Người Huế nào mà không nghe nói đến “Tôi đi học” của
Thanh Tịnh, một nhà văn, nhà thơ có tiếng từ thuở tiền chiến. Nhưng tuy học ở
Huế từ hồi bảy tuổi, tôi quá trẻ để có dịp gặp ông. Xấp xỉ tuổi ông anh cả của
tôi, sau bằng Thành chung, ông đi dạy thì tôi đang còn ở tiểu học. Khi tôi lên
trung học, vào lúc bắt đầu biết cảm phục những câu văn của ông trong các
báo Phong Hóa, Ngày nay, Thanh Nghị,... cùng những tập truyện
ngắn Quê Mẹ, Ngậm ngãi tìm trầm thì xảy ra cuộc đảo chính Nhật. Vào
tuổi thanh niên năng động, yêu nước, ông dấn thân vào cách mạng và ra đi biền
biệt trong những ngày kháng chiến. Vài năm sau đó tôi cũng ly hương cho đến sau
này trên đất Pháp tôi mới có dịp đọc lại những trang sách hấp dẫn của ông, mê
man với Hận chiến trường,…
Các làng quanh Huế trong các truyện ngắn của ông mang những tên
rất gợi: Viễn Trình, Đồng Yên, Hiền Lương, Vĩnh Trị,… Nhưng có một tên được ông
đặc biệt luôn nhắc tới vì thắm đậm hương vị đồng quê là làng Mỹ Lý, một làng
tuồng như chỉ có trong trí tưởng tượng của tác giả. Để đối chiếu với Mỹ Lý của
Thanh Tịnh, tôi xin đưa ra làng ngoại của tôi, có thật chứ không phải đặt bày:
làng Mỹ Cang, rất nhỏ đến nổi thường được gọi là thôn Mỹ hay Làng Hói. Nép mình
trên bờ sông Ô Lâu, bốn mươi cây số phía bắc thành phố Huế, ở một khúc sông
hằng năm bị lở lần nên sau mấy chục năm tha hương, khi tôi về thăm làng cũ thì
con đường trước nhà cụ, mạ tôi không còn nữa. Cái nhà xinh xắn hai ông bà bỏ
công suốt đời dành dụm xây cất cũng nhường chỗ cho một vạt sắn gầy guộc không
hồn. Làng nhỏ, có đình nhưng không có chùa, không có trường học, chỉ có một
ngôi chợ sớm được dời ra ở giao điểm các làng Phú Xuân, Phước Tích, Mỹ Xuyên,
Mỹ Cang, cũng trên bờ sông Ô Lâu. Làng Hói là một làng quê có đặc điểm không có
đồng ruộng phì nhiêu, nhưng lại có tiếng vì là làng của cụ Hồ Oai. Vị nầy là
Quyền Chưởng vệ Long Võ quân có thành tích bảo vệ vua Tự Đức trong loạn Chày
vôi của anh em Đoàn Hữu Trưng. Ông ngoại tôi là cháu đích tôn cụ Hồ Oai.
Cụ, mạ và chị tôi không có khả năng hướng dẫn tôi học hành, từ nhỏ
tôi phải theo các anh tôi vào Huế học, nhưng mỗi kỳ nghỉ lễ Phục sinh, Giáng
sinh hay nghỉ hè, chúng tôi lại về đây sáng học ôn, chiều thỏa thích vui chơi.
Nhà có vườn trái đủ thứ, mặc sức hái ăn. Trước nhà có sông mát mặc sức bơi tắm.
Cạnh đình làng có sân rộng, chiều chiều mặc sức chơi bóng với những thanh niên
trong làng. Trên truông Phò Trạch gần làng, sim nhuộm tím đồi, nắng vàng êm
dịu, chim chóc không thiếu, mặc sức chạy bắn với những chiếc ná cao su. Kỷ niệm
êm đềm thích thú nhất là những đêm hè, trời nóng, chúng tôi đánh trần nằm ngủ
trên sân trước nhà. Chuyện trò náo nức, lắm đêm không ngủ được. Thế rồi không
biết từ đâu lại, một giọng hò mái nhì trữ tình vang vang dội trong không trung,
đến gần rồi lại lan xa. Lúc đầu chúng tôi chỉ biết nằm nghe, dần dần cố ý trông
chờ. Chúng tôi âm thầm chia sẻ nỗi buồn nồng nàn của cô lái đò cô đơn. Nhưng cô
chỉ thỉnh thoảng chèo ngang trước nhà vài đêm một lần. Rồi một hôm, hết còn
giọng hò mang lại lời thổn thức của cô lái đò. Chúng tôi trằn trọc thao thức chờ
đợi, có khi tưởng như nghe tiếng sóng vỗ rì rào vào mạn thuyền, tiếng mái chèo
xào xạc khua mặt nước, nhưng giọng hò thì tuyệt không. Thế rồi, hết hè, chúng
tôi đành lòng trở vô Huế, tạm quên cô lái đò đã vô tình cống hiến chúng tôi
những đêm hè rạo rực dưới vòm trời sao trăng sáng, trở lại với những vui buồn
của thời “Tôi đi học”, những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường, những kỷ niệm
đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa...
Hơn một nửa thế kỷ sau, định cư trên đất Pháp tuyết rét, mỗi lần
đi dạo dọc con sông Seine đài các chảy ngang thành Paris phồn hoa, trong đầu óc
tôi luôn văng vẳng câu văn “Tôi đi học” và điệu hò tha thiết những
đêm hè trên sông Ô Lâu thôn dã của một thời xa xưa...
Cuối hè qua thu 2011



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét