Hãy cứ thêm thơ cho đời thêm vui
Lời giới thiệu tập thơ Đoản khúc sáu mươi của Nguyễn
Công Lý, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2014
GS.NGND.
Nguyễn Đình Chú
Trường ĐHSP Hà Nội
Trong tay tôi là tập thơ Đoản khúc sáu mươi của
Nguyễn Công Lý. Tôi muốn nói ngay cái ông này không phải là nhà thơ mà là một
giảng viên đại học, một nhà nghiên cứu không chỉ văn học mà còn cả văn hóa, ít
nhiều đang có triển vọng thành học giả. Nếu tôi không lầm thì hơn mười năm qua,
trong đội ngũ PGS.TS. Ngữ văn cùng trang lứa, cả ngoài Bắc lẫn trong Nam, không
ai cho ra mắt bạn đọc nhiều thành quả nghiên cứu như Nguyễn Công Lý. Mà ở Nguyễn,
tuy chưa phải đã bề thế nhưng phải chăng vẫn là người dẫn đầu về thành quả
nghiên cứu văn học Phật giáo Việt Nam vốn là một kho báu đang rất cần khôi phục
diện mạo tổng thể và khám phá những giá trị tư tưởng thẩm mỹ dưới góc nhìn văn
học một cách thấu đáo hơn để từ đó cũng là đảm bảo việc khôi phục diện mạo văn
học Việt Nam thêm hoàn chỉnh. Hiện tình là các vị Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức,
Thiền sư, về Phật thuyết, kinh kệ thì rất mực uyên bác và đã cho ra mắt không
biết bao nhiêu công trình về Phật học, nhưng quí vị đó lại không phải là những
chuyên gia nghiên cứu văn học. Ngược lại, các chuyên gia văn học, dĩ nhiên cũng
uyên bác về văn học nhưng sự hiểu biết về Phật học lại chưa có là bao. Cho nên ở
đây đang rất cần có những cầu nối, nghĩa là những người vừa uyên bác về Phật học
vừa am hiểu sâu sắc văn học. Nguyễn Công Lý là một nhà nghiên cứu văn học trung
đại Việt Nam đã có thâm niên và thành quả, nhưng trước ngày thống nhất đất
nước lại đã có thời gian học tập và tìm hiểu về Phật - Nho - Lão, trong đó có
hơn mười năm nghiên cứu về Phật học. Thêm nữa lại được Phật Tổ ban cho một trí
nhớ khá tốt, cùng với niềm say mê Phật học đến nay vẫn rất vững bền. Luận án Tiến
sĩ Ngữ văn của Nguyễn về Văn học Phật giáo thời Lý - Trần: diện mạo
và đặc điểm đã bảo vệ xuất sắc cách đây 15 năm, mấy năm sau in ra, đã được
nhận hai giải thưởng của Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa và Ủy ban Toàn quốc
Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (2003). Tiếp theo, Nguyễn cũng
đang đeo đuổi hai công trình là Văn học Phật giáo Việt Nam từ khởi thuỷ đến
đầu thế kỷ thứ X và Văn học Phật giáo thời Lê - Nguyễn. Hy vọng không
lâu nữa, hai công trình này sẽ ra mắt bạn đọc. Nếu được thế thì Nguyễn là người
dẫn đầu về văn học Phật giáo Việt Nam, chứ ai khác đâu.
Nguyễn Công Lý đã, đang
và sẽ là như thế. Nhưng té ra với Nguyễn còn có một nàng thơ cứ lảng vảng
dính líu bên mình từ thuở tóc còn xanh cho đến nay đã hoa râm. Nguyễn đã có hơn
một trăm rưỡi bài thơ. Đoản khúc sáu mươi này là tập thơ gồm sáu mươi
bài được chọn trong tổng số đó. Bài sớm nhất là vào năm 1972, gần nhất là năm
2014 này. Chưa nói thơ Nguyễn hay đến đâu. Chỉ nhìn qua thì thấy thi hứng, thi
tình, thi trường, thi dạ của Nguyễn cũng khá phong phú, thể hiện dáng dấp con
người văn hóa, học thuật mà cũng đa cảm của Nguyễn khá rõ. Có thơ về mẹ (Mẹ), về
vợ (Tương cảm), về quê hương (Chiều Nha Trang, Về quê, Gợi nhớ, Đêm ở quê,
Trở lại quê nhà, Xuân nhớ quê), về tình sư đệ (Tức sự I, II, Tâm sự thầy tôi,
Thầy tôi), về một số địa danh từng đến (Múa xòe Tây Bắc, Đồi cát Phan Thiết,
Với Côn Sơn), về Sài Gòn nơi gia đình Nguyễn sinh sống hiện nay (Bất chợt Sài
Gòn, Sài Gòn ngẫu tác), về các mùa (Cung chúc tân xuân, Mùa xuân, Xuân về, Xuân
hiểu, Xuân nhật khai bút, Khói lửa mùa xuân, Vào hè, Chớm thu), về hoa (Phong
lan, Mai chiếu thủy, Hoa cúc, Hoa vạn thọ), về Phật đạo (Phật tâm ca, Tụng
ca Tổ sư Minh Đăng Quang, Đạo Phật khất sĩ cảm tác, Tăng già khất sĩ), về
đại thi hào của Trung Hoa (Nghĩ về Đỗ Thiếu Lăng tiên sinh, Nghĩ về Lý Bạch, Với
Lý Bạch, Lại nghĩ về Lý Bạch, Nghĩ về Vương Duy), về danh nhân của đất nước
(Trần Thái Tông hoàng đế, Hưng Đạo đại vương, Nghĩ về Chu Văn An, Nghĩ về cụ Ức
Trai, Nghĩ về cụ Bạch Vân, Viếng mộ Tố Như, Nghĩ về Tố Như tiên sinh, Viếng mộ
Uy Viễn tướng công). Ngoài ra là thơ về chính lòng mình (Cảm tác, Cảm hoài, Thuật
hoài, Khát vọng, Tự bạch, Trần tình)
Thơ của Nguyễn viết
theo hình thức đoản khúc, có nghĩa là những bài thơ ngắn, chỉ bốn câu, vừa Hán
vừa Việt. Trong đó có thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt, lục bát tứ tuyệt,
lục ngôn tứ tuyệt, kể cả tứ tuyệt biến thể. Mà đã là đoản khúc thì lời ít nhưng
ý phải nhiều mới là thơ hay. Để có được điều đó thì phải có một kiểu tư duy thơ
khác với tư duy thơ của loại thơ tự do chuồi theo cảm xúc mà số câu số chữ
không hạn định. Ở đây phải coi trọng tứ thơ hơn ý thơ, thiên
về gợi hơn làtả, thường chỉ là sự bộc lộ một nét cảm xúc,
tâm tình, tư thế, thái độ, suy tư, ấn tượng, một thoáng nhìn thế giới,
con người, thời gian, không gian. Là một nét nhưng phải là một
nét có hồn, nét ra nét để từ một nét mà bùng nổ, mà
lan tỏa thành một thế giới thơ, tựa như một nguyên tử bé nhỏ nhưng cũng là cực
mạnh cực lớn. Đường thi của Trung Hoa xưa, đặc biệt là những bài thất ngôn bát
cú, thất ngôn tứ tuyệt lừng danh hơn ngàn năm nay với nhân loại chính là sản phẩm
tuyệt diệu của thể loại thơ lời ít ý nhiều với những đặc trưng thi pháp như thế.
Đoản khúc sáu
mươi của Nguyễn Công Lý đi theo trường phái thi ca này đã có được gì
? Xin nhờ bạn đọc cho ý kiến. Riêng tôi thì thấy trong sáu mươi đoản khúc này,
đã có những bài xem ra có vẻ như đã ít nhiều chạm tới những điều vừa nói đó. Dĩ
nhiên trong đó có phần là sáng tạo, có phần là chịu ảnh hưởng đâu đó của các bậc
tiền nhân. Bài Xuân nhật khai bút viết năm 1978 là thế. Hai câu đầu: Nguyên
đán nghiễn bút khai/ Hạnh phúc quảng tấn lai thì chỉ là hai câu văn thông
tấn, đã có gì là thơ. Nhưng hai câu sau: Cử đầu thanh thiên chiếu / Vọng
ngoại sổ chi mai thì đúng là có thơ rồi. Có từ một cáithoáng nhìn mà
thấy cả một bầu trời xanh trong, lồng lộng, thăm thẳm của trời xuân và dưới cái
nền trời xuân đó là mấy cành mai. Đúng là xuân đã đến với lòng người. Ở đây có
thể vẽ thành một bức tranh xuân có hình khối, đường nét, màu sắc, theo luật viễn
cận, đủ gợi cảm giác man mác, mênh mang, thanh sơ, êm ả, nên thơ của đất
trời vào xuân. Bài Xuân hiểu viết năm 1979 được dịch thơ: “Mai vàng một
đóa khoe tươi / Vài con bướm lượn mỉm cười với bông / Trời hồng ló dạng phương
đông / Mùa xuân đã đến biết không hỡi người?”, nguyên tác là ngũ ngôn tứ tuyệt
chữ Hán mà lời dịch là lục bát tứ tuyệt thì độ cô đúc ít nhiều đã nhường bớt
cho độ êm ả của thơ, nhưng vẫn đủ gây cho người đọc một khoái cảm thoáng qua mà
đọng mãi. Khoái cảm khi nhìn thấy ở buổi sáng sớm xuân này vài con bướm lượn mỉm
cười với mấy bông mai vàng. Rồi nữa, vừa chợt thấy “Trời hồng ló dạng
phương đông” thì quay ra hỏi: “Mùa xuân đã đến biết không hỡi người?”.Sao
lại hỏi như thế nhỉ! Không, lời mời gọi đấy. Mùa xuân đến đẹp quá, vui quá, mời
mọi người ra mà đón nhận, mà thưởng thức cái khoảnh khắc trời cho này, mà nhìn
cái đẹp tuyệt trần cảnh bướm lượn mỉm cười với mai vàng nên thơ này. Bài Tức
sự (kỳ nhất) (kính tặng Thầy Nguyễn Đình Chú) chính là viết tặng tôi cũng
là vậy. Bốn câu ngũ ngôn chữ Hán. Trong đó ba câu đầu cũng vẫn là ba câu văn
thông tấn với lời dịch: “Ta, cậu học trò nghèo / Ở nhờ nhà thầy giáo / Thầy trò
tình sâu nặng” chẳng có gì là thơ. Nhưng với câu cuối “Bàn chuyện, cười
ha ha” thì đúng là có thơ rồi. Thơ từ tiếng “cười ha ha” chứ còn
gì. Cười ha ha là cười thoải mái, cười ra cười. Trong đó là tất cả
tình sâu tình nặng của thầy trò, chẳng cần nhiều lời gì khác để bày tỏ. Thơ đoản
khúc, đặc biệt là tứ tuyệt, về cấu tứ thường thì ở ba câu đầu, chỉ là câu thông
tấn, câu lót đường cho sự bùng nổ thơ ở câu cuối. Bài thơ Sông lấp nổi
tiếng nhất của Tú Xương chẳng phải là thế sao. Ba câu đầu:“Sông kia rày đã nên
đồng / Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai / Đêm nghe ếch réo bên tai [1]” thì
đúng là ba câu văn thông tấn, báo chí, có gì là thơ. Nhưng với câu cuối “Giật
mình còn tưởng tiếng ai gọi đò” thì đúng là đã bùng nổ thơ rồi. Lời bình rất
mực tài hoa năm xưa của tác giả Vang bóng một thời về bài thơ Sông
lấp từng chỉ ra như thế đó. Bài Chiều Nha Trang ít nhiều đã có
dáng dấp cách cấu tứ này. Ba câu đầu: “Tịch dương hắt xuống biển xanh / Nhấp
nhô sóng trắng bên gành liêu xiêu / Nha Trang còn chút nắng chiều” là ba
câu thơ tả cảnh chiều Nha Trang nghe cũng thấy hay hay như thơ tả cảnh chiều ta
từng gặp đâu đó về nơi nào đó. Vậy thôi. Nhưng phải đến câu cuối“Thắp lên để tiễn
người yêu đi về” thì đúng là gây bất ngờ mà thú vị cho người đọc rồi. Ai lại
biến chút nắng chiều thành ngọn đèn thắp lên để tiễn người yêu đi về sau đó khi
bóng đêm đã xuống. Chiều Nha Trang tưởng rằng chỉ là bài thơ tả cảnh
chiều không ngờ lại thành bài thơ tình. Không thú vị sao! Thơ phải có hồn đã
đành nhưng còn phải có triết. Bài Liên tưởng viết theo thể lục ngôn tứ
tuyệt ít nhiều đã có điều đó: “Ô kìa! một chiếc lá vàng/ Quấn quanh theo làn
gió nhẹ / Kiếp người trong cõi lang thang / Bồng bềnh về đâu như lá?”. Đọc bài
thơ này, tôi thoáng ngỡ như đang nghe ca từ Cát bụi của Trịnh Công
Sơn và cũng nhớ đến câu thơ của Huy Cận trong bài Tràng giang:“Củi một
cành khô lạc mấy dòng”.
Mạo muội dăm ba điều như thế về Đoản
khúc sáu mươi của Nguyễn Công Lý, không biết được gì và chưa được gì. Chỉ
tin chắc rằng với Nguyễn mà có thêm thơ thì đời cũng thêm vui và cứ thế mà thêm
thơ cho đời thêm vui.
Yên
Hòa thư trai Giáp Ngọ, mạnh hạ,
sáu mươi năm chiến thắng Điện Biên, 07 - 5 - 2014
LỜI TỰ BẠCH
Nguyễn Công Lý
Năm sinh của tôi ghi trên giấy tờ là 1954, tính theo dương lịch,
năm Giáp Ngọ 2014 này, tôi vừa tròn một hoa giáp, tức đúng 60. Để kỷ niệm
cái mốc đáng nhớ trong đời của mình nên tôi chọn 60 bài, mỗi bài 4 câu, gồm ngũ
ngôn, lục ngôn, thất ngôn, lục bát, tự do rồi đặt tên là “Đoản khúc 60”mà
không dám ghi là “Tứ tuyệt 60”, bởi “Tứ tuyệt” mang nhiều nội
hàm nghĩa với những yêu cầu đặc trưng nghiêm ngặt của thể loại, mà những vần vè
do tôi viết ra được chọn trong tập này lại chưa đáp ứng được, vì thế mới tạm gọi
là “Đoản khúc”. Những bài ngắn trong tập này được chọn rải rác qua thời
gian hơn 40 năm, từ năm 1972 đến năm 2014, với mong muốn lưu dấu một chặng đường
dài từ lúc tuổi thanh niên cho đến khi tóc đã hoa râm bước vào Tiểu thọ.
Thú thật với Quý vị, với thơ, tôi vốn vụng về, lại không có
khả năng sáng tác nhưng tôi mắc phải cái bệnh yêu thơ, thích thơ, hay đọc thơ,
vì thế mỗi khi có nhã hứng, lấy giấy bút nguệch ngoạc ghi lại vài ba câu ít nhiều
có vần có điệu để bộc bạch nỗi niềm của mình và tạm gọi đó là thơ. Những vần vè
đó được viết ra để tự mình đọc chơi, cũng có thể đọc cho bạn bè nghe trong những
lúc trà dư tửu hậu, chứ rất hiếm khi cho đăng lên báo. Những bài đó dài có ngắn
có, chữ Hán và Quốc ngữ, đủ các thể thơ: lục bát, tứ ngôn, ngũ ngôn, lục ngôn,
thất ngôn, tứ tuyệt Đường luật, bát cú Đường luật, tự do, v.v.. có đến khoảng
trên 150 bài. Ở đây, tôi chỉ chọn thơ 4 câu (Tứ cú) nhưng không dám gọi là ‘Tứ
tuyệt’, như trên có nêu.
Theo tôi, thơ trước hết là cốt ở tấm lòng, ở tình cảm, cảm
xúc chân chật, giản dị mà ý nhị. Mà cảm xúc thơ phải xuất phát từ sự rung động
của người sáng tác trước hiện thực muôn màu, muôn vẻ của cuộc sống. Người làm
thơ cần có tấm lòng thiết tha với cuộc đời: tình thơ và tình đời.
Có cảm xúc, có rung động chưa đủ mà còn cần phải có nhu cầu ghi chép những cảm
xúc ấy trên trang giấy theo quy tắc tổ chức của ngôn ngữ thơ thì mới có thể
có thơ, mới thành thơ. Nói cách khác, có rung động thì ngòi bút mới “tuôn chảy”
và hiện thực cuộc sống mới “hiện muôn hình”, chữ nghĩa mới “nhảy múa” trên
trang viết. Vì thế, thơ là tiếng lòng, là tiếng nói tình cảm đầy ý nhị.
Chỉ có thơ mới có thể giãi bày cõi lòng mình và dễ đi sâu vào lòng người.
Trong lời Tựa Việt âm thi tập, một bộ tuyển tập thơ đầu
tiên của nước ta, viết năm 1433, cụ Phan Phu Tiên đã phát biểu:“Tâm hữu sở chi
tất hình ư ngôn. Cố, thi dĩ ngôn chí dã.” (Trong lòng có điều gì tất thể
hiện ra lời nói. Cho nên, thơ là để nói chí vậy), mà cái “chí” ở đây, theo tôi,
cũng là cái “tâm”, là tấm lòng, tình cảm, cảm xúc của người làm thơ trước
hiện thực cuộc sống. Có như thế, thơ mới hoàn thành sứ mệnh cao cả và thiêng
liêng của mình và giúp người đọc rung động như chính tác giả đã từng rung động
thông qua những hình tượng thẩm mỹ. Nhờ thế, thơ mới để lại dấu ấn khó phai mờ
trong lòng người đọc.
Về những điều cấm kỵ trong phép làm thơ, cụ Bảng nhãn Lê Quý
Đôn đã đúc kết ba điều: “ý kỵ nông, mạch kỵ lộ, thi vị kỵ đoản” (ý
thơ không được cạn, mạch thơ không để lộ và hơi thơ không bị ngắn). Các cụ còn
dạy: “Thơ cần ít lời nhiều ý, ý tại ngôn ngoại”.
Vẫn biết những lời dạy trên của các Bậc Tiền Nhân là hoàn
toàn đúng, có thể nói là chân lý, nhưng thực hiện lời dạy đó đến đâu, như thế
nào, đạt đến mức độ nào là tuỳ thuộc vào người cầm bút, mà với tôi chắc chắn là
tôi chưa thực hiện được yêu cầu lời dạy trên.
Sáu mươi bài ngắn trong tập này là tình cảm, nghĩ suy, cảm
xúc thật lòng của mình, dù có thể chưa đạt, chưa hay, chưa phải là thơ, tức
chưa được ‘Nhã’ nhưng đó chính là tấm lòng, là cảm xúc chân thật. Đó
là ‘Tín’. Và cũng chính là “Của tin gọi một chút này làm ghi” như
Đại Thi hào Tố Như từng viết trong Đoạn trường tân thanh.
Xin có mấy lời thưa cùng Quý vị thân hữu gần xa.
Sài Gòn, giữa xuân Giáp Ngọ, tháng 2 – 2014
Giới thiệu một số bài trong tập thơ “Đoản khúc sáu mươi”:
1. 春曉
黃梅鋪一朵,
蝴蝶哂花飛.
東方紅日出,
春到誰人知?
己未春
Phiên âm
Xuân hiểu
Hoàng mai phô nhất đoá,
Hồ điệp sấn hoa phi.
Đông phương hồng nhật xuất,
Xuân đáo thuỳ nhân tri?
Kỷ Mùi xuân, 1979
Dịch thơ
Buổi sớm mùa xuân
Mai vàng một đoá khoe tươi,
Vài con bướm lượn mỉm cười với bông.
Trời hồng ló dạng phương đông,
Mùa xuân đã đến, biết không hỡi người?
Xuân Kỷ Mùi,
1979
2. 感懷
吾身歲已知天命,
事業功名不達成.
專論文章數十卷,
丹心一片照彬彬.
甲申年
Phiên âm
Cảm hoài
Ngô thân tuế dĩ tri thiên mệnh,
Sự nghiệp công danh bất đạt thành.
Chuyên luận văn chương sổ thập quyển,
Đan tâm nhất phiến chiếu bân bân.
Giáp
Thân 2004
Cảm hoài
Nay ta tuổi đã biết mệnh trời,
Sự nghiệp công danh còn xa vời.
Chuyên luận văn chương vài mươi cuốn,
Lòng son một tấm rạng rỡ đời.
Giáp
Thân 2004
3. 述懷
今年臥病更愴悲,
白髮瀟瀟不自知.
幸遇相逢千杯少,
東風瑟瑟一暮吹.
丙戌年
Phiên âm
Thuật hoài
Kim niên ngoạ bệnh cánh thương bi,
Bạch phát tiêu tiêu bất tự tri.
Hạnh ngộ tương phùng, thiên bôi thiểu,
Đông phong sắt sắt, nhất mộ xuy.
Bính
Tuất 2006
Dịch thơ
Tỏ lòng
Năm nay nằm bệnh lại buồn thương,
Tóc bạc bơ phờ, chẳng biết đường.
Mừng gặp gỡ nhau, ngàn ly ít,
Vào buổi chiều xuân gió vấn vương.
Bính Tuất 2006
4. Khát vọng
Nằm nghe gió núi mây ngàn,
Đất trời thinh lặng, chim đàn ngừng bay.
Người về: hội gió cùng mây,
Quét phăng đi những bùn lầy thế nhân!
1972
5. Vào hè
Đêm nằm ngắm đếm sao rơi,
Không gian vần vũ, bầu trời đảo điên...
Giật mình trở giấc triền miên,
Vẳng nghe đâu đó tiếng quyên não nề.
Hè, 1972
6. Chiều Nha Trang
Tịch dương hắt xuống biển xanh
Nhấp nhô sóng trắng bên gành liêu xiêu.
Nha Trang còn chút nắng chiều,
Thắp lên để tiễn người yêu đi về.
7. Tương cảm
Trời mưa mọi việc trễ tràng,
Nhờ mưa, mới biết rằng nàng cô đơn.
Trong mưa, mộng mị chập chờn,
Giật mình trở giấc, ta hơn gì nàng?
Một sáng sớm tháng 4/2006 -
Nha Trang và Sài Gòn đều mưa.
8. Về quê
Bước đi trên phố quê hương
Miên man ký ức vấn vương một thời
Hoa bằng lăng nở giữa đời,
Mà sao tím cả góc trời Nha Trang!
2006
9. Liên tưởng
Ô kìa! một chiếc lá vàng
Quấn quanh theo làn gió nhẹ
Kiếp người trong cõi lang thang
Bồng bềnh về đâu như lá ?
26.9.2011
10. Xuân sớm
Mai vàng nhà ai khoe sắc,
Đón xuân giữa buổi đông về,
Trong tiết đất trời se lạnh?
Mới hay xuân đã cận kề!
Đầu tháng 12.2011
11. Đêm ở quê
Bao năm rồi, đêm quê, nay ở lại,
Khu vườn xưa, giếng nước, vẫn còn đây,
Bên sân hoa, thềm nhà, trăng giãi sáng,
Tuổi thơ ơi, ký ức đã đong đầy!
Hai mươi tháng Chạp Tân Mão (2011)
12. Mai chiếu thủy
Sắc trắng tỏa hương ngọt dịu,
Lung linh đáy nước soi mình.
Hoa không có ý lưu dấu,
Nước chẳng muốn giữ bóng hình1.
1 Tư tưởng của Kinh Hoa Nghiêm: “phi hữu
phi không, diệc hữu diệc không” (chẳng phải có mà chẳng phải không, cũng
có mà cũng không).
.gif)






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét