Phan Khôi (1887-1959) là một trong số những tác gia quan trọng
của lịch sử báo chí, tư tưởng văn hóa Việt Nam thế kỷ XX. Trong số những vấn đề
xã hội mà Phan Khôi đã đề xuất và lên tiếng trong dư luận báo chí ở Việt Nam từ
những năm 1930, không thể không kể tới vấn đề phụ nữ.
Chính tờ tuần báo Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn - mà
Phan Khôi góp phần cộng tác rất đắc lực - từ giữa năm 1929 đã khởi lên việc luận
bàn về “vấn đề phụ nữ”, chỉ ra thực trạng bất bình đẳng về giới, giữa giới nam
và giới nữ, dưới ảnh hưởng của ý thức hệ Khổng giáo và nền quân chủ chuyên chế
đã tồn tại suốt hàng ngàn năm và đang tỏ rõ là một trong những lực cản trở xã hội
Việt Nam bước vào thời hiện đại, hội nhập với đời sống của thế giới, đời sống
nhân loại đương đại. Vấn đề phụ nữ - mà một số tác gia người Việt, nam và nữ,
như Sương Nguyệt Anh, Đạm Phương nữ sử, Hoành Sơn (Đặng Văn Bảy), v.v… đã từng
nêu lên từ những năm 1920, chính với tuần báo “Phụ nữ tân văn” và loạt bài của
Phan Khôi, vào các năm 1929-1932, đã gây được tiếng vang chưa từng thấy trong
dư luận báo chí ở Nam Kỳ, có tiếng dội ra cả Trung Kỳ, Bắc Kỳ.
Cuối năm 1933 đầu năm 1934, Phan Khôi được mời làm chủ bút tờ Phụ
nữ thời đàm tại Hà Nội; ông đã đổi tờ này thành tuần báo và sử dụng tờ báo này để
nêu vấn đề phụ nữ với dư luận Bắc Kỳ, vốn còn nhiều phần nệ cổ hơn Nam Kỳ trên
nhiều vấn đề văn hóa xã hội. Tuy chỉ giúp tờ báo này tồn tại đến đầu năm 1934,
song dấu ấn Phan Khôi để lại trên tờ báo này, – trong đó có việc nêu các vấn đề
về giới và bình đẳng giới, – vẫn là những dấu tích sâu đậm.
Sau thời gian trên, khi làm chủ bút Tràng An Báo ở
Huế (1935-1936), chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Sông Hương ở Huế
(1936-1937), tuy không phải là các tờ báo chuyên về giới, Phan Khôi cũng có những
bài báo đáng chú ý về phụ nữ, nêu các vụ việc cụ thể về những phụ nữ bị ngược
đãi, hoặc đơn giản chỉ là giải đáp về các vấn đề về phụ nữ và gia đình.
Như vậy, Phan Khôi là nhà ngôn luận có những đóng góp đáng kể
trong việc nêu ra và đề xuất những cải cách, đổi mới trong xã hội Việt Nam đầu
thế kỷ XX xung quanh vấn đề phụ nữ; ông là một trong những tác gia Việt Nam có
sự quan tâm sâu rộng nhất đến đề tài phụ nữ, không chỉ dưới góc độ xã hội mà
còn cả dưới các góc độ văn hóa, văn học. Nói gọn lại, Phan Khôi chính là một
trong những tác gia Việt Nam đầu tiên tiếp cận tư tưởng nữ quyền một cách hệ thống
và có sức thuyết phục cao.
Thời gian gần đây, trong việc tiếp cận nghiên cứu lịch sử tư
tưởng nữ quyền ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, khi đề cập đến một số tác gia tiêu biểu
của xu hướng này, các nhà nghiên cứu đôi khi đã đưa ra sự nhận định theo lối xếp
hạng, theo đó, những tên tuổi như Sương Nguyệt Anh, Đạm Phương nữ sử, rồi Đặng
Văn Bảy (tức Hoành Sơn, tác giả cuốn “Nam nữ bình quyền” in 1928 và bị cấm ngay
sau đó, vừa đây được phát hiện và tái bản, 2014), rồi Phan Bội Châu, cả Phan
Khôi nữa, được đem so đọ xem ai là người “đi xa nhất” trên các vấn đề của tư tưởng
nữ quyền?!
Người đang viết những dòng này không có ý định “đo đạc” tư tưởng
nữ quyền ở Phan Khôi theo kiểu cách trên đây.
Tôi chỉ lưu ý rằng trong việc tiếp cận vấn đề phụ nữ, khởi đầu
từ tháng 5/1929 với tuần báo Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn, Phan Khôi và
những người chủ trương tờ báo này chú trọng trước hết không phải tính lý thuyết
mà là tính thực tiễn của vấn đề phụ nữ ở Việt Nam; họ có những động thái giảm sốc
tối đa khi biết mình đang đối mặt một xã hội nam quyền với rất nhiều định kiến
tuy bất bình đẳng nhưng đã thành thiên kinh địa nghĩa. Do vậy họ không chú trọng
nêu lên ngay từ đầu một quan niệm thật đầy đủ về vấn đề giới tính, vấn đề phụ nữ,
không nêu lên ngay từ đầu những đòi hỏi như “nam nữ bình quyền”, “giải phóng phụ
nữ”, “hôn nhân tự do”, v.v. Trái lại, Phan Khôi và những người chủ trương tờ
báo này chú trọng đặt “vấn đề phụ nữ” ra với công chúng, với xã hội đương thời,
xét từ nhu cầu tiến hóa xã hội.
Sau một vài bài báo công khai tôn chỉ của tuần báo Phụ nữ
tân văn trước khi báo này ra mắt trên một tờ báo khác, rồi trên chính tuần
báo này ở các số báo đầu tiên, Phan Khôi và những người chủ trương Phụ nữ
tân văn đã tổ chức một cuộc trưng cầu ý kiến về vấn đề phụ nữ, hỏi chuyện
trực tiếp hoặc gửi thư xin ý kiến một số trí thức có tiếng trong nước đương thời
(Trần Trọng Kim, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc
Kháng, Bùi Quang Chiêu, Phan Bội Châu, Đạm Phương, Tản Đà, Nguyễn Văn Bá, Diệp
Văn Kỳ, Cao Văn Chánh), đăng tải suốt 14 kỳ báo, đồng thời cũng mở mục “Tự do
diễn đàn” đăng các ý kiến công chúng gửi tới. Tựu chung, “Phụ nữ tân văn” trở lại
khẳng định điều đã tuyên bố ngay từ đầu:
“Tình thế phụ nữ ở trong nước ta ngày nay, quyết không phải
như là hồi trước, lấy khuê môn làm cửa ngục cho đàn bà, mà việc gánh vác non
sông không phải là phần việc của con gái. Cuộc đời ngày một khó khăn, mỗi việc
bắt người ta phải dùng đến sức mạnh hay là óc khôn thì mới có cơ sanh hoạt. Chị
em ta cũng vậy, không thể nào cứ giữ hoài những tục hủ, thói quen, và cái tánh
phong lưu, ỷ lại nữa. Nếu có muốn sanh tồn ở đời nầy, thì cũng phải mưu tự lập
lấy mình, phải học hành, phải tranh đua, phải tiến bộ mới đặng. Huống chi còn đối
với mọi phương diện ở đời, nào gia đình, nào xã hội, nào giáo dục, nào kinh tế,
mỗi việc ta đều phải có nghĩa vụ gánh vác ở trong, không có thể nào từ chối đặng.
Nhà cửa suy hay thạnh, chồng con giỏi hay hèn, nòi giống yếu hay mạnh, đều là
những việc ta phải nhận làm việc mình chớ không thể chỉ quy trách vào người đàn
ông hết cả. Những lẽ đó khiến cho chị em bạn gái chúng ta phải lo tu thân và tiến
bộ để làm cho trọn cái thiên chức của mình, và để cho theo kịp người ta mà sanh
tồn là như vậy.”
(Chương trình của bổn báo// Phụ nữ tân văn, s. 1, ngày 2/5/1929)
Người ta thấy, bên cạnh các loại bài vở gắn với đề tài phụ nữ,
tòa soạn Phụ nữ tân văn và gia đình chủ báo còn tổ chức các hoạt động
mang tính xã hội như lập học bổng cấp cho học sinh đi du học nước ngoài; hoặc tổ
chức Hội chợ Phụ nữ đầu tiên ở Sài Gòn (1932). Phan Khôi tham gia tích cực các
hoạt động này.
Cách thức hoạt động như trên chính là tổ chức vận động công
chúng chứ không chỉ thuần túy là trình bày một số quan điểm, một số tư tưởng mới
về vấn đề giới, vấn đề giới nữ.
Cách hoạt động này nhắc người ta nhớ tới hoạt động xã hội
chính trị của chính Phan Khôi hồi thập niên đầu thế kỷ XX, khi ông tham gia
phong trào duy tân, tham gia “minh xã” của Phan Châu Trinh, vận động cắt tóc ngắn,
vận động “xin xâu”, được Phan Tây Hồ đưa ra Hà Nội (1908), dự định đưa vào làm ở
Đông Kinh nghĩa thục và viết cho tờ “Đăng cổ tùng báo”. Vì trường Đông Kinh bị
chính quyền thực dân giải tán (sau đó những người chủ trương Nghĩa thục bị đưa
đi đày), nên Phan Khôi xuống Nam Định học chữ Pháp với cụ Nguyễn Bá Học, rồi liền
đó chính quyền tỉnh Quảng Nam triệu Phan Khôi về, đưa ra xử chung với nhiều
nghi phạm khác trong “vụ án xin sâu”, kết án rồi giam tại nhà lao Quảng Nam
(1908-1911). Ra tù, ông còn hoạt động trong “ám xã” của Phan Bội Châu thêm một
thời gian nữa; sau đó, ông xin rút ra khỏi đoàn thể duy tân bí mật, tự học hỏi,
tự đào luyện mình để có thể làm những công việc như dạy học, viết báo, tóm lại
là “phục vụ tổ quốc về mặt văn hóa”. Tức là Phan Khôi từ vai trò một chí sĩ
đã chuyển mình hoàn toàn sang vai trò một người dân thường có hoạt động
ngôn luận, một trí giả dân sự, sống cuộc sống thế tục của thường dân, lấy viết
văn viết báo làm nghề tự nuôi sống, lấy báo chí làm môi trường kiếm sống đồng
thời là môi trường vận động khai sáng đồng bào mình theo hướng canh tân.
Việc Phan Khôi cộng tác với các tuần báo Phụ nữ tân văn,
Phụ nữ thời đàm cho thấy khá rõ sự thực hiện mục tiêu vận động cải lương,
sửa đổi phong tục, đưa xã hội người Việt thoát dần ra khỏi đời sống trung cổ lạc
hậu.
Tất nhiên khi đã xác định cho tờ báo một phạm vi chuyên đề về
giới, Phan Khôi và tòa soạn Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm cũng cần
tạo ra một loạt đề tài, thể tài nhất định, làm phong phú cho một loại ấn phẩm
đã phần nào tự giới hạn góc nhìn đời sống. Bản thân Phan Khôi cũng đã tự mình
đa dạng hóa ngòi bút mình trong sự tiếp cận đề tài phụ nữ. Ông không chỉ viết
các bài nghị luận về các khía cạnh cần giải đáp của vấn đề phụ nữ, mà còn rút từ
tin tức báo chí đương thời để tỏ thái độ trước các vụ việc liên quan đến những
xử sự về giới, nhất là những ứng xử bất công, phi nhân tính; ông dịch thuật những
thông tin về phong trào nữ quyền ở một số nước ngoài; ông lục lại sử sách xưa để
đưa lại cho công chúng những mảng sử liệu, những phong tục liên quan đến phụ nữ,
những phác thảo, những “liệt truyện” về các nhân vật nữ xuất sắc trong quá khứ;
ông là nhà phê bình văn học đã phác họa diện mạo các sinh hoạt của phụ nữ người
Việt xưa thể hiện qua ca dao tục ngữ người Việt; không chỉ dừng lại ở những đề
tài “phi hư cấu”, ông còn thử sức viết truyện với đề tài chống lại tình trạng bất
bình đẳng nam nữ, trong “Trở vỏ lửa ra” (1939), thiên truyện dài đầu tay và duy
nhất trong đời viết văn của ông.
Có thể nói, Phan Khôi là một trong số những tác giả Việt Nam
sớm nhất tạo dựng được cả một tập hợp các loại tri thức và thông tin xã hội, lịch
sử, văn hóa xung quanh vấn đề giới nữ; về mặt này, ông đã hoạt động như một nhà
xã hội học tiên phong.
Hướng tới công chúng độc giả thông qua các trang báo in, ngòi
bút Phan Khôi đã lần lượt đề cập hầu hết các phương diện quan trọng nhất của vấn
đề phụ nữ trong xã hội đương thời, khi mà xã hội Việt Nam đang mở ra, giao lưu
và hội nhập với thế giới, với nhân loại văn minh hiện đại. Các vấn đề về giới nữ
nảy sinh ở xã hội người Việt lúc ấy chủ yếu do sự chênh lệch giữa các chuẩn mực
nhân sinh của nhân loại hiện đại so với xã hội ta, trong đó nhiều chuẩn mực tỏ
rõ là khá lạc hậu, có khi là mông muội, tối tăm, thể hiện rõ nhất ở những kỳ thị
đối với giới nữ. Ngòi bút Phan Khôi trước hết vạch ra những tệ đoan trong quan
niệm, trong các chuẩn mực và nếp sống hiện hành, nêu yêu cầu sửa đổi cả quan niệm
lẫn hành động.
Ngòi bút Phan Khôi đề cập hầu hết các khía cạnh căn bản của vấn
đề phụ nữ, từ đòi hỏi xem xét người nữ trong tư cách làm người nói chung chứ
không chỉ trong tư cách làm vợ làm mẹ, nhân đó nêu các vấn đề phụ nữ với “quốc
sự” (chính trị), vấn đề nữ lưu giáo dục, vấn đề “nữ công”, và nhất là các vấn đề
về nhân phẩm, về hôn nhân gia đình, v.v.
Có những vấn đề được ông đề cập đến ngọn ngành, sâu sắc.
Chẳng hạn, vấn đề trinh tiết, “chữ trinh”, Phan Khôi đề xuất sự phân biệt “tiết
trinh” và “nết trinh”. Cái “nết” là sự tự nguyện giữ gìn phẩm giá đoan chính của
người nữ. Trong khi cái “tiết” là bổn phận của người phụ nữ chết chồng, là đòi
hỏi nghiêm khắc, mang tính áp đặt phi nhân của Nho giáo, nhất là Tống nho, đối
với người phụ nữ, và suy cho cùng nó là “do lòng tham lam và thói ích kỷ của bọn
đàn ông bày ra, rất là không công bình”. Đề xuất này của Phan Khôi là đưa ra một
chuẩn mực nhìn nhận cho xã hội đối với một loại hành vi của người nữ trong hôn
nhân; chuẩn mực này thể hiện tính nhân bản sâu sắc, bởi một mặt nó giải phóng
người nữ khỏi một quan hệ hôn nhân thực tế đã liễu kết, đồng thời nó tính đến
chứ không bỏ qua sự lựa chọn thái độ sống của người nữ trong cuộc.
Trong các vấn đề hôn nhân gia đình, Phan Khôi tỏ rõ một cái
nhìn của nhà xã hội học tinh nhạy, ví dụ, ông sớm nhận ra dấu hiệu mang tính vấn
đề ở những vụ thanh niên tự tử, nhất là ở đô thị, hồi đầu những năm 1930. Đó,
theo ông, là triệu chứng khủng hoảng của chế độ đại gia đình, khi “kẻ bề dưới
[...] đã đến tuổi trưởng thành rồi, thì mong được độc lập, không chịu quyền bó
buộc của bề trên nữa”. Chế độ đại gia đình (tam tứ đại đồng đường) lâm vào khủng
hoảng, sẽ phải nhường chỗ cho chế độ gia đình hạt nhân (chỉ gồm bố mẹ và các
con chưa trưởng thành)! Phan Khôi viết điều này vào năm 1931, dường như đã gợi
ý cho các tiểu thuyết gia của Tự Lực văn đoàn vài ba năm sau đó sẽ khai triển vấn
đề này trong các sáng tác văn xuôi tự sự hư cấu của họ và nhận được sự đồng
tình và hưởng ứng đáng kể từ phía công chúng thanh niên.
Cách xem xét vấn đề phụ nữ của Phan Khôi liên quan mật thiết
với quan điểm của ông về Nho giáo, thể hiện rõ nhất trong loạt 21 bài đăng nhật
báo Thần chung cuối năm 1929 nhan đề “Cái ảnh hưởng của Khổng giáo ở
nước ta”. Những bất bình đẳng của giới nữ so với giới nam ở xã hội người Việt,
theo ông, hầu hết có nguồn từ quan niệm trọng nam khinh nữ của Nho giáo, học
thuyết từ Trung Hoa du nhập vào xã hội Việt Nam theo gót chân kẻ xâm lược
phương Bắc. Đến khi người Việt xây dựng được nền độc lập về chính trị thì các
triều đại quân chủ Việt Nam lại tiếp tục dùng Nho giáo làm hệ ý thức chính thống;
nhiều quan niệm và chuẩn mực kỳ thị giới nữ của Nho giáo, nhất là của Tống nho,
được phổ biến vào xã hội Việt Nam, trở thành những phong tục của sinh hoạt cộng
đồng.
Trong không ít bài viết của Phan Khôi, nội dung phê phán Nho
giáo nhiều khi hòa vào, gần như đồng nhất với việc phê phán những quan niệm và
chuẩn hành vi kỳ thị giới nữ. Ở các bài viết về đề tài “hoàng đế với phụ nữ”,
Phan Khôi đã vạch ra những tội ác đối với người nữ nơi hậu cung của những kẻ cầm
đầu các chế độ quân chủ. Nhưng sâu sắc hơn lại chính là những bài đối chiếu chế
độ gia đình ở xã hội người Việt với luân lý Khổng Mạnh, cho rằng so với “ngũ
luân” (của Khổng Mạnh) thì “tam cương” (của Hán nho) mới thật sự nghiệt ngã, áp
đặt đặc quyền của vua đối với bề tôi, của cha đối với con, của chồng đối với vợ.
Bởi vì, theo Phan Khôi, “ngũ luân” (và tư tưởng Khổng Mạnh nói chung) còn gắn với
không khí “bách gia tranh minh” của thời đại Xuân Thu Chiến Quốc; đến Hán nho
thì nó đã trở thành học thuyết được nhà nước quân chủ chuyên chế từ Hán Vũ Đế độc
tôn, lấy làm hệ ý thức chính thống, nên nó lệch hẳn về phía bảo vệ chế độ quân
chủ, tạo ra diễn ngôn về tương đồng giữa quân chủ và gia trưởng, củng cố chế độ
quân chủ chuyên chế bằng việc trao đặc quyền cho gia trưởng. Chính sự độc tôn
Nho giáo như ý thức hệ chính thống suốt hai ngàn năm quân chủ Trung Hoa đã dẫn
tới những chủ trương cực đoan kỳ thị nữ giới, ví dụ Tống nho xem “chết đói là
việc nhỏ, thất tiết mới là việc lớn”, đòi hỏi người phụ nữ chết chồng gặp cảnh
đói kém phải chịu chết đói chứ không được đi lấy chồng khác! Quan niệm vô nhân
đạo này của Tống nho đã bị Phan Khôi chỉ trích kịch liệt, đến mức ông bị một
nhà nho cùng thời nhưng còn nặng lòng với Nho giáo là Tản Đà bài bác rất kịch
liệt, xem Phan Khôi là “cái tai nạn của Nam Kỳ”, đòi đưa Phan Khôi ra “làm án
trảm giam hậu” trước công luận báo giới, gây ra một vụ việc khá ồn ào trên dư
luận trong Nam ngoài Bắc những năm 1932-33.
Một nét khá đặc trưng cho ngòi bút và tính cách Phan Khôi là
khi xuất hiện trên mặt báo, ông không những không dấu diếm con người thực, gia
cảnh thực của mình, trái lại, có khi còn đưa các sự việc trong gia cảnh mình ra
làm chất liệu để phân tích các vấn đề xã hội. Tiêu biểu về loại này là bài
“Chuyện bà cố tôi”, với phụ đề “Một lá đơn kiện cái chế độ gia đình An Nam”.
Câu chuyện người đàn bà đảm đang, ăn nên làm ra, dựng dõi cho cả một gia đình gồm
vài ba thế hệ con cháu, từ nghèo đói đến sung túc, từ thất học đến có người đỗ
đạt, càng chứng tỏ công lao của “bà cố” tác giả đối với các thế hệ con cháu bao
nhiêu, thì người ta càng ngạc nhiên bấy nhiêu về việc bà cố khi mất không được
chôn ở đất công của làng mà phải chôn ở đất tư, không được con cháu thờ chung với
ông cố mà phải thờ riêng! Là vì ngay người trong gia đình cũng phải xử sự theo
lễ (của thánh hiền Nho giáo), theo luật (của làng xã, nhà nước quân chủ). Lý do
chỉ là: khi ông cố mất sớm, để lại cho bà cố một đàn 5 đứa con, bà đã phải cải
giá, đi lấy chồng mới để có chỗ nương tựa, cùng làm lụng buôn bán nuôi đàn con
vừa con chồng cũ vừa con chồng mới được ăn học nên người. Điều tác giả gọi là
“vết thương” mà lễ nghĩa và lề luật gây cho gia đình ông, ông đem truyền cho
công chúng, để họ cùng thấy những lễ nghĩa, lề luật kỳ thị người đàn bà là bất
công, phi lý ra sao, bởi thực chất nó chỉ thỏa mãn lợi ích ích kỷ của giới đàn
ông, nó chỉ đánh dấu đặc tính của xã hội nam quyền, nhưng lại gây ra những hậu
quả phi nhân, đáng căm phẫn.
Xuất thân từ Hán học, Phan Khôi có nhiều lợi thế để khai thác
nguồn sách sử cũ; trong thời gian làm các tờ báo phụ nữ, ông đã kịp đưa ra một
phác thảo về “Việt Nam phụ nữ liệt truyện” để ghi nhớ những nhân vật nữ người
Việt trong quá khứ, một phác họa về “nữ lưu nhân vật” để ghi nhận những tên tuổi
phụ nữ nổi bật đương thời. Về mặt này, ông đã chỉnh sửa được những sai sót về
phân loại của một trong những người đi trước ở công việc này là Lê Dư (trong
các cuốn “Nam quốc nữ lưu”, “Nữ lưu văn học sử”). Phan Khôi cũng là một trong
những nhà văn học sử Việt Nam đầu tiên khởi thảo và giới thuyết các phạm trù
“văn học với nữ tính”, văn học của tác gia nữ. Thiên khảo luận tìm hiểu sinh hoạt,
phong tục phụ nữ Việt Nam qua tục ngữ phong dao tiếng Việt, do Phan Khôi thực
hiện (dựa vào kết quả sưu tầm của soạn giả Nguyễn Văn Ngọc), là một kiểu nghiên
cứu xã hội học phong tục, từ cứ liệu thơ ca dân gian.
Cũng cần ghi nhận nỗ lực của Phan Khôi khi ông tìm tòi thể hiện
“vấn đề phụ nữ” trong xã hội Việt Nam bằng thể truyện hư cấu. Truyện dài “Trở vỏ
lửa ra” mô tả một thiếu nữ thôn quê Trung Kỳ ham học, muốn vươn lên về tri thức,
nhưng vấp phải rào cản lệ tục của xã hội nam quyền, theo đó, cha mẹ cô tuy giàu
nhưng không có con trai “nối dõi” nên đã nhận một người cháu họ làm con, cho y
quyền gia trưởng định đoạt gia tài. Cô muốn dựa vào điền sản cha mẹ để lấy tiền
du học Sài Gòn, Hà Nội, nhưng thường bị người anh họ được quyền thừa kế ấy ngăn
cản, vì y mưu độc chiếm phần lớn gia sản ấy. Cô phải vừa học vừa làm thêm, nên
kiệt sức, bị bệnh lao rồi chết. Cái chết của cô, thực chất là do bị người anh họ
kia chiếm đoạt mất nguồn gia sản, nhưng sâu xa hơn, lại có nguồn từ lệ tục trọng
nam khinh nữ vốn là chuẩn mực của xã hội nam quyền, cái lệ tục đã khiến cha mẹ
cô đem giao quyền thừa kế cho người cháu, thực ra là người dưng. Tác giả Phan
Khôi dường như biết rất rõ nguyên tắc bi kịch, theo đó nhân vật mang tham vọng
tốt đẹp phải bị chết, bị đứt gánh giữa đường thì hiệu ứng bi kịch mới nảy sinh.
Song chính kết cục này, đặt vào xã hội Việt Nam những năm 1930-40, lại chưa hẳn
đã là điều không thể tránh. Người đọc căm ghét người anh họ tham lam, xót
thương cô gái bất hạnh, nhân đó thấy rõ hơn ngọn nguồn tấn kịch là ở chế độ nam
quyền, trọng nam khinh nữ; đó là điều tác giả “Trở vỏ lửa ra” đã đạt được.
Thiên truyện này được viết và in năm 1939, khi mà thể tài tiểu
thuyết, và văn xuôi tự sự nghệ thuật tiếng Việt nói chung, đã bước những bước
nhảy vọt, đạt tới những thành tựu đỉnh cao. Trong mùa màng văn học tự sự phong
túc ấy, “Trở vỏ lửa ra” không nổi lên được, cũng là dễ hiểu. Dẫu vậy, việc tác
giả dùng thể tài hư cấu nhắc nhở dư luận vấn đề phụ nữ vẫn chưa hết tính thời sự
đối với xã hội Việt Nam, là điều cần ghi nhận.
Trở lên là một số nét về mảng đề tài phụ nữ trong di sản báo
chí, tư tưởng của nhà báo, học giả Phan Khôi.
Những bài viết và tác phẩm của ông, được tuyển trong sưu tập
này, thiết nghĩ, vẫn còn đáng đọc, đáng suy ngẫm cho bạn đọc ở thế kỷ XXI.
Tháng 3/2015 - Tháng 1/2016
LẠI NGUYÊN ÂN






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét