáng lập ra hãng SIEMENS. Ông nghiên cứu thành công phương pháp mạ vàng bạc lên
kim loại và sau đó ông thành công trong việc nghiên cứu ra một loại pháo bông đủ
màu sắc. Thành công này làm chấn động dư luận bấy giờ. Ông được hoàng gia chiếu
cố và cuộc sống bắt đầu thay đổi. Tiếp theo, hàng loạt thành công về nghiên cứu
phát minh và kinh doanh: dùng acid khắc bản đồng, phát minh kỹ thuật in kẽm,
dùng cao su bọc dây dẫn điện. Ông thành công đường điện tín Âu Ấn, đường cáp ngầm
xuyên Đại Tây Dương. Sau hàng loạt những phát minh, sáng chế, Siemens còn tuyển
dụng nhiều nhân tài kiệt xuất, chuyên gia chế tạo máy phát điện (dynamo) ra đời
năm 1866 và máy biến thế để truyền tải qua một khoảng cách lớn với điện thế lớn,
xe điện, vô tuyến truyền hình, xe lửa... Công ty SIEMENS từ năm 1847 phát triển
và thành công. Gia đình của anh em Siemens để lại di sản lớn cho nhân loại
(hình Werner von Siemens)
Công ty quang học Carl Zeiss (1816-†1888) hợp tác với nhà toán
học và vật lý Ersnt Able (1840-†1905) Otto Schott chế tạo những loại kính hiển
vi đặc biệt, chính xác, kính chụp ảnh. Ngày nay Zeiss là công ty kính quang học
nổi tiếng thế giới dùng làm thiết bị trong ngành giải phẫu về mắt và chế tạo
microchips...
Max Josef von Pettenkofer (1818-1901) ở Donau nghiên cứu các
yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ và bệnh tật, những kế hoạch y tế trong việc chữa
trị và phòng ngừa. Rút tỉa ra định nghĩa căn bệnh, liên hệ từ nguyên nhân đến
triệu chứng và tạo kế hoạch điều trị hay phòng ngừa. Từ đó ngành y tế ra đời
Rudolf Virchow (1821-†1902) phát hiện bệnh là do sự biến đổi
vật lý, hoá tính trong tế bào ( Zellularpathologie) Tế bào là nhân tố của sự sống
Hermann von Helmholtz (1821-†1849) ở Berlin đóng góp quan trọng
trong một số lãnh vực khoa học, Sinh lý học, chuyên về các tính toán của mắt,
các lý thuyết về sức nhìn và cảm nhận về không gian của mắt, các nghiên cứu thị
lực màu. Năm 1851 Helmholtz đã làm một cuộc cách mạng trong khoa khám chữa mắt
với phát minh kính soi đáy mắt (ophthalmoscope); một dụng cụ dùng để khám phần
bên trong của mắt. Phát minh này đã làm ông nổi tiếng thế giới ngay lập tức.
Các điều Helmholtz quan tâm vào lúc đó tập trung thêm vào sinh lý học của các
giác quan.
Friedrich Siemens (1826-†1949) là em của Werner V. Siemens,
năm 1864 phát minh phương pháp luyện thép "S - M-Stahl"
Nicolaus August Otto (1832-†1891) đã có nhiều người nghiên cứu
cách chế tạo máy xe, trước khi Otto phát minh thành công việc chế tạo động cơ 4
thì, có khả năng ứng dụng thực tiễn tại Kưln. Sau đó Benz, Maybach và Daimler
chế tạo được những chiếc xe giúp phương tiện lưu thông cho nhân loại.
Johann Philipp Reis (1834-†1874) ở Friedrichsdorf người đầu
tiên sáng chế điện thoại năm 1861 tại Frankfurt am Main, sau đó Alexander Grahm
Bell (1847-†1922) và Edioson tiếp tục nghiên cứu thành công và đưa vào việc sản
xuất.
Adolf von Baeyer (1835-†1917) ở Berlin phân tách và tổng hợp
thuốc nhộm (organischen Farbstoff). Năm 1905 nhận giải Nobel về hóa học
Ernst von Bergmann (1836-†1807) năm 1885 thực hiện được
phương pháp sự vô trùng Asepsis
Ferdinand Graf von Zeppelin (1838-†1917) ở Konstanz là sĩ
quan cấp tướng về hưu, năm 1914 chế chiếc phi thuyền "Zeppeline" với
khung thành cứng thành công, dài 150-160m và 22.000- 25000 m³ có thể tải nặng 9
tấn, vận tốc 80 km/h với 3 Motoren của Wilhelm Maybach (3 x 147 KW= 3x 200PS).
Bay vòng quanh trái đất, năm 1928 đáp xuống Tokyo. Từ kết quả nầy cha con
Maybach thành lập công ty "Luftfahrzeug-Motorenbau-GmbH Bissinger".
Chiếc phi thuyền nầy năm 1997 tại Friedrichshafen gần Bodensee chế tạo theo kỹ
thuật mới năm 2001 thu hút được nhiều người.
Carl von Linde (1842-†1934) ở Berndorf Oberfranken, nghiên cứu
hóa lỏng được khí ở nhiệt độ -191o C. Sau đó cất được không khí, để sử dụng
trong nghành điện lạnh và oxy lỏng cho công nghiệp luyện thép. Chế máy lạnh bằng
ammoniac để sử dụng làm nhà máy nước đá, trong các nhá máy chế beer, thực phẩm...
Robert Koch (1843-†1910), phát hiện vi khuẩn lao, dịch tả, sốt
thương hàn, loại vi khuẩn gây ra bệnh than (Milzbrandbazillus) và chế được
Tuberkulin, một protein chiết xuất từ muối cấy vi trùng lao, dùng để thử nghiệm
xem một người đã mắc bệnh lao hay đã tiếp xúc với bệnh lao hay chưa? ông là cha
đẻ của ngành vi khuẩn học.Hình Robert KochWilhelm Conrad Rưntgen (1845-†1923), nhận giải Nobel đầu tiên
trong lịch sử (1901), năm 1895 ông thí nghiệm với tia cathot gồm dòng electron
trong ống thủy tinh thành công, phát hiện ra từ ống nghiệm chứa tia cathot bị
phủ kín hoàn toàn, một vài loại hình của tia bức xạ không thể nhìn thấy. Ông gọi
bức xạ không nhìn thấy là tia quang tuyến X các ẩn số trong đại số học, được áp
dụng rộng rãi trong công nghệ và ngành Y Khoa gọi là Rưntgen. Việc sử dụng tia
quang tuyến X trong việc xác định bệnh lý về xương, và các bệnh tật khác trong
cơ thể.
Georg Ferdinand Ludwig Philipp Cantor (1845-†1918) ở St.
Pertrburg. Ông là người nổi tiếng vì đã tạo ra lý thuyết tập hợp, lý thuyết trở
thành một lý thuyết nền tảng trong toán học. Hibert gọi đó là "tinh
hoa đáng ngưỡng mộ nhất của trí tuệ con người".Wilhelm Maybach (1846-†1929) ở Reutlinger Maybach gặp Gotlieb
Daimler (1834-1900). Daimler đã phát triển về tốc độ cao và động cơ xăng, xe bốn
bánh có motor. Wilheim Maybach trở thành người cộng sự, người bạn thân thiết
cho đến khi Daimler mất. Tháng 9 năm 1869, ông chuyển đến Karlsruhe cùng
Daimler và tham gia vào công ty "Gasmotorenfabrik Deutz". Việc này
cho phép ông nghiên cứu để thiết kế những động cơ đốt trong có tốc độ cao và trọng
lượng nhẹ, thích hợp cả dưới nước và trên cạn. Năm 1882 Daimler rời
Gasmotorenfabrik Deutz và cùng Maybach đến làm việc cho Cannstatt. Năm 1885, một
động cơ mới được lắp vào một chiếc xe bằng gỗ, và một năm sau đó là chiếc xe ngựa.
Wilheim Maybach nhanh chóng nhận ra rằng ông không thể chỉ bằng lòng với việc lắp
động cơ cho xe ngựa. Ông thiết kế xe hơi 4 thì chạy bằng xăng, chấm dứt kỷ
nguyên xe ngựa ông đóng góp phát triển cho ngành kỹ nghệ xe hơi. Năm 1895 ông
đã thiết kế chiếc xe động cơ 4 xy lanh đầu tiên. Về ngành xe hơi Đức là quê
hương đầu tiên của thế giới. Công trình của nhiều người đóng góp đó là:
Nicolaus Otto, Gottlieb Daimler, Wilhelm Maybach và Karl Benz phát triển động
cơ hai thì và bốn thì cho các loại xe hai, ba, bốn bánh và thuyền.Otto Lilienthal (1848-†1896) thực hiện được giấc mơ bay của
con người, đóng góp lớn cho ngành hàng không, năm 1891 một loại "máy
bay" đơn giản chỉ gồm các cánh dài nối lại với nhau và gắn chặt với thân
mình ông được thả bay từ trên đồi cao. Nên thời đó người ta gọi ông là
"người chim". Năm 1896 ông qua đời trong lúc đang bay thử ở độ cao
khoảng 7 m, bị cơn gió mạnh thổi tới làm máy bay rơi xuống, tính đến ngày tử
vong ông đã thực hiện hơn 2000 chuyến bay. (hình Otto đang bay lượn)
Oskar Hertwig (1849-†1922) ở Friedberg năm 1875 nghiên cứu tế
bào, các di truyền. Chứng minh sự thai nghén là kết quả của sự kết hợp giữa hai
tế bào sinh sản đực và cái (1875 erstmals beim Seeigel die Befruchtung einer
weiblichen Eizelle durch eine männliche Keimzelle).
Karl Ferdinand Braun (1850-†1918) phát hiện sự ghép nối kim
loại và bán dẫn hiệu ứng chỉnh lưu, một hiệu ứng căn bản cho nghiên cứu và ứng
dụng trong ngành sản xuất "chip" điện tử Semiconductor sau này. Ông
chế tạo ống Braum từ ống tia cathot phấn quan trọng của dao động ký
(Oscillograph) là dạng đầu tiên của ống hình và vô tuyến truyền hình, Ông cũng
hoàn chính kỹ thuật điện tín không dây và ngành vật lý về tần số cao "Hochfrequenzphysik".
Emil Fischer (1852-†1919) năm 1902 tổng hợp về đường và
Purine
Arthur Nikolair phát hiện trực khuẩn gây ra phong đòn gánh,
thì Emil von Behring (1854-†1917) ở Rosenberg, từng phụ tá cho nhà vi trùng học
Robert Koch. Behring chế được serum, đặc biệt là cách sử dụng để chữa bệnh bạch
hầu/ Diphtherie và phát hiện kháng độc tố cho bệnh phong đòn
gánh/ Tetanusheilserum. Behring nhận giải "Prix Alberto Levi" của Pháp
(1895), và giải Nobel đầu tiên về Y Khoa (1901)
Sigmund Freud (1856-†1939) ở Freiburg là bác sĩ về thần kinh
và tâm lý cùng Josef Breuer (1842-†1925) người Áo mở đầu môn phân tâm học là những
nghiên cứu về Hysterie (các bệnh tâm lý cuồng loạn). Phương pháp phân tâm học của
ông với các phương pháp điều trị khác.
Max Planck(1858-†1947) nghiên cứu về Lý thuyết lượng tử
(Quantentheorie) qua phát hiện lượng tử căn bản là thành tựu khoa học lớn nhất
của Max Planck. Theo thuyết của Planck, từ tính của một lượng tử ánh sáng phụ
thuộc vào tần số ánh sáng và tỷ lệ với khối lượng vật lý (ký hiệu: h) trong
nguyên tử. Bức xạ phát ra của nguyên tử không liên tục mà theo các bậc năng lượng
E=h.v (E là năng lượng, h là hằng số Plank, v là tần số), ông nhận giải Nobel
năm 1918.
Rudolf Diesel (1858-†1913) ở đại học München chế tạo máy nổ
Diesel chạy bằng dầu cặn, sử dụng chất đốt cho ra nhiều năng lượng, ông cho ép
chất đốt và không khí mạnh hơn một máy nổ xăng và làm cho hỗn hợp nóng đến độ
có thể cháy mà không cần lửa, trong nhà máy cơ khí Ausburg. (là nhà máy MAN).
Tàu thủy được trang bị động cơ diesel đầu tiên ra đời năm 1903. Năm 1908 động
cơ Diesel loại nhỏ đầu tiên, xe tải và đầu tàu hỏa Diesel đầu tiên được chế tạo.
Động cơ diesel dùng cho xe hơi được chế tạo hàng loạt lần đầu tiên trong năm
1936 (chiếc Mercedes đầu tiên 35 PS)
Ludwig Knorr (1859-†1921) ở München chế Anitipyrin thuốc hạ
nhiệt và giảm đau, sau Joseph Liter (1827-†1929) người Anh phát minh việc điều
trị vết thương bằng phương pháp khử trùng.
Carl Ludwig Schleich (1859-†1922) ở Stettin là nhà giải phẩu
học, sáng tạo được kỹ thuật gây mê cục bộ (Lokalanäthesie)
Eduard Buchner (1860-†1917) tìm ra Enzyme phát hiện zymase là
chất làm nên quá trình lên men.
Robert Bosch (1861-†1942) thành công trong việc tổng hợp
ammoniac từ khí Nitơ trong không khí và hydro trong nước.
David Hilbert (1862-†1943) ở Kưnigsberg là một nhà toán học lớn
cuả Đức đóng góp cho nền toán học, được công nhận như là một trong những nhà
toán học có ảnh hưởng rộng lớn nhất của thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Ông thiết lập
tên tuổi như là một nhà toán học và nhà khoa học vĩ đại bằng cách phát minh hay
phát triển một loạt các ý tưởng khác nhau, chẳng hạn như: Lý thuyết bất biến,
tiền đề hóa hình học và khái niệm không gian là những nền tảng của giải tích
hàm. Hilbert và các học sinh của ông đã xây dựng đủ hạ tầng cơ sở toán học cần
thiết cho cơ học lượng tử và thuyết tương đối rộng. Ông là một trong những sáng
lập viên của lý thuyết chứng minh logic toán học và sự phân biệt giữa toán học
và meta toán học. Ông sử dụng và bảo vệ lý thuyết tập hợp của Cantor và các số
siêu hạn (transfinite number). Hilbert đầu tiên liệt kê các khái niệm chưa định
nghĩa: điểm, đường thẳng, mặt phẳng, nằm trên (một quan hệ giữa các điểm và các
mặt phẳng),sự nằm giữa, sự đồng dạng giữa các cặp điểm, và sự đồng dạng giữa
các góc. Những tiên đề này thống nhất cả hình học phẳng và không gian. Trên mộ
bia của ông được ghi nhớ Wir müssen wissen, wir werden wissen - Chúng
ta phải biết, chúng ta sẽ biết.
Einstein (1879-†1955) làm cuộc cách mạng khoa học lần thứ hai
[1], Einstein đã làm đổ vỡ nền móng của khoa học cổ điển, bằng lập luận khoa học
xác đáng, phủ nhận sự tồn tại của chất ether, và do đó phủ nhận luôn cả hai cái
tuyệt đối của khoa học cổ điển (không gian tuyệt đối,và thời gian tuyệt đối) bằng
Thuyết tương đối bất hủ của mình. Thuyết tương đối của riêng Einstein là phiến
đá tảng của nền khoa học và công nghệ hiện đại đem lại cách nhìn hoàn toàn mới
mẻ về các vấn đề: không gian, thời gian, vật chất và năng lượng.
Albert Einstein đưa ra Thuyết Tương Ðối năm 1916 làm nền tảng
của khoa học và không gian E = mc2 (Energy E of a body is
equal to its mass m, multiplied with the square of the speed of
light, c.) trọng lượng chính là thước đo cho năng lượng chứa trong một vật,
chính xác hơn, năng lượng của một vật bằng trọng lượng, nhân với bình phương vận
tốc ánh sáng từ công thức nầy Mỹ đã thành công chế 2 trái bom nguyên tử
[2] thả xuống hai thành phố Hiroshima (06.8.1945) giết chết 130.000 người và
Nagasaki (09.8.1945) giết chết 75.000 người. Nhật đầu hàng ngày 15.8.1945 chiến
tranh dứt ở Á Châu.
Otto Heinrich Warburg (1883-†1970) ở Freiburg phát hiện ra
nguồn gốc về bản chất và chức năng của các Atmungsferments. Khám phá
Cytochromoxidase, nghiên cứu trên metabolism của các tế bào ung thư và các câu
hỏi căn bản của các tế bào hô hấp. Năm 1923 ông đã thành công trong việc giải
thích về phân tử, quá trình hô hấp của tế bào và tham gia việc xác định các
enzymes, ông nghiên cứu vai trò của việc truy tố sắt và đồng, và các vitamin
như là một phần của enzymes và coenzyme. Dựa trên điều tra về tumors
bioneergetischen, về sự phát triển của bệnh ung thư. Ông nhận Nobel năm 1931
Otto Fritz Meyerhof (1884-†1951) ở Hannover đã khám phá ra mối
liên quan giữa sự tiêu thụ oxygen và sự chuyển hóa của acit lactic trong cơ bắp
(muscle metabolism) và sự phân glucoza (glycolysis) nhận giải Nobel 1922
Năm 1891, Oskar von Müller cùng với AEG (Allgemeine
Elektrizität-Gesellschaft/ General Electricity Company) thành công trong việc dựng
đường điện truyền tải dài với 200-220 KW với điện thế 30.000 volt. Công ty AEG
sản xuất các hàng điện, đến turbine điện, đầu máy xe lửa... Năm 1913 ngành đồ
điện Đức phát triển mạnh thành công xuất cảng khắp thế giới. Phương pháp làm việc
"Qualität bekommt man nicht geschenkt, Qualität muss täglich neu
erarbeitet werden/ Quality does not get a gift, quality must be developed
day by day" tạm dịch " Phẩm chất không phải vật biếu không, phẩm chất
phải được phát triển hàng ngày"
Wernher von Braun (1912-†1977) ông lãnh đạo chương trình năm
1942 phát triển chế hỏa tiền rakete A4 (A4 - A für Aggregat) sau đó
"Vergeltungswaffe 2" (V2) bay xa và tốc độ nhanh (thời đệ nhị thế chiến
Đức Quốc Xã). Ngày 7. September với 12.000 V2-Raketen bắn sang các quốc gia:
Hòa Lan, Bỉ, Anh Quốc (Niederlande, Belgien und London). Sau thế chiến ông sang
Mỹ làm việctrong cơ quan NASA, trở thành là cha đẻ chương trình không gian của
Mỹ. (Braun và Rakete).Văn Học
Ngoài những đóng góp khoa học thực dụng hữu ích, về Văn
chương, Triết Âm nhạc. Văn học tiếng Đức từ thời Trung cổ, những nhà văn được
nhận giải Nobel văn chương
Theodor Mommsen (1817-†1903) ở Garding là nhà Sử học lớn về Lịch
sử La Mã.(Rưmische Geschichte), là nhà văn người Đức nhận giải Nobel đầu tiên
năm 1902, tiếp theo: Rudolf Christoph Eucken(1908); Gerhart - Hauptmann
(1912);Thomas Mann (1929); Nelly Sachs (1966); Heinrich Bưll (1972), Günter
Grass (1999).
Friedrich Schiller (1759-†1875) nhà văn, triết học thuộc trường
phái cổ điển ảnh hưởng tư tưởng của triết gia Kant (1724-†1804) của nhiều lĩnh
vực khoa học nhân văn khác muốn đóng góp cho nền giáo dục tốt đẹp, làm phương
tiện đưa xã hội phát triển đẩy lui sự thô bạo và xuống dốc. Các triết gia gây ảnh
hưởng thế giới: Nietzche, Leibniz, Kant, Hegel, Schopenhauer, Heidegger... Hai
nhà triết học Karl H. Marx (1818-†1883) và Friedrich Engels (1820-†1895) là cha
đẻ của chủ thuyết cộng sản. (Ngày nay chỉ còn Việt Nam, Trung cộng, Bắc Hàn,
Cuba còn theo chủ nghĩa cộng sản)
Âm nhạc hội họa
Tiếng Đức "giọng hơi khô" nhạc tình cảm melodie
nghe không hay như nhạc Mỹ, Pháp, nhưng có những nhà soạn nhạc lừng danh như:
Ludwig Van Beethoven (1770-†1827) soạn những hòa tấu cổ điển bất hủ, dù lúc 40
tuổi ông bị bệnh điếc, không thể xuất hiện trước công chúng, nhưng ông vẫn sáng
tác, những bản giao hưởng mạnh mẽ âm hưởng lãng mạn, tự do và đa dạng diễn tả
cái thiện, mỹ... làm ảnh hưởng đến những nhạc sĩ giúp cho sự phát triển nền âm
nhạc được thế giới biết đến Johann Sebastian Bach Robert Schumann, Richard
Wagner, Johannes Brahms, Richard Strass... (Hàng năm tại nhà hát đặc biệt
Festspielhaus thành phố Bayreuth ngày 25 tháng 7 đến 28 tháng 8 thuộc tiểu bang
Bayern/ Bavaria tổ chức Đại Nhạc Hội Liên Hoan Wagner, rất nhiều người hâm mộ đến
xem, ngày khai mạc thường có Thủ tướng tham dự, lần trình diễn đầu tiên vào
ngày 13.06.1876 đến nay (2009) được 123 năm để nhớ lại nền âm nhạc và kịch nghệ
Đức qua những thời hưng thịnh phát triển và tồn tại).Nhiều nhà họa nổi tiếng về nghệ thuật
các trường phái qua các thời kỳ: phục hưng ở Âu châu, đến thời kỳ lãng mạn,
siêu thực như: Albrecht Altdorfer; Lucas; Matthias Grünewald; Friedrich; Max
Ernst; Joseph Beuys..Tiêu biểu nhất là họa sĩ Albrecht Dürer (1471-†1528) tại
Nürnberg với tác phẩn nổi tiếng "Thăng thiên và Đăng quang Maria"
Người Đức di cư sang Mỹ như: Heinrich
Steinweg đã đổi tên thành Henry Steinway thành lập công ty Steinway & Sons
tại New York sản xuất đàn Piano. Ở Đức, ông đã từng sản xuất đàn Piano nỗi tiếng
tại Wolshagen. Ông Lưb Strauss quê ở Buttenheim, tiểu bang Bavaria sang Mỹ lập
nghiệp đổi tên là Levi Strauss, thành lập công ty Levis Strauss & Co sản xuất
quần Jeans từ năm 1853 ở San Francisco.
Trong bài sưu khảo ngắn nầy, không tránh những thiếu sót tên
tuổi các nhà : bác học, nhà văn, triết gia, nhạc sĩ khác của Đức đã đóng góp sự
khai phóng cho nhân loại. Rất nhiều nhà bác học Đức nhận giải Nobel [3] các
ngành từ năm 1901-2009: Vật lý 22 người; Hoá học 24 người; Y khoa và Triết 15
người; Văn chương 7 người; Kinh tế 1 người, Hòa bình 5 người.
Phần lớn những người được nhận giải Nobel là người Mỹ, điều nầy
dễ hiểu vì Hoa kỳ là Hiệp chủng quốc miền đất hứa đã thâu nhận nhiều nhân tài
trên thế giới, và những người ở các quốc gia Âu Châu có truyền thống phát triển
về Khoa học lâu đời. Tuy nhiên vấn đề làm cho chúng ta suy nghĩ năm 1973 giải
thưởng Nobel hòa bình trao cho Henry Kissinger và Lê Đức Thọ. Vấn đề chính trị
đã làm mất đi giá trị giải Nobel hòa bình đã trao năm đó! Mong một ngày trong
tương lai sẽ có nhân tài thật sự là người Việt Nam được vinh dự nhận giải
Nobel. Dân tộc Trung Hoa thường tự hào có nền văn hóa lâu đời, hơn một tỷ người
nhưng chỉ có hai người đều học tại đại học Chicago Hoa Kỳ năm 1946 là: Chen
Ning Yang 楊振寧 (1922-) và Tsung-Dao Lee 李政道 (1926-)
nhận chung giải Nobel Vật lý về "Elementary particle" năm 1957 [4].
Những đại học lâu đời danh tiến của Đức như: Đại học
Heidelberg (1386); ĐH Kưln (1388); ĐH Erfurt(1392); ĐH Leipzig (1409); ĐH
Rostock (1419) ĐH Freiburg (1457); ĐH Basel (1460; ĐH Ingolstadt (1472), ĐH Tier
(1473) ĐH Mainz và ĐH Tübingen (1477). Bắt đầu thế kỷ thứ 15 nhiều đại học ra đời,
trong thời gian từ 1865-1890 các trường bách khoa kỹ thuật (Polytechnika) được
chuyển thành đại học kỹ thuật bắt đầu là đại học Karlsruhe (1865) ĐH München (1868)
ĐH Berlin (1879) ĐH Aachen (1870); ĐH Danzig 1904; ĐH Breslau (1910) [5]
Đại học Đức chú trọng sự (Einheit der Lehre und Forshung) sự
thống nhất giữa dạy học và nghiên cứu, (Lehrfreiheit) tự do dạy, (Lernfreiheit)
tự do học. Sự giảng dạy tự do gắn liền với nghiên cứu độc lập, đáp ứng khoa học
phải độc lập và thuần túy. "Mục đích thật sự của đại học không phải là học,
mà là sự đánh thức một cuộc đời mới trong thanh niên một tinh thần khoa học".
Ngoài các trường đại học, ở Đức còn có nhiều Viện nghiên cứu và Trung tâm thí
nghiệm. Những trung tâm Vật lý ở Berlin, Gưttingen và München đóng góp thành
công vẻ vang cho khoa học Đức và thế giới.
Trải qua những thời hưng thịnh
Nước Đức có nhiều nhân tài nên ngành kỹ nghệ nặng phát triển
mạnh như luyện thép, sản xuất các loại xe được nhiều người ưa thích Mecerdes
Benz, BMW, WV, Audi, xe bus hãng Man về Quốc phòng sản xuất xe tăng tối tân
"Leopards"..., Thành phố Munich thuộc tiểu bang Bavaria có những hãng
sản xuất xe như: BMW diện tích rộng 500.000 m². Có chiều dài 1km ngang 500m,
9000 công nhân sản xuất, 1000 người học nghề, học 300 nghề khác nhau mỗi năm
theo nhu cầu sản xuất 200.000 xe và 300.000 Motoren. Tất cả 33.000 công nhân
viên, làm việc từ hành chánh, nghiên cứu và sản xuất. Khởi đầu từ năm 1916 chế
tạo máy bay "Bayerischen Flugzeug Werk Bavarian Airplane Factory/Bavarian
Airplane Airplane Factory". Năm 1918 đổi thành BMW AG, sản xuất
Automobiles, motorcycles, engines, components. Có nhiều chi nhánh sản xuất trên
12 quốc gia, cung cấp xe cho 140 nước, có chi nhánh ở Hà Nội. Toàn thế giới có
105,8 ngàn công nhân viên, riêng tại Đức có 80.020 người. (năm 2009 chỉ còn lại
99.112 người). Tổng kết 2 quý đầu năm 2009 sản xuất it hơn chỉ 127.547 chiếc,
vì lượng xe bán ra thị trường kém, doanh thu giảm 10,9%, chỉ đạt 13 tỷ euro cho
đến cuối năm BMW có thể lỗ đến 1 tỷ (e), nên có chương trình cắt giảm, tiết kiệm
tới năm 2012 phải đạt là 6 tỷ (e), hãng xe lớn nhất thế giới Toyota, báo lỗ lớn
sau khi doanh số bán giảm trong quý hai, cũng như các hãng xe khác cùng một
trình trạng lỗ vốn
Hãng MAN (1758) đến năm 2009 kỷ niệm 251 năm thành lập, Tổng
số công nhân viên làm việc ở Đức 36.331 người và các chi nhánh ở nước ngoài
21.872 người, tổng số 50.468 người, (năm 2009 cắt giảm còn 49.472 người) hàng
năm đào tạo 800 các chuyên viên kỹ thuật với 27 ngành nghề khác nhau. Nửa năm
2009 hợp đồng đặc hàng trị giá 4,6 tỷ (e) ít hơn năm qua 49%! MAN sản xuất các
loại xe Bus, Diesel, Turbo machine, industrial services. München có nhiều trung
tâm nghiên cứu về kỹ nghệ nặng, điện tử... nhiều chi nhánh sản xuất ngành điện
tử lớn các hãng: Siemens(1846), Infineon(1999), Epcos(1999). Những công ty
ngành hoá chất danh tiến như Bayer, Hoechst, BASF "Badische Anilin &
soda Fabrik", Merck, Schering
Lịch sử nước Đức cũng lắm thăng trầm, Thế kỷ thứ 19 Đức muốn
thoát khỏi sự kiềm tỏa của Anh-Pháp, đòi hỏi một thị trường, thuộc địa tương xứng
với tiềm lực cường quốc thế giới của mình. Mở rộng vùng ảnh hưởng về phía Đông
tại Ba Lan, Ukraina, Baltic, sau đó là phần Lan trong đệ nhất thế chiến (1914-1918).
Hitler cầm đầu, điên cuồng gây nên đệ nhị thế chiến (1939-1945), và giết 6 triệu
người Do Thái, là nỗi kinh hoàng của nhân loại và chắc chắn sẽ còn tồn tại khi
nào mà con người còn sống trên quả đất. và Đức bị thua trận, bom đạn tàn phá
quê hương chia đôi hai miền Đông và Tây. Nhưng Tây Đức đã phục hồi kinh tế trở
thành cường quốc giàu có nhất Âu châu. Từ ngày 3.10.1990, Đức thống nhất,
dẹp bỏ bức tường ngăn cách. Hơn 40 năm dưới chế độ cộng sản, Đông Đức đã
làm cho xã hội suy sụp, để có quân bình đời sống sau khi thống nhất, chính phủ
bỏ tiền tái thiết xây dựng lại quê hương mới cho phía Đông (DDR), phải trả số nợ
còn lại thời CS, cũng như kinh phí trả cho hơn 300 ngàn quân đội Nga rút về nước...
Các hãng xưởng máy móc dưới thời Đông Đức không thể sản xuất
cạnh tranh với thị trường tự do, phải đóng cửa hàng loạt, tạo nên làn sóng thất
nghiệp. Làm cán cân hai miền Đông Tây chênh lệch thêm. Người bên phía Đông bỏ nhà
cửa, làng mạc chạy sang Tây tìm việc làm. Những người bỏ vốn đầu tư xây nhà bên
Đông Đức bị thua lỗ. Tiếp theo các nước Đông Âu cũng như Liên Sô bỏ chủ nghĩa CS, chấm dứt chiến tranh lạnh. Các nước Đông Âu thị trường sản xuất giá rẻ như
bên Tàu, Mã Lai... Vì nhu cầu, các công ty của Đức đã dời đến nơi nào sản
xuất có giá rẻ, để cạnh tranh với thị trường thế giới, giá rẻ hơn sản xuất từ bản
xứ "Made in Germany ". Lý do trả tiền lương công-nhân-viên tại Đức
quá cao và làm việc 35 giờ một tuần, nghỉ phép thường niên 30 ngày, (nếu bị bệnh
6 tuần lễ được trả lương) có thêm lương tháng 13. Nghiệp đoàn lao động thường
đòi tăng lương hàng năm. Trong khi đó, các nước Á châu như: Đại Hàn, Trung Quốc...
làm việc trên 50 tiếng một tuần với tiền lương rẻ mạc. Vì vậy các hãng xưởng dời
ra nước ngoài, sa thải người. Hiện nay người Đức có khuynh hướng không nhập hàng
"Made in China" vì phẩm chất kém mau hư, tốn tiền sửa, có chất độc hại
sức khỏe....
Các ngành may mặc, giày dép... của Đức được chuyển sang sản xuất
tại Việt Nam, mang trở về Đức tiêu thụ. Riêng xe Mecerdes loại xe 14 chỗ, sản
xuất ngay tại Sai Gòn để đáp ứng thị trường nội địa với giá rẻ, nhưng chắc chắn
về phẩm chất không thể so sánh với hàng gốc sản xuất từ Đức. (ở Đức các đời xe
sản xuất, dù bán ra thị trường cả năm, nhưng nếu phát hiện lỗi kỹ thuật, đều được
thu hồi đưa cho khách hàng xe mới)
Các ngành kỹ nghệ nặng của Đức phát triển hàng đầu, tạo nên nền
kinh tế vững mạnh, nhưng càng ngày đời sống vàng son ở Đức trở nên đen tối vì nạn
thất nghiệp đang đe dọa vì khủng hoảng kinh tế. Đức cũng như các nước Âu Châu,
Hoa Kỳ, một thời thịnh vượng giàu có về kinh tế, nhưng bị ảnh hưởng nặng nề của
cuộc suy thoái kinh tế thế giới từ năm 2008. Thị trường chứng khoán rơi như lá
mùa thu, tình hình kinh tế tài chính thế giới các nơi vẫn mong manh, tiến
trình tự do dân chủ, tại các quốc gia độc tài cộng sản cũng bị chậm lại. Mong
Kinh tế thế giới sớm phục hồi để chúng ta có cuộc sống an bình, thịnh vượng để
nhìn thế hệ kế tiếp vươn lên, phát triển và đóng góp cho khoa học, kinh tế tiến
bộ hơn trong hòa bình tràn đầy yêu thương.
Trông người mà nghĩ đến quê hương
Các nước Tây phương nhờ có các đại học khoa học Kỹ thuật nên
đã có sự phát triển về kỹ nghệ nặng, đào tạo nhiều nhân tài cho thế giới. Trong
khi ở Việt Nam năm 1076 vua Lý Nhân Tông cho mở trường Quốc Tử Giám, tiến sĩ Chu Văn An (? -†1370) là "Khoa trưởng hay Hiệu trưởng đầu tiên " trường
này dành cho con các quan lớn! Từ năm 1434 trở đi biện pháp mới được áp dụng
trong toàn quốc, những ai đỗ cao nhất trong các kỳ thi Hương (cử nhân) nhận vào
học tiếp, nhưng chỉ học theo lối từ chương thi phú, chương trình áp dụng cho tới
triều đại nhà Nguyễn.
Nỗi buồn làm dân nô lệ gần 100 năm giặc Pháp đô hộ, Pháp
không muốn khai phá dân tộc Việt Nam, chương trình giáo dục bị giới hạn, bởi vì
còn chậm tiến thì dễ cai trị.Hình lớp học thời xưa Nguyễn Trường Tộ (1828-†1871) dâng lên Triều đình những bản
Điều trần đề xuất canh tân xây dựng đất nước giàu mạnh, muốn cải cách chương
giáo dục chủ trương coi trọng dân, sửa đổi chế độ thi cử mở mang việc học hành,
thay đổi nội dung giáo dục, lấy Quốc ngữ thay thế chữ Hán, để có thể theo kịp
văn minh Tây phương. Từ năm 1909 quốc ngữ được đưa vào chương trình thi Hương,
cho đến năm 1924 Pháp đưa quốc ngữ vào chương trình tiểu học: Quốc ngữ chính thức
công nhận là chữ viết của dân tộc Việt Nam
Các phong trào Duy Tân, Đông Du năm (1906-1908?). Trường Đông
Kinh Nghĩa Thục Hà Nội (1907-1908) mở để phục vụ cho phong trào thực hiện cải
cách xã hội và tranh đấu với Pháp, đòi hỏi mở trường đại học tại Việt Nam! Đại
học Đông Dương/ Université Indochinoise) là một cơ sở giáo dục bậc đại học
ở liên bang Đông Dương do chính quyền đô hộ Pháp thành lập vào năm 1906. Nhưng
phải chờ mười năm sau, ngày 21 tháng 12 năm 1917. Toàn quyền Đông Dương lúc ấy
là Albert Sarraut ra một quyết định thành lập đại học Đông Dương 1918. (Trước
đó chỉ có trường chuyên nghiệp Y Khoa, Dược Khoa trường Công Chánh 1902).
Năm 1919 các kỳ thi Nho học được bải bỏ toàn quốc, chấm dứt
Nho học, không còn ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa. Chương trình giáo dục thay đổi
dưới thời toàn quyển Varenne ban hành quy định bằng tú tài bản xứ (baccalauréat
local). Kỳ thi đầu tiên tú tài phần 1 năm 1928, và phần 2 năm 1929. Giai đoạn
đó toàn quốc chỉ có 2 trường trung học có ban tú tài bản xứ là Perus Ký (Sài
Gòn) và trường Bảo Hộ ở Hà Nội (trường Bưởi). Đại học Hà Nội (1918). Huế là
Kinh đô nhưng trước năm 1936 trường Quốc Học Huế chỉ dạy hết bậc cao tiểu học
(trung học đệ nhất cấp) bằng cao tiểu còn gọi là bằng thành chung (Diplôme d'
Etudes Primaires Supérieures). Từ năm 1936-1937 trường Quốc học đổi thành Khải
Định bắt đầu mở ban tú tài. Đại học Sài Gòn có trước 1930, (mặc dù Sài gòn là
Hòn ngọc viễn đông "La perle de l'Extrême Orient" ảnh hưởng văn hóa
Pháp trước tiên, trường Tabert sáng lập đầu tiên 1874) [6], các trường trung học
hay chuyên nghiệp cao đẳng được mở thêm, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu. Cho đến
ngày bị chia đôi đất nước 20.7.1954. Quân đội Pháp triệt thoái khỏi Việt Nam
tháng 9 năm 1956.
Chính phủ VNCH tiếp tục mở các trường đại học công lập, cũng
như đại học tư thục tại miền Nam ra đời đáp ứng cho sự phát triển xây dựng đất
nước. Nhưng tiếc thay cuộc chiến hơn hai năm điêu linh, khói lửa ngành giáo dục
2 miền Nam-Bắc bị trì trệ, chênh lệch. (Chương trình giáo dục ngoài Bắc trung học
chỉ học đến lớp 10 sau đó vào đại học, ngược lại trong miền Nam theo chương
trình Pháp phải học đến lớp 12, trải qua 2 kỳ thi tú tài khó khăn). Thống nhất
đất nước chế độ chủ trương giáo dục nặng phần "hồng hơn chuyên" làm
suy giảm tiềm năng của thế hệ trẻ khó phát triển. Sinh viên phải tự do học và
nghiên cứu độc lập như các nước văn minh Tây phương [7] phải phát triển toàn diện,
tránh trường hợp học như vẹt, sao chép luận án. Đại học mênh mông không bờ bến
nghiên cứu là con đường dài vô tận, học để khám phá việc chưa biết và không biết..
Giới trẻ Việt Nam trong nước cần phải thắp sáng ngọn đuốc, mở đường cho việc
nghiên cứu phát triển khoa học, kỹ thuật, kinh tế, thương mại cho dân tộc Việt
Nam tiến lên với văn minh của thế giới.
Người Việt Nam thông minh nhưng không có cơ hội phương tiện để
phát triển tài năng, điều nầy đã chứng minh thế hệ thứ 2 đang sống ở nước ngoài
rất thành công, trên mọi phương diện đóng góp vào những chương trình không gian
như NASA... rất nhiều sinh viên Việt Nam học giỏi nổi tiếng ở các trường
Đại học kỹ thuật, Kinh tế, Thương mại... Đem lại vinh dự chung cho dân tộc Việt
Nam.
(Những nhà Bác học Đức với những phát minh thời gian khác
nhau, nhưng tôi sắp xếp theo năm sinh bắt đầu lớn tuổi nhất từ 1390... trẻ
1912... ngoại trừ phần các tác giả về văn chương hội họa).
Tài liệu tham khảo:
Nước Đức thế kỷ thứ XIX của tiến Sĩ Nguyễn Xuân Xanh
Lexikon Der Geschichte (Faktum) - Wikipedia
Những hình trên nguồn từ Internet
Chú thích:
[1] Lần thứ nhất do nhà thiên văn học Ba Lan Copernic
(1473- †1543), mở đầu bằng một kết luận khoa học bác bỏ quan điểm "Trái đất
là trung tâm Vũ trụ!". Kết luận ấy đã xé tan bức màn đen của đêm dài Trung
cổ, đưa loài người sang thời kỳ Phục hưng. Đó chính là cuộc cách mạng khoa học
lần thứ nhất với sự hình thành và phát triển vật lý - thiên văn cổ điển do công
lao sáng tạo của nhiều thế hệ các nhà khoa học, mà tiêu biểu là Kepler (Ba
Lan), Galilée (Ý) và Newton (Anh).
[2] Chuyền bay B29 tên "Enola Gay" mang trái
bom là Little Boy 4 tấn uranium và 15 Tấn TNT
[3] Giải Nobel của Alferd Nobel là hậu duệ của nhà
khoa học thế kỷ 17 sinh năm 1833 ở Stockholm Thụy Điển/ Schweden, mất năm 1891 ở
San Remo Ý. Ông sinh ra trong một gia đình Khoa học, thân phụ ông chế ra Hüttenwerk/
Steelworks chất gỗ dán. A. Nobel chế ra chất nổ "Dynamite" và chất
"ballistite" chế thuốc súng không khói đầu tiên. Trong việc nhiên cứu
thí nghiệm để sản xuất ra nhiều loại thuốc nổ, đau buồn về vụ nổ lớn năm 1864
đã giết chết em của Alfred Emil cùng nhiều công nhân. Chế chất nổ để phục vụ
cho Kỹ nghệ khai thác hầm mỏ... nhưng cũng là phát minh ra cách thức giết con
người nhanh chóng hơn bao giờ hết. Nobel cảm thấy băn khoăn khi phát minh của
mình dùng cho chiến tranh giết người! ông cảm thấy cần phải làm cái gì đó để
chuộc lỗi và khuyến khích cho việc hữu ích cho nhân loại. Ông sống độc thân nên
đã ký chúc thư cuối cùng của mình và để phần lớn số tài sản thành lập giải Nobel hàng năm là 31,2 triệu Kronen. Năm 1895 Viện Hàn lâm Thụy Điển (Caroline
/Karolinska Institutet) thành lập giải thưởng thường niên cho người nào phát
minh hữu ích giúp đời cho các ngành về: Vật lý, Hoá học, Văn học, Y khoa và Hòa bình.
Năm 1969 có thêm giải kinh tế (Wirtschaftswissenschaften/
Economics). Vì cháu trai của ông, Peter đã yêu cầu Ngân hàng Thuỵ Điển phân biệt
giải thưởng giành cho các nhà kinh tế học của họ được trao "để tưởng nhớ
Alfred Nobel" với năm giải thưởng kia. (trong bài này chúng tôi
không bình luận về các giải Nobel về văn chương.. Chỉ chú trọng về phần phát
minh về khoa học của người Đức đã đóng góp cho nhân loại).
[4] Trung Quốc với những phát minh như địa bàn, thuốc
súng, kỹ thuật làm giấy và kỹ thuật in ấn nhưng bản tính giấu nghề. Nhưng có biệt
tài chuyên ăn cắp phát minh của người khác để chế tạo lại. Thời Đặng Tiểu
Bình/ Deng Xiaoping 鄧小平 (1904-†1997) làm cuộc cách mạng
"Tứ Hiện Đại Hóa của Trung Quốc" cho hơn 700 ngàn sinh viên du học và
điệp viên đến các nước Tây phương, học khoa học kỹ thuật tân tiến hay ăn cắp
tài liệu như vụ điệp viên Greg Chung ăn cắp gửi 24 cuốn cẩm nang liên hệ tới
phi cơ chiến đấu B-1 Bomber.. Rồi hồ sơ về chiếc đấu cơ từ F-15; B-52 cho tới
trực thăng Chinook đều gửi về Bắc Kinh, ngày nay Tàu cộng đang phát triển (nhà
nước giàu nhờ chế độ cộng sản độc tài, nhưng đời sống người dân còn khá nghèo)
Họ thực hiện mộng bá quyền xâm lăng vùng biển của các nước ở Á Châu trong đó có
Việt Nam. Liên tục trong nhiều tháng, tàu Trung cộng xâm nhập vùng biển của Việt
Nam và bắt cóc đánh đập, cướp tài sản trên ghe của ngư dân đang đánh bắt cá
trong lãnh hải Việt Nam và đòi tiền chuộc. Họ là những con bọ hung, hung hăng của
bọn cướp biển... nhưng chế độ Hà Nội không có hành động nào mạnh cụ thể, để bảo
vệ cho ngư dân Việt Nam và chủ quyền trên biển Đông của Việt Nam? "Phải
chăng họ sợ môi hở răng lạnh"
[5] - Trang tìm các Đại học tại Đức
http://www.ger-net.de/
[6] Sài Gòn Năm xưa trang 156 của Vương Hồng Sển
[7] Những đại học lâu đời trên thế giới:
1088 Universität
Bologna, Bologna um
1170 Universität
Oxford, Oxford 1175 Universität
Modena, Modena um
1200 Sorbonne, Paris um 1209 Universität
Cambridge, Cambridge 1218 Universität
Salamanca, Salamanca 1222 Universität
Padua, Padua 1224 Universität
Federico II, Neapel 1229 Universität
Toulouse, Toulouse 1240 Universität
Siena, Siena 1254 Universität
Sevilla, Sevilla 1276 Universität
Perugia, Perugia 1289 Universität
Montpellier, Montpellier 1290 Universität
Coimbra, Coimbra 1290 Universität
Lissabon, Lissabon 1297 Universität
Lleida, Lleida 1303 Universität
La Sapienza, Rom 1321 Universität
Florenz, Florenz 1336 Universität
Camerino, Camerino 1339 Universität
Grenoble, Grenoble 1343 Universität
Pisa, Pisa 1346 Universität
Valladolid, Valladolid 1348 Karls-Universität, Prag 1361 Universität
Pavia, Pavia 1364 Jagiellonen-Universität, Krakau 1365 Universität
Wien, Wien 1367 Universität
Fünfkirchen, Fünfkirchen (heute:
Pécs).
Nguyễn Quý Đại
Hình lớp học thời xưa
.jpg)










.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét