Từ thuở xa xưa con người đã tin theo chu kỳ hằng năm 25.12 là
ngày mặt trời trở lại vòng luân chuyển. Người Ai Cập với nền văn hóa Isis tin
là sinh nhật của Horu vào ngày này, người Ấn Độ mừng Thần Ánh Sáng. Người Roma
bắt đầu lễ kính thần Mặt Trời Sarturnalien và thần Thổ Tinh Saturn, người
Germanen từ vùng Bắc Đức đến các nước Bắc Âu cử hành lễ "Giữa Đông"
(Mittwinterfest) hay Julfest. Người Roma cũng như Á Châu hay Ai Cập đều tổ chức
những ngày lễ hội dân gian khác nhau. Về niên lịch và thánh kinh không ghi rõ
ngày nào Thiên Chúa xuống thế làm người, bởi vậy ngày Chúa giáng sinh có nhiều
khác biệt, Cơ Đốc giáo dựa theo lịch Gregory thì cho là ngày 7 tháng Giêng.
Từ năm 353, thời vua La Mã Constantino, chọn ngày 25.12 làm lễ
Gíang sinh và năm 354, Đức Giáo Hoàng thứ 26 là Liberius (trị vì từ 17.5.352 đến
24.9.366) Ngài chính thức mừng lễ Giáng sinh vào ngày 25.12. Công đồng
Konstantinopel quyết định công khai vào năm 381. Dựa vào lời kinh Cựu ước đã
loan báo Đấng cứu độ là "Mặt Trời Công Chính" (Mal 3,20), Chúa Giêsu
cũng tự ví mình là "Ánh sáng trần gian" (Ga 8,12), là "ánh sáng
thật soi chiếu mọi người" (Ga 1,9) đã đến trần gian. Ngày Giáng sinh của
Chúa là lễ "Thần mặt trời bách chiến bách thắng". Người Kitô cũng muốn
loan báo cho người khác biết: Mặt trời thì tốt, và chúng tôi cũng vui như các bạn
về chiến thắng của mặt trời. Nhưng mà mặt trời tự nó không có ánh sáng, nó chỉ
có ánh sáng là do Thiên Chúa tạo dựng và ban cho. Qua đó mặt trời báo cho chúng
ta ánh sáng thật, ánh sáng từ Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của mọi loài thụ tạo.
Ngài là nguồn của tất cả ánh sáng, không như mặt trời chỉ là công trình tạo dựng
của Thiên Chúa, vì nó chỉ là một vật không có sự sống nếu không có Thiên Chúa.
Đây là ý nghĩa của ngày lễ giáng sinh. Ngày sinh của Chúa Kitô, ngày mặt trời đổi
vòng luân chuyển trong mùa đông của lịch sử thế giới, ngày cho chúng ta tin tưởng
trong những bước thăng trầm của lịch sử quyền lực của tối tăm. Ngay từ thời Cựu
ước, nhân loại đã mong đợi Đấng Cứu Thế ra đời..Đức Chúa Cha đã để con một của
ngài là Chúa Giêsu Kitô xuống thế làm người tại Belem cách đây hơn 2000 năm.
Ngài đến trong mầu nhiệm giáng sinh của Giáo hội. Ngài đến để xét xử kẻ sống và
kẻ chết, ban cho chúng ta những ân sủng.
Vòng hoa Mùa vọng
Mùa Giáng sinh bắt đầu với 4 tuần mùa vọng từ ngày Chúa nhật
Adventsonntag ngày 27 cuối tháng 11 hay ngày 3 tháng 12 và chấm dứt vào đêm
24.12 Heiligen Abend. Danh từ Mùa Vọng bắt nguồn từ tiếng La Tinh
"Adventus"/Ankunft", có nghĩa là đến. Theo tài liệu, mùa vọng
đầu tiên được tổ chức tại thành phố Ravenna Ývào thế kỷ thứ 5. Đến thế kỷ thứ 6
thời Đức giáo hoàng Gregor, mùa vọng có 6 Chúa nhật đến lễ ba Vua, nhưng đến thời
Đức Giáo hoàng Pius V, mùa vọng chỉ còn 4 Chúa nhật.
Mỗi quốc gia có phong tục khác nhau. Ở Đức, Chúa nhật Mùa vọng
thứ nhất (Adventsonntag) thường treo giữa nhà Thờ, hoặc để trên bàn cái vòng
hoa gọi là vòng hoa mùa vọng (Adventkranz). Mục sư Tin lành Johann Heinrich
Wichern (1808-†1881) ở Hamburg, giúp cho các em mồ côi, lang thang ngoài đường
phố ăn xin, ông sửa lại căn nhà của mình gọi là "Rauhe Haus/Roughens
house" đem nhiều em từ ngoài đường trong mùa đông giá lạnh về nuôi dưỡng,
cho học nghề, trở thành thợ làm giầy, thợ sơn nhà cửa, thợ may hoặc làm vườn. Từ
đó các em thoát khỏi kiếp ăn xin có thể tự lập được,
Lần đầu tiên mùa Vọng ở Đức năm 1839 sử dụng
"Advantkranz" trong phòng lớn nhà "Rauhe Haus" của mục sư
Johann, mỗi ngày thắp một cây nến, trên khung gỗ hình tròn có 4 cây nến lớn màu
đỏ, và 19 cây nến nhỏ. Cho đến đêm Giáng sinh căn phòng rực sáng, ánh sáng nến
tượng trưng cho Chúa Kitô, ánh sáng trần gian. Những năm sau người ta trang trí
thêm những nhánh thông xanh, từ năm 1860 có sự thay đổi vòng hoa hình tròn là
những nhánh thông xanh, 23 cây nến gom lại còn 4 cây tượng trưng cho 4 tuần cho
sự chờ đợi ngày Chúa ra đời. Vì thế là vòng hoa mùa vọng ra đời lần đầu tiên được
treo trong nhà thờ ở Kưln năm 1925 cho đến năm 1935 phổ biến rộng rãi khắp nơi.
Vòng hoa đường kính lớn nhỏ khác nhau, phần trong làm bằng rơm khô, chung quanh
bọc lá thông xanh tượng trưng cho sự sống muôn đời. Nhiều gia đình gắn thêm
trái hồ đào trên vòng hoa tượng trưng cho sự sống lại và những hoa trái tiêu biểu
cho lương thực dồi dào của đời sống Kito hữu. Bốn cây nến này được lần lượt thắp
lên mỗi tuần ý nghĩa hướng chúng ta về với ánh sáng tránh xa tội lỗi.. Mùa vọng
nói lên niềm vui như Thánh Phao lô kêu gọi: Hãy vui lên... vì Chúa đang đến!
Từ đầu tháng 12, tại Ðức có chợ (Weihnachtsmarkt/
Chriskindlmarkt) không có hoa mai, hoa anh đào như chợ tết Việt Nam, phần lớn
trong mùa Gíang sinh bán thông xanh cao đến 2m50, (Weihnachtsbaum/ Christmas
tree), nhiều loại bánh, trái cây, hàng thủ công nghệ, trái châu để trang điểm
cho cây thông, đặc biệt bán rượu nho đỏ "Christkindl Glühwein" hâm
nóng bốc khói mùi thơm ngon. Về chiều 16 giờ trời đã tối, chợ rực rỡ ánh đèn
màu rất đẹp, các cửa hàng bán qùa tặng đều có người gói hàng rất nghệ thuật, đẹp
mắt miễn phí cho khách hàng.
Hình ảnh quen thuộc nhất trong mùa Giáng sinh là ông già Noel
trẻ em rất thích và mong đợi. Ông mặc quần áo đỏ, đội mũ đỏ kiểu xứ lạnh, đi giầy
đen, tóc bạc phơ và râu trắng như tuyết. Theo truyền thuyết, ông già Noel xuất
hiện từ thế kỷ thứ 3 sau Tây lịch. Ông chào đời tại quận Patara thuộc phần đất
của Thổ Nhĩ Kỳ, sau khi được phong thánh mới có tên là Nikolaus. Ngày 6 tháng
12 đi phát qùa cho trẻ em, nhưng phải phân biệt Nikolaus và Weihnachtsmann/
Santa Claus. Thế kỷ thứ 10 đời nữ Hoàng Thephanu gốc Hy Lạp, là vợ Hoàng Đế
Otto II của Đức để nhớ thánh Nikolaus nên từ năm 1555 tại Đức nguời ta may áo
quần màu đỏ, đội tóc trắng, mang râu, giả làm Nikolaus, hình ảnh Nikolaus xuất
hiện trở lại với ý nghĩa mang tình thương đến với mọi người. Weihnachtsmann xuất
hiện từ năm 1933 do quảng cáo của hãng Coca Cola. Hình ấy được thấy trên màn ảnh
Tivi suốt muà Giáng sinh.
Ông già Noel theo tiếng Pháp là Père de Noel, tiếng Anh là Nicholas,
tiếng Hòa Lan là Sinterklass. Theo tài liệu, trước khi được phong thánh, ông
Nikolaus là người giàu có lòng nhân từ, đêm Giáng sinh ông được Thiên chúa mặc
khải, đem hết của cải riêng mình ban phát cho những người nghèo khổ và trẻ con.
Ông biến những giấc mơ của họ thành sự thực, bằng cách mua quà bánh để biếu những
kẻ nghèo khổ, mang lại cho họ những sung sướng bất ngờ.
Có tài liệu khác cho biết ông già Noel được phong Giám mục
vào thế-kỷ thứ 3 sau Tây lịch. Khi được phong thánh, Nikolaus trở thành người đỡ
đầu của các thương nhân, thủy thủ và trẻ con. Ông qua đời vào ngày 6/12 không
nhớ năm. Ngày 6/12 hàng năm để tưởng nhớ lại hình ảnh người đạo đức, giàu lòng
nhân từ bác ái, hình ảnh người mặc áo màu đỏ của Nikolaus thuở nào, đến từng
nhà có trẻ con thăm viếng, chia bánh kẹo trong đêm Giáng sinh. Ông già Noel trở
lại trần gian, theo đường ống khói lò sưởi vào mỗi gia đình, để đồng tiền hay
bánh kẹo vào trong chiếc vớ hay chiếc giày cho trẻ con treo gần giường ngủ hay
lò sưởi, đem lại giấc mơ đẹp với tuổi thơ. Bởi thế Cha mẹ thường mua quà bỏ vào
đôi vớ để cạnh lò sưởi, lúc trẻ con thức dậy vui mừng với món quà của ông già
Noel tặng. Phong tục này khuyến khích trẻ em nên làm điều thiện để được ông già
Noel tặng quà.
Đêm Thánh vô cùng/ Heiligabend/ silent night
Chúa sinh ra trong máng cỏ nghèo hèn, để lại cho nhân loại lịch
sử suy niệm, từ đó hàng năm tín đồ Thiên Chúa Giáo cử hành lễ Giáng sinh rất
long trọng khắp nơi trên thế giới, để tưởng nhớ ngày Chúa ra đời ở thành
Bêlem/ Bethelem. Sự nhập thế của Chúa Hài đồng có những hiện tượng lạ theo sự hướng
dẫn của ngôi sao kỳ diệu, Vua các vùng lân cận đã tìm đến là ngày lễ ba Vua
mùng 6 tháng Giêng. Tín đồ trên thế giới đều thờ kính con một của Chúa Cha, xuống
thế làm người và chịu chết trên cây Thánh giá. Thánh lễ Giáng sinh đêm 24 tháng
12 hàng năm có vô số những bài ca, người ta còn nhắc nhở đến những bài thánh ca
bất hủ, trở thành những bài ca quốc tế, dịch ra nhiều thứ tiếng.
Jingle Bells (Chuông Reo Vang)
Jingle Bells có lẽ là nhạc phẩm nhiều người biết, không thể
thiếu được trong mùa lễ Giáng sinh. Nhạc phẩm này được nhạc sĩ Nguyễn Duy đặt lời
Việt trở thành một bài hát với tiếng lục lạc leng keng trên cổ ngựa, tiếng
chuông giáo đường vang vang.
"Một trời sáng trong an lành, và một vùng tuyết ôm cây cành, một
ngày sáng bao la tình, một nỗi sướng vui hồi sinh. Mừng ngày Chúa sinh ra đời,
người người đó đây vui cười, rộn ràng hỉ hoan chào đón Ngôi Hai Thiên Chúa
giáng sinh cho đời. Chuông mênh mông, chuông mênh mông, chuông giáo đường ấm
cúng. Chuông thanh thanh, chuông thanh thanh, tiếng chuông xe chạy nhanh (ớ).
Chuông vang vang, chuông vang vang, chuông báo mừng đêm thánh. Chuông ngân
ngân, chuông ngân ngân, ôi tiếng chuông trong tim mình".
Bài thánh ca "Đêm Thánh Vô Cùng" tác giả là Cha xứ
Joseph Mohr (1792 - †1848) viết lời và nhạc do thầy giáo Franz Xaver
Gruber (1787-†1863) soạn. Lần đầu tiên bản thánh ca này được hát vào ngày
24.12.1818. Cha Mohr sinh tại Salzburg Áo. Sau khi chịu chức linh mục năm 1815,
cha về làm việc tại nhà thờ St. Nikolaus Oberndorf Đức. Bài thánh ca
Weihnachtslied "'Stille Nacht! Heilige Nacht! Silent Night/ Đêm Thánh Vô
Cùng" ra đời và được hợp ca với một cây đàn nhỏ phụ họa, đó là bài thánh
ca bất hủ.
"Đêm thánh vô cùng giây phút tưng bừng. Đất với trời
xe chữ đông; Đêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ. Canh khuya giáng sinh trong
chốn hang lừa, ơn châu báu không bờ bến, Biết tìm kiếm của chị đến. Ôi Chúa
Thiên đàng cam mến cơ hàn, nhấp chén phiền vương phong trần,Than ôi Chúa thương
người đến quên mình bỏ vô chốn quê nhà lúc sinh thành. Ai ham sống trong lạc
thú. Nhớ rằng chúa đang đền bù. Tinh tú trên trời. Sông núi trên đời với Thánh
Thần mau kết lời, Cao rao Hóa công đã khéo an bài. Sai con hiến thân mong cứu
nhân loại. Hang chiên máng rêu tạm trú bốn bề tuyết sương mịt mù".
Oberndorf năm 1818
Chọn đêm 24/12 vui mừng ngày Chúa ra đời. Người Việt Nam mừng
Giáng sinh như người Tây phương, sau khi dự thánh lễ, gia đình công giáo Việt
Nam vẫn giữ tục ăn "Réveillon" nửa đêm. Thời tiết ở Việt Nam ấm áp
nên Thánh lễ đêm 24 đông người tham dự, người không theo Thiên chúa cũng ra đường
vui chơi, từ nhà Thờ, trên phố đông người "dập dìu tài tử giai nhân, ngựa xe như nước áo quần như nêm".
Ở Huế khu Phú Cam, nhà Thờ cao với ngôi sao lộng lẫy, hang đá
sáng trưng tỏa ra từ những cây nến trắng. Đà Nẵng khu Thanh Bồ, Đức Lợi phần lớn
người Bắc di cư tổ chức Giáng sinh rất lớn. Thánh lễ cử hành trước nhà Thờ
Chánh tòa đường Độc Lập rất trang nghiêm. Sài Gòn từ Vương cung Thánh Đường nhà
thờ Đức Bà đến Dòng Chúa Cứu Thế, nơi nào cũng đông người tham dự. Ngày xưa
(1975) thời chiến tranh trên lý thuyết hai bên đều ngưng bắn mừng Giáng sinh. Ở
Đức đêm 24 là đêm của gia đình, đường phố vắng lặng dưới bầu trời lạnh buốt
cùng tuyết trắng. Người Tây phương mừng Giáng sinh trong 3 ngày từ chiều 24 và
ngày 25, 26 tháng 12, ngoại trừ Hy Lạp Griechenland/ Greece theo Cơ Đốc Giáo
làm lễ Giáng sinh ngày 6 tháng giêng, ở Hy Lạp không có Nikolaus nhưng có Thánh
Vassilius. Đêm mùng Một tết, Vassilius để quà tặng trên giường ngủ cho trẻ em.
Xứ Armenien/ Armenia thì lễ Giáng sinh ngày 18/19 tháng giêng.
Ở Đức ngày 24 làm việc buổi sáng, 14 giờ các siêu thị đóng cửa,
hãng xưởng nghỉ việc, đường phố về chiều yên lặng cho đến tối silent night. Phần
lớn miền nam Đức theo Thiên Chúa giáo, đi đâu cũng thấy nóc nhà thờ hình giống
như củ hành, nhiều Giáo đường theo kiến trúc cổ, đồ sộ trải qua hàng ngàn năm Từ
thế kỷ thứ 8, người Đức đã mừng lễ Giáng sinh, tối 24 các nhà Thờ đều có thánh
lễ, sau Thánh lễ họ về nhà gia đình vui chơi bên cây thông, hang đá nhấp nháy
đèn màu, dưới gốc thông là những gói quà để tặng nhau. Tiệc đêm Giáng sinh
"Reveillon." theo truyền thống gia đình Đức thường ăn ngỗng quay, tiếng
Đức gọi là "Weihnachtsgans", họ ít ăn gà tây nướng như lễ Tạ ơn
"Thanhsgiving" của người Mỹ. Ngoài ra có các loại bánh hình ngôi sao,
các tượng Thiên thần, hình ông già Noel và những thứ bánh gọi là
Weihnachtstollen, Weihnachtgebäck... và rượu nho, giống như Tết của người Việt
Nam phải có các loại mứt hạt dưa, bánh chưng, bánh tét.
Tuy nhiên ở vùng quê người Đức họ giữ tập quán, dù tuyết rơi
giá lạnh nhưng nhà Thờ làm lễ lúc 22 giờ cho đến khuya, nhiều nhà không ăn tiệc
nửa đêm, nhưng ngày 25 và 26 đại gia đình đoàn tụ trong những bữa tiệc không
riêng gì ngỗng quay, còn những món khác do các bà khéo tay trổ tài trong dịp nầy.
Những người lớn tuổi như ông bà nội, bà ngoại phát quà cho các cháu (giống như
tục "lì xì" của người Việt trong dịp tết) sau đó mọi người trao quà
cho nhau. Người Đức vui chơi tiệc tùng suốt ngày 25 và 26 thời gian này gặp
nhau người ta thường chúc "Frohe Weihnachten und ein gutes Neues Jahr"
chúc mừng giáng sinh và năm mới tốt đẹp.. Người Đức trọng ngày Giáng sinh hơn tết,
ngược lại người Việt trọng ngày mùng Một tết. Đó cũng là sự khác biệt về quan
niệm sống giữa Đông phương và Tây phương.
Miền New England dân chúng ăn tiệc mừng Giáng Sinh theo người
Anh. Trong bữa ăn "Réveillon" luôn luôn tổ chức trọng thể có một loại
rượu đặc biệt, chế bằng nước trái cây ép với vài hương liệu Đông Phương như
đinh hương đậu khấu và rượu nho. Thứ rượu đặc biệt trên phải hâm nóng, uống như
rượu saké của Nhật. Người Island mùa Vọng từ ngày 12 đến 24, mỗi ngày thường bỏ
những món quà nhỏ trong chiếc giày tượng trưng quà của Nikolaus dành cho trẻ
con. Chiều 24 bắt đầu bữa tiệc mừng Giáng Sinh, sau đó họ đi thăm nghĩa trang
mang đến những tràng hoa và đốt nến trên mộ phần người thân. Ở Ý Italy họ
không dùng cây thông trang điểm cho mùa Giáng sinh, nhưng họ làm hang đá và ăn
tiệc đêm 24. cho đến lễ Ba Vua 6.1, họ bỏ kẹo bánh vào chiếc vớ hay giày làm
quà cho trẻ con. Người Tây Ban Nha Spanien/ Spain và Bồ Đồ Nha/ Portugal chỉ tặng
quà vào lễ Ba vua. Hòa Lan Niederlande/ Netherlands từ 6/12 hàng năm họ tổ chức
rước lễ lớn ở hải cảng Amsterdame và trong đêm giao thừa, các gia đình mang ra
đường đốt những cây thông (Christbäume) cùng với tiếng pháo tống cựu nghinh tân.
Vùng Đông âu giá lạnh như Schweden/ Sweden mùa Giáng sinh cũng là ngày chí điểm
(Sonnenwende/ solstice) khởi điểm muà Đông và Jul-Fest. Chiều 24 sau 15 giờ trời
sẩm tối, quà tặng Giáng sinh là các con dê đực bằng rơm và lò sưởi họ đốt than
củi từ 24.12 đến 6.1 chấm dứt Giáng sinh vào ngày 13 cũng là ngày Thánh Knut. Họ
ném những cây thông qua cửa sổ; đó cũng là một phong tục.
Người Mỹ đoàn tụ gia đình ngày thứ năm cuối tháng 11 mừng
Thanksgiving/ Danke schưne hàng năm, để tạ Thượng Đế, tạ ơn đời và ơn người
cùng ân phúc của trời đất, trong đêm Giáng sinh mọi gia đình cũng tổ chức ăn uống,
trao đổi quà tặng cùng những lời chúc tốt đẹp.
Hạt Dẻ
Một dĩa đầy màu sắc với những hạt dẻ và bánh giáng sinh thì
không thể thiếu trong bầu khí lễ Giáng sinh tại Đức. Những hạt dẻ Walnuesse được
nhập cảng từ Pháp, Haselnuesse từ Ý, Hy Lạp, Tây Ban Nha và Thổ Nhĩ Kỳ, từ Ba
Tây có những hạt dẻ Paranuss ba cạnh. Dù là hạt dẻ nào chăng nữa, chúng có
chung một đặc điểm, đó là chúng có vỏ cứng và nhân ngọt bùi. Những hạt dẻ cho
chúng ta nhận ra biểu tượng: Chúa ban cho chúng ta đời sống, nhiều khi vỏ của đời
sống thật cứng, nhưng muốn nếm được sự ngọt bùi bên trong của đời sống, mỗi người
phải tự mở ra, phải bẻ chiếc vỏ cứng đó ra. Hạnh phúc thay ai có kềm để bẻ hột
dẻ trong tay.
Bánh Stollen
Dù với tên gọi Stolle hay là Stollen có từ năm 1330, bánh này
không thể thiếu trong các loại bánh của mùa giáng sinh. Hình thức của bánh ngày
nay nhắc lại những trẻ nhỏ đã bị giết tại Bethlehem và cuốn trong khăn. Vì lý
do này mà trong thời trung cổ người ta không cắt bánh trước ngày 28 .12.
Lễ Hiển Linh
"Hiển linh" là ý nghĩa từ chữ Hy Lạp
"Epiphanias", nói lên ý nghĩa sự hiển linh của Thiên Chúa. Lễ Chúa hiển
linh là lễ lớn thứ hai trong mùa giáng sinh. Lễ Hiển Linh còn được gọi là lễ ba
vua, lễ của ba nhà đạo sĩ hay ba nhà thông thái từ phương Đông đã theo ánh sao
tìm đến thờ lạy Chúa. Ba nhà đạo sĩ: Caspar, Melchior và Balthasar vì đã trải
qua một đoạn đường dài từ phương Đông đến Bethlehem nên được chọn làm bổn mạng
của những người du hành. Hài cốt ba vua đã được chuyển từ Phương Đông đến Koeln
năm 1163 và nhà nhờ chính toà tại Koeln đã được xây dựng để kính các ngài. Hài
cốt các ngài đã trở thành động lực cho nhiều vở kịch về Ba Vua trong các xứ đạo
và tu viện. Từ đó cũng phát sinh ra Sternsinger, những thanh thiếu niên hóa
trang thành ba vua và đi hát từ nhà này sang nhà khác vào dịp lễ Ba Vua để
quyên tiền cho các trẻ em nghèo trên thế giới.
Cây thông
Mùa đông giá lạnh, cây cối đều rụng lá trơ trọi đọng lại những
cánh hoa tuyết trắng, chỉ có các loại thông cành lá vẫn còn xanh đẹp. Để có sự
hòa hợp con người và thiên nhiên, hơn 500 năm trước trong mùa Giáng sinh, người
ta dùng thông làm cây Christbaum, thông xanh tươi, có mùi thơm màu xanh biểu tượng
cho sự sống. Nến mang đến ánh sáng hy vọng. Lần đầu tiên ở Đức năm 1419 trước
tiệm bánh ở Freiburg dựng cây thông trên cành treo nhiều trái cây, bánh cho tới
ngày Tết trẻ em có thể lấy ăn. Cuối thế kỷ thứ 16 cây thông được trang trí
trong phòng khách treo nhiều trái cây, kẹo bánh. Cho đến năm 1730 trên cây
thông có thêm những cây nến, năm 1830 treo thêm những trái châu
"Christbaumkugeln".
Thành phố Berlin năm 1785, thủ đô Wien năm 1816 đã dựng những
cây thông trong mùa Giáng sinh. Thế kỷ thứ 18 cây thông càng được phổ biến rộng
rãi khắp nơi, bắt đầu năm 1819 ở nhà trắng "Weißen Haus" Hoa Kỳ đã có
cây thông trong mùa Giáng sinh tươi đẹp rực rỡ ánh đèn màu, cho đến thế kỷ thứ
19 được thế giới biết đến. Sau nầy người ta còn sử dụng cây có lá xanh đỏ,
trang điểm cho đẹp mắt.
Hang đá và máng cỏ. Die Weihnachtskrippe
Hình thức diễn tả cảnh Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ bắt
nguồn từ những vở kịch tôn giáo từ thời Trung Cổ. Ngay từ những thế kỷ đầu sau
khi Chúa giáng sinh có những vở kịch về hang đá, nhưng sau đó bị đi vào quên
lãng. Thánh Phanxicô Assisi trong lần dâng lễ Giáng sinh ngày 24.12.1223 ở gần
Roma, ngài đã làm cái máng cỏ với các tượng Chúa Hài đồng, tượng Đức Mẹ Maria,
chung quanh có những con lừa, các tượng Ba Vua, một số Thiên thần, thánh Giuse.
Trên mái nhà có ánh sáng từ một ngôi sao.
Những khu nhà thờ ở Đức dù có truyền thống lâu đời, nhưng họ
không xây hang đá như những nhà thờ ở Việt Nam. Năm 1807 thành phố München/
Munich làm hang đá, chưng bày chỉ trong ngày lễ Giáng sinh, để mọi người đều hướng
về Chúa nhân từ, cầu nguyện Chúa cứu rỗi cho nhân loại tránh bớt chiến tranh
nghèo đói và độc tài.
"Hát khen mừng Chúa giáng sinh ra đời Chúa sinh ra đời
nằm trong hang đá nơi máng lừa. Trong hang Belem ánh sáng tỏa lan tưng bừng
nghe trên không trung tiếng hát thiên thần vang lừng. Đàn hát (réo rắt tiếng hát)
xướng ca dư âm vang xa. Đây Chúa Thiên Tòa Giáng sinh vì ta... Người hỡi (hãy kíp
bước tới) Đến xem nơi hang Be Lem). Ôi Chúa Giáng sinh khó khăn thấp hèn. Nửa
đêm mừng Chúa giáng sinh ra chốn gian trần. Người đem ơn phúc xuống cho muôn
dân lầm than..."
Bí ẩn về ngôi sao Bethlehem:
Các ngôi sao 5 cánh thường xuất hiện rực rỡ đủ mầu sắc trong
mùa Giáng sinh, các nhà thờ đều có treo vô số ngôi sao 5 cánh. Một ngôi sao to
lớn được treo ở chỗ cao nhất của tháp chuông nhà thờ. Từ đó căng giấy ra bốn
phía, có nhiều ngôi sao nhỏ, treo đèn lồng và kết hoa rất đẹp mắt.
Trong tất cả các tranh ảnh Chúa giáng sinh, trên bầu trời bao
giờ cũng có một ngôi sao sáng, rực rỡ, thánh kinh gọi đó là ngôi sao Bethlehem
đã dẫn đường cho Ba Vua tới hang đá. Ngôi sao này còn có tên là ngôi sao giáng
sinh, một supernova, từ lâu đã là mối tranh cãi của các nhà thiên văn học. Mới
đây Nibel Henbest, một khoa học người Anh đã dựa vào sự chuyển động của quỹ đạo
trong thái dương hệ, để giải tỏa câu hỏi tại sao chỉ có Ba Vua nhìn thấy ngội
sao đó, trong khi lịch sử thiên văn không ghi nhận được. Theo Nibel thì vào năm
1604, nhà toán học Johannes Kepler đã tính được vị trí các hành tinh vào thời
Chúa giáng sinh, cũng tìm được sự giao hội đặc biệt của các chòm sao trong nhóm
Song Ngư vào năm thứ 7 trước tây lịch, có nghĩa là sao Mộc và sao Hỏa, biểu tượng
của người Do Thái gặp nhau trên bầu trời nhưng vẫn cách nhau một khoảng gần bằng
đường kính của mặt trăng. Vài năm sau đó một sự hội ngộ khác lại diễn ra vào
tháng 8 năm 3 trước tây linh, Mộc tinh tiến gần sao Vệ Nữ là một ngôi sao sáng.
Ngày 17-6-2 trước tây lịch, hai sao trên lại gặp nhau nhưng không va chạm, như
tạo thành một ngôi sao lạ, sáng chói khắp miền Trung Đông mà thánh kinh đã gọi
là ngôi sao Bethlehem. Ngoài ra với người Ky tô giáo xưa thì ngôi sao Vệ Nữ, tức
là sao Hôm mọc trước bình minh, được coi là biểu tượng của Đấng Cứu thế, còn
sao Hải Sư lại được người Do Thái coi là Đấng bổn mạng. Đây là hai ngôi sao
sáng nhất trong thái dương hệ và cái hiện tượng hội ngộ giao thoa chỉ xảy ra một
lần trong hai ba thế kỷ, như giải thích ở trên, đưọc xem là giả thuyết hợp lý về
ngôi sao Bethlehem trong truyền thuyết.
Người Việt định cư ở Đức khoảng 88 ngàn, ở rải rác khắp nơi.
Tại các thành phố lớn, người Việt đông nên sinh hoạt có tổ chức. Giáo dân người
Việt cũng như các dân tộc khác định cư tại Đức, nếu có Cộng đồng sinh hoạt đàng
hoàng thì được Tòa Tổng Giám mục cấp nhà lớn làm trung tâm sinh hoạt riêng, có
văn phòng làm việc, nhà nguyện và thánh lễ chiều trong ngày để các cụ đến đọc
kinh. Thành phố Munich thuộc tiểu bang Bavaria miền Nam Đức. Munich và các vùng
phụ cận như Preising, Ausburg sinh hoạt chung thành một Cộng đoàn gọi là giáo xứ
Nữ Vương Hòa Bình cho trang trọng, nhưng thật ra người Việt mình đâu có đất có
nhà Thờ để thành một giáo xứ riêng biệt. Tín đồ Thiên chúa giáo khoảng trên dưới
một ngàn người. Những thánh lễ lớn, người Việt phải nhờ các nhà Thờ của giáo xứ
người Đức. Sau Thánh lễ là văn nghệ mừng Giáng sinh rất vui và hấp dẫn qua các
tiết mục ca hát, vũ múa, kịch. Trong dịp nầy cũng như Tết đều có các quầy bán
thức ăn đủ loại với hương vị quê hương, số tiền thu được đều giúp cho trẻ em
nghèo bên quê nhà.
Nói chung người Việt Nam định cư ở Đức ít nhất cũng hơn 30
năm "nhập gia tùy tục" nên ảnh hưởng ít nhiều văn hóa phong tục Đức.
Những gia đình không theo đạo Thiên chúa giáo cũng mua thông tươi, hang đá và
những gói quà tặng cho con cháu trong ngày Giáng sinh, mời bạn bè đến ăn
Reveillon không ngỗng quay thì vịt quay v.v... Cũng có những người ngoại đạo đến
dự lễ Giáng sinh, xem văn nghệ hòa mình với đời sống cộng đồng trong tình đồng
hương để sưởi ấm lòng trong những ngày xa quê hương.
Nguyễn Quý Đại
Theo http://chimviet.free.fr/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét