Chúng tôi đang học dở năm cuối cấp phổ thông trung học thì
biên giới phía Nam, phía Bắc rục rịch, bất an, bóng giặc lởn vởn chập chờn. Một
vài đứa bạn hồi nhỏ đăng ký đi học muộn, nay chưa tốt nghiệp phổ thông nhưng đã
đủ tuổi nên đăng ký đi lính. Tôi về hỏi ý kiến cha, cha nói: – Tao đánh nhau suốt đời rồi, mày không nên đánh nhau nữa, tốt
nhất là trốn lên mạn ngược một thời gian, làm thợ mộc, vừa có cái ăn, vừa giữ
được cái gáo. – Sống thì cũng tốt, nhưng bạn bè đi cả, riêng mình ở nhà, sống
cũng như chết. Nhục lắm. – Mày không lo không còn giặc mà đánh đâu. Hơn bốn ngàn năm
nay đất nước mình đã thế, mấy khi nguôi cảnh binh đao. Dân mình khổ thế, đời
người nếu sống được trăm năm, đằng nào cũng trải qua chinh chiến. Kiếm cái ăn
trước đã con ạ. Chịu được cái nhục trước mắt thì mới mong tạo được nghiệp lớn. Nhà văn Nguyễn Thế Hùng Nghiệm lại mấy bài học lịch sử cũng thấy đúng. Nghe cha nói
cũng xuôi xuôi. Vậy là tôi sắm đục chàng theo mấy người trong làng lên vùng
phía Tây xứ Nghệ làm thợ mộc. Trên ấy rừng còn nhiều, dân cư thưa thớt, đèo heo
hút gió ít người qua lại nên còn có măng, củ mài, củ chụp mà ăn. Tưởng là thế nhưng không hẳn thế, tốp thợ đi lang thang như
hành khất hai ngày trời mà cũng không có ai thuê, gạo mang đi nấu cháo loãng cầm
hơi cũng gần hết. Buồn ngủ gặp chiếu manh, may có người mách, ở sau ngọn núi
Giăng Màn có một hộ gia đình sinh sống, kinh tế khá, mấy đứa con đã lớn, chắc
có nhu cầu làm nhà. Đói đầu gối phải bò, lần mò qua ba con dốc, lội dăm con suối
nhỏ có những tảng đá như thớt voi đằm, Lội qua con suối Lồ Ô, nước chảy tồ tồ
như bò đái, chúng tôi đã đến được nhà gia chủ. Ngày đầu tiên, khi chúng tôi mới làm lễ đặt đục chàng xong,
ông chủ nhà nói: – Báo cáo với Cố Phó – Người đứng đầu hiệp thợ – và các chú
thợ, đã lâu gia đình chúng tôi sống biệt lập, khi các bạn đã vượt qua con suối
Lồ Ô đầu núi này, coi như đã vào đến vương quốc của chúng tôi, vậy
nên rất mong trong thời gian làm việc ở đây, các bạn chịu khó chấp hành nội quy
của chúng tôi cho nó …dễ sống. Còn tiền công cán thì chúng tôi sẽ thanh toán
sòng phẳng, khẩu phần ăn chắc chắn là hơn ở nhà các bạn vì tôi biết dưới xuôi
các bạn đang đói vàng mắt cua. – Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với ý chỉ của ông – Cố Phó đáp
từ – Nhưng ngoài đi kiếm cái ăn, chúng tôi còn muốn được học hỏi nhiều ở cách
quản lý gia đình của ông, vậy nên chúng tôi thành thật biết ơn khi đã được ông
thuê đến đây làm việc ạ. – Không có chi, cũng chẳng qua bất đắc chí mới phải sống biệt
lập. Dòng họ nhà tôi là dòng họ đi mở đất, đất gắn liền với xương và máu của những
người trong họ. – Chúng tôi biết điều đó và sẽ chấp hành. Ngoài phố thì tức đất
tức vàng, còn ở đây thì tức đất, tức máu, mồ hôi và nước mắt… – Ông biết cho thế thì chúng tôi vô cùng cảm ơn. Định kỳ,
hàng tuần chúng tôi đều có các cuộc họp gia đình vào chiều thứ sáu. Thỉnh thoảng
sẽ có những cuộc họp đột xuất, khi cần chúng tôi sẽ báo. Tôi rất mong Cố Phó
cùng các chú thợ tham gia đầy đủ các cuộc họp để nắm được tình hình chung. – Chúng tôi hoàn toàn nhất trí ạ – Cố Phó đáp lời – Nhưng tôi
muốn hỏi rằng, liệu chúng tôi bỏ làm để họp thì có được tính công và bữa ăn hôm
đó có phải trừ tiền… – Việc này thì các ông không phải lo. Họp cũng coi như làm việc,
đều được tính công. Thỉnh thoảng họp còn được ăn tươi, yên tâm đi quan điểm của
chúng tôi là không để cho người khác quá thiệt thòi, đương nhiên la fminhf cũng
không bị thiệt. Tóm lại là phải đôi bên cùng có lợi. – Thế thì tôi muốn họp suốt. – Tôi buột mồm nói liền bị Cố
Phó vặc. – Phỉ phui cái mồm, người lớn đang nói chuyện… đại sự. Trên đường về lại lán, Cố Phó ghé tai tôi nói nhỏ: “Ngu lắm
con ạ, mày chưa phải họp bao giờ nên chưa biết”. *** Gia chủ theo đạo Phật nhưng không hề đi lễ chùa, buổi sáng và
tối đều tụng kinh trước tượng Phật đặt ngay giữa nhà, ngày thứ sáu họp gia
đình, trước và sau khi họp đều có tụng kinh. Trong nhà treo rất nhiều ảnh đức
Phật. Ngay dưới tượng đức Phật ngồi tọa thiền trên đài sen, gia chủ treo một
cây mác dài thước hai, nghe bảo đây là cây mác tổ truyền, nước thép xanh đến rợn
người, mỗi lần đi qua cây mác, tôi cứ có cảm giác lành lạnh sống lưng và mũi
tanh tanh mùi máu. Chủ nhà treo cây mác nơi trang trọng nhất, không biết để ngầm
bảo: “Hạ đao xuống là thành Phật”. Hay để nhắc con cháu một điều gì đó sâu xa
hơn mà tôi không thể biết. Dù sống trong một nhà, nhưng mỗi đứa con là một nét mặt, màu
da, vóc dáng, tính cách rất khác nhau. Duy chỉ có đôi mắt của họ là giống nhau
– Giống đôi mắt của Đức mẹ đồng trinh, đẹp và thành thiện vô cùng. Đó cũng là một
điều lạ vì trong nhà không hề treo ảnh Đức mẹ Maria. Hay từ nhỏ họ đã sống giữa
rừng núi tinh khiết, nên tâm hồn họ cũng thánh thiện vô biên. Đôi mắt là cửa sổ
tâm hồn, nhìn vào đó để ta biết yêu, ghét, buồn, vui. Ngay cái nhìn đầu tiên, tôi đã bị đôi mắt của Yến – Cô con
gái út – mê dụ. Năm ấy hình như Yến mười sáu tuổi. Yến người cao, da trắng, tóc
màu râu ngô như Tây. Yến có đôi chân dài thon, săn chắc như đùi hươu đùi nai,
đó cũng là đặc điểm chung của người vùng núi. Tôi hơn Yến hai tuổi nhưng coi
như cùng trang lứa, thỉnh thoảng vào rừng hái măng, lấy củi, Yến thường rủ tôi
theo, nhờ Yến mà tôi biết được nhiều thứ cây củ quả trong rừng có thể ăn được.
Yến sống hồn nhiên, vô tư, suy nghĩ và có cái nhìn thoáng đạt. Tôi và Yến mới gặp
nhau chưa bao lâu mà như đã thân quen nhau từ kiếp nào. Về phía tôi, hễ thấy vắng
bóng Yến là nhớ. Lạ thật, lần đầu tiên tôi thấy nhớ, thấy thương một người con
gái. Một lần tôi cùng Yến đi vào rừng lấy măng, vô ý tôi tự làm đứt tay mình.
Tôi vội ngắt mấy đọt cây hoàng xà, bỏ vào miệng nhai nhỏ, đắp lên chỗ đứt, thế
mà máu vẫn phun vọt ra thành vòi. Thấy thế, Yến tái mặt, lấy một đoạn dây rừng
cột chặt tay tôi ga- rô cầm máu. Sau đó Yến vội vàng chạy ra phía sau một lùm
cây rồi nói trong tiếng thở dồn hồn hển: “Anh nhắm mắt và không được quay đầu lại
à nha”. Tôi chẳng biết Yến chuẩn bị làm gì mà sợ tôi nhìn thấy xấu hổ. Tôi trả
lời: “Yên tâm, anh nhắm mắt rồi”. Trả lời Yến thế, nhưng tò mò, tôi vẫn liếc về
phía ấy, dù bị lùm cây che khuất, nhưng tôi vẫn biết, Yến đang khom người xuống,
hai ta đưa về phía trước quần mình. Một lúc sau, Yên trở lại lấy vạt áo lau sạch
vết thương cho tôi, rồi như sợ tôi thấy, Yến ấp lên vết thương một nhúm xoăn, mềm,
mịn, “râu ngô” rồi vội vã buộc chặt lại. Băng bó xong, Yến từ từ mở dây ga –
rô, máu không còn chảy nữa. Đúng là thuốc tiên. Tôi ngây thơ hỏi Yến: “Thuốc gì
mà hiệu nghiệm thế”. Em đỏ mặt quay đi nói: “Biết rồi còn hỏi, ngốc lắm”. Tôi
nói: “Anh chưa biết thật mà, chỉ đi, lần sau đi một mình còn biết mà xử lý”. Yến
nói: “Ngốc lắm, biết rồi còn hỏi, ai lớn lên mà chả có “thuốc” đó”. Tôi đã lờ mờ
hiểu ra và đỏ mặt tưởng tượng, cái đau nhức giần giật ở tay đã chuyển sang chỗ
khác, phía dưới bụng, hơi thở gấp gáp hơn. *** Nhà Yến nuôi nhiều hươu sao và đây cũng chính là nguồn thu nhập
chính của cả gia đình. Đến mùa hươu sao chuẩn bị đổ đế để lên lứa nhung mới,
người nuôi hươu phải chuẩn bị đỗ, lạc, ngô…để cho hươu ăn thúc. Ngày đó đa phần
chúng tôi đều đói, nhưng người đói đến đâu thì đói riêng hươu thì không được
đói, vì nếu để hươu đói hay không có thức ăn tinh là hươu không chịu đổ đế,
không lên nhung, coi như mất trắng cả mùa nhung, nuôi hươu báo cô. Bố của Yến
đa nghi như Tào Tháo. Ông thường có câu cửa miệng: “Phàm muốn làm những việc đại
sự thì phải về hỏi vợ và làm ngược lại ý kiến của vợ, sẽ thành công”. Hay câu:
“Tay phải ta đếm tiền và trao cho tay trái, vậy mà ta còn không tin thì nói gì
đến người khác”. Với tính đa nghi như thế, nên ông luôn sợ lũ người nhà ăn bớt
khẩu phần của hươu. Mọi chìa khóa trong nhà, ông đều giữ, cẩn thận nhất là chìa
khóa cửa buồng vợ và chìa khóa kho lương thực. Nhưng một mình thì cũng không thể
chăm sóc được cả đàn hươu nên ông tàm tạm tin tưởng Yến. Một lần họp gia đình
ông nói: “Cứ đụng đến cơm áo gạo tiền tiền là không thể đùa được, trong nhà
này, nhìn mặt đứa nào cũng gian, càng man di càng gian, dáng thấp bé, mặt dơi
tai chuột càng gian… thôi tạm giao việc phân phát thức ăn tinh của hươu cho con
Yến, nó là người Tây, tạm tin được”. Nghe bố Yến nói tôi thấy lạ. Tôi liếc nhìn
sang mẹ thấy mặt bà bỗng dưng co rúm lại. Tôi nhìn Yến, thấy em vẫn dửng dưng
như không. Tôi muốn biết lắm, nhưng không dám hỏi Yến. Tại sao ông bố lại bảo Yến
là người Tây? Hay Yến chỉ là con nuôi trong nhà? Thắc mắc rồi lại tự an ủi:
Thôi thì mỗi nhà mỗi người đều có những sự lạ, tôn trọng thì mình không nên tìm
hiểu nhiều, nếu việc đó không làm ảnh hưởng gì đến mình. Dù không muốn tìm hiểu
sâu vào đời tư của người khác khi người ấy không muốn kể, nhưng nhìn dáng vóc bề
ngoài và cung cách hành xửa của Yến, tôi vẫn rất muốn biết sự thật. Tôi tự bào
chữa cho mình rằng khi đã muốn “tìm hiểu” một người con gái thì phải tìm hiểu
cho hết ngọn ngành chứ. Vậy nên, trong một lần vào rừng lấy măng, tôi đã xa gần
hỏi Yến. Tưởng em giận cho là tôi quá tò mò, không ngờ em lại thổ lộ hết. Đúng
là thẳng như Tây. Em nói: Em không phải là con đẻ của bố em. Em cũng mới được
nghe mẹ kể khi em đã lớn rằng, ngày đó, đất nước mình còn chiến tranh, nhà em ở
biệt lập, nên cũng không biết gì nhiều về cuộc chiến. Cho đến một ngày, có một
người Tây từ trên trời đáp dù xuống cánh rừng sau nhà em, người ấy bị gãy một
chân và được bố mẹ em chăm sóc chu đáo. Bố cũng dự định là khi người ấy khỏe mạnh,
sẽ đưa ra ngoài làng để giao nộp cho chính quyền. Nhưng bố em chưa kịp giao nộp
thì gần ba tháng sau, có người từ ngoài làng vào bắt người Tây ấy đi, tám tháng
sau thì mẹ sinh em…mắt xanh mũi lõ thế này. Kể xong Yến cười vô tư như vừa kể
chuyện của một ai đó chứ không phải chuyện của mình. Được bố giao nhiệm vụ. Từ đó, Yến sáng sáng cắp rổ đến đứng
trước cửa kho lương thực, đợi bố ra mở cửa kho, đong cho từng mủng lạc để đi
phân phát cho những con hươu đực. Tùy vào cân nặng, tuổi đời và thời gian đổ đế
mà có những định lượng khẩu phần ăn khác nhau của từng con hươu. Có một lần như
mọi lần, tôi và Yến đi vào rừng lấy măng, Yến dúi vào tay tôi mấy củ lạc, khi
bóc lạc ăn, tôi ngửi thấy ngoài vỏ lạc có mùi hương gì thơm thoang thoảng như
là sữa ngô non, ấn tượng và quyến rũ vô cùng. Tôi hỏi Yến: “Bố quản chặt thế
làm sao em biển thủ được?”. Yến cười, nheo nheo đôi mắt hai mí đẹp như mắt Đức
mẹ đồng trinh nói: “Bí mật, con gái thiếu gì chỗ giấu đồ”. Vài lần tiếp theo,
tôi để ý, hóa ra Yến giấu lạc trong…áo ngực. Thế là lần trước em đã cho “thuốc”
để tôi cầm máu, giờ lại cho tôi một mùi hương! Hương trinh! Mãi sau này tôi mới
nghiệm ra, phàm là Tây hay ta, khi phải sống cùng người quá chi ly và khắc kỷ
thì cũng phải thay đổi cách sống cho hợp thời. Thấy tôi và Yến thân nhau, Cố Phó nói: – Hay chú ở lại đây làm rể luôn. – Cho đưa Yến về dưới xuôi thì em lấy, ở rể nhất quyết không.
“Thà làm ma nước Nam chứ không làm vương đất Bắc”. – Tôi nói. – Chú mày to còi ghê. Nam – Bắc gì ở đây, người trong một nước
phải thương nhau cùng. Về dưới đó để mà chết đói à, với lại bố Yến không cho
đưa con ra khỏi vương quốc của ông ấy đâu, đừng có mơ. Chú mày lại
đang trốn lính, tao biết. – Chuyện đó tính sau, em và Yến cũng chưa có gì. Nói trốn
lính thấy to tát quá, em chỉ tạm lánh cuộc chiến một thời gian thôi, đằng nào
em cũng đi đánh một trận cho nó thỏa chí làm trai. Bố em nói, chúng nó chắc
không dám đánh lâu, chỉ đánh thử, nhưng đi lính thì bất kể khi nào cũng có cơ
hôi. Hơn bốn ngàn năm này đều thế. – Bố mày nói đúng đấy. Tin thế đếch nào được cái bọn ấy – Cố
Phó nói- Không cách này thì cách khác, hàng ngàn năm nay chúng nó cứ đánh luôn
chứ có bao giờ ngơi nghỉ. Vừa hòa đó lại vừa đánh, vừa anh em xong lại thọc dao
vào mạng sườn. Thâm và tởm lắm. Cố Phó nói chuyện với tôi hôm trước thì hôm sau, bố của Yến tổ
chức cuộc họp gia đình, đương nhiên chúng tôi được nghỉ làm để dự họp. Đúng như
Cố Phó nói, có dự họp thì mới biết, chán vô cùng. Mở đầu cuộc họp là một bản tụng
kinh Địa tạng. Tôi không biết tụng kinh nhưng lòng thành vô cùng. Tôi tâm nguyện
trong lòng kính mong đức Phật giúp tôi và Yến giữ mãi được tấm lòng trong với
nhau, để một ngày nào đó qua tao đoạn khó khăn giặc giã, tôi và Yên sẽ chung
nghĩa tào khang. Yến miệng tụng kinh nhưng mắt luôn nhìn về phía tôi chơm chớp,
thỉnh thoảng hình như em nhoẻn miệng cười khi thấy tôi mặt cứ đần ra, miệng mim
mím. Tôi liếc lại Yến, má em dần ửng lên, câu kinh lỗi nhịp, tay em vân vê tà
áo. Tôi đưa ngón tay có vết thẹo bị đứt hôm trước lên, em càng thèn thẹn quay mặt
đi. Sau một tiếng e hèm của bố, Yên ngồi lại, mắt hướng lên tượng đức Phật, chúng
tôi cùng hòa chung câu cuối cùng: “Nam mô a di đà Phật…”. Xong phần tụng kinh, bố Yến bắt đầu phân tích tình hình thế
giới, tình hình trong nước và khu vực, tình hình biên giới, tình hình ngoài thị
trấn. Phân tích cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những tác động không nhỏ của
nó đến đời sống, kinh tế của nhà ông. Tôi ngồi nghe cứ mông lung vô cùng. Tôi
chả hiểu những “tình hình” đó thì có tác động gì đến cái nền kinh tế tự cung tự
cấp của nhà ông mà ông phân tích lắm thế. Việc gì thuận lợi thì ông nói đó là
nhờ quyết định của ông sáng suốt, còn không thuận lợi thì ông lại nói tại tình
hình quốc tế, nghe mà nẫu cả ruột. Khi chúng tôi đang ngồi họp thì có tin báo về, có một nhóm
khoảng năm người, toàn thanh niên trai tráng vào dựng lán trại bên kia suối Lồ
Ô. Nhận được tin đó, mặt bố Yến chợt biến sắc, với kinh nghiệm của một dòng họ
đi mở đất, chắc ông linh cảm được điều xấu sắp xẩy ra. Y như rằng, hôm sau có
ba thằng xăm trổ vằn vện tìm vào nhà Yến. Bố Yến mời họ vào nhà trà nước tử tế.
Sau khi phân ngôi chủ khách, bố Yến nói: – Chúng tôi được tin các anh đến nhưng chưa sắp xếp được để
ra chào, hôm nay các anh lại hạ cố đến chơi, thật là phúc đức cho gia đình tôi,
từ nay có hàng xóm láng giềng. – Không có chi, chẳng giấu gì ông, chúng tôi là những thằng
tù mới được đặc xá rủ nhau và đây kiếm cái ăn, mong ông tạo điều kiện. Mong được
làm hàng xóm, láng giềng tốt của ông. – Tù thì cũng là con người với nhau cả, giúp được gì chúng
tôi sẽ giúp, chỉ mong rằng chúng ta là những hàng xóm tốt. Bình thường việc ai
nấy làm, nhà ai nấy ở, khi hoạn nạn có nhau. – Điều đó thì ông khỏi lo, thời gian rồi ông sẽ rõ. Sau câu nói cụt lủn và đa nghĩa đó. Như để chứng minh cho lời
nói của mình, và dằn mặt gia đình Yến, cả bọn đứng dậy đi lại nghênh ngang mắt
láo liếng xoi mói mọi ngóc nghách trong nhà. Thấy thế, bố Yến vẫn ngồi yên trên
ghế, mặt không hề thay đổi, chỉ đến khi thấy anh con trai cả đang tính mon men
đi đến bên cây mác thước hai treo giữa nhà, ông mới “e hèm” đánh tiếng và lừ mắt
cho ông anh cả. Nghe tiếng e hèm của cha, ông anh cả lui ra sau nhà. Cả bọn vẫn
tiếp tục đi lại nghênh ngang như chốn không người rồi tự tiện lấy đi một số vật
dụng cá nhân như dao, cuốc, xẻng… Bố Yến thấy thế, không nói gì, cứ để chúng lấy
đi. Khi đi qua chỗ Yến đứng, một thằng đưa tay chộp ngay vào ngực Yến rồi cười
đểu giả. Tôi cầm ngay cái dùi đục tính đứng lên thì bị Cố Phó giữ chắc lại. Khi
chúng nó đi khuất, bố Yến đến bên tôi nói: – Chuyện nhà tôi, mong chú đừng can thiệp vào, hỏng đại sự.
Thằng cả nữa, phải biết kiềm chế con ạ, nó là hàng xóm. Đất đai vườn tược tổ
tiên chứ không phải là cái thuyền cái bè gì mà chống đi nơi khác. Phải hết sức
kiềm chế. – Nhưng cháu thấy nhục và hèn lắm, nó dám… – Chú nhục và hèn một thì tôi nhục và hèn mười. Yến nó là con
tôi, nhà đây là nhà tôi, đất đai xương máu tổ tiên tôi, vậy mà chúng nó đến như
chốn không người. Nghe chủ nhà nói thế, tôi đành im, nhưng cũng từ ngày đó, Yến
lánh mặt tôi. Đến bữa cơm, Yến tìm cách ăn sau cả nhà. Vài lần tôi tìm gặp thì
Yến đều lấy cớ đang bận việc để tránh mặt. Thấy Yến tránh, tôi cũng không muốn
tìm gặp nữa. Không biết Yến có biết tôi lên đây chẳng qua cũng là vì trốn lính?
Tôi là kẻ nhát gan, tham sống sợ chết? Mỗi lần ngồi bào kéo, thấy Yến thấp
thoáng xa xa, tôi lại thấy trong người thổn thức, viết thẹo nơi tay giần giật
và nhớ đến gương mặt thẹn thùa của em ngày lấy “thuốc” rịt vết thương cho tôi.
Nhớ những củ lạc ướp thoảng mùi hương da thịt em. Lòng thồn thức, kiếm tìm… *** Yên ổn được mấy ngày rồi lũ người kia lại đến. Lần này đến,
chúng nó bảo mượn bố Yến chìa khóa kho lương thực, vay mấy bì ngô, hẹn khi làm
ra sản phẩm sẽ trả không thiếu một hạt. Bố Yến lẳng lặng đưa chìa khóa cho
chúng nó, sau đó ông giục các con cày vỡ đất để trồng thêm ngô bù cho số vừa bị
lấy mất. Chúng đến rồi lại đi, như chỗ không người. Tôi ngao ngán, thực không
thể hiểu nổi sự bạc nhược của chủ nhà, nhưng như ông đã dặn, đó là việc của
riêng nhà ông, chúng tôi chỉ bàng quan ngồi nhìn. Và lần thứ ba chúng nó lại đến,
lần này chúng nó bảo đang dựng cái nhà ngoài suối Lồ Ô, thiếu cột cái, vào đây
mượn tạm cái cột chúng tôi vừa chuốt xong, sau này sẽ vào rừng chặt gỗ đem trả.
Sự việc đã bị đẩy lên quá mực chịu đựng, mẹ Yến tru tréo, nằm ôm lấy cột không
cho chúng nó khiêng đi. Một thằng chẳng nói chẳng rằng, đến sau lưng bà, cúi xuống
cầm lấy hai ống quần kéo mạnh. Bị lột truồng bất ngờ, mẹ Yến phải đưa tay kéo lại
quần lên che phần dưới. Tất cả chúng tôi đều sững sờ. Bố Yến thì quay mặt đi
vào nhà, tôi tưởng ông vào cầm lấy cái mác tổ truyền, nhưng không, ông vào trốn
trong đó để khỏi phải thấy cảnh nhục nhã vừa xẩy ra, chứ không phải vào lấy vũ
khí để phản kháng(!?). Sau một lúc biết rằng một mình mình cũng không thể giữ nổi
cột nhà cái, mẹ Yến luấn quấn bỏ đi vào nhà để cho chúng khiêng cột cái nhà đi. Trưa hôm sau chúng tôi được triệu tập một cuộc họp khẩn cấp.
Vẫn là những thủ tục như những lần trước nhưng lần này, Yến chăm chú vào tụng
kinh, mắt đăm đăm nhìn lên tượng Phật, suốt cả buổi tụng kinh, không một lần em
nhìn về phía tôi. Tôi để ý miệng em tụng kinh, đến câu cuối “A Di đà Phật…”,
thì tôi đớp theo. Tôi là một kẻ ngoại đạo nhưng tôi yêu sự thánh thiện của những
giờ hành lễ. Cả gia đình Yến chắc cũng tin thế, họ chỉ muốn được sống cuộc sống
bình yên. Ông bố Yến sống khắc kỷ nhưng ôn hòa với thiên nhiên cây cỏ. Ông sống
khắc kỷ có lẽ vì điều kiện của gia đình nhà ông bắt ông phải sống như thế.
Nhưng cái sự nhu nhược của ông thì tôi không thể chấp nhận được. Ông nhu nhược
một cách khó hiểu. Và rồi việc gì đến phải đến. Cuộc họp của chúng tôi chưa kết
thúc thì có người đến báo là nhóm tù đã lội qua bên này suối Lồ Ô và đang san đất
dựng nhà. Nghe chuyện, không nói không rằng, ông chủ nhà đứng vụt dậy, cầm lấy
cây mác tổ truyền lao đi. Sau một lúc ngơ ngác, chúng tôi người gậy gốc, người
cuốc thuổng, đục chàng… cũng vội vàng chạy theo ông. Khi ra đến bờ suối Lồ Ô,
chúng tôi thấy ông đang chống cây mác tổ truyền đứng đó, dưới chân ông là một
cánh tay đứt lìa, đầy máu đang giãy đành đạch trên đất, bên kia suối Lồ Ô, bốn
thằng tù còn lại đang dìu một thằng tù bị chặt mất một cánh tay. Một lúc sau,
ông thản nhiên cúi xuống, nhặt lấy cánh tay đang nằm trên đất, đưa lên cao rồi
vung mạng qua bên kia suối. Ông hét lớn: “Cái gì của chúng mày thì hãy giữ lấy,
cũng như tao phải giữ lấy đất đai của tổ tiên tao. Nhớ lấy”. Xong, ông lại lẵng
lặng ra về, lấy rượu ra rửa thật kỹ cây mác, sau đó ông đốt một nắm hương trầm
xông qua lưỡi mác rồi lại treo lên chỗ cũ. Xong việc, ông ra bàn ngồi uống trà,
mặt hiền như Bụt. *** Sau những việc đó, tôi biết mình không thể ở lại làm cho xong
cái nhà được nữa. Tôi xin phép Cố Phó và gia chủ được về xuôi. Buổi tôi đi,
không thấy Yến đâu. Thôi thế cũng đành, có mặt Yến đâm ra khó xử cho cả hai.
Khi tôi khoác ba lô lội qua suối Lồ Ô bắt gặp Yến đang ngồi một mình trên tảng
đá như con voi quỳ ở giữa suối, mặt em buồn như mặt đá già. Tôi tính quay đi
thì Yến hớt hải chạy theo, níu ba lô tôi em hỏi: – Hết giặc anh có lên đây? – Sao em biết anh về xuôi đi lính? – Em biết, em biết là trước sau gì anh cũng đi lính. Em tin
thế… – Thôi em về đi, đừng chờ… Nghe tôi nói vậy, lạ là Yến vội quay đi và không hỏi thêm tôi
một câu gì nữa. Nhưng tôi biết là em sẽ chờ tôi vì em biết, nếu còn sống sau cuộc
chiến chinh, đằng nào tôi cũng sẽ trở lại tìm em. Bỗng dưng tôi thấy chỗ vết thẹo
nơi tay nhức như đóng mủ, không còn cách nào khác, tôi đưa ngón tay ngậm vào
trong miệng mình cho đỡ nhức. Mặt trời đang rớt về phía sau núi. Tiếng con chim
tìm bạn lại bắt đầu khảm khắc vào ánh chiều tà: “Chờ thì chờ….chờ thì chờ….chờ
thì chờ…chờ lại chờ…chờ lại chờ…”. Tay tôi đã hết nhức, bỗng đâu trong gió, mùi
hương trinh ướp mềm cả núi đồi. Và cứ thế, tôi đi! NGUYỄN THẾ HÙNG 15/4/2022
Nguyễn Hải Yến
Nguồn: Văn Nghệ
Theo https://vanvn.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét