BÁO CÁO KHẢO SÁT CHUNG
LỊCH TRÌNH CÁC BẢN IN SỐ ĐỎ
Tiểu thuyết Số đỏ được đăng lần đầu tiên trên tờ Hà
Nội Báo, tờ tuần báo tư nhân do doanh gia Lê Cường trực tiếp làm giám đốc
kiêm quản lý, nhà báo Lê Tràng Kiều làm chủ bút, tòa soạn đặt ở 88 phố Huế, Hà
Nội.
Ngay sau khi đăng xong kỳ cuối cùng của tiểu thuyết Giông
tố (s. 39, ngày 30.9.1936), Hà Nội Báo đăng ngay kỳ đầu tiểu
thuyết Số đỏ cũng của tác giả Vũ Trọng Phụng.
Bìa ngoài (bìa 1) Hà Nội Báo số 40 (07.10.1936) giới
thiệu:
“Kỳ này bắt đầu đăng một truyện dài mới:
SỐ ĐỎ, cuốn tiểu thuyết của một thời đại nhố nhăng của
Vũ Trọng Phụng”
Kể từ đó, mỗi số Hà Nội Báo đăng một chương Số
đỏ, một chuyện cười dài. Tuy vậy, tác phẩm cũng chỉ được đăng đến chương
II của Phần thứ ba Số đỏ, (tức là chương XVI theo thứ tự toàn truyện). Bởi,
sau số 55, coi như số cuối cùng, Hà Nội Báo đóng cửa vì bị chính
quyền đương thời thu lại giấy phép, cùng lúc với hai tờ báo khác là Tiếng
Trẻ và Bắc Hà. ([1]) Vũ Trọng Phụng chuyển sang
cộng tác với tờ Tương Lai, viết phóng sự Lục-sì, tiếp đó, khoảng giữa
1937, nhận lời mời của Nguyễn Giang, chủ nhiệm Đông Dương Tạp Chí (tục
bản), Vũ Trọng Phụng làm thư ký tòa soạn phần tiếng Việt cho tờ tuần san ấy;
sang năm 1938 – 39, ông lại cộng tác với các tờ Thời Vụ, Tiểu Thuyết Thứ Bảy,
Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tao Đàn. Trên các tờ này Vũ Trọng Phụng đưa đăng nhiều tác
phẩm khác nhau, thường là các tác phẩm mới viết, dài hoặc ngắn, nhưng không thấy
ông cho đăng tiếp tiểu thuyết Số đỏ, dù dưới dạng đăng lại từ đầu hay dưới
dạng đăng bổ sung 4 chương cuối truyện (có lẽ vì toàn bộ bản thảo đã được
giao cho chủ nhân Hà Nội Báo).
Năm 1938, Số đỏ được nhà in Lê Cường cho in thành
sách riêng.
Đây là nhà in của chủ nhân tờ Hà Nội Báo. Đương thời, đứng
tên xin giấy phép in sách, tức là đứng ra xuất bản ấn phẩm, − không chỉ có thể
là các hãng xuất bản (éditions) hay chủ xuất bản (éditeur), mà các hiệu sách
(librairie), các nhà in (imprimerie), hoặc cá nhân các tác giả cũng có thể đứng
tên thực hiện. Những trường hợp như nhà thơ Phạm Huy Thông tự đứng tên in tập
thơ đầu tay của mình (Tiếng sóng. Yêu đương, 1934), nhà văn Vũ Trọng Phụng
tự đứng tên in vở bi kịch đầu tay của mình (Không một tiếng vang, 1934)
không hề là việc cá biệt. Nhân đây cần khẳng định rằng, một số thông tin do một
số sách báo nghiên cứu đã từng nêu ra, coi Lê Cường như “nhà xuất bản” − là
thông tin lầm lẫn. Hiện tại có thể tìm thấy tại Thư viện Quốc gia ở Hà Nội gần
150 tên sách do Lê Cường xuất bản, đều với tư cách nhà in (thường viết tắt:
Impr. Lê Cường), vì Lê Cường chưa bao giờ lập nhà xuất bản; có khi nhà in Lê Cường
in sách do nhà xuất bản khác đặt in, có khi nhà in Lê Cường tự đứng tên xin giấy
phép in sách.
Có thể nói, tất cả các bản in Số đỏ về sau
này đều có xuất xứ từ bản in năm 1938 của nhà in Lê Cường. Theo ghi nhận của
các soạn giả Lược truyện các tác gia Việt Nam (tập II), một bản thuộc
loạt ấn bản này nộp lưu chiểu tại Thư viện Quốc gia ở Hà Nội có ký hiệu P. 19533. ([2]) Tuy
vậy, bản sách này tại đây đã bị mất từ lâu.
Bản in Số đỏ của nhà in Lê Cường là lần in thứ hai
của tác phẩm này, nhưng là lần đầu tiên nó được in thành sách riêng, cũng là lần
đầu tiên được in trong dạng hoàn chỉnh (so với lần đăng Hà Nội Báo còn
thiếu 4 chương cuối).
Từ bản in Số đỏ của nhà in Lê Cường năm 1938, về
sau trong thực tế in ấnSố đỏ đã phân chia ra thành 2 nhánh ấn bản chính:
nhánh Minh Đức và nhánh Mai Lĩnh.
Nhánh Minh Đức gồm hai bản in Số đỏ tại Hà Nội vào
các năm 1946 và 1957.
Năm 1946, tại Hà Nội, nhà xuất bản Minh Đức in lại tiểu thuyết Số
đỏ và nhân đó đã cùng một số nhà văn (Nguyễn Tuân, Thế Lữ, Trương Tửu,
Nguyên Hồng, Phạm Ngọc Khuê…) tổ chức kỷ niệm ngày mất Vũ Trọng Phụng, đồng thời
tổ chức bán sách để ủng hộ gia đình nhà văn. ([3]) Bản in Số
đỏ này được gọi chính xác là “in lần thứ hai”.
Mười năm sau, vào năm 1957, nhà xuất bản Minh Đức in lại lần
thứ hai tiểu thuyết Số đỏ, sau khi Minh Đức liên danh với Hội văn nghệ Việt
Nam làm lễ kỷ niệm Vũ Trọng Phụng tại Nhà hát Lớn Hà Nội (tháng 10.1956), đồng
thời tổ chức bán cuốn Vũ Trọng Phụng với chúng ta (sưu tập các bài
phê bình của một số tác giả) lấy tiền giúp gia đình xây ngôi mộ nhà văn khi đó
đặt tại nghĩa trang Quảng Thiện ở Ngã Tư Sở. ([4]) Bản in này
chỉ ghi là “in lần thứ hai” tức là ghi nhận lần in thứ hai của Minh Đức; thực
ra, đây là lần in thứ tư tiểu thuyết Số đỏ dưới dạng sách lẻ (sau bản
in 1952 ở Hà Nội của nhà Mai Lĩnh và trước bản in 1958 ở Sài Gòn cũng của nhà
Mai Lĩnh).
Nhánh văn bản Số đỏ của nhà xuất bản Minh Đức gồm
hai lần in này, tuy cũng đã từng hiện diện như là tài liệu nghiên cứu trong một
chuyên luận hầu như sớm nhất về nhà văn Vũ Trọng Phụng, do nhà nghiên cứu trẻ
Văn Tâm thực hiện,([5]) song, có thể là do sách của nhà xuất bản
Minh Đức nói chung trở thành khu vực đối tượng sách bị cấm lưu hành kể từ sau
khi phong trào Nhân văn – Giai phẩm bị trấn áp (1958), cho nên khả năng tiếp cận
các bản in Số đỏ này của công chúng và giới văn học ở miền Bắc bị hạn
chế rõ rệt, mức độ phổ biến văn bản Số đỏ thuộc nhánh này trên thực tế
cũng đã bị thu hẹp đáng kể.
Nhánh Mai Lĩnh gồm ba bản in Số đỏ (tại Hà Nội: 1 bản
in năm 1952, tại Sài Gòn: 1 bản in năm 1958 do nhà xuất bản Mai Lĩnh thực hiện,
và 1 bản in năm 1961 do nhà sách Khai Trí thực hiện).
Vào năm 1951, tại Hà Nội, giám đốc nhà xuất bản Mai Lĩnh là Đỗ
Trí Thông tức Đỗ Xuân Mai công bố với công chúng rằng chính nhà văn quá cố Vũ
Trọng Phụng đã trao bản quyền các tác phẩm của ông cho nhà xuất bản Mai Lĩnh.
(Tuy vậy thân nhân gia đình nhà văn cho rằng không có căn cứ nào xác nhận sự
“trao gửi” này). ([6]) Lời công bố đó (đề ngày 20.11.1951) được in
trên các ấn phẩm của nhà xuất bản Mai Lĩnh cùng với một danh mục “Tác phẩm của
Vũ Trọng Phụng do nhà Mai Lĩnh đã và sẽ tái bản” gồm 17 cuốn:
1/ Lấy nhau
vì tình, 2/ Cạm bẫy người, 3/ Giông tố,
4/ Số đỏ, 5/ Nhà
đỏ tức Lục-sì, 6/ Cơm thầy cơm cô,
7/ Vỡ đê, 8/ Dứt
tình, 9/ Kỹ nghệ lấy Tây,
10/ Làm đĩ, 11/ Người
tù được tha, 12/ Trúng số độc đắc,
13/ Quý phái, 14/ Cái
ghen đàn ông,
15/ Không một tiếng vang, 16/ Giết mẹ, 17/ Phá
giới.
Ngụ ý là sẽ được Mai Lĩnh lần lượt in lại, tuy rằng trên thực tế, tính đến
1975, Mai Lĩnh chỉ thực hiện được chừng 5 - 6 cuốn (Lấy nhau vì tình; Cạm bẫy
người; Giông tố; Số đỏ; Dứt tình; Làm đĩ; Trúng số độc đắc), mỗi cuốn được in từ
1 tới 3 lần. ([7])
Lời công bố và danh mục 17 tác phẩm kèm theo nói trên đã có
hiệu lực như một thứ thông báo về độc quyền khai thác (ở đây là in và phát
hành) hầu hết các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng. Có một số bạn thông thạo cho biết
rằng: bộ phận nhà Mai Lĩnh ở Sài Gòn về sau (sau 1958, tức sau khi Mai Lĩnh
in Số đỏ lần thứ hai) đã nhượng quyền khai thác các tác phẩm Vũ Trọng
Phụng cho nhà sách Khai Trí có địa chỉ ở 62 đại lộ Lê Lợi, Sài Gòn. Hiện chưa
có tư liệu cụ thể về việc nhượng quyền xuất bản này. Chỉ biết là trên thực tế,
trong những năm 1960-75 tại Sài Gòn, nhà sách Khai Trí đã in khoảng 6 tác phẩm
của Vũ Trọng Phụng, trong đó có tiểu thuyết Số đỏ (cùng với các cuốn Giông
tố, Cạm bẫy người, Lấy nhau vì tình, Dứt tình, Trung số độc đắc). Nói chung,
các bản in sau này của nhà Khai Trí đều sử dụng các bản in trước đó của nhà xuất
bản Mai Lĩnh.
Bản Số đỏ do nhà Mai Lĩnh in năm 1952 tại Hà Nội dưới
tên sách ghi “in lần thứ ba” là ghi nhận chính xác. Song bản Số đỏ do
Mai Lĩnh in năm 1958 ở Sài Gòn ghi dưới tên sách “in lần thứ tư” là ghi lầm; thực
ra đây là lần thứ năm (5) tác phẩm này được in thành sách riêng, vì xuất hiện
sau bản in năm 1957 kể trên của Minh Đức ở Hà Nội. Còn lại, bản in Số đỏ năm
1961 của nhà Khai Trí ghi “in lần thứ năm” cũng không chính xác, đúng ra đấy là
lần thứ sáu (6) tiểu thuyết này được in thành sách riêng.
Một điểm đáng lưu ý là, nếu hai bản in Số đỏ do
Minh Đức thực hiện đều được cấp phép bởi cơ quan quản lý văn hóa của chính quyền
Việt Nam dân chủ cộng hòa, thì các bản in lại tác phẩm Vũ Trọng Phụng (trong đó
có Số đỏ) do Mai Lĩnh (và sau đó do Khai Trí) thực hiện đều được cấp phép
bởi cơ quan kiểm duyệt ấn loát của chính quyền Quốc gia Việt Nam, dù là ở Hà Nội
những năm 1948-54 hay ở Sài Gòn từ sau tháng 10/1954.
Ở miền Bắc, kể từ sau khi phong trào Nhân văn - Giai phẩm bị
đàn áp, các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đều bị cấm lưu hành nên không được in lại.
Chỉ đến năm 1982 mới có tiểu thuyết Vỡ đê của ông được phép tái bản.
Cho đến thời đổi mới, thực tế là từ năm 1987, các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng mới
thực sự được quyền trở lại với độc giả, cũng tức là trở lại trong hoạt động xuất
bản.
Vào năm 1987, lần đầu tiên một bộ Tuyển tập Vũ Trọng Phụng gồm
3 tập (Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Hữu Tá sưu tầm, tuyển chọn, Nguyễn Đăng Mạnh giới
thiệu, Nxb. Văn học, 1987-88), được ra mắt độc giả cả nước; phần đầu tập 3 bộ
tuyển này (242 trong số 364 trang) dành in Số đỏ. Về mặt văn bản, các
soạn giả bộ tuyển này, không rõ vì lý do gì, đã chọn dùng văn bản do nhà Mai
Lĩnh từng in cho hầu hết các tác phẩm được đưa vào bộ tuyển, trong đó có Giông
tố, Số đỏ.
Ngay sau khi phát hành bộ Tuyển tập Vũ Trọng Phụng kể
trên, tiểu thuyết Số đỏ lại được nhà xuất bản Văn học cho in thành
sách riêng, với số lượng 30.000 bản (in tại nhà in báo Nhân dân, số xuất bản
18/VH, in xong và gửi lưu chiểu tháng 8/1988); văn bản được sử dụng ở đây tất
nhiên vẫn là bản in trong bộ tuyển kể trên.
Kể từ 1988 đến 2012, tra cứu theo dữ liệu thư mục Thư viện Quốc
gia, Hà Nội, có thể thấy tiểu thuyết Số đỏ được tái bản trên 20 lần.
Hoặc là nằm trong các bộ sưu tập được gọi là “tuyển tập” (khoảng 2 bộ, mỗi bộ
được in lại khoảng 2 – 3 lần) hay được gọi là “toàn tập” (khoảng 2 bộ, mỗi bộ
in 1 lần). Hoặc là in thành sách riêng, ví dụ: bởi Nxb. Văn học (1988, 1989,
1990, 1997, 1998, 2001, 2002, 2003), bởi Nxb. Văn nghệ Tp.HCM. (1998, 1999), bởi
Nxb. Đồng Nai (2000, 2001, 2006), bởi Nxb. Hải Phòng (2000), bởi Nxb. Hội Nhà
Văn (2005, 2006, 2008), bởi Nxb. Văn hóa Sài Gòn (2006), bởi Nxb. Kim Đồng
(2006, 2007), bởi Nxb. Đại học Sư phạm (2008), bởi Nxb. Dân trí (2011), bởi
Nxb. Hồng Đức (2012)…
Thống kê căn cứ vào dữ liệu sách lưu chiểu kể trên chưa thể
được coi là chính xác. Một người chơi sách cũ là nhà báo Yên Ba ở Hà Nội cho biết:
anh đã sưu tầm được 55 bản in khác nhau của tiểu thuyết Số đỏ.
Ngoài loại hình sách in giấy ra, gần đây cũng đã thấy những
văn bản Số đỏ trên các trang mạng internet, số lượng các bản là khá
nhiều, có chỗ đầy đủ 20 chương truyện, có chỗ chỉ gồm một số chương trích, song
các bản đánh máy thường có chất lượng thấp, khá nhiều lỗi.
Tuy vậy, về mặt văn bản, theo cảm nhận sơ bộ của tôi, các bản
in hoặc bản số hóa Số đỏ từ năm 1988 trở lại đây đều sử dụng văn bản Số
đỏ của nhà xuất bản Văn học in trong tập 3 của Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (1987)
hoặc in thành sách lẻ ngay cuối 1987 đầu 1988. Thế cũng tức là, rốt cuộc, hầu hết
các bản Số đỏ lưu hành hiện nay đều lấy nguồn từ văn bản Số đỏ do
nhà xuất bản Mai Lĩnh in 1958 ở Sài Gòn, vốn xuất xứ từ bản Số đỏ do
nhà Mai Lĩnh in 1952 ở Hà Nội.
Như vậy, có thể nói, trong hai nhánh văn bản Số đỏ lưu
hành kể từ sau khi tác giả Vũ Trọng Phụng qua đời, nhánh Mai Lĩnh tỏ ra có độ
phổ biến rất cao, hầu như áp đảo so với nhánh duy nhất đã từng có,- nhánh Minh
Đức.
Tuy nhiên, không thể nói rằng văn bản có độ phổ biến cao hơn
là văn bản “tốt” hơn văn bản còn lại. Ta vẫn chưa có những nghiên cứu so sánh
trên văn bản cụ thể để thấy được thực chất sự việc.
Hãy tạm lưu ý đến một sự việc sau đây. Năm 1956, nhà xuất bản
Văn nghệ (của Hội Văn nghệ Việt Nam) ở Hà Nội chuẩn bị in tiểu thuyết Giông
tố; do chỗ đi tìm “bản in trước cách mạng” mà không thấy, những người chủ
trương nhà xuất bản Văn nghệ hồi ấy (trong đó có nhà văn Nguyên Hồng) đành tạm
dùng bản Mai Lĩnh 1951 nhưng không quên lưu ý độc giả rằng: văn bản tiểu thuyết Giông
tố do nhà Mai Lĩnh in 1951 ở Hà Nội là bản “bị kiểm duyệt đế quốc bỏ nhiều
chỗ”!
Những quan ngại đằng sau nhận xét này đã được tôi làm rõ
trong công trình Nghiên cứu văn bản tiểu thuyết “Giông tố”. ([8])
Liệu các bản Số đỏ do nhà Mai Lĩnh in các năm 1952 ở
Hà Nội và 1958 ở Sài Gòn có tránh được tình trạng của văn bản Giông tố hay
không?
Và nói chung, tình trạng văn bản tiểu thuyết Số đỏ ra
sao?Công trình của tôi trong cuốn sách này sẽ tiếp tục làm rõ điều
đó.
([1]) Tin làng báo // Sông Hương, Huế, s. 26 (30 Janvier
1937), tr. 4.
([2]) Trần Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Văn
Phú, Tạ Phong Châu (1972): Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập
II: Tác gia các sách chữ La-tinh, Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội, tr.
229-231.
([3]) Tin văn hóa: Kỷ niệm nhà văn Vũ Trọng Phụng //
Tiên phong, Hà Nội, s. 20 (1.10.1946), tr. 33.
([4]) P.V.(1957): Việc xây mộ Vũ Trọng Phụng đã
hoàn thành ngày 10-3-1957 // Thời mới, Hà Nội, s. 887 (13.3.1957)
([5]) Trong chuyên luận Vũ Trọng Phụng, nhà văn hiện
thực (Kim Đức, Hà Nội, 1957) nhà nghiên cứu Văn Tâm đã sử dụng và trích dẫn Số
đỏ theo bản in của Nxb. Minh Đức 1946 (xem: Tuyển tập Văn Tâm,
Tp.HCM.: Nxb. Văn hóa Sài Gòn, 2006, tr. 92, 140).
([6]) Hai thân nhân nhà văn V.T.P. là bà Vũ Mỵ Hằng, con
gái nhà văn, và chồng bà Hằng là ông Nghiêm Xuân Sơn, vào những năm 1990, khi
tiếp xúc với các nhà văn và nhà nghiên cứu thân quen, đều cho biết: gia đình Vũ
Trọng Phụng không hề biết việc nhà văn lúc sinh thời đã trao bản quyền cho nhà
Mai Lĩnh, như lời công bố nói trên.
([7]) Trong cuốn sách tư liệu Nhà xuất bản Mai
Lĩnh (nhiều tác giả, Mai Hương biên soạn, Nxb. Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1997)
có phần danh mục các ấn phẩm của Mai Lĩnh (Phạm Hồng Toàn thực hiện, tr.
137-168), nhưng chỉ thống kê đến năm 1942, không có dữ liệu về việc Mai Lĩnh in
các tác phẩm Vũ Trọng Phụng.
([8]) Xem: Lại Nguyên Ân (2007): Nghiên cứu văn bản
tiểu thuyết “Giông tố” , Hà Nội: Nxb. Tri Thức, 704 tr.
MÔ TẢ CÁC BẢN IN ĐƯỢC CHỌN
Trong khi tìm hiểu lịch trình công bố và in ấn tiểu thuyết Số
đỏ của Vũ Trọng Phụng, tôi xác định được khoảng 7 văn bản đáng kể, tức là
có vai trò rõ rệt trong việc lưu giữ và lan truyền tiểu thuyết Số đỏ vào
công chúng. Sau đây là những miêu tả cụ thể về các văn bản ấy.
1/ Số đỏ, chuyện cười dài, đăng tuần san Hà Nội
Báo, được cả thảy 16 kỳ, từ số 40 đến số 55. Cụ thể như sau:
− Hà Nội Báo s. 40 (7.10.1936): Phần thứ Nhất.
I. Số đào hoa của Xuân Tóc Đỏ ‒ Minh + Văn = Văn Minh! ‒ Lòng thương người
của bà Phó Đoan.
− Hà Nội Báo s. 41 (14.10.1936): II. Quan phù
và Thái tuế ‒ Than ôi, dân ta văn minh, hại chưa! ‒ Cẩm và cẩm, cẩm phạt!
− Hà Nội Báo s. 42 (21.10.1936): III. Con Giời
con Phật ‒ Quỷ Cố tử phục sinh ‒ Một cái nghi án.
− Hà Nội Báo s. 43 (28.10.1936): IV. Khi Hoạn
Thư đã nổi giận ‒ Nghệ thuật vị nhân sinh ‒ Những sự chế tạo của cuộc Âu hóa.
− Hà Nội Báo s. 44 (4.11.1936): V. Bài học tiến
bộ của Xuân Tóc Đỏ ‒ Hai quan niệm về gia đình và xã hội ‒ Vâng, tôi, tôi là
người chồng mọc sừng!
− Hà Nội Báo s. 45 (11.11.1936): VI. Lại chuyện
sân quần ‒ Trong một gia đình văn minh ‒ Xuân Tóc Đỏ nhảy vào khoa học.
− Hà Nội Báo s. 46 (18.11.1936): VII. Cái chúc
thư của người còn sống ‒ Cuộc khẩu chiến của mấy nhà khoa học ‒ Ái tình, mày
còn đợi gì?
− Hà Nội Báo s. 47 (25.11.1936): Phần thứ Hai.
I. Mấy nguyên nhân đắc thắng của Bình dân trong xưởng Âu Hóa ‒ Một cuộc âm
mưu tài chính ‒ Một cuộc âm mưu về tình.
− Hà Nội Báo s. 48 (2.12.1936): II. Khách sạn Bồng
Lai ‒ Món triết lý của người đàn bà ngoại tình ‒ Gương “bán xử nữ”.
− Hà Nội Báo s. 49 (9.12.1936): III. Xuân Tóc
Đỏ thi sĩ – Một cuộc tranh nhau mọc sừng – Tư tưởng bảo thủ của bà Phó Đoan.
− Hà Nội Báo s. 50 (16.12.1936): IV. Cuộc
khánh thành sân quần – Xuân Tóc Đỏ diễn giả! – Việc sửa soạn cuộc hôn nhân.
− Hà Nội Báo s. 51 (23.12.1936): V. Kim cổ kỳ
… ngôn – Bà “chúa phải gai” – Sự mỉa mai của số phận.
− Hà Nội Báo s. 52 (30.12.1036): VI. Một việc
điều tra bằng sinh lý học – Ngôn ngữ một vị chân tu – Xuân Tóc Đỏ cải cách Phật
giáo.
− Hà Nội Báo s. 53 (6.1.1937): VII. Ôi, nhân
tình thế thái! – Người bạn gái trung thành – Chết, chết! Quan Đốc Xuân nổi giận!
− Hà Nội Báo s. 54 (13.1.1937): Phần thứ Ba. I. Hạnh
phúc của một tang gia – Văn Minh nữa, cũng nói vào – Một đám ma gương mẫu.
− Hà Nội Báo s. 55 (20.1.1937): II. Vụ hiểu lầm
sung sướng – Vinh quang! Xuân Tóc Đỏ chinh phục cảnh sát giới. (1)
Như vậy, bản này là lần đầu tiên công bố tác phẩm Số đỏ, nhưng việc công bố
chưa hoàn tất, vẫn còn thiếu 4 chương truyện. Tôi gọi đây là bản A.
2/ Số đỏ, tiểu thuyết, Nhà
in Lê Cường, Hà Nội, 1938.
Theo mô tả vắn tắt của các soạn giả Lược
truyện các tác gia Việt Nam tập II, bản in này dày 248 trang khổ 19,4 x
13,6 cm; một bản thuộc loạt ấn bản này được nộp lưu chiểu tại Thư viện
Pasquier, nay là Thư viện Quốc gia ở Hà Nội, có ký hiệu P. 19533. (2) Tuy vậy, bản sách này tại
đây đã mất từ lâu. Trên các giao dịch mua bán sách cũ mươi năm gần đây cũng
không thấy có ai giao dịch bản Số đỏ do nhà Lê Cường in 1938. Tạm coi
như bản in Số đỏ này đã mất văn bản.
Đây
là bản in thành sách đầu tiên của tiểu thuyết Số đỏ; riêng đối với 4
chương truyện cuối sách, văn bản in trong sách này cũng có vai trò là văn bản
công bố tác phẩm. Tôi gọi đây là bản B.
3/ Số
đỏ, tiểu thuyết cười dài, Nhà Minh Đức, 40 phố Tôn Thất Thuyết, Hà Nội, 1946,
dày 312 trang, khổ 13x19 cm.
Ngoài
nội dung 20 chương truyện, mục lục tiêu đề các chương truyện (mà nhà xuất bản gọi
là “mục”), sách dành 1 trang in ảnh tác giả và trang đầu bản thảo tiểu thuyết Người
tù được tha, một di cảo của Vũ Trọng Phụng. Các chi tiết xuất bản phẩm
ghi rải rác ở các chỗ khác nhau trong sách. Trang 312 cho biết sách được kiểm
duyệt ngày 21.6.1946, số 335/ST. In xong tại T.B.T.V. Hà Nội ngày 20.9.1946.
Trang 6 cho biết: Cuốn sách này phát hành vào ngày mồng 1 tháng 9 năm Bính Tuất
(tức ngày 25.9.1946) để kỷ niệm ngày giỗ Vũ Trọng Phụng. Tập trung nhiều dữ liệu
nhất là trang 3, ghi hầu hết các thông số của ấn phẩm mà người ta gọi là
trang signet (xi-nhê, có thể hiểu là trang đánh dấu ấn phẩm):
“SỐ ĐỎ của VŨ TRỌNG PHỤNG, in lần thứ hai, bìa do họa sĩ Tô Ngọc Vân trình bày,
ngoài những cuốn in trên giấy bản thường, có in thêm 100 bản trên giấy đặc biệt:
ghi chữ MĐ đánh số từ MĐ 1 đến MĐ 100. 36 bản in trên giấy quý chia ra như sau
này: in trên giấy Impérial Annam: 1 bản ghi chữ NHÀ MINH ĐỨC, in trên giấy bạch
minh châu: 1 bản ghi chữ SỐ ĐỎ, in trên giấy dó: 20 bản ghi chữ TTB, TNV, và 14
bản ghi chữ VTP, PNK, TNV, HHT, NT, NDL, ĐXM, TVR, TM, DP, HNT, TL, LXN, DPT.
Những cuốn sách quý đều trước số từ 1 đến 36 và không có bán”.(3)
Tuy vậy, không thấy trong sách có chỗ
nào ghi số lượng bản in (tirage). Đây là tập quán chung của sách in trước 1945 ở
xứ ta, tuân theo một tập quán mà đến hiện nay vẫn được duy trì trong giới xuất
bản ở nhiều nước (theo đó, chủ xuất bản ghi số lượng in bằng chữ viết tay chỉ ở
bản ký nộp lưu chiểu, chứ không ghi số lượng in bằng chữ in trên các bản in; việc
giữ kín số lượng in được coi như một bí mật nhỏ về kinh doanh).
Tôi gọi sách Số đỏ do Minh
Đức in năm 1946 là bản C.
4/ Số đỏ, in lần thứ ba,
Mai Lĩnh xuất bản, Hà Nội, 1952, dày 256 trang 13x19 cm.
Trang signet (tr. 256) ghi:
“SỐ ĐỎ của Vũ Trọng Phụng do nhà Mai Lĩnh tái bản lần thứ ba 3000 cuốn. Sách in
tại nhà in Quốc Thanh, Hà Nội, xong ngày 4-2-1952. - Kiểm duyệt số 15 ngày
3-1-1952”. Sách dày 256 trang khổ 13x19 cm; sau trang tên sách có một trang in ảnh
tác giả. Ngoài nội dung toàn bộ 20 chương truyện, sách có “Lời nhà xuất bản” và
bản danh mục “Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng do nhà Mai Lĩnh đã và sẽ tái bản”, - hai văn bản này được soạn thảo ngày 20-11-1951 và được đưa vào tất cả các cuốn
sách của Vũ Trọng Phụng do Mai Lĩnh tái bản.
“Lời nhà xuất bản” ký tên giám đốc Nxb. Mai Lĩnh Đỗ Trí Thông (Đỗ Xuân Mai) cho
rằng “những tiểu thuyết, những phóng sự của Vũ quân [Vũ Trọng Phụng] đều là những
bức tranh tả chân xã hội […] tới nay vẫn là phản ảnh vô cùng linh động của xã hội
Việt Nam”, nhân đó thông báo với công chúng rằng “Nhà xuất bản Mai Lĩnh chúng
tôi được hân hạnh tác giả trao cho bản quyền tất cả văn phẩm quý giá đó”, và
cho biết “chúng tôi tiếp tục tái bản tất cả các kiệt tác” ấy, lại “xếp vào một
loại riêng với một trình bày đặc biệt”…
Đi kèm với lời công bố kể trên là danh mục “Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng do nhà
Mai Lĩnh đã và sẽ tái bản” gồm 17 tác phẩm.
Khác với sách của nhà Minh Đức, các sách in tác phẩm Vũ Trọng Phụng của nhà Mai
Lĩnh không làm mục lục, không có các chú thích của nhà xuất bản về những tên
riêng hay từ khó.(4)
Tôi gọi Số đỏ do Mai Lĩnh in năm 1952 ở Hà Nội là bản D.
5/ Số
đỏ, tiểu thuyết cười dài, Minh Đức xuất bản, in lần thứ hai, Hà Nội, 1957, dày
248 trang 13x20,5 cm.
Trang signet (tr. 4) ghi hơi dài, khác với thông lệ: “SỐ ĐỎ của VŨ TRỌNG
PHỤNG, Nhà Minh Đức xuất bản lần đầu, năm 1946, đã phát hành vào ngày mồng 1
tháng 9 năm Bính Tuất để kỷ niệm ngày giỗ Vũ Trọng Phụng, tổ chức tại trụ sở
nhà xuất bản, 40 phố Tôn Thất Thuyết, Hà Nội. Sau 11 năm kháng chiến, nhà Minh
Đức tái bản lại tiểu thuyết SỐ ĐỎ, bìa do họa sĩ Tô Ngọc Vân trình bày. Số [lượng]
in 3500 cuốn; ngoài những bản thường có in thêm 50 bản giấy tốt ghi số từ MĐ 1
đến MĐ 50. Số xuất bản 57, số nhà in 0988. In xong tại nhà in Bắc Hà, Hà Nội,
ngày 15-3-57. Nộp lưu chiểu tháng 3-57 tại Hà Nội”.
Với
bản in này, nhà Minh Đức dự kiến thực hiện một “Tủ sách Văn học sử”, được cho
là sẽ gồm những tác phẩm “đã có ảnh hưởng đáng kể trong các giai đoạn văn học của
dân tộc ta” (Lời nhà xuất bản).
Ngoài
nội dung 20 chương truyện, trong sách còn có tranh chân dung Vũ Trọng Phụng của
họa sĩ Sỹ Ngọc (đặt ở tr. 5); danh mục “Văn phẩm của Vũ Trọng Phụng” gồm 17 tên
sách (tr. 6); “Lời nhà xuất bản” ký tên Trần Thiếu Bảo (tr. 8); sách còn in riêng
“Phần bút tích, ảnh và tài liệu về nhà văn Vũ Trọng Phụng” (tr. 229-235), in lại
tin của phóng viên báo Thời Mới thông tin “Việc xây mộ Vũ Trọng
Phụng đã hoàn thành ngày 10-3-57”.
Điều
khá đặc biệt nữa là, sau mục lục, ở trang cuối sách có in trong khung một lời
thông báo của bà quả phụ Vũ Trọng Phụng: “Ai muốn in lại, phiên dịch ra tiếng
nước ngoài hoặc dùng những tác phẩm của chồng tôi để soạn thành kịch bản, diễn
kịch, quay phim, v.v… đều phải trả bản quyền tác giả 10%”.(5)
Tôi
gọi Số đỏ do Minh Đức in 1957 ở Hà Nội là bản E.
6/ Số
đỏ, tiểu thuyết xã hội tả chân, in lần thứ tư, Mai Lĩnh xuất bản, Sài Gòn,
1958, dày 242 trang khổ 13x19 cm.
Ở bản này, mấy từ “tiểu thuyết xã hội tả chân” in ngay ở bìa sách ngay dưới tên
tác phẩm, là một sự mặc định của nhà xuất bản chứ không thể có xuất xứ từ tác
giả. Dòng signet in dưới chân trang cuối (tr. 242) ghi: “Giấy phép số
1198/XB ngày 2-8-58 của Nha Thông tin Nam Phần”. Sách in ảnh tác giả Vũ Trọng
Phụng ở trang tên sách (tr. 3), in lại “Lời nhà xuất bản” ngày 20-11-1951 như
đã in trong bản Mai Lĩnh 1952, nhưng không in danh mục 17 tác phẩm Vũ Trọng Phụng
mà Mai Lĩnh đã và dự kiến sẽ tái bản. Ngoài nội dung 20 chương truyện, sách này
không có mục lục, không có các chú thích của nhà xuất bản.(6)
Sau bản Số đỏ này, quyền xuất bản các sách của Vũ Trọng Phụng được
nhà Mai Lĩnh chuyển nhượng cho nhà sách Khai Trí; Số đỏ, “in lần thứ
năm” do nhà Khai Trí xuất bản tại Sài Gòn 1961 (giấy phép số 1752/XB ngày
19.8.1961 của Hội đồng kiểm duyệt, Nha Tổng giám đốc thông tin) (7) thực tế là sách Số đỏ in
lần thứ sáu; bản này in theo bản Mai Lĩnh 1958 nên tôi không đưa vào danh mục
khảo dị.
7/ Tuyển
tập Vũ Trọng Phụng (ba tập). III. Tiểu thuyết. Truyện ngắn. Phê bình văn học. Nguyễn
Đăng Mạnh, Trần Hữu Tá sưu tầm, tuyển chọn. Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1987;
tập này dày 364 trang 13x19 cm; tiểu thuyết Số đỏ nằm ở các trang
7-242.
Trang signet (tr. 364) ghi: “Tuyển tập Vũ Trọng Phụng, tập III, Nhà
xuất bản Văn học hợp tác xuất bản với Công ty Phát hành sách Khu vực II. In
20.000 cuốn, khổ 13x19 cm, tại nhà in Nhà xuất bản Thanh Niên, 62 Trần Huy Liệu,
Phú Nhuận, Tp. HCM., Số xuất bản: 54/VH. In xong và gửi lưu chiểu: tháng 1 năm
1988”. Ngoài ra trang signet còn ghi tên những người chịu trách nhiệm
xuất bản (Lý Hải Châu), biên tập nội dung (Đặng Ngọc Minh), trình bày sách (Phạm
Mạnh Hiên), trình bày bìa (Đinh Cường), sửa in (Nguyễn Mai).
Như đã biết, tập này nằm trong cả bộ tuyển của một tác gia. Tập I (504 trang) gồm:
Lời nhà xuất bản, Tiểu sử và bản kê tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, Lời giới thiệu
khái quát về cuộc đời và văn nghiệp tác gia Vũ Trọng Phụng (tr. 13-60) do Nguyễn
Đăng Mạnh viết; phần tác phẩm gồm kịch Không một tiếng vang, truyện vừa Người
tù được tha (trích 2 chương di cảo), tiểu thuyết Giông tố. Tập
II (344 trang) gồm các phóng sự Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy
cơm cô, Một huyện ăn Tết, và tiểu thuyết Vỡ đê. Trong tập III
(364 trang), tiểu thuyết Số đỏ được đưa toàn văn, chiếm 242 trang đầu,
sau đó là trích đoạn tiểu thuyết Trúng số độc đắc, một chùm 5 truyện ngắn,
và một bài Vũ Trọng Phụng phê bình tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố;
cuối sách là phần “thay lời bạt” bằng hai bài tiễn biệt Vũ Trọng Phụng của Ngô
Tất Tố và Nguyễn Tuân. (8)
Về
văn bản, các soạn giả thường không ghi rõ nguồn văn bản các tác phẩm Vũ Trọng
Phụng được sử dụng; tuy vậy có thể lưu ý rằng, ở tập I, chỗ đầu phần in Giông
tố (tr. 166) các soạn giả có ghi chú là sử dụng bản in của nhà xuất bản
Mai Lĩnh 1958 ở Sài Gòn, chỉ ở chương cuối mới tham khảo thêm bản đăng Hà
Nội Báo. Vậy Số đỏ trong bộ tuyển này sử dụng văn bản nào? Nếu
không có thông tin từ các soạn giả, ta sẽ phải đi đến kết luận thông qua những
đối chiếu cụ thể. Như sẽ được làm rõ ở những phần sau, tôi thấy rõ văn bản Số
đỏ trong tập III bộ Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (1987) chính là bản
in Số đỏ năm 1958 ở Sài Gòn của nhà xuất bản Mai Lĩnh.
Tôi gọi văn bản Số đỏ trong tập III bộ Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (1987)
là bản G.
Sau
7 văn bản kể trên, hầu như không có bản nào khác có chứa những nét riêng về mặt
xử lý văn bản để có thể kể ra thêm, mặc dầu từ đó đến nay đã có hàng chục lần Số
đỏ được in lại. Như đã sơ bộ nhận xét, sau khi xuất hiện bộ Tuyển tập
Vũ Trọng Phụng (1987), các bản in tác phẩm Vũ Trọng Phụng đều lấy văn bản
từ đấy.
Một
công trình khảo tả văn bản học nhắm tới những mục tiêu khác, chẳng hạn nêu lên
những sự lý giải khác nhau về tác phẩm này thông qua việc xử lý các bản tái bản Số
đỏ, hoặc khảo sát tình trạng biến đổi các quy phạm và thói quen sử dụng chữ
viết tiếng Việt, có thể sẽ lưu ý khảo sát cả những bản in cũ nhất lẫn những bản
in mới nhất rất gần đây. Tuy vậy, người viết những dòng này nghiêng về việc đi
tìm mức độ khả tín về văn bản trong tương quan với sự sáng tạo của tác giả, bởi
vậy, tôi thấy rằng nên dừng lại ở bản Số đỏ in trong Tuyển tập
Vũ Trọng Phụng, 1987.
Nhân
đây cũng nêu một nhận xét, trong ngành xuất bản ở Việt Nam hầu như chưa có việc
đề xuất những yêu cầu hay quy phạm về mặt văn bản học đối với việc tái bản những
tác phẩm quá khứ. Do vậy, những sai phạm nếu có về văn bản chỉ có thể là đối tượng
khảo sát của người nghiên cứu, chứ chưa trở thành căn cứ để chế tài nhân danh
những luật về sở trí tuệ hay về bảo vệ di sản ngôn ngữ.
Chú
thích:
(1) Khảo
sát trực tiếp từ sưu tập Hà Nội Báo tại Thư viện Quốc gia, Hà Nội, ký
hiệu C 624 M (bản microfilms)
(2) Trần
Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Văn Phú, Tạ Phong Châu (1972) Lược
truyện các tác gia Việt Nam, tập II: Tác gia các sách chữ La-tinh, Hà
Nội: Nxb. Khoa học xã hội, tr. 229-231.
(3) Khảo
sát trên sách Số đỏ, Minh Đức xuất bản, Hà Nội, 1946; bản sách quý
đánh dấu LXN (Lương Xuân Nhị) hiện thuộc sở hữu của nhà báo Yên Ba ở Hà Nội;
nhân đây xin cảm ơn anh Yên Ba.
(4) Khảo
sát trên bản chụp sách Số đỏ, Mai Lĩnh xuất bản, Hà Nội, 1952.
(5) Khảo
sát trên bản chụp sách Số đỏ, Minh Đức xuất bản, Hà Nội, 1957.
(6) Khảo
sát trên bản chụp sách Số đỏ, Mai Lĩnh xuất bản, Sài Gòn, 1958.
(7) Khảo
sát trên sách Số đỏ, nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1961. (bản sách thuộc tủ
sách riêng của nhà báo Yên Ba ở Hà Nội)
(8) Khảo
sát trên sách Tuyển tập Vũ Trọng Phụng, tập III, Hà Nội, Nxb. Văn học,
1987.
MẤY
NHẬN XÉT CHUNG TỪ VIỆC
KHẢO
DỊ CÁC BẢN IN SỐ ĐỎ
Một
ít khái niệm chung về văn bản học, cũng như những khía cạnh của việc khảo sát
tình trạng dị bản ở các tác phẩm ngôn từ cụ thể, tôi đã trình bày trong công
trình Nghiên cứu văn bản tiểu thuyết Giông tố (Hà Nội: Nxb. Tri Thức,
2007), ở đây không nhắc lại.
Dưới đây chỉ tập trung vào việc báo cáo khảo sát tình trạng dị bản ở tiểu thuyết Số
đỏ kể từ bản đăng báo (1936-37) đến lần in thứ 8, trong bộ Tuyển tập
Vũ Trọng Phụng, thực hiện năm 1987.
Trong
vòng 50 năm ấy đã lần lượt xuất hiện 8 bản in, song hiện tại chúng ta chỉ còn
biết rõ 7 văn bản (trừ bản Lê Cường 1938 hiện chưa tìm lại được).
Việc
chưa tìm được bản B (Số đỏ do Lê Cường in 1938) khiến một số câu hỏi vẫn
chưa có lời đáp, nhất là về mức độ tương ứng của nó so với bản A (bản
đăng Hà Nội Báo).
Bản
đăng Hà Nội Báo thiếu hẳn 4 chương cuối truyện, đó là điều đã rõ.
Nhưng đây cũng mới là bản ra mắt lần đầu tác phẩm này. Liệu vào năm 1938, khi
nhà Lê Cường cho in thành sách, tác giả Vũ Trọng Phụng có tham gia sửa in tác
phẩm của mình hay không?
Tôi
cho là có.
Không
chỉ vì tính đến lý lẽ: lúc ấy nhà văn còn sống, không thể không quan tâm đến cuốn
truyện của mình đang được in thành sách. Lý do còn ở chỗ có những dấu hiệu rõ rệt
từ sự so sánh văn bản.
Bản
B hiện không có để trực tiếp đối chiếu và rút ra nhận định, nhưng các bản in muộn
hơn có những khác biệt để cho phép phán đoán.
Các
bản C (Minh Đức, 1946) và E (Minh Đức 1957) ở đầu sách có lời đề tặng của tác
giả, như sau: “Kính tặng Sơn Phong tiên sinh, nhà văn sĩ hoạt kê và trào
phúng tiên phong của báo giới Bắc Kỳ. ‒ V.T.P.”. Đây là sự khác biệt rõ rệt
so với các bản A (Hà Nội Báo), D (Mai Lĩnh, 1952), F (Mai Lĩnh 1958), G (Văn học
1987).
Ta
thấy rõ: ở bản đăng báo (A) chưa có lời đề tặng này, vậy, có thể suy luận rằng:
lời đề tặng này chỉ có thể xuất hiện ở bản in sách lần đầu (Lê Cường 1938); hai
bản Minh Đức (C, E) đã giữ nguyên lời đề tặng này theo nguyên tắc tái bản; bản
Mai Lĩnh bỏ lời đề tặng này (do kiểm duyệt bỏ?); tất nhiên suy luận này chưa thể
được xác nhận hoàn toàn chừng nào chưa tìm thấy bản B (Lê Cường 1938). Cũng
chưa thể biết rõ vì sao các bản của nhà Mai Lĩnh (D, F) không in lời đề tặng
này; tuy vậy, ta thấy ruột sách Số đỏ do Mai Lĩnh in đều không làm mục
lục, không làm chú thích, cho nên việc bỏ qua lời đề tặng cũng nằm trong hướng
lược gọn của lối in sách truyện đại chúng đó chăng?
Trong lời đề tặng này, giữa hai bản Minh Đức có một khác biệt rất nhỏ: bản C
ghi là “Bắc Bộ” trong khi bản E ghi là “Bắc Kỳ”!
Tên
gọi “Bắc Bộ” chỉ có từ sau tháng 9/1945, sinh thời Vũ Trọng Phụng chưa biết đến
tên gọi ấy; vậy nên bản B (Lê Cường 1938) chưa thể có tên gọi ấy. Có thể suy
đoán: chính nhà Minh Đức ở bản C đã sửa thành “Bắc Bộ”, nhưng 11 năm sau ở bản
E họ đã lấy lại tên gọi “Bắc Kỳ”.
Khác biệt “Bắc Kỳ”/ “Bắc Bộ”, như thế, còn hé cho ta thấy, các nhà xuất bản ở
Việt Nam, xưa kia cũng như ngày nay, đều không thật tôn trọng nguyên tắc in
đúng văn bản của tác giả. Họ có thể đưa những sửa chữa (thêm, bớt, thay đổi)
vào văn bản, khi cho là cần thiết hoặc khi bị bắt buộc phải làm như thế.
Về
cách thể hiện trật tự kết cấu cuốn truyện, bản đăng báo (bản A) chia tác phẩm
thành 3 phần: Phần thứ nhất: I – VII; Phần thứ hai: I – VII; Phần thứ ba: I –
VI (tuy mới đăng đến II, còn thiếu III – VI); trong khi đó, các bản in sách về
sau đều không chia ra các “phần”, chỉ dùng chữ số La Mã để đánh dấu các kỳ đăng
báo, cũng tức là các đoạn truyện (mà ta vẫn gọi ước lệ là “chương”, nhưng đó là
cách nói miệng của chúng ta, không phải của tác giả) từ I đến XX. Rõ ràng chỉ
có thể giải thích thay đổi này bởi không ai khác ngoài chính tác giả, thể hiện
trên bản in thành sách, tức là thể hiện việc này ở bản B (Lê Cường 1938).
Ta
cũng từng biết, các tiểu thuyết khác của cùng tác giả Vũ Trọng Phụng như Giông
tố, Quý phái, khi đăng báo lần đầu đều chia thành 3 phần, mỗi phần gồm một
số mục (I, II, III, IV, V, VI...), đến khi in thành sách đều có xu thế xóa bỏ
“phần”, chỉ giữ lại “mục”. Số đỏ không nằm ngoài thông lệ ấy; chỗ
khác biệt của tác phẩm này về kết cấu chương hồi là tác giả đặt những mệnh đề vắn
tắt làm tiêu đề cho các “mục”, vừa giống vừa khác so với cách đặt tên chương hồi
cho các truyện dài ở thời đại văn chương Hán Nôm xưa kia.
Trong
việc đối chiếu cụ thể, ta sẽ thấy, có những đoạn câu vốn có ở bản A song đã
không còn ở các bản C, D, E, F, G; ngược lại, có những đoạn câu không có ở bản
A, song lại có đồng đều ở các bản kể sau ấy. Điều đó cho biết rằng những thay đổi
ấy đều bắt đầu từ bản A sang bản B hoặc ngược lại; tức là tác giả có tham dự việc
sửa in trên bản in lần đầu sách Số đỏ vào năm 1938 của nhà in Lê Cường,
do vậy, ông đã bỏ đi một vài đoạn câu, hoặc đã thêm vào một vài đoạn câu so với
bản đăng Hà Nội Báo.
Đây
là trường hợp hẳn là tác giả bỏ đi một đoạn trong một số câu nhất định:
1/ A:
Chị hàng mía đưa trả hào chín thì hắn khoanh tay sau lưng không nhận.
− Bỏ hộ vào túi quần… Thọc tay vào! Trong ấy có của quý đấy chứ tưởng!
C,
D, E, F, G: Chị hàng mía đưa trả hào chín tiền thừa thì hắn khoanh
tay sau lưng không nhận.
−
Bỏ hộ vào túi quần... Thọc tay vào!
(Chương
I)
2/ A:
đi qua ngõ Sầm Công thì có ba bốn chị nhà thổ chạy ùa ra, vây chung
quanh,
C,
D, E, F: đi qua ngõ Sầm Công thì có ba bốn chị chạy ùa ra, vây chung quanh,
(Chương
I)
Và
đây là trường hợp hẳn là tác giả thêm một vài từ hoặc một đoạn nhỏ, có khi thực
ra là sửa những chỗ sót chữ sót đoạn ở bản đăng báo, trong một số câu khác:
1/ A:
Vừa hát mấy câu Nam Kỳ
C,
D, E, F, G: Vừa hát mấy câu cải lương Nam Kỳ
(Chương
I)
2/ A:
ông là bạn thân của những nhà chính trị đã từng làm thứ trưởng, thượng
thư, văn hào, v.v…, mà báo chí Việt Nam cũng nhắc nhỏm tới.
C,
D, E, F, G: ông là bạn thân của những nhà chính trị đã từng làm thứ
trưởng, thượng thư, văn hào, v.v…, những vị có danh tiếng mà báo chí
Việt Nam cũng nhắc nhỏm tới.
(Chương
I)
3/ A: Có
một miếng vuông thủng hai lỗ tròn ở giữa.
C,
D, E, F, G: Có một miếng gỗ tròn thủng một lỗ và một miếng vuông thủng
hai lỗ tròn ở giữa.
(Chương
IV)
Cũng
có đôi chỗ có vẻ như tác giả đã phải bỏ đi cả một đoạn trên 60 từ, chưa thật rõ
vì lý do gì, như ở đoạn này:
1/ A:
Nhưng, những người chung quanh ông cũng chẳng ai để ý xem ông đương làm
gì. Họ coi ông thuộc vào hạng người vô tích sự, chẳng bao giờ làm nổi việc
gì cả, nhưng thấy ai làm gì là cũng chửi, hạng người bất cứ ở chỗ nào cũng có mặt
để đại biểu cho một sự vô nghĩa lý, hạng người chỉ có một cái thiên chức nói
khoác cũng như nhiều ông Pháp du khác. Ông Joseph Thiết coi như lúc ấy
không có những người khác nữa, cũng như những người khác coi như lúc ấy không
có ông.
D,
F, G: Nhưng, những người chung quanh ông cũng chẳng ai để ý xem ông đương làm
gì. Ðối lại, ông Joseph Thiết coi như lúc ấy không có những người khác nữa,
cũng như những người khác coi như lúc ấy không có ông.
C,
E: Nhưng, những người chung quanh ông cũng chẳng ai để ý xem ông đương làm
gì. Ðối lại, ông Joseph Thiết coi như lúc ấy
không có ông.
(Chương
XI)
Đây
là chỗ nói về nhân vật “nhà chính trị” Joseph Thiết, vốn là đảng viên Thập Tự Lửa
khi còn ở Pháp, lúc này về nước đang dự định lập một đảng bảo hoàng, nhưng
không phải là trung thành với triều Nguyễn Việt Nam mà là trung thành với một
dòng vua Pháp, gắn bó với một xu trào chính trị được gọi là bảo hoàng ở Pháp!
Phải chăng nhà văn đã rút bỏ mấy chục từ này là do tự mình không còn muốn tô đậm
một định kiến (ví dụ, sự lạc lõng, vong bản…) về những người bị coi là có “đầu
óc thủ lĩnh”, “muốn làm chính trị gia” trong cư dân đô thị? Phải chăng nhà văn
bị áp lực của giới du học sinh từ Âu châu về?
Cố
nhiên những ví dụ như trên không thật nhiều. Nó cho thấy tác giả tuy có để lại
dấu vết trên bản in thành sách lần đầu (Lê Cường 1938) song đó hầu hết chỉ tỏ
ra là những sự “nhuận sắc” thông thường, không chứng tỏ ông có thay đổi gì thật
đáng kể đối với văn bản tác phẩm, sau khi đã công bố nó ở Hà Nội Báo.
Ở
đây cũng rất dễ rơi vào sai lầm nếu ta quy kết cho tác giả mọi thay đổi từ bản
đăng báo sang các bản in sách. Ta chưa tìm được bản Lê Cường 1938 (bản B) nên
nhiều điều liên quan đều mới chỉ là phỏng đoán; song, dù có bản Lê Cường trong
tay cũng vẫn cần tính đến những dị bản ngoài ý chí tác giả. Trên thực tế, các lỗi
sơ ý do thợ sắp chữ, do người sửa in… đều tạo ra những dị bản không mong muốn.
Chẳng hạn, hẳn là tác giả không thể chủ ý xóa bớt những chi tiết thuộc loại
thông tin mô tả, thông tin kể chuyện như loại này:
1/ A: Trong
khi ấy Xuân cứ điềm nhiên giữ luôn mấy chức: giáo sư quần vợt, giáo dục một cậu
con cầu tự cho khỏi hoàn cảnh xấu, cố vấn của sư cụ Tăng Phú trong việc chấn
hưng đạo Phật bằng báo Gõ mõ, mặc dầu chỉ hay đập trống chay. Đã có một
căn phòng riêng rất lịch sự trong nhà bà Phó Đoan rồi, thỉnh thoảng nó mới
có thời giờ nhàn rỗi tạt qua lại hiệu may Âu Hoá độ mươi phút.
C,
D, E, F, G: Trong khi ấy Xuân cứ điềm nhiên giữ luôn mấy chức: giáo sư quần vợt,
giáo dục một cậu con cầu tự cho khỏi hoàn cảnh xấu, cố vấn của sư cụ Tăng Phú
trong việc chấn hưng đạo Phật. Chỉ thỉnh thoảng có thời giờ nhàn rỗi
nó mới tạt qua lại hiệu may Âu hóa độ mười phút.
(Chương
XIV)
Ngoài
ra, những so sánh đối chiếu cụ thể cũng phần nào cho thấy, tuy ta chưa tìm lại
được bản in Số đỏ của nhà Lê Cường 1938, song ta đã có thể nhận biết:
các bản in về sau đều chủ yếu căn cứ vào bản Lê Cường 1938 chứ không phải vào bản
đăng Hà Nội Báo 1936-1937.
Điều
ấy thật ra cũng là dễ hiểu. Ta biết, muốn có đủ bản đăng Hà Nội Báo này,
phải có đủ trong tay 16 số báo cũ, một việc không hề đơn giản, dù bạn đang ở Hà
Nội vào năm 1946 hay 1952; vả lại tìm được ngần ấy rồi thì bạn vẫn còn thiếu 4
chương cuối truyện! Trong khi ấy, ở tại Hà Nội vào năm 1946 hay năm 1952 thì hẳn
bạn vẫn chưa gặp khó khăn gì lắm để có được một bản sách Số đỏ do nhà
Lê Cường in năm 1938.
Có
thể nói, sau khi đã tiến hành khảo dị cụ thể tất cả các chương truyện Số đỏ, nhận
xét bao quát của tôi về khác biệt giữa 2 bản Minh Đức với 2 bản Mai Lĩnh, chính
là bản Minh Đức không có dấu vết bị cắt xén bởi kiểm duyệt, còn ở bản Mai Lĩnh
thì dấu vết bị cắt xén bởi kiểm duyệt là rõ rệt.
Những
ai có hiểu biết về lịch sử chế độ kiểm duyệt trong suốt thời thực dân Pháp ở
Đông Dương đều biết, Toàn quyền Đông Dương đã giải tán sở kiểm duyệt từ đầu năm
1935. Động thái này là do tác động của việc chính phủ Bình dân lên cầm quyền ở
Pháp. Tất nhiên việc sở kiểm duyệt bị giải thể không có nghĩa là sách báo chữ
Việt ở xứ này từ thời điểm ấy được xuất bản tự do. Vẫn phải có giấy phép mới được
ra báo, in sách; chỉ có điều không phải nộp bản rập (épreuve) cho sở kiểm duyệt
rồi chờ trả kết quả đem về sửa chữa rồi mới được chạy máy in ra sách ra báo như
trước kia; nhưng sách báo phát hành ra, vẫn có thể bị tịch thu, chủ báo chủ xuất
bản sẽ bị thu hồi giấy phép hoạt động. Chính Lê Tràng Kiều đã nếm quả đắng ngay
những tháng đầu tiên không còn sở kiểm duyệt; ông cùng nhóm bạn mua lại giấy
phép để ra tờ Tân thiếu niên (bộ mới) với chí hướng tân tiến, nhưng mới
ra tới số 3 thì bị thu hồi giấy phép (về sau được biết là do đăng ở số 3 bài
phóng sự Vũ Trọng Phụng viết về một thủ lĩnh Việt Nam Quốc dân đảng là Ký Con
Đoàn Trần Nghiệp); tờ báo chỉ tồn tại được đúng 3 tuần (26.1.1935 – 16.2.1935) ở
ngay tháng đầu năm đầu sau khi sở kiểm duyệt bị giải tán.
Tất
nhiên việc bãi bỏ sở kiểm duyệt dù sao cũng làm cho sách báo được nới lỏng hơn
trước; Số đỏ của Vũ Trọng Phụng dường như cũng ít nhiều được hưởng lợi
ích ấy, khi được đăng tải liên tục, hầu như không có trục trặc. Thế nhưng quá
trình đăng tải Số đỏ cũng đã không được hoàn tất đến nơi đến chốn:
sau kỳ đăng thứ 16, còn 4 kỳ nữa mới hết, thì Hà Nội Báo bị đình chỉ,
giấy phép bị thu hồi; đây có thể là tai họa từ một bài báo gây sự cố nào khác,(1) nhưng Số đỏ cũng đã
phải chịu chung số phận.
Sách Số
đỏ do nhà Lê Cường in lần đầu (1938) được phát hành bình thường (dấu hiệu
bình thường là không thấy dư luận đương thời ghi nhận sự cố gì bất thường cho sự
ra đời bản in này; còn nếu đã bị thu hồi thì sách sẽ không có trong kho sách
thư viện Pasquier, sau này là Thư viện Quốc gia, Hà Nội). Chế độ kiểm duyệt chỉ
đến những năm 1939-40 mới được thiết lập lại. Thế tức là nhà Lê Cường không phải
nộp bản rập thử các trang chữ Số đỏ cho kiểm duyệt trước khi sách in
ra.
Sách Số
đỏ do nhà Minh Đức in năm 1946 ở Hà Nội, dưới chế độ Việt Nam dân chủ cộng
hòa, tất nhiên cũng phải đi qua sở kiểm duyệt. Có vẻ như sách Số đỏ đã
được cấp phép mà không bị kiểm duyệt bỏ đi câu chữ nào. Điều này, muốn chính
xác, cần chờ tìm thấy bản Lê Cường 1938 để đối chiếu làm rõ thêm. Song nếu chỉ
từ kết quả đối chiếu với 16 kỳ đăng Hà Nội Báo thôi thì sự thể có lẽ
đúng là vậy.
Sách Số
đỏ do nhà Mai Lĩnh in năm 1952 ở Hà Nội, trong vùng kiểm soát của chính thể
Quốc gia Việt Nam, xin cấp phép in tại phủ Thủ hiến Bắc Việt (Kiểm duyệt số
15 ngày 3.1.1952). Bản này (bản D) rõ ràng đã bị kiểm duyệt xóa bỏ một số đoạn,
hoặc một số câu chữ nhất định. Những đối chiếu với bản đăng Hà Nội
Báo (bản A) và bản Minh Đức 1946 (bản C) cho thấy điều đó.
Ngay
chương đầu đã có một đoạn ở bản Mai Lĩnh (D, F) dùng những dấu chấm lửng dài để
thay thế cho đoạn văn trên 50 từ vốn có ở bản A và vẫn còn trên hai bản Minh Đức
(C, E):
1/ A,
C, E: Là vì Xuân Tóc Đỏ cứ sấn sổ đưa tay ra toan cướp giật lấy ái tình mà
chị hàng mía thì cứ giữ chặt lấy ống quần, một thứ quần bằng lụa nội hóa mà từ
khi có cuộc hội chợ tỉnh Đơ, nhà nước đã đem chế độ bảo hộ mậu dịch ra che chở
cho khỏi bị sức xâm lấn của ngoại quốc.
‒
Bỏ ra nào! Cứ ỡm ờ mãi!
D,
F, G: Là vì Xuân Tóc Đỏ cứ sấn sổ đưa tay ra toan cướp giật ái tình…
‒
… Cứ ỡm ờ mãi!
(Chương
I)
Rồi
ở chương III, bản Mai Lĩnh cho thấy, các viên chức kiểm duyệt ở phủ Thủ hiến Bắc
Việt (1952) xóa đi trên 20 từ có thể là đã động đến giới sư tăng nhà Phật:
2/ A:
Lúc về nhà thì ông Phán ban con cho bà chứ chẳng có sư mô quái nào.
Từ
đấy bà đâm oán ghét các các nhà sư, cho rằng đã là sư mà lại không hổ mang
thì không thể tha thứ được!
Đến lần
này.
C, E: Lúc về nhà thì ông Phán ban con cho bà chứ chẳng có sư mô
quái nào.
Từ
đấy bà đâm oán ghét các các nhà sư, cho rằng đã là sư mà lại không hổ mang
thì chỉ là đồ giả dối.
Đến lần
này.
D, F: Lúc về nhà thì ông Phán ban con cho bà chứ chẳng có sư
mô quái nào...
Đến
lần này.
(Chương
III)
Các
viên chức kiểm duyệt mẫn cán ấy cũng tỏ ra không chịu đựng nổi giọng văn mỉa
mai của Vũ Trọng Phụng nên đã xóa đi hơn một chục từ ở nửa sau một câu mô tả
ông Văn Minh:
3/ A:
lúc ấy trông ông thật xứng đáng là một bậc mày râu son phấn, rất cần thiết
cho sự tô điểm cho cái nòi giống dã man ta…
C,
E: lúc ấy trông ông thật xứng đáng là một bậc mày râu son phấn, rất cần
thiết cho sự tô điểm cái nòi giống dã man ta…
D, F, G: lúc ấy trông ông thật xứng đáng là một bậc son
phấn mày râu,…
(Chương
XII)
Nói chung, các viên chức kiểm duyệt đều tỏ
ra quá nhạy cảm với các từ như “hiếp dâm”, “mất trinh”, thấy ở đâu có các từ ấy
thì sẵn sàng xóa đi, cho nên ở bản Mai Lĩnh đôi khi người đọc thấy sau những từ
“hiếp” có để chấm lửng (…) dù đang ở giữa câu. Nếu câu viết tỏ ra khó cắt bỏ một
từ lẻ ấy thì họ sẵn sàng cắt luôn một câu trong cả đoạn văn, ví dụ:
4/ A,
C, E: Nhưng cụ Hồng gạt phắt đi mà rằng:
− Không!
Không cần đến hạng người đa dâm đến bực chực hiếp bệnh nhân. Ta chỉ cần một
ông thầy thuốc làm bộ, hay cho đơn thuốc mạnh, hoặc là hay khệnh khạng, là đủ
giết nổi cụ via nhà ta rồi.
D, F, G: Nhưng cụ Hồng gạt phắt đi mà rằng:
−… Ta chỉ cần một ông thầy thuốc làm bộ, hay cho đơn thuốc mạnh, hoặc là
hay khệnh khạng, là đủ giết nổi cụ via nhà ta rồi.
(Chương
VI)
5/ A,
C, E: Thôi đi! Ðể đến hôm tân hôn, thấy tôi mất trinh, anh lại cắt
tai lợn ấy à?
D, F, G: Thôi đi! Ðể đến hôm tân hôn, anh lại cắt tai lợn ấy à?
(Chương
X)
Và
tất nhiên, đã theo lô-gich đạo đức như thế để xóa những câu chữ mô tả cảnh Xuân
Tóc Đỏ toan “cướp giật ái tình” cô hàng mía ở đầu truyện, thì những nhà kiểm
duyệt ấy cũng sẵn sàng xóa nốt những câu tương tự mô tả Xuân với Tuyết ở giữa
truyện:
6/ C,
E: Bây giờ thì việc gì nữa cũng chỉ làm lợi cho đời một người con gái đứng
đắn và tử tế, là em mà thôi! Anh biết cho rằng em lãng mạn lắm.
Xuân
lại cứ ôm lấy cái xác thịt lãng mạn ấy để mơn trớn một cách rất tả chân, hoặc
là hôn hít một cách rất cổ điển. Nhưng chợt Tuyết đuổi Xuân ra, khẽ nói:
D,
F, G: Bây giờ thì việc gì nữa cũng chỉ làm lợi cho đời một người con gái đứng đắn
và tử tế, là em mà thôi! Anh biết cho rằng em lãng mạn lắm….
Chợt Tuyết đuổi Xuân ra, khẽ nói:
(Chương
XVII)
7/ C,
E: Hai người dìu nhau ra ngồi ở ghế đi-văng. Xuân Tóc Đỏ cúi xuống
ôm lấy Tuyết mà hôn hít một cách bình dân cả trăm phần trăm. Còn Tuyết thì
nhắm mắt lại cho có vẻ một thiếu nữ mơ mộng
D,
F, G: Hai người dìu nhau ra ngồi ở ghế đi-văng…. Tuyết thì nhắm mắt lại
cho có vẻ một thiếu nữ mơ mộng
Những khác biệt do kiểm duyệt bỏ mất một số câu chữ ở bản Mai Lĩnh (so với bản
đăng Hà Nội Báo và bản Minh Đức) là loại dị bản do cố ý mà có.
Bên
cạnh đó, có thể nhận thấy không hiếm những dị bản do sơ ý của những người tham
gia các công đoạn của quá trình làm sách, nhất là lỗi để sai chữ sót từ sót đoạn
sót câu. Những lỗi kiểu này có ở cả hai loại bản Minh Đức và Mai Lĩnh.
Bản Minh Đức (C, E) có những chỗ bỏ mất những đoạn vốn có ở bản đăng Hà Nội
Báo (bản A) mà bản Mai Lĩnh (D, F) còn giữ được. Một số ví dụ:
1/ A,
D, F: Bao nhiêu con gái thì, theo lời thánh dạy, cũng chẳng đáng kể. Còn
con trai mà có một cậu thôi, theo lời thánh dạy, thế cũng là hiếm.
‒ À, ra có một con giai thôi thì cũng là hiếm.
C, E: Bao nhiêu con gái thì, theo lời thánh dạy, thế
cũng là hiếm.
‒ À, ra có một con giai thôi thì cũng là hiếm.
(Chương
III)
2/ A,
D, F: Trên cái sập gụ khảm mà giữa là cái khay đèn, cụ nằm một bên, thằng
xe nằm một bên, cụ bà thì ngồi phía dưới chân.
C,
E: Trên cái sập gụ khảm mà giữa là cái khay đèn, cụ nằm một bên, cụ bà thì ngồi
phía dưới chân.
(Chương
VII)
3/ A: Sau
khi cụ cố tổ đã bình phục hẳn, muốn trả ơn thầy, cụ bà đã mời Xuân
Tóc Ðỏ dự một bữa tiệc rất trọng thể linh đình. Việc ấy mở đầu cho một kỷ
nguyên mới để ra thành một thói quen.
D,
F, G: Sau khi cụ cố tổ đã bình phục hẳn, muốn trả ơn thầy, cụ bà đã mời
Xuân Tóc Ðỏ dự một bữa tiệc rất trọng thể linh đình. Việc ấy mở đầu cho một kỷ
nguyên mới để thành ramột thói quen.
C,
E: Sau khi cụ cố tổ đã mời Xuân Tóc Ðỏ dự một bữa tiệc rất trọng thể linh
đình. Việc ấy mở đầu cho một kỷ nguyên mới để thành ra một thói quen.
(Chương
VIII)
4/ A,
D, F: Ðàn bà tân thời mà đứng đắn thì thôi không nói. Ðàn bà tân thời mà
đa tình, cái đó càng lợi cho bạn nam nhi vẫn coi phụ nữ là đồ chơi...
C,
E: Ðàn bà tân thời mà đa tình, cái đó càng lợi cho bạn nam nhi vẫn coi phụ nữ
là đồ chơi...
(Chương
XII)
5/ C,
E: Sau khi nhận mặt thật kỹ người ấy, nó điềm nhiên quay về uống rượu với
ông thầy số vừa tán:
D,
F, G: Sau khi nhận mặt thật kỹ người ấy, nó điềm nhiên quay về uống rượu với ông
thầy số. Hầu sáng lúc ấy đã lần lượt bưng vào những món cao lương mỹ vị. Vừa ăn
uống nhồm nhoàm, ông thầy số vừa tán:
(Chương
XVIII)
6/ C:
Xe vua sắp đến. Người ta đã thấy cả ông đau đớn vì tình lẫn du côn bất hợp thời
trang đứng ở hai bên mình, chỉ cách có vài người, sửa soạn sẵn sàng để giở tay
trong cái việc thảm khốc.
D,
F, G: Xe vua sắp đến. Người ta đã thấy tiếng móng ngựa của những lính kỵ
mã khua vang lên. Xuân liếc nhìn sang hai bên cạnh thì đã thấy cả ông đau
đớn vì tình lẫn ông du côn bất hợp thời trang đứng ở hai bên mình, chỉ cách có
vài người, sửa soạn sẵn sàng để giở tay trong cái việc thảm khốc.
E:
Xe vua sắp đến. Người ta đã thấy cả ông đau đớn vì tình lẫn tay du
côn bất hợp thời trang đứng ở hai bên mình Xuân Tóc Đỏ, chỉ cách có vài
người, sửa soạn sẵn sàng để giở tay trong cái việc thảm khốc.
(Chương
XIX)
Bản
Mai Lĩnh (D, F), ngoài những chỗ bị cắt bỏ bởi kiểm duyệt, như đã thấy ở trên,
cũng có những lỗi do sơ ý của sắp chữ hoặc sửa in như vậy. Đôi khi có những chỗ
dị bản xuất hiện ở bản Mai Lĩnh (so với bản Minh Đức) như là cách sửa văn để
tránh né kiểm duyệt, ví dụ:
1/ A,
C, E: Cái anh chàng đã toan hiếp dâm một nữ bệnh nhân ấy à?
D, F, G: Cái anh chàng đã toan làm hại đời một nữ bệnh
nhân ấy à?
(chương
VI)
Thành
thử, các chỗ dị bản vừa có vẻ nảy sinh ngẫu nhiên, do sơ ý của thợ sắp chữ hay
người sửa in, đôi khi lại vừa như một ứng xử nào đó của người làm xuất bản
trong tình thế hoạt động cụ thể của họ.
Sự đối chiếu so sánh cụ thể cho thấy, bản Minh Đức 1957 (bản E) tuy in theo bản
Minh Đức 1946 (bản C), song đã không thể lặp lại chuẩn xác mọi câu chữ có ở bản
in trước.
Đây
là hiện tượng rất thông thường ở lối in typo kiểu cũ, các khuôn chữ thuộc một
cuốn sách đã in xong, thường được phá khuôn, tháo các con chữ rời trả về các
kho chữ để dùng sắp chữ lên khuôn cho những cuốn sách khác. Chỉ đôi ba trường hợp
riêng biệt, các bộ khuôn in một cuốn sách mới được giữ lại cho đến lúc in thêm
một lần nữa.
Hai
lần in Số đỏ của nhà Minh Đức cách nhau 11 năm, nhưng là qua một cuộc
chiến tranh, với khá nhiều thay đổi, cả về các điều kiện công nghệ lẫn xã hội.
Thể
thức xin giấy phép tái bản ở miền Bắc năm 1957 có lẽ không khác thủ tục này những
năm 1970 về sau (mà người đang viết những dòng này được trải nghiệm với tư cách
một người làm việc khá nhiều năm trong nghề xuất bản), theo đó, nhà xuất bản chỉ
cần làm tóm tắt nội dung tác phẩm trong đơn xin phép, không cần nộp bản thảo,
cũng không cần nộp bản rập trước khi in; điều nhất thiết phải làm nữa là sau
khi in đóng xén sách xong phải nộp lưu chiểu một số bản sách theo quy định, đợi
một thời gian (chừng 1 tuần lễ) không thấy cơ quan quản lý nhắc nhở gì mới được
chính thức phát hành.
Sự
so sánh trên văn bản cho thấy, bản Minh Đức 1957 đã được sắp chữ từ bản Minh Đức
1946, tuy ngoài văn bản Số đỏ, bản in lần hai còn có thêm một số
trang tư liệu, ảnh bút tích và chân dung tác giả, tư liệu về việc nhà xuất bản
cùng một số nhà văn quyên góp xây lại ngôi mộ tác giả Số đỏ (khi đó vẫn
đặt tại nghĩa trang Quảng Thiện). Những khác biệt giữa bản Minh Đức 1957 (bản
E) so với bản Minh Đức 1946 (bản C) thường chỉ là một từ trong một câu, đại loại
thế này:
1/ A:
Tôi đã bắt được quả tang anh dùng những văn chương bóng bẩy ra mê hoặc vợ tôi,
định làm cho vợ tôi trụy lạc, định làm tôi tan nát gia đình đấy
nhé!
C,
D, F, G: Tôi đã bắt được quả tang anh dùng những văn chương bóng bẩy ra mê hoặc
vợ tôi, định làm cho vợ tôi trụy lạc, định làm tan nát gia đình nhà tôi đấy
nhé!
E:
Tôi đã bắt được quả tang anh dùng những văn chương bóng bẩy ra mê hoặc vợ tôi,
định làm cho vợ tôi trụy lạc, định làm tan nát gia đình tôi đấy nhé!
(Chương
V)
Cũng
có khi hai bản chênh nhau tới 3 - 4 từ trong một câu, như chỗ này:
2/ A,
C, D, F, G: Rồi nhà này sẽ biến thành một nơi tựa như một câu lạc bộ, một
chỗ họp mặt, một chỗ hẹn hò của những kẻ thượng lưu trí thức trong nước để
làm việc cho xã hội một ngày một tốt đẹp văn minh thêm lên!
E:
Rồi nhà này sẽ biến thành một nơi tựa như một câu lạc bộ, một chỗ hẹn hò của những
kẻ thượng lưu trí thức trong nước để làm việc cho xã hội một ngày một tốt đẹp
văn minh thêm lên!
(Chương
VI)
hoặc:
3/ A:
Cụ Phế ngẫu nhiên có hai con mắt to như ốc nhồi
C, D, F, G: Cụ Phế ngẫu nhiên có hai mắt to như ốc nhồi
E: Cụ Phế ngẫu nhiên có đôi mắt to như đôi mắt ốc
nhồi
(Chương VII)
Tất
nhiên không khỏi có lúc bản Minh Đức 1957 bị sót cả một đoạn vài chục từ, do vấp
phải một loại lỗi rất dễ mắc (hầu hết những người tham gia các công đoạn lên
khuôn in kiểu cũ, − đánh máy, sắp chữ, sửa in − và những người đánh máy lên
trang trên máy điện toán ngày nay, đều khó tránh khỏi loại lỗi này); ấy là khi
trong một đoạn văn tương đối ngắn có một vài từ trùng lặp, thì những đoạn nằm ở
khoảng giữa hai từ trùng lặp đó sẽ rất dễ có nguy cơ bị bỏ sót. Chẳng hạn:
4/ A,
C, D, F: Một cái lặng im của nó cũng có giá trị của một sự khinh bỉ đáng sợ.
Một cái gật đầu ngây ngô của nó cũng có giá trị của một cái đặc ân.
E: Một cái lặng im của nó cũng có giá trị của cái đặc ân.
(Chương
VIII)
Nhìn chung, theo nhận xét của tôi, những chênh lệch giữa hai bản Minh Đức in
1946 (bản C) và in 1957 (bản E) là không nhiều, và có vẻ như hầu hết đều là các
loại dị bản do ngẫu nhiên, sơ ý mà có.
Như
đã biết, tuy đều do nhà Mai Lĩnh tổ chức in ấn xuất bản ra, song bản Số đỏ của
Mai Lĩnh năm 1952 (bản D) được thực hiện ở Hà Nội, còn bản Số đỏ của
Mai Lĩnh năm 1958 lại được thực hiện ở Sài Gòn. Việc so sánh văn bản cho thấy,
nhà Mai Lĩnh ở Sài Gòn năm 1958 đã sử dụng bản in 1952 của mình ở Hà Nội (chứ
không phải một bản in Số đỏ nào khác) để xin cấp phép in sách và sau
đó, làm bản thảo đưa nhà in sắp chữ. Tức là bản in này thừa kế một cách đương
nhiên những kiểm duyệt ở Hà Nội hồi 1952, cùng với những sai sót ngẫu nhiên
trong lần in bản ấy. Ngoài những dị bản nảy sinh thêm do những ngẫu nhiên sơ ý,
liệu ở bản Mai Lĩnh 1958 (bản F) có những dị bản do chủ ý của con người trong
những điều kiện xã hội chính trị cụ thể ở Sài Gòn khi ấy?
Trước hết, bản in Số đỏ năm 1958 của Mai Lĩnh ở Sài Gòn (bản F) làm nảy
sinh thêm loại dị bản do sơ ý ngẫu nhiên, chẳng hạn:
1/ A,
C, D, E: Tôi đã dặn nó thỉnh thoảng phải bảo trẻ mỏ ra ném sấu ngoài
phố,
F, G: Tôi đã dặn nó thỉnh thoảng phải bảo trẻ nhỏ ra
ném sấu ngoài phố,
2/ A,
C, D, E: Cái áo là bằng lụa mỡ gà, trước ngực có dấu ấn son đỏ to tướng,
sau lưng cũng thế.
F, G: Cái áo lá bằng lụa mỡ gà, trước ngực có dấu ấn
son đỏ to tướng, sau lưng cũng thế.
(Chương
III)
3/ A,
C, D, E: Mấy cô gái mới đã có cái ngực như tôi được!
F, G: Mấy cô gái mới chả có cái ngực như tôi
được!
(Chương
VIII)
4/ A,
C, E: Nếu ngài đã lọc lõi thạo đời như thế thì nên giúp bần tăng một
tay...
D: Nếu ngài đã học lõi thạo đời như thế thì nên giúp bần
tăng một tay...
F, G: Nếu ngài đã học hỏi thạo đời như thế thì nên giúp bần tăng một
tay...
(Chương
XIII)
5/ A,
C, D, E: một người thuộc hạng không chịu nhận mình là đôi co mách lẻo mỗi
khi đã làm một việc đôi co mách lẻo.
F, G: một người thuộc hạng không chịu nhận mình là đôi co mách lẻo.
(Chương
XIV)
6/ C,
D, E: và nửa giờ sau, cả hai đã ngồi trong một quầy ở khách sạn Thiều Châu
phố Hàng Buồm.
F,
G: và nửa giờ sau, cả hai đã ngồi trong một quầy ở khách sạn Triều Châu
phố Hàng Buồm.
(Chương
XVIII)
Những đối chiếu so sánh cụ thể cho thấy là có những chỗ dường như là dị bản do
chủ ý con người, rất có thể là do yêu cầu của những người cấp giấy phép, nói gọn
lại là do kiểm duyệt.
Chẳng hạn:
1/ A,
D: Ngoài ra cụ lại còn kính thờ con cụ ở chỗ con cụ là một nhà cách mệnh
trong vòng pháp luật, vì làm như Văn Minh đương làm, chính là cải cách xã
hội một cách tha thiết mà có công hiệu, mà lại không sợ tù tội hay mất đầu như
những đảng viên cộng sản hay Việt Nam Quốc dân đảng, những người ngu dại
mưu hạnh phúc cho đồng bào mà chẳng làm cho đồng bào được biết cái gì là nhảy đầm,
cái gì là y phục tối tân.
C:
Ngoài ra cụ lại còn kính thờ con cụ là một nhà cách mệnh trong vòng pháp luật, vì
làm như Văn Minh đương làm, chính là cải cách xã hội một cách tha thiết mà có
công hiệu, mà lại không sợ tù tội hay mất đầu như những đảng viên cộng sản
hay Việt Nam Quốc dân đảng, những người ngu dại mưu hạnh phúc cho đồng bào mà
chẳng làm cho đồng bào được biết cái gì là nhảy đầm, cái gì là y phục tối
tân.
F,
G: Ngoài ra cụ lại còn kính thờ con cụ ở chỗ con cụ là một nhà cách mệnh
trong vòng pháp luật, vì làm như Văn Minh đương làm, chính là cải cách xã
hội một cách tha thiết mà có công hiệu, mà lại không sợ tù tội hay mất đầu như
những nhà cách mạng, những người ngu dại mưu hạnh phúc cho đồng bào mà chẳng
làm cho đồng bào được biết cái gì là nhảy đầm, cái gì là y phục tối tân.
(chương
VI)
Ở
đoạn này, bản Mai Lĩnh 1952 (bản D) vẫn giữ đúng như bản đăng Hà Nội Báo 1936-37
(bản A), nhưng bản Mai Lĩnh 1958 (bản F) đã sửa “những đảng viên cộng sản hay
Việt Nam Quốc dân đảng” ở các bản trên thành “những nhà cách mạng”. Đây khá rõ
là cách né kiểm duyệt bằng sửa chữa, tức là tạo ra thêm dị bản.
2/ C,
D, E: Có tờ sốt sắng viết: Hai vua tại một nước! Lại có tờ báo
của vô sản hô hào: Anh em chị em quần chúng lao khổ! Phải ăn mặc thật diện
vào để chống nạn phát-xít! Phải tỏ rằng mình văn minh tiến bộ! Đả đảo chiến
tranh! Vạn tuế hòa bình! Và có điều đáng để ý là báo nào cũng gọi việc
vua Xiêm sang đây là một chỗ “rẽ ngoặt”.
F,
G: Có tờ sốt sắng viết: Hai vua tại một nước! Và có điều đáng để
ý là báo nào cũng gọi việc vua Xiêm sang đây là một chỗ “rẽ ngoặt”.
(chương
XIX)
Ở
đoạn này, bản Mai Lĩnh 1952 (bản D) không khác so với cả hai bản Minh
Đức (C, E), nhưng bản Mai Lĩnh 1958 rõ ràng đã bỏ đi 43 từ so với các
bản kể trên. Không khó để hiểu rằng ty kiểm duyệt của chính thể Quốc gia không
muốn thấy những nội dung như thế (nói đến các ý niệm “vô sản”, “quần chúng lao
khổ”) hiện diện trong sách báo dưới thời mình, dù là được nói tới trong văn
phong hài hước mỉa mai chứ không phải văn phong chính luận.
Như
đã nêu trên, bản in Số đỏ trong bộ Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (3
tập, Nxb. Văn học, 1987-1988) không ghi rõ là sử dụng bản in nào trong số các bản
in Số đỏ từng được xuất bản trong vòng 50 năm trước.
Những
so sánh đối chiếu cụ thể cho tôi thấy, bản này chủ yếu sử dụng bản Số đỏ của
nhà xuất bản Mai Lĩnh 1958. Điều này cũng có nghĩa là bản này đã kế thừa những
tiến triển văn bản Số đỏ ở nhánh Mai Lĩnh kể trên, tính đến năm 1958,
tức là cũng đã vô tình gánh chịu những cắt bỏ của kiểm duyệt đối với bản
in Số đỏ của nhà Mai Lĩnh năm 1952 ở Hà Nội và năm 1958 ở Sài Gòn.
Bên cạnh đó, bản in này của nhà xuất bản Văn học đương nhiên cũng được kế thừa
những gì khả thủ về giữ gìn văn bản Số đỏ trong chừng mực mà nhà Mai
Lĩnh đã làm được; đồng thời cũng gánh chịu những dị bản mà các lần in của Mai
Lĩnh gây ra, cả hữu ý lẫn vô tình.
Thật
ra, nếu khi đó những người biên soạn và nhà xuất bản lưu ý tham khảo cả hai bản
Minh Đức nữa, thì có thể sẽ đưa tới người đọc một văn bản khả quan hơn. Song,
thứ nhất, cho đến năm 1986, nhãn “Minh Đức” còn gói theo những định kiến tệ hại
(kể từ sau việc đàn áp Nhân văn – Giai phẩm, 1958), thứ hai, cũng thời gian ấy,
trong cả giới xuất bản lẫn giới nghiên cứu hầu như chưa ai nghĩ rằng các tác phẩm
văn chương quốc ngữ lại cũng có các vấn đề về văn bản!
Bộ
tuyển này, Tuyển tập Vũ Trọng Phụng, có các nhà nghiên cứu đứng tên soạn
giả (hai soạn giả Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Hữu Tá khi đó đều là giảng viên khoa
ngữ văn Đại học sư phạm Hà Nội). Tuy vậy, về mặt xử lý văn bản, các soạn giả
thường chỉ dừng lại ở việc cung cấp tài liệu. Còn lại, các công việc như tổ chức
đánh máy, biên tập, đọc duyệt, v.v… đều thuộc về nhà xuất bản, khi đó có tư
cách một cơ quan nhà nước. Cần nói rõ điều này để thấy, đối với các dị bản mới
nảy sinh ở bản này, vai trò của các soạn giả là khá ít, trong khi đó, nhà xuất
bản, với tư cách cơ quan nhà nước về văn hóa, có quyền giữ nguyên hoặc thay đổi
từng phần đối với nội dung và lời văn các tác phẩm, nhất là các tác phẩm ra đời
trước khi có nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Điều
thấy rõ sau những đối chiếu chi tiết là, bản Văn học 1987 (bản G) đã tạo thêm
nhiều dị bản hơn hẳn mỗi bản in trước đây.
Thông
thường là sự sửa chữa.
Bản
Văn học 1987 (bản G) thường sửa một từ này thành một từ khác, không xa lắm về
nghĩa, như “phân vua” thành “phân bua”, “từ đây” thành “từ nay”, “hôm ấy” thành
“hôm đó”, “ý vị” thành “ý nhị”, “nó cố trí” thành “nó cố nghĩ”, “trong cuộc cải
cách xã hội” thành “trong việc cải cách xã hội”, v.v…
Chẳng
hạn:
1/ A,
C, D, E, F: Xuân Tóc Đỏ cúi đầu rất thấp
G: Xuân Tóc Đỏ cúi xuống rất thấp
(Chương
V)
2/ D,
F: Khi người ta nói phụ nữ... là nói vợ con chị em người khác, chứ không phải vợ
con chị em người ta!
G:
Khi người ta nói phụ nữ... là nói vợ con chị em người khác, chứ không phải vợ
con chị em của ta!
(Chương
V)
3/ A: Là
vì sự tình cờ đã đẩy sổ Xuân Tóc Ðỏ, đã hai tuần lễ, vào cái gia đình
trưởng giả của Văn Minh.
C,
D, E, F: Là vì sự tình cờ đã đẩy xô Xuân Tóc Ðỏ, đã hai tuần lễ, vào
cái gia đình trưởng giả của Văn Minh.
G: Là
vì sự tình cờ đã xô đẩy Xuân Tóc Ðỏ, đã hai tuần lễ, vào cái gia đình
trưởng giả của Văn Minh.
(Chương
VIII)
Hoặc
thêm một vài từ:
1/ A,
C, E: Trước khi có thể giúp được chúng tôi về thể thao, anh hãy cố
giúp xã hội trong cuộc Âu hóa.
D,
F: Trước khi có thể giúp chúng tôi về thể thao, anh hãy cố giúp xã hội
trong cuộc Âu hóa.
G:
Trước khi có thể giúp chúng tôi về thể thao, anh hãy cố sức giúp
xã hội trong cuộc Âu hóa.
(Chương
V)
2/ A,
C, D, E, F: Một tiếng chuông dài kêu ran lên ngoài dàn lý làm cho bà chủ ngồi
nhỏm dậy.
G: Một tiếng chuông dài kêu ran lên ngoài dàn thiên lý
làm cho bà chủ ngồi nhỏm dậy.
3/ A:
Cụ lại còn nghiện thuốc phiện nữa, điều ấy mới thật tỏ cụ là người Việt Nam
hoàn toàn.
C,
D, E, F: Cụ lại còn nghiện thuốc phiện nữa, điều ấy mới thật tỏ cụ hoàn toàn là
người Việt Nam.
G:
Cụ lại còn nghiện thuốc phiện nữa, điều ấy mới thật tỏ ra cụ hoàn
toàn là người Việt Nam.
(Chương
VI)
4/ A,
D, F: Vả lại nếu ngộ nhỡ tôi lại chết trước cụ tôi thì có phải nhà sẽ mắc
tiếng vô phúc không?
C, E: Vả lại nếu ngộ nhỡ tôi lại chết trước cụ tôi thì có phải nhà
mắc tiếng vô phúc không?
G: Vả lại nếu ngộ nhỡ tôi lại chết trước cụ tôi thì có phải nhà sẽ mắc phải tiếng
vô phúc không?
5/ A:
Xin lấy danh dự ra mà hại em!
C, D, E, F: Xin lấy danh dự ra mà hại một
đời em!
G: Xin lấy danh dự ra mà làm hại một đời em!
(Chương
VIII)
6/ A,
C, D, E, F: Theo như tin tức tôi mới nhận được thì hình như chúng ngủ với nhau
rồi.
G: Theo như tin tức tôi mới nhận được thì hình như chúng nó ngủ
với nhau rồi.
(Chương
XII)
Hoặc
bớt một vài từ:
1/ A:
− Đúng đấy! Đúng đấy!
− Lúc thiếu thời
thì cậu vất vả lắm.
C, D, E, F: − Đúng đấy! Đúng!
− Lúc thiếu thời thì cậu vất vả lắm.
G: − Đúng đấy! Đúng!
− Lúc thiếu thời thì cậu vất lắm.
(Chương
I)
2/ A,
C, E: Sau khi xin cái cơn thịnh nộ của một me tây chân chính nguôi đi
rồi, Xuân cầm một cái vợt chạy ngay ra phía sân bên kia.
D,
F: Sau khi xin cái cơn thịnh nộ của một me tây chân chính nguôi đi rồi,
Xuân cầm cái vợt chạy ngay ra phía sân bên kia.
G:
Sau khi cái cơn thịnh nộ của một me tây chân chính nguôi đi rồi, Xuân cầm cái vợt
chạy ra phía sân bên kia.
(Chương
I)
3/ A,
C, D, E, F: Rồi còn con vợ mày nữa đấy!
G: Rồi còn vợ mày nữa đấy!
(Chương
XII)
4/ A,
C, D, E, F: vì bà sợ nói ra cho có người biết thì lại có điều gì “quở quang”
chăng?!... Ấy thế mới khổ! Ấy thế mới rầy rà!
G:
vì bà sợ nói ra cho có người biết thì lại có điều gì “quở quang” chăng?!... Ấy
thế mới rầy rà!
(chương
XII)
5/ A,
D, F: Tuy nó cũng hơi nóng ruột, song được dịp hưởng bằng mắt một
bữa tiệc rất hiếm, nghĩa là ngắm nghía những bộ phận kín đáo của phái đẹp mà chỉ
có cuộc Âu hoá là dám phô ra một cách đảm đang bằng những cái ma-nơ-canh.
C,
E: Tuy nó cũng hơi nóng ruột, song được dịp hưởng bằng một bữa tiệc rất hiếm,
nghĩa là ngắm nghía những bộ phận kín đáo của phái đẹp mà chỉ có cuộc Âu hóa là
dám phô ra một cách đảm đang bằng những cái ma-nơ-canh.
G:
Tuy nó cũng hơi nóng ruột, song được dịp hưởng bằng mắt một bữa tiệc
rất hiếm, nghĩa là ngắm nghía những bộ phận kín đáo của phái đẹp mà chỉ có cuộc
Âu hoá là dám phô ra.
(Chương
IV)
Những
sửa đổi như vậy thường bao giờ cũng làm thay đổi nghĩa của từ của câu, hơn thế,
việc sửa đổi ở đây dường như có tham vọng phiên giải, nắn lại các ý, các thông
tin trong câu văn của tác giả:
1/ A,
C, D, E, F: Hai hào vé đi tuần trong Hý viện, rồi lại hai bát phở tái
năm.
G: Hai hào vé đi tuần trong Hý
viện, rồi lại bát phở tái năm.
(Chương
I)
2/ A:
một tay cầm một cái dù Nhật tý hon với một cái ví da khổng
lồ,
C, D, E, F: một tay cầm một cái dù Nhật tý
hon và một cái ví da khổng lồ,
G: một tay cầm một cái dù thật tý hon và một
cái ví da khổng lồ,
(Chương
I)
3/ A,
C, D, E, F: Bán lạc, trèo sấu, câu cá, làm lính cờ chạy hiệu, những nghiệp
ấy chỉ dắt đến một chỗ tắc tị.
G:
Bán lạc, trèo sấu, câu cá, làm lính chạy cờ hiệu, những nghiệp ấy chỉ dắt
đến một chỗ tắc tị.
(Chương
I)
4/ A, C, D, E, F: bà bắt ông phán phải rập tắt cả
G: bà bắt ông phán phải rập tất cả
(Chương
I)
5/ A,
D, F: À, rồi biết! Cháu tôi cần dùng đến anh. Anh cứ về nhà rồi
sẽ hiểu.
C,
E: À, rồi biết! Cháu tôi cần dùng đến anh. Anh cứ về rồi sẽ hiểu.
G: À, rồi biết! Chúng tôi cần dùng đến anh. Anh cứ về nhà rồi
sẽ hiểu.
(Chương
II)
6/ A,
C, E: Thật là một hiểm tượng cho cậu bé thuộc hạng con Giời con Phật như
thế.
D, F: Thật là một hiểm tượng cho cậu bé thuộc hạng con Giời con
Phật…
G: Thật là một hiện tượng cho cậu bé thuộc hạng con Giời con Phật...
(Chương
XII)
7/ A:
Sau khi an ủi bà dì bằng mọi lẽ sinh lý học và cơ thể rất bơ vơ, ông
Văn Minh bèn ngồi trầm ngâm nghĩ cách tống Xuân Tóc Ðỏ cho bà dì cho xong cái của
nợ ấy.
C,
D, E, F: Sau khi an ủi bà dì bằng mọi lẽ sinh lý học rất bơ vơ, ông Văn Minh
bèn ngồi trầm ngâm nghĩ cách tống Xuân Tóc Ðỏ cho bà dì cho xong cái của nợ ấy.
G:
Sau khi an ủi bà dì bằng mọi lẽ sinh lý học rất vu vơ, ông Văn Minh
bèn ngồi trầm ngâm nghĩ cách tống Xuân Tóc Ðỏ cho bà dì cho xong cái của nợ ấy.
(Chương
XII)
8/ A,
C, E: Vào những lúc liều lĩnh như lúc ấy, người ta có thể đùa đả mà
đánh nhau đến chết người thật, vì bà TYPN càng sợ hãi thì Xuân lại càng làm
già.
D,
F: Vào những lúc liều lĩnh như lúc ấy, người ta có thể đùa dả mà
đánh nhau đến chết người thật, vì bà TYPN càng sợ hãi thì Xuân lại càng làm
già.
G:
Vào những lúc liều lĩnh như lúc ấy, người ta có thể đùa giả mà
đánh nhau đến chết người thật, vì bà TYPN càng sợ hãi
thì Xuân lại càng làm già.
(Chương
XIV)
Không
hiếm khi bản Văn học 1987 bỏ hẳn một vài câu, gồm vài chục từ, có khi dăm sáu
chục từ, vốn dĩ vẫn có ở các bản trước:
1/ A, C,
D, E, F: Rồi không đợi trả lời bà quay lại sau, bảo:
‒
Hai người này lên theo tôi.
Lên
hết thang thì bà chủ tru tréo lên:
‒
Chị Ba! Sao chị lại để cậu tắm ở đây thế này? Ai lại sềnh sềnh ra thế!
‒
Bẩm... cậu vòi thế, không chiều thì cậu lại khóc!
G: Rồi không đợi trả lời bà quay lại
sau, bảo:
‒
Chị Ba! Sao chị lại để cậu tắm ở đây thế này? Ai lại sềnh sềnh ra thế!
‒
Bẩm... cậu vòi thế, không chiều cậu thì lại khóc!
(Chương
III)
2/ A,
C, D, E, F: Thế thì, tôi đối với bác đã như vậy, mà bác lại không chịu giúp tôi
cái việc ấy hay sao?
Xuân
nghe xong rất lo sợ. Chết chửa, thì ra nó chẳng để ý gì cả nên chẳng hiểu gì cả.
Nếu thế, tất lại thất nghiệp, và không hy vọng gì có công danh. Nó cần phải được
yêu, được ai cũng yêu, thì mới mong từ một anh nhặt quần mà lên một nhà quần vợt
tài tử được. Nó run run hỏi lại:
−
Thế bây giờ phải làm thế
nào?
G: Thế thì, tôi đối với bác đã như vậy, mà bác lại không chịu
giúp tôi cái việc ấy sao?
− Thế bây giờ
phải làm thế nào?
(Chương
VIII)
3/ A:
Xuân cúi đầu nhã nhặn:
−
Chúng tôi rất được hân hạnh.
Ông Phán lại cầu cứu cô nhân tình của ông ta:
− Thưa bà, xin bà làm chứng cho tôi rằng tôi là người chồng mọc sừng!
Không biết đáp ra sao, người đàn bà đành bắt chước Xuân:
− Chúng tôi rất được hân hạnh.
Thấy
nguy, người tình nhân dọa già:
C, D, E, F: Xuân cúi đầu nhã nhặn:
−
Chúng tôi rất được hân hạnh.
Ông Phán lại cầu cứu cô nhân tình của ông ta:
− Thưa bà, xin bà làm chứng cho tôi rằng tôi là người chồng mọc sừng!
Không biết đáp ra sao, người đàn bà đành bắt chước Xuân:
− Chúng tôi rất được hân hạnh.
Thấy cơ nguy,
người tình nhân dọa già:
G: Xuân cúi đầu nhã nhặn:
−
Chúng tôi rất được hân hạnh.
Thấy
cơ nguy, người tình nhân doạ già:
(Chương
X)
Như đã nói, những dị bản nảy sinh do mỗi lần in, có thể là do ngẫu nhiên, có thể
là do cố ý. Một vài trường hợp xử lý của bản Văn học 1987 cho thấy hẳn phải do
cố ý.
Chẳng
hạn:
1/ A:
Mãi nghe quảng cáo của ông, ai cũng tưởng mình sắp chết, và mua thuốc,
và cảm ơn ông ở chỗ cứu nhân độ thế, thương yêu chủng tộc, thành thử ông được đủ
20 triệu đồng bào biết đến tên tuổi, thật chẳng kém gì cụ Phan Bội Châu vậy.
C,
D, E, F: Mải nghe quảng cáo của ông, những người vô bệnh cũng tưởng
mình sắp chết, và mua thuốc, và cảm ơn ông ở chỗ ông cứu nhân độ thế,
thương yêu chủng tộc. Thành thử, ông được đủ 20 triệu đồng bào biết đến tên tuổi, thật
chẳng kém gì cụ Phan Bội Châu vậy.
G:
Mải nghe quảng cáo của ông, những người vô bệnh cũng tưởng mình sắp
chết, và mua thuốc, và cảm ơn ông ở chỗ ông cứu nhân độ thế, thương
yêu chủng tộc. Thành thử, ông được đủ 20 triệu đồng bào biết đến tên tuổi…
Ở chỗ này thấy khá rõ là nhà Văn học 1987 chẳng những chỉ “biên tập” mà còn kiểm
duyệt tác giả tiểu thuyết Số đỏ! Cái ý bảo Victor Ban (nhân vật hư cấu)
nổi tiếng chẳng kém Phan Bội Châu (nhân vật lịch sử), trong mạch văn hài hước
châm biếm của tác phẩm, đã từng “sống sót” qua kiểm duyệt 1952 bởi các viên chức
phủ Thủ hiến Bắc Việt ở Hà Nội, rồi cũng “sống sót” qua kiểm duyệt 1958 bởi các
viên chức Nha Thông tin ở Sài Gòn; cái ý ấy chỉ bị cắt bỏ khi được đưa vào một
bộ tuyển nhằm tôn vinh nhà văn Vũ Trọng Phụng về tài năng và cống hiến cho văn
chương Việt Nam! Văn chương trào lộng, hóa ra, bao giờ cũng bị chính thống đối
xử một cách trào lộng!
Cần lưu ý nhận xét trên, là vì, sau nửa thế kỷ kể từ lúc ra đời, Với bộ Tuyển
tập Vũ Trọng Phụng (3 tập, Nxb. Văn học, 1987), tiểu thuyết Số đỏ được
đưa lại cho công chúng lần đầu với vài chục ngàn bản in, vậy mà văn bản tác phẩm
lại chịu nhiều khiếm khuyết đến thế. Rồi từ năm 1988 trở đi, hầu như cứ cách một
vài năm Số đỏ lại được in lại, mà văn bản thì hầu như vẫn chỉ biết lấy
theo nguồn là bộ tuyển 1987 của nhà xuất bản Văn học. Thật là thiệt thòi cho độc
giả, cho cả giới văn học, giới nghiên cứu phê bình, vì họ hầu như đều phân tích
bình luận trên văn bản lấy nguồn từ bộ tuyển tập này.
Xin kể một ví dụ nhỏ. Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến (1930-2011) trong một bài
viết về Số đỏ, sau khi minh định một cách thuyết phục rằng chất trào
phúng trong tác phẩm này không phải là trào phúng đả kích (như được khẳng định ở
lời giới thiệu của Nxb. Văn học ở đầu sách Số đỏ, bản in 1988), ông
Hiến đã điểm thêm vào cuối bài viết của mình một đoạn bình văn. Ông dẫn một câu
trong tác phẩm: “Bà Phó Đoan, dù Nhật, ví da và chó bước xuống” để phân tích,
theo đó cả “Bà Phó Đoan” lẫn “ví da, dù Nhật” và “chó” đều làm chủ ngữ cho hành
động “bước xuống”, do vậy tạo hiệu quả khôi hài.(2) Câu ấy là dẫn theo bản của nhà
Văn học 1988 (sách Số đỏ in riêng sau bộ tuyển 3 tập vẫn dùng văn bản
trong bộ tuyển ấy), chứ trong các bản in trước thì khác hẳn! Chỉ có “bà Phó
Đoan” là chủ ngữ mà thôi. Đây là đối chiếu dị biệt:
A:
Bà Phó ôm dù Nhật, ví da, và chó bước xuống.
C, D, E, F: Bà Phó Đoan ôm dù Nhật, ví
da, và chó bước xuống.
G: Bà Phó Đoan dù Nhật, ví da, và chó bước xuống.
(chương
III)
Ta thấy rõ, những sai lệch về văn bản đã gây những ảnh hưởng không đáng có đến
hoạt động phê bình nghiên cứu.
Tất nhiên, nhìn chung, những sai lệch văn bản tương tự như trên dù sao cũng
chưa nghiêm trọng đến mức làm sai lệch đáng kể các kết quả nghiên cứu phê bình,
cũng như sự tiếp nhận của người đọc.
Chú
thích:
(1) Những
thông tin về việc Hà Nội Báo cùng 2 tờ báo khác bị tịch thu giấy phép
(mà tôi đọc được) không nói từng tờ bị cho là phạm những lỗi gì. Theo phán đoán
của tôi (L.N.Â.), lý do có thể là việc Hà Nội Báo số 54 (13.1.1937)
đăng bài của Lưu Thần (Lưu Trọng Lư) lược dịch báo Pháp Gringoire nói
về đạo binh đỏ 30 vạn người ở Pháp do André Marty (1886-1956) chỉ huy, được Đệ
Tam Quốc tế chu cấp, chuẩn bị nổi lên vào tháng 11/1937.
(2) Hoàng
Ngọc Hiến (1990): Trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong “Số đỏ” // Tạp chí
văn học, Hà Nội, s. 2 (tháng 3&4/1990), tr. 28-30.
XÁC
ĐỊNH VĂN BẢN NỀN VÀ VIỆC CHÚ THÍCH
nh
thời tác giả, tức là chọn văn bản nào được in với sự tham dự hoặc sự chấp nhận
trực tiếp của tác giả.
Ta
biết, Số đỏ được đăng báo từ đầu tháng 10/1936 đến giữa tháng 1/1937
thì bị dừng lại khi còn thiếu 4 chương cuối, do tờ Hà Nội Báo bị đóng
cửa. Năm 1938 toàn bộ 20 chương truyện được in thành sách riêng. Tháng 10/1939
tác giả qua đời.
Vậy
là ngay trong sinh thời tác giả Vũ Trọng Phụng đã có 2 văn bản in Số đỏ.
Tiếc
rằng bản in thành sách riêng do nhà in Lê Cường thực hiện năm 1938 lại đang ở
trong tình trạng mất văn bản, chưa tìm lại được. Đây lẽ ra là bản cần được dùng
gần như văn bản chuẩn mực, vì nó là 1 trong 2 văn bản của Số đỏ xuất
hiện khi tác giả còn sống, lại là văn bản in sách, có đầy đủ 20 chương truyện,
tức là có toàn bộ văn bản tác phẩm.
Chính
do thiếu bản in sách lần đầu này nên công việc khảo dị Số đỏ của tôi
đã tạm ngừng lại từ nhiều năm trước. (1) (1)
Bản Số đỏ đăng Hà Nội
Báo hiện còn lại thiếu 4 chương cuối truyện. Nếu chọn bản đăng Hà Nội
Báo thì sẽ xử lý ra sao đối với 4 chương cuối ấy? Nếu lấy một bản khác
thay thế những phần thiếu ấy thì như vậy sẽ tạo ra một sự lắp ráp, chắp vá khó
chấp nhận.
Vậy là không thể có được hoàn chỉnh một
văn bản Số đỏ vốn được in ngay trong sinh thời tác giả để làm bản nền
cho việc khảo sát dị bản.
Đành phải chọn làm bản nền một trong
số những bản in sau khi tác giả đã mất, tức là trong số những bản in không có sự
tham dự hoặc sự chấp nhận trực tiếp của tác giả.
Trong số những bản Số đỏ được
in ra từ sau khi tác giả Vũ Trọng Phụng mất (13.10.1939), tôi chọn làm bản nền
bản sách Số đỏ do nhà xuất bản Minh Đức in năm 1946 tại Hà Nội.
Đây là bản in gần nhất so với hai bản
in đương thời tác giả Vũ Trọng Phụng kể trên. Vì vậy, khả năng sai biệt so với
hai bản in đầu có thể là được hạn chế ở mức thấp. Các hoạt động của nhà xuất bản
Minh Đức xung quanh việc in lại tác phẩm này vào năm 1946 − cũng như vào năm
1957 về sau − cho thấy họ không chỉ thể hiện sự trân trọng rõ rệt đối với di sản
ngòi bút của nhà văn, mà đồng thời còn quan tâm đến lợi ích của thân nhân tác
giả. Dù người ta không ghi nhận việc thân nhân nhà văn quá cố có can dự hay đề
xuất yêu cầu gì đối với nhà xuất bản xung quanh việc in lại tác phẩm của nhà
văn, thì hoạt động của nhà Minh Đức cũng cho thấy những người có quyền thừa kế
di sản của nhà văn Vũ Trọng Phụng đã có can dự ít nhiều vào việc in lại tác phẩm,
điều mà hầu như khó thấy hơn khi nhà Mai Lĩnh thực hiện in lại tác phẩm này. Tất
nhiên ta không thể từ thái độ của nhà xuất bản để đặt niềm tin vào chất lượng ấn
phẩm; điều có thể thấy rõ ở đây là sự nghiêm túc của nhà xuất bản trong sự tiếp
cận di sản sáng tác của tác giả, chính nó hứa hẹn một sự nghiêm túc trong xử lý
văn bản in.
Tất nhiên, việc chọn bản nào làm “nền”
để khảo sát tình trạng dị bản nảy sinh ra sao trong quá trình truyền bản của một
tác phẩm, không có nghĩa là xem bản nền ấy như một văn bản “lý tưởng”.
Khi thực hiện khảo sát tình trạng dị
bản ở tiểu thuyết Giông tố, (4) tôi đã hợp nhất hai loại công
việc: một là hiệu chỉnh từ bản đăng báo đầu tiên và bản in sách đầu tiên để có
một văn bản hợp lý cung cấp cho độc giả phổ thông, và hai là khảo sát tình trạng
dị bản qua một số bản in quan trọng. Chính việc người nghiên cứu sử dụng bản do
chính mình hiệu chỉnh đồng thời làm bản nền để thể hiện sự khảo sát dị bản, - đã khiến một số đồng nghiệp kỹ tính cho là người nghiên cứu đã hướng tới “văn bản
lý tưởng”,[5] một dấu hiệu khiếm khuyết về
phương pháp khảo sát tình trạng dị bản.
Lần này, đối với tiểu thuyết Số
đỏ, tôi hoàn toàn không đặt vấn đề hiệu chỉnh văn bản trong phạm vi khảo sát
tình trạng dị bản. Đấy dù sao cũng là một công việc đáng làm, song nó sẽ là một
công việc có thể tiến hành độc lập, gắn với việc đưa ra cho công chúng phổ
thông một bản hiệu chỉnh hợp lý.[6] Còn trong việc khảo sát dị bản ở
đây, tôi sẽ chọn một bản in cụ thể đã từng có từ trước, làm bản nền.
Dù
chọn bản nào, như ta sẽ thấy, cũng không gây ảnh hưởng gì đáng kể đến kết quả
khảo sát.
Trên
thực tế, hoạt động tái bản – in lại tác phẩm đã từng được in – bao giờ cũng làm
phát sinh dị bản, tức là phát sinh những sự sai biệt mới, so với những văn bản
đã từng in ra trước đó. Có những dị biệt phát sinh do chủ ý của con người, ví dụ
tác giả, nhà xuất bản chủ ý thay đổi câu chữ, do tự thấy cần thay đổi hoặc do bị
áp lực phải thay đổi (chẳng hạn, áp lực từ kiểm duyệt, hoặc do biên tập nhà xuất
bản phát hiện ra những chỗ sơ suất ở bản in trước). Lại có những dị biệt phát
sinh hầu như do ngẫu nhiên, cũng từ bàn tay con người, ví dụ do sơ ý của người
sắp chữ, do sơ suất của người sửa in, v.v…, những sơ suất đã trở nên một phần của
công việc xuất bản sách, dù ở bất kỳ đâu, bất kỳ thời nào; người ta chỉ có thể
hạn chế được chúng chứ không bao giờ loại trừ được chúng khỏi hoạt động làm
sách.
Cần
lưu ý là tất cả các bản in được dùng vào khảo sát tình trạng văn bản tiểu thuyết Số
đỏ đều là sản phẩm của máy in typo với các khuôn in được sắp chữ từ những
con chữ chì, – tức là kỹ thuật in phương Tây du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ
XIX. Quy trình in sản phẩm sách báo kiểu này thường trải qua các sản phẩm trung
gian:
– Bản
thảo dùng để sắp chữ: tác phẩm in lần đầu thường dùng chính bản viết tay của
tác giả; tác phẩm in lại thường dùng một bản in cũ; tất nhiên bản thảo đưa sắp
chữ phải là bản thảo đã được duyệt bởi chủ xuất bản;
– Các
bản rập thử (épreuves, còn gọi là bản vỗ): là bản rập ra từ các khuôn chữ,
sắp chữ rồi rập thử ra giấy để dễ thấy các chỗ sai, sửa rồi lại rập thử; rập ra
sửa lại nhiều lần (ít nhất từ hai đến ba lần), cho đến khi được coi là sửa
xong, bản rập lần cuối, xem như bản chính thức, được gửi đi kiểm duyệt; khi có
kết quả kiểm duyệt đưa về, các khuôn chữ được sửa lại lần cuối (thường đục bỏ
những chỗ bị kiểm duyệt xóa),
– Bản
in: bản in hàng loạt từ các khuôn chữ kể trên (theo số lượng in đã định), sau
đó sẽ được đưa đi đóng, xén, vào bìa, thành sách.
Những
sai biệt gây ra tình trạng dị bản có thể phát sinh từ hầu hết các khâu. Bản thảo
của tác giả có thể có những sai sót về chữ về câu. Các bản in cũ dùng làm bản
thảo cho các lần in lại cũng vậy. Thợ sắp chữ có thể gây ra sai biệt do sắp thiếu,
thừa, sai lệch so với bản thảo. Thợ sửa in có thể gây ra sai biệt khi không
phát hiện ra những sai sót của thợ sắp chữ, hoặc sơ suất làm sai lệch so với bản
thảo. Trong quá trình in, các khuôn chữ bị rung lắc có thể gây hiện tượng rơi
chữ khỏi khuôn in, bản in bị mất một số chữ; có khi thợ đứng máy in vuốt những
chữ bị rơi chèn lại vào khuôn chữ đang vận hành, khiến chữ nọ sẽ thế vào vị trí
chữ kia…
Tóm
lại, đây là sách in trên kiểu máy in chữ rời, vận hành nửa máy móc nửa thủ
công, thuộc một hệ thống thiết bị kỹ thuật mà hiện nay đã bị thay thế (nếu còn
thì chỉ còn trong bảo tàng).
Từ
những năm 1990 trở đi, các thiết bị kỹ thuật in mới được nhập vào Việt Nam; phổ
biến nhất để in sách báo là công nghệ in offsett, ngoài ra còn các loại in nổi,
in lụa, in quay, in phun, in laser. Các công nghệ này đều gắn với cách chế bản
trên máy điện toán; khá nhiều tác giả chuyển sang viết trên máy tính, gửi bản
thảo tới nhà xuất bản theo đường thư điện tử (e-mail). Giao dịch xung quanh những
sửa đổi trên văn bản giữa người biên tập và tác giả cũng chủ yếu thông qua thư
điện tử. Trong các điều kiện ấy, tình trạng dị bản liệu có còn tồn tại và sẽ diễn
ra như thế nào trong sách xuất bản?
Tôi
nghĩ là dị bản, tức là sự khác biệt trong văn bản giữa những lần in khác nhau của
cùng một tác phẩm, sẽ vẫn luôn luôn tồn tại trong sách in bằng các công nghệ mới.
Bởi nguồn gốc nảy sinh dị bản ở đấy vẫn là từ bên trong hoạt động sáng tạo, hoạt
động viết của con người, lại cũng từ sự can dự của những người khác (nhà xuất bản,
biên tập viên, viên chức đọc duyệt, v.v…) vào quá trình nhân bản một tác phẩm,
biến nó từ chỗ là một bản viết của tác giả thành sản phẩm in hàng loạt.
Rất
khó giữ được văn bản cố định, đứng yên. Những tác giả còn sống rất ít khi chịu
giữ nguyên “một lần cho mãi mãi” đối với tác phẩm cũ khi có dịp in lại. Những
tác phẩm cũ của tác giả quá cố cũng rất khó được giữ nguyên “một lần cho mãi
mãi” bởi hàng loạt yếu tố con người tác động và chi phối vào mỗi lần in.
Điều
vừa nói trên cũng cho thấy, cả trong thực tiễn xuất bản nói chung lẫn trong
công việc tái bản sách đều phải quan tâm xử lý các vấn đề về văn bản. Một ngành
nghiên cứu lịch sử văn học nghiêm túc không thể bỏ qua lĩnh vực nghiên cứu văn
bản học. Một ngành xuất bản phát triển tiên tiến không thể bỏ qua phương diện
văn bản, nhất là trong việc in lại những tác phẩm cũ, đã từng in ra trước đây;
không thể và không nên bằng lòng với việc sử dụng những bản in trôi nổi, như
tình trạng lâu nay.
Sau
cùng, về việc làm chú thích cho văn bản, đây là công việc gần như không thể
tránh, tuy không phải là nhiệm vụ chính của một công trình khảo sát tình trạng
dị bản một tác phẩm ngôn từ. Tôi sẽ chỉ tiến hành làm chú thích cho các từ hơi
khó đối với độc giả rộng rãi, chẳng hạn những từ vay mượn hoặc nhại lại tiếng
nước ngoài, những danh từ riêng ít phổ biến, những từ một thời được dùng như tiếng
lóng, một số tên riêng, v.v… Tất nhiên nguồn hiểu biết để giải thích đều trông
chờ vào các từ điển hoặc sách chỉ dẫn có liên quan. Nếu trong các nguồn ấy
không có lời giải cho những từ ngữ cần được giải thích, tôi đành ghi chú để ngỏ
(ví dụ đối với từ “lộ bộ” ở chương VII), mong được sự chỉ dẫn của những bạn đọc,
bạn nghiên cứu có am hiểu, để có thể bổ sung trong một lần in về sau.
Trên
văn bản tác phẩm, những chỗ có dị biệt về văn bản sẽ đánh dấu bằng số Arab (1,
2,3…) để thống kê ở phần Khảo dị; những chỗ cần chú thích sẽ đánh dấu bằng chữ
cái a,b,c… trong ngoặc vuông [a,b,c…] để giải thích ở phần Chú thích.
Hà Nội,
tháng Năm 2014
LẠI
NGUYÊN ÂN
Chú
thích:
(1) Xem:
Lại Nguyên Ân (2011): Phương diện văn bản của tiểu thuyết “Số đỏ”. Hà
Nội, Nghiên cứu văn học, s. 3 (tháng 3) 2011, tr. 90-99.
(2) Xem:
Lại Nguyên Ân (2007): Nghiên cứu văn bản tiểu thuyết “Giông tố”. Hà Nội:
Nxb. Tri Thức, 2007.
(3) Xem:
Hồ sơ Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh (2010): Trích lời tuyên dương của Quỹ văn hóa
Phan Châu Trinh về Quyết định trao giải Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh
2010: Giải thưởng nghiên cứu: nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân.
(4) Việc
này tôi đã thực hiện trong bản in tiểu thuyết Số đỏ, thuộc tủ sách
“Việt Nam danh tác” do Cty VH-TT Nhã Nam và Nxb. Hội Nhà Văn xuất bản năm 2014;
trong ấn phẩm ấy, văn bản Số đỏ được tôi hiệu chỉnh dựa theo bản
đăng Hà Nội Báo 1936-37 và các bản in Số đỏ của Nxb. Minh Đức
(Hà Nội 1946, 1957) và Nxb. Mai Lĩnh (Hà Nội, 1951)
(3) Xem: Lại Nguyên Ân
(2011): Phương diện văn bản của tiểu thuyết “Số đỏ”. Hà Nội, Nghiên
cứu văn học, s. 3 (tháng 3) 2011, tr. 90-99.
(1) Xem: Lại Nguyên Ân (2007): Nghiên cứu văn bản
tiểu thuyết “Giông tố”. Hà Nội: Nxb. Tri Thức, 2007.
(2) Xem: Hồ sơ Quỹ Văn hóa Phan
Châu Trinh (2010): Trích lời tuyên dương của Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh về Quyết
định trao giải Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh 2010: Giải thưởng nghiên cứu:
nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân.
(3) Việc này tôi đã thực hiện
trong bản in tiểu thuyết Số đỏ, thuộc tủ sách “Việt Nam danh tác” do
Cty VH-TT Nhã Nam và Nxb. Hội Nhà Văn xuất bản năm 2014; trong ấn phẩm ấy, văn
bản Số đỏ được tôi hiệu chỉnh dựa theo bản đăng Hà Nội Báo 1936-37
và các bản in Số đỏ của Nxb. Minh Đức (Hà Nội 1946, 1957) và Nxb. Mai
Lĩnh (Hà Nội, 1951).



















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét