Chỉ có “Trường thơ Loạn” và nhóm “Xuân thu nhã tập” trước năm
1945 là hai thi phái hiện đại duy nhất ở Việt Nam có những quan tâm thật sự về
tâm linh trong thơ, tâm linh theo nghĩa là một thứ “linh khí” của sáng tạo. Tâm
linh trong thơ ca của người Việt vẫn còn là mảnh đất tiếp tục mới.
Tâm linh và văn học vốn được xem là một mối quan hệ phức tạp,
đa nghĩa, “dễ phiền toái”, “gây hệ lụy” nên cả người viết lẫn người đọc đều
không có khuynh hướng mổ xẻ, giãi bày nó làm gì. Hơn nữa, “tâm linh” (xét như một
tính chất của tác phẩm văn học) là một trong số những từ ngữ khó xác định nội
hàm nhất. Đức tin, hồn ma, mộng mị, thần thánh, ảo giác huyền hồ, ân oán trả đền,
kiếp trước kiếp sau, tiên cảm tiên tri,… có phải tất cả đều là tâm linh, là cái
mà lý trí thông thường khó chấp nhận? Sẽ giải thích thế nào trước một thực tế:
Kinh Thánh Thiên Chúa giáo là suối nguồn vô tận cho những đỉnh cao văn học châu
Âu, Kinh Thi, Đạo đức Kinh, Nam hoa Kinh của Trung Hoa đã làm nên biết bao tượng
đài thơ ca châu Á, Kinh Veda của Ấn Độ, hệ thống Kinh điển Phật giáo Đại thừa
Đông Á đã “hiến tế” cho nhân loại những nghệ sĩ thượng thặng. Trong sâu xa, cảm
hứng “nói bằng sự kính tin” và “nói với đấng kính tin” có lẽ là cội nguồn miên
mật của ngôn ngữ tôn giáo và cuộc sáng tạo bất tận của văn chương.
Bởi vậy, những thiên tài văn chương qua nhiều thế kỷ của nhân
loại thường được ca tụng là “nhà tiên tri”, “kẻ thấu thị”, “người có con mắt
trông thấu sáu cõi”, “tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”… Tâm linh là những phần suy
tư sâu sắc nhất được chưng cất mãnh liệt của con người về những cảm nghiệm sống,
vượt qua nhiều giới hạn không gian và thời gian. Tâm linh là một giá trị của
văn học.
Để có thể nói được những điều sâu kín mà phổ quát nhất, tác
phẩm chắc chắn cần đến một bệ đỡ là những suy tư tâm linh mà sau đó sẽ biến
thành quả ngọt sáng tạo. Không thể có những tiếng nói đa thanh đa nghĩa đến cốt
tủy nếu tác giả của những tiếng nói ấy lại là người sơ sài về “khả năng tâm
linh”.
Đương nhiên, cũng không có nguyên tắc nào để khẳng định chỉ
có văn học tâm linh mới là đáng giá. Nhưng tâm linh trong văn học và văn học
tâm linh là hai chuyện khác nhau, và cũng thật khó tin rằng những tác phẩm đã bỏ
mặc tiếng gọi của tâm linh sâu xa mà vẫn có thể đạt tới những giá trị lớn.
Honoré de Balzac, bậc thầy chủ nghĩa hiện thực châu Âu, cũng
là tác giả của “Miếng da lừa” huyền hoặc – một phúng dụ cay đắng về giá trị con
người trong thử thách của xã hội đồng tiền, một huyền thoại giàu ý nghĩa tâm
linh bổ sung vào cái nền hiện thực tàn bạo và đáng chán.
Trở lại câu chuyện của thơ ca Việt, có quá nhiều lý do khách
quan và chủ quan để nói rằng: “tâm linh” là một chủ đề nhạy cảm không thua kém
bất kỳ sự nhạy cảm chính trị, tôn giáo nào. Nó từng được ủ men trong Trường thơ
Loạn, bởi chủ soái Hàn Mặc Tử vốn cũng là người yêu mến và am hiểu Thiên Chúa
giáo, người đã rọi một thứ ánh sáng khác biệt xuống khoái cảm nghệ thuật của độc
giả đương thời, một thứ ánh sáng ẩn mật, đau đớn và giàu ý nghĩa thần học.
Nhưng Trường thơ Loạn cũng sớm kết thúc sứ mệnh tâm linh ngắn ngủi cùng với sự
ra đi của Hàn.
Đoàn Phú Tứ của Xuân thu nhã tập viết: “Còn những bạn nào nữa đây, ở những bến trời xa lạ, cùng chúng ta “giũ áo lên Đền”, trong một điệu đàn thanh khí” [1]. Lần này, ở quãng cuối của trào lưu thơ mới, một tuyên ngôn đậm đặc yếu tính tâm linh lại xuất hiện. Nó không nhận mình là “điên”, là “loạn” mà nhận là “thanh khí”, là “nhã”. Thơ trở thành “Thi Đền”. Sang trọng biết bao! Nhưng rồi nhóm Xuân thu nhã tập cũng biến mất cùng tiếng chuông lịch sử năm 1945, “cáo chung” thời đại cũ. Thơ ca kháng chiến cuồn cuộn đưa con người vào cơn lốc chiến tranh, khó có chỗ cho tâm linh trú ngụ.
Đoàn Phú Tứ của Xuân thu nhã tập viết: “Còn những bạn nào nữa đây, ở những bến trời xa lạ, cùng chúng ta “giũ áo lên Đền”, trong một điệu đàn thanh khí” [1]. Lần này, ở quãng cuối của trào lưu thơ mới, một tuyên ngôn đậm đặc yếu tính tâm linh lại xuất hiện. Nó không nhận mình là “điên”, là “loạn” mà nhận là “thanh khí”, là “nhã”. Thơ trở thành “Thi Đền”. Sang trọng biết bao! Nhưng rồi nhóm Xuân thu nhã tập cũng biến mất cùng tiếng chuông lịch sử năm 1945, “cáo chung” thời đại cũ. Thơ ca kháng chiến cuồn cuộn đưa con người vào cơn lốc chiến tranh, khó có chỗ cho tâm linh trú ngụ.
Từ bấy đến nay, câu chuyện thơ ca và tâm linh vẫn còn là mối
dở dang. May thay, có một người gợi cho tôi niềm tin mạnh mẽ về một thứ văn nghệ
“biết đến tâm linh” và “biết đến cái đẹp của tâm linh”. Người ấy là nhà thơ
Hoàng Cầm.
Một sớm du xuân về Thuận Thành, đứng ở chùa Dâu, rồi ngồi giữa
đồng cạnh chùa Bút Tháp, tôi thấy hồn thơ Hoàng Cầm trở về không dứt. Quả không
phải chỉ Hoàng Cầm “về Kinh Bắc”. Sẽ còn nhiều độc giả tiếp tục cuộc trở về ấy,
không phải chỉ vì lời dụ gọi của những làn điệu quan họ mà hẳn còn vì họ muốn
nhìn thấy muôn nghìn Kinh Bắc khác nữa, qua người dẫn đường kỳ lạ, người kể
chuyện độc nhất vô nhị, người được Kinh Bắc sinh ra và sinh ra “Kinh Bắc”:
Hoàng Cầm.
Nếu đem đặt chất thôn quê bình dị của Nguyễn Khuyến, Nguyễn
Bính với “hồn quê Việt” của Hoàng Cầm thì chẳng có gì sai, nhưng cách ấy không
khéo rất dễ làm mờ tan ít nhiều phong vị ám ảnh từ âm ba cây đàn lia mà chàng
hoàng tử bé xứ Bắc Ninh xưa gẫy lên mê hoặc. Vẫn cảnh quang và dải yếm quê mùa
của cư dân vùng đồng bằng sông Hồng, song, cốt cách Hoàng Cầm vẫn không thể
chia sẻ với giọng quê truyền thống. Ông là một đối thoại rất khác biệt với truyền
thống.
1. Cảm hứng hồi tưởng - tâm linh hóa ký ức
Thơ Hoàng Cầm là tiếng nói của hồi tưởng. Nhà thơ Hoàng Hưng
có một bài viết lấy nhan đề Hoàng Cầm - Một đời nhớ tiếc, một đời “níu xuân
xanh”. Nỗi nhớ tiếc trong thơ Hoàng Cầm nhiều đến mức tạo nên “điệu nhớ” dai dẳng,
và cũng giúp ta cắt nghĩa được nhiều nỗi đa đoan trong nội tâm phong phú, u huyền
của thi sĩ. Nhớ và tiếc triền miên - đó là điệu thơ của người không bao giờ chịu
già nua trong cảm xúc và ước mong.
Nếu anh còn trẻ như năm ấy
Quyết đón em về sống với anh
Những khoảng chiều buồn phơ phất lại
Anh đàn em hát níu xuân xanh
Nhưng thuyền em buộc sai duyên kiếp
Anh lụy đời quên bến khói sương
Năm tháng năm dây chùng phím nguyệt
Bao giờ em hết nợ Tầm Dương (…) [2]
Bài thơ được viết năm 1941. Câu chuyện một mối tình buồn ở những
bước đầu của sự nghiệp thơ ca đã sớm ghi dấu một khả năng dẫn dắt trường từ ngữ
đến gần cửa ngõ tâm linh, qua cách nói: khoảng chiều buồn phơ phất/ níu xuân
xanh/ sai duyên kiếp/ bến khói sương/ nợ Tầm Dương.
Một vài bài thơ trước 1954 của Hoàng Cầm, dù đi giữa những
quan tâm lớn lao về cuộc kháng chiến chống Pháp, vẫn hé lộ một hướng tư duy, một
hứng thú viết, một thiên bẩm về sự kiến tạo chiều sâu tâm linh cho thơ, ví dụ
như những câu: cõi đời nghiêng ngửa giấc u minh (Lại gặp), ngọn gió điên rồ
trên đất lạ/ là mắt em hay thần mộng anh linh/ nước sâu gạn đục, ánh giăng nhiệm
màu (Sám hối), từ trên nguồn thơ dại/ em chải tóc rừng xanh (Tiếng hát sông
Lô).
Bài thơ Bên kia sông Đuống (4-1948) của Hoàng Cầm là một
trong những hồi tưởng lớn và thiêng liêng nhất của Hoàng Cầm. Điều lạ là cái
cách nói của bài thơ này, nỗi nhớ của nó, không có nhiều nét chung với bức
tranh thơ ca kháng chiến hồi ấy (thậm chí khó mà được lòng cái “đại chúng” mơ hồ
và quyết liệt của một thời) nhưng nó vẫn được yêu mến, được truyền tụng, được
“chính thức hóa” (từng được đưa vào chương trình sách giáo khoa trung học phổ
thông, trở thành đề thi đại học nhiều năm). Được như thế có phải vì sức thuyết
phục của một dòng chảy tâm thức thơ đạt tới mức “hoạt hóa cõi siêu thức”, đi thẳng
vào tâm linh người đọc, bất chấp mọi “húy kị” chăng?
Chất giọng thanh tao pha lẫn nỗi mê sảng và cách đặc tả sang
trọng đầy sức vẫy gọi đâu có dễ hiểu dễ cảm.
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Thần thái Bên kia sông Đuống có lẽ nằm ở những tia sáng ẩn
khuất của tâm linh hiện ra trong bài thơ. Trong nỗi nhớ tiếc cuồng dại và thắm
thiết, nhà thơ đã mở hoàn toàn cánh cửa tâm linh cho ký ức được trở về trong
chiếc bóng khác. Nó không còn là cảm xúc, tâm lý. Nó vượt qua kỷ niệm để trở
thành tưởng niệm, vượt qua hình ảnh để trở thành ám ảnh, vượt qua không gian địa
lý để trở thành không gian tâm cảm. Ký ức trở thành tâm linh là một trong nhiều
sở trường của tư duy nghệ thuật Hoàng Cầm.
Nỗi nhớ chỉ dừng ở cảm xúc cũng có thể sản sinh ra cái đẹp.
Nhưng nỗi nhớ đã thành tâm linh thì chính nó là cái đẹp. Quang Dũng từng có câu
thơ “thần sầu”:
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
(Tây Tiến)
Đâu còn là nhớ Tây Tiến, đâu còn là chuyện một chiến sĩ nhớ một
vùng đất, một nhiệm vụ, một thời. Đó là sự sống nhớ cái chết, thần hứng nhớ địa
linh.
Nỗi nhớ có màu sắc tâm linh đã biến “tấm the đen” của thi sĩ
Hoàng Cầm thành một dải lụa kì bí mở ra một trời quá khứ cố hương. Cụm từ “thấp
thoáng mộng” không chỉ hô ứng với “tấm the đen” phía trước mà còn gọi được cả
những thứ “linh phù” phía sau: Thiên Thai, Bút Tháp, áo, ai, chuông chùa, ở
đâu. Nếu quả có một thế giới khác thực sự đã hiện ra sau tấm the đen mờ ảo kia
thì tôi tin hồn vía đoạn thơ đã nhập cả vào không gian Thuận Thành xứ Dâu Keo.
Đó không phải là tâm linh thì biết gọi là gì?
Hoàng Cầm kể lại cái thế giới sống trong hồi ức ấy: Con cò trắng
bay vùn vụt/ Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu…; Lá đa lác đác trước lều/ vài
ba vết máu loang chiều mùa đông/ Đêm buông xuống dòng sông Đuống/ Con là ai - con ở đâu về; Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng/ ngậm ngùi tóc trắng đang thầm
kể/ những chuyện muôn đời không nói năng; Em đi trảy hội non sông/ cười mê ánh
sáng muôn lòng xuân xanh. “Viết như đang chiêm bao” thế này, “nói như tiếng mơ
hồ” thế này, về sau, trong bài Đi tìm ẩn ngữ thơ Hoàng Cầm (tìm hiểu tập Về
Kinh Bắc), Đỗ Lai Thúy đã cắt nghĩa thành thủ pháp của “giấc mơ với những liên
tưởng đứt đoạn, những hình ảnh rời rạc và rất nhiều khoảng trắng, các dấu lặng…
Tất cả trôi đi trong một nhịp điệu thôi miên” và thế giới thơ ông là “một thực
tại siêu thực trong vô thức”. Tôi muốn nhấn mạnh thêm rằng, cái “khoảng trắng”,
“dấu lặng” được nhắc đến đó chính là lối đi của một thứ tâm linh nhạy bén trong
bản năng thơ của Hoàng Cầm. Một nhà thơ dân dã, bình dị, đầy chật những quan niệm
Nho gia buổi giao thời như Nguyễn Đình Chiểu cũng có lúc buột ra một câu thơ
sâu thẳm: “Ba nghìn thế giới ta là vô danh”. Thơ ca gắn với tâm linh như là bản
mệnh. Một nhà thơ trong một đời thơ cũng ít nhiều “buột ra” những câu thơ đi
vào vĩnh cửu bởi sự hội tụ tâm linh đạt tới mức lấp lánh. Nhưng Hoàng Cầm không
thuộc kiểu thi sĩ đôi khi buột ra hiếm hoi theo cách ấy. Ông tư duy trên tâm
linh. Bản năng thi sĩ của ông nằm ở đó. Thành tựu của thơ ông chảy từ nguồn đó.
Những mảng hồi ức hóa tâm linh còn len lỏi tinh tế trong những
bài thơ cắm sâu vào lòng người đọc như Lá diêu bông, Chùa Hương, Cây tam cúc, Cỏ
Bồng Thi, Hội yếm bay… Đó là những: Buồn pha lê thiên không nức nở/ mù xanh thủng
đáy chúa tiên rơi; Em cầm chiếc lá/ đi đầu non cuối bể/ gió quê vi vút gọi/
Diêu Bông hời…; ù ù gió thổi/ e vọng ai đâu mà hóa đá; thả tịnh vàng cưới Chị
võng mây trôi/ Em đứng nhìn theo Em gọi đôi… Đã có nhiều bút mực của công chúng
yêu thơ cho thế giới “siêu nghiệm” của Hoàng Cầm. Điều làm người đọc phải suy
tư nhiều chính là ở khả năng tâm linh hóa những biến cố tinh thần, tình cảm ở
nhà thơ. Có phải vì khả năng ấy mà những câu chuyện tình dị thường, diễm lệ, buồn
đau riêng của ông cũng trở thành “điển cố” cho chính ông, ở lại trong lòng người
đọc một cách lâu bền bởi những ngôn từ “tha tâm thông” (thấu lòng người) một
cách tự nhiên.
2. Lằn ranh nhục cảm và tâm linh
Niềm sung sướng không cưỡng được của người đọc khi nhẩn nha
những câu thơ “đầm đìa sắc dục” của Hoàng Cầm xuất phát từ chỗ nó vẫn không ngừng
dính líu với vẻ đẹp nguyên sơ của tinh thần. Đó là một thứ khoái cảm chính đáng
và hiếm hoi.
Thuở ấy Chị chưa về thơ Anh
Áo tơ dính chặt bó khuôn hình
Đến khi xé lụa bừng da thịt
Ngửa mặt phù du khép gió xanh
Rung suốt dây si nhịp quá mê
Nghe nghìn thế giới trượt ghềnh V
Lung liêng hồn liệng quỳ khe núi
Van suối trần tâm khép nép về
Dòng thơ “dềnh dàng” giữa cảm thức thánh thiện và cảm giác nhục
dục được tạo thành từ nữ sĩ thiên tài Hồ Xuân Hương. Dòng thơ ấy được nối tiếp
bằng Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Bùi Giáng và Hoàng Cầm. Ở mỗi thi sĩ, nhục cảm và
tâm linh chi phối lẫn nhau bằng một cấu trúc khác biệt. Nếu thơ Hồ Xuân Hương
được cảm nhận từ phía “cổ mẫu”, từ những “hoài niệm phồn thực” [3] thì thơ Bích Khê là tiếng nói tân kỳ về cái đẹp
tĩnh tại của xác thân. Phong cách tượng trưng và yếu tố tương giao cảm giác ở
nhà thơ này chiếm ưu thế hơn ấn tượng tâm linh. Hàn Mặc Tử thì gắn triết lý thần
học về thánh giá với nỗi đau riêng, chuyển hóa cảm xúc tình dục thành những ảo
giác tâm linh về sự chết. Bùi Giáng với “tài năng rồ dại” đã trộn lẫn hoàn toàn
phần tâm linh và phần nhục cảm đến độ tự nhiên, thuần thục khó ngờ, với thú
chơi chữ và lối cấu tứ không thể lặp lại ở bất kỳ một cây bút nào khác. Tâm
linh và nhục cảm không quý ở chủ đề. Nó quý vì sự thử thách. Bởi hầu hết những
tài năng thiên phú về văn chương đều ít nhiều để lại tầm vóc họ qua những cái bẫy
nghiệt của đẳng cấp chữ nghĩa, nơi cái thanh và cái tục giải mã được cho nhau.
Cách riêng của Hoàng Cầm là trút hết cái nhấn nhá tài hoa của
xứ sở “mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên” vào dáng vẻ nhục cảm. Trong ngòi
bút của nhà thơ, hồn đất hồn người hồn quê hồn nước nhập hết làm một, tràn vào
mỗi hình tượng, cảm xúc, biến tất cả những trạng thái tính giao thành những cuộc
cung hiến nồng nhiệt ở cõi thanh cao. Trong tâm điểm cung hiến, Hoàng Cầm đã
“thiên thai hóa” mọi niềm vui của cuộc đời hạn hẹp, kéo nó thành vô hạn và cao
sang: sau “xé lụa bừng da thịt” thì sẽ là “ngửa mặt”, “khép gió xanh”, “nghìn
thế giới”, “trượt ghềnh V”, “hồn liệng”, “quỳ khe núi”, “van”, “suối trần”,
“khép”. Những từ ngữ này càng mang vẻ thiêng liêng bao nhiêu thì càng “lồ lộ” một
cuộc “mây mưa” bấy nhiêu. Đó là bức tranh cuộn vẽ thiên nhiên đang cơn lạc thú,
một thiên nhiên có thần thức của con người.
Nếu lọc ra những từ ngữ “kì dị” của thi sĩ xứ Kinh Bắc, người
ta càng sửng sốt, ví dụ từ “chắp” trong câu: Hai người chợt tiếc mùa xuân/ Vội
chắp lại đêm xuân thứ nhất/ Nhờ đó tôi ra đời (Tôi người làng quan họ); “sấp ngửa”,
“ổ rơm thơm” trong câu: Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa/ Ổ rơm thơm đọng tuổi
đương thì (Cây tam cúc); “tính”, “nhẵn nhụi”, “tròn lăn” trong câu: Quân cờ chí
chát đêm Kinh Bắc/ Mấy ngón tay tính nước vào ra/ Vân vê nhẵn nhụi cạnh ngà/
Tròn lăn cung cấm trẻ con chơi (Hội đền Tám vua triều Lý); “chảy”, “nhún” trong
câu: Luồn tay ôm say/ Giấc bay lay đỉnh núi/ Tuột hàng khuy lơi yếm tóc
buông mành/ Đùi chảy búp dài thon nhún vội/ Bàng hoàng tia chớp liệng nghiêng
xanh (Thi đánh đu). Thật chẳng thua gì bà chúa thơ Nôm ngày trước, những là “giọt
nước hữu tình”, “con thuyền vô trạo”, “nhảy ngựa”, “vén phứa”, “đầy phè”…
Thơ Hoàng Cầm ở những khúc đoạn “nhạy cảm” thường không tinh
nghịch đến cùng. Điều ấy giữ cho thơ ông một màu sắc ẩn nhã dù chẳng xa niềm
chăn gối. Tâm linh đã làm công việc đó, xoay xở cho những thú vui nghìn đời kia
của loài người trở thành những lời khấn bằng thể xác. Mỗi cử động, mỗi xúc động
là một khấn nguyện trước hư vô. Bởi vậy mới có những câu thơ:
Yếm may ba ngày mẹ vá lại
Khuya nghe buồng động bóng đêm rằm
(Đêm Mộc)
Chuông chiều cởi yếm
Chuông sớm đội khăn…
Gió ra hồng da trinh nữ…
Lụa sồng nén nghẹn búp thanh xuân…
Tờ kinh đắp mặt ru bươm bướm
(Đêm Thủy)
Hỗn mang mê vô cùng
Địa đàng say tới tấp
Không giờ không
Thăm thẳm nguyện cầu hơi em nồng
(Hội chen Nga Hoàng)
Hỗn mang, địa đàng, thăm thẳm, “không”, đó là những tên gọi
khác của cuộc giao hòa cùng tận.
Đỗ Lai Thúy bình: “Mưa là một phiếm thể, dễ thay hình đổi dạng
(mưa ngâu, mưa xuân, đi lối mưa, thềm hong mưa, lun phun mưa, mưa hoa nhài, mưa
nằm, mưa ngồi, ao mưa nhòe nắng, mắt nhìn như mưa trắng…). Mưa là biểu tượng của
tinh dịch Trời ban xuống cho Đất. Mưa trong thơ Hoàng Cầm, bởi vậy, mang màu sắc
tính dục đậm” [4]. Nền tảng mỹ học và triết học phương Tây cho phép người
đọc thấm thía đến mức ấy những câu thơ mơ sảng của Hoàng Cầm. Đọc lại mấy Mưa
Thuận Thành mới thấy quả đúng thế:
Nhớ mưa Thuận Thành
long lanh mắt ướt
là mưa ái phi
tơ tằm óng chuốt
Ngón tay trắng nuột
nâng bồng Thiên Thai
(…)
Phủ Chúa mưa lơi
Cung Vua mưa chơi
lên ngôi hoàng hậu
… Lách qua cửa hẹp
Mưa càng chứa chan…
mưa nằm lẳng lặng
hỏi gì xin thưa
nhớ lụa mưa lùa
sồi non yếm tơ...
Thuận Thành đang mưa…
(Mưa Thuận Thành)
Có cái gì đó như là tất yếu khi đất chùa Dâu sinh ra thi sĩ
Hoàng Cầm. Từ đầu công nguyên, Bắc Ninh đã là một xứ Phật, được biết đến với
cái tên “trung tâm Phật giáo Luy Lâu”. Mọi câu chuyện kỳ diệu của huyền sử, lịch
sử, không khí thiền đạo, tinh túy văn nghệ, các bậc tầng văn hóa cổ truyền… đều
xoay xung quanh mảnh đất này. Bởi vậy, viết về Kinh Bắc mà thiếu tâm linh thì
làm cách nào để người ta cảm nhận được Kinh Bắc? Khí chất tâm linh, khả năng
“siêu cảm” là vốn trời cho ở Hoàng Cầm. Tâm linh ở đây không chỉ là câu chuyện
của tôn giáo, tín ngưỡng. Tâm linh gắn với một nền tảng “vô thức tập thể” mà những
nghệ sĩ lớn đời nào cũng tìm ra con đường để “hoạt hóa”. Hoàng Cầm được sinh ra
và làm thơ để làm sống dậy hình hài Kinh Bắc trong tất cả những thăng trầm của
nó. Cái dáng nằm “nghiêng nghiêng” của sông Đuống là kỳ quan tinh thần của nhà
thơ để lại cho đời hơn là một phát hiện mang tính địa lý. Chiếc yếm bay không
có mấy chiều sâu nếu nó không được khắc vào trong những câu thơ “nguồn sống
tuôn thơm nhựa ứa đầy/ một chiều hoảng sợ mấy chiều say”; “Hương ngát em lồng
kín cõi – anh/ Yếm đào trút lại phía vô linh/ đung đưa gác lửng nghênh xuân ấy/
đôi núm hồng em nở hết mình” (Hội yếm bay).
Không khí tâm linh trong thơ Hoàng Cầm mang hơi hướng “cứu
chuộc” những cái bị cho là thô xấu, tội lỗi. “Dâng hiến” và “cứu chuộc” là bản
chất sâu xa của mọi niềm tin tôn giáo. Đó là những khái niệm không còn là khái
niệm. Dâng hiến và yêu thương là một. Làm cho đẹp cũng là cứu chuộc. Hình ảnh
nhục cảm mà gợi nên những sự đẹp đẽ thì chính nó đã cứu chuộc cho những ý nghĩ
thấp tối về nó. Bài Cầu Phật của Hoàng Cầm chứng tỏ kiểu thơ tâm linh ấy:
Ngủ quỳ chân Phật thức thâu đêm
Nghìn mắt không soi tỏ nỗi niềm
Mảnh lá run xanh khe suối nép
Nghìn tay sao nỡ thắt y xiêm
Chế Lan Viên, một đối chọi về phong cách với Hoàng Cầm, từng
viết: “Phật trăm tay anh giấu mình vào cánh tay thứ mấy/ Nhiều tay chi thêm bối
rối trước đời”. Lời than vãn thông minh này là một triết lý nho nhỏ nhưng rất
sâu, gợi ra hình ảnh một con người suy tưởng. Còn vị Bồ Tát Chuẩn đề của Hoàng
Cầm lại hiện lên theo cách khác, không phải trong hình dung của lý trí bảo ban,
mà như một lời thốt, lời van đa đoan: “sao nỡ thắt y xiêm”; điều đó có nghĩa rằng:
những cánh tay cứu chuộc kia có thể nào đóng lại vĩnh viễn những khát khao cùng
tận thể xác của con người? khép lại mọi nhục dục của con người? Có thể nào như
thế không? …
Xứ Phật nghìn năm vẫn làm rơi ra những câu thơ táo bạo và “liều
lĩnh” bực ấy. Nhà thơ của những sợi cỏ Bồng Thi vẫn tiếp tục liều lĩnh với đám thơ
nửa tiên nửa tục:
Cởi xiêm y mà thành cởi cả bóng chiều:
Trăng đêm qua chẳng nhớ về
Áo mong manh cởi chiều mê mải sầu
(Đi bên em)
Những “chạm”, “đau”, “khát”, “phun” đa nghĩa:
Ngón tay chạm hờ
Sợi cỏ đau điếng
Khát em đầy miệng
Bập bồng phun mưa
(Mưa chiều nắng chếch)
Những “vùng khe sâu”, “ngồi”, “đứng”, “chìm”, “nổi” vừa tạo
hình thủy mặc thanh nhã vừa gợi những ẩn tình…
Em lấy cõi mưa nhung
Miên miên tơ óng xuôi vùng khe sâu
Em ngồi đâu chị đứng đâu
bỗng dưng hai đứa hai đầu hư không…
Em chìm chưa Chị nổi chưa
bỗng dưng hai đứa hai bờ tháng năm
(Gọi đôi)
Trộn lẫn “đỉnh”, “ngực” vào tiếng chuông xuất thế:
Ôm em đỉnh núi sao buông thấp
hai ngực hòa tan một tiếng chuông
(Chùa Hương)
Đẩy những trụi trần vào chốn âm dương huyền vi:
Tình cờ đâu triệu triệu năm
Bỗng nằm
bỗng thắm
bỗng chằm hai thân
Bỗng âm dương toát mình trần
Để sinh chi chit mắt ngần chớp mi
Để thành em của huyền vi
Âm vang khối sét cành si khuấy trời…
Vỡ anh bừng tiếng kêu thầm
Vũng mê nũng gối nguyệt cầm gọi đôi…
gợn anh linh
suối mê động cửa khép mình thương sao
(Thèm)
Hoàng Cầm đánh bẫy người đọc bằng kiểu viết hoa của ông. Nhất
là hai nhân vật trữ tình thuộc loại đáo để nhất là Chị và Em, khiến người ta
hay có xu hướng cảm nhận đó là ám ảnh duy nhất của thơ ông. Nhưng ông còn viết
hoa cả chữ Anh nữa. Vậy đâu phải trong ông chỉ có niềm ám ảnh tình “chị chị em
em” sến sẩm. Trong thế giới được tâm linh hóa đến từng cử chỉ, từng ước vọng đa
tình, mỗi đại biểu đa tình ấy đều được nhà thơ viết hoa. Con người hiện ra như
một sinh thể linh thiêng, thế giới hiện ra như một khối linh thiêng, cuộc giao
hoan hiện ra như một nghi lễ linh thiêng. Đó là sự cô đặc đến kiệt cùng một lối
tư duy chọn tâm linh làm nơi giải mã mọi bi hoan của đời.
3. Nghĩ về một “mỹ cảm linh hóa” trong thơ Hoàng Cầm
Rất nhiều nhà thơ vẫn là đỉnh cao dù họ chỉ xuất hiện một vài
lần với một vài bài thơ hoặc một vài câu thơ trứ danh. Một vài lần đáng giá ấy
cho thấy họ được sinh ra từ một nền mỹ học nào đó, kết quả của một đợt “kết tụ”
thầm lặng nào đó những giá trị mỹ học mà họ đã dung hóa được. Còn một số ít nhà
thơ khác thì ngược lại, chính họ sinh ra mỹ học bởi khối trước tác khổng lồ về
nhiều mặt của họ. Nguyễn Du là một thi hào đẻ ra mỹ học cho truyện thơ Nôm, cho
lục bát, cũng như Hồ Xuân Hương đẻ ra mỹ học cho một kiểu thơ Nôm dạn dày phồn
thực . Ở thời hiện đại, những nhà thơ biết đẻ ra một mỹ học cho mình không phải
nhiều. Tất nhiên “mỹ học” ấy là một cách nói đứng từ góc độ thưởng thức hơn là
từ quan niệm khoa học. Trong con số ít ỏi đó có Hoàng Cầm.
Thơ Hoàng Cầm gợi cho tôi ý nghĩ về một “mỹ cảm linh hóa”.
Tránh từ “thiêng hóa” vì trong thế đối trọng sẽ có từ “giải
thiêng”. Hoàng Cầm không phải là người thiêng hóa rồi giải thiêng. Không có cuộc
lật đổ nào trong thơ ông cả. Thế giới đó linh thiêng từ đầu đến cuối.
Nụ cười của nàng hàng xén phải là “mùa thu tỏa nắng”, chiếc yếm
cổ truyền dù bị “phanh” ra, “quăng” hết nhưng phải là “yếm đào trút lại phía vô
linh”, lá rơi thì không phải “vèo qua” mà phải là “rơi trên bờ lạnh thuở hồng
hoang”, còn ngày gặp lại em thì “Bao giờ Anh xế về Em/ Ôm cây cỏ đắng ủ men cuối
đời/ Cung đàn hoàng tử ngậm ngùi/ nghĩ sao thuở ấy hé cười ánh trăng”, lên chùa
Hương chẳng giản đơn mà “Em trẩy chùa Hương phía giải oan”, “Anh trẩy chùa
Hương phía xót thương” để rồi “Cầm tay em lạnh đưa đi mãi/ mê mải rừng mai thấp
thoáng hương”… Không nỡ để bất kỳ một hiện hữu nào thiếu đi bóng tâm linh, thơ
Hoàng Cầm khiến người đọc không yên, hiểu ít hiểu nhiều cũng đều không yên, bởi
những phấp phỏng rất thật và rất lạ trong mỗi bài thơ. Cũng vì thế, mỗi câu thơ
đắc địa của Hoàng Cầm đều mở ra những chân trời thăm thẳm. Suy cho cùng, tâm
linh cũng là một quyền lực. Trong một bài phỏng vấn, Hoàng Cầm trả lời rất
trong sáng: “Thần linh đọc Diêu Bông, tôi chép Diêu Bông”. Không, có lẽ không
phải thần tiên giáng bút đâu. Ông nâng niu cảm hứng của mình, đặt cho nó cái
tên là Thần linh. Linh hóa chính cảm hứng của mình, điều ấy sẽ dắt đưa ông đến
những bờ thơ ít người lai vãng, nhưng âm vang của nó lại xuyên biết bao không
gian thời gian. Dịch thơ Hoàng Cầm ra tiếng nước ngoài hẳn là rất khó, vì phần
hồn ảo diệu mơ hồ trong đó quá nhiều. Dịch ngôn từ thì sao khó bằng dịch hồn.
Mà hồn thì có cách nào dịch được?
Trường hợp Hoàng Cầm là cả một sự mâu thuẫn: viết như ông ít
người hiểu, ít người bắt chước được, nhưng viết như ông thì được công chúng yêu
mến “điên cuồng”. Những ý thơ như: “Anh đàn em hát níu xuân xanh”, “yếm rách
còn ngăn được gió – tình em dang dở yếm nào che”, “diêu bông hỡi diêu bông”… đều
đã sống tươi tắn trong những giai điệu đẹp của nền nhạc nhẹ Việt Nam.
Hoàng Cầm là nhà thơ được nhiều độc giả yêu mến và “lựa” được
người đọc mình. Bài viết “Hoàng Cầm - một đời nhớ tiếc, một đời níu xuân xanh”
của Hoàng Hưng, người đồng hương, người cùng hội cùng thuyền thơ ca, chứa đựng
rất nhiều ý tưởng quan trọng trong việc định hướng tiếp cận giá trị thơ Hoàng Cầm:
“Trong suốt hai thập niên trở thành gương mặt văn học “ăn khách” bậc nhất, ông
luôn xuất hiện như một khách thơ tài hoa đa tình quanh quẩn với hai loại tình:
tình quê hương quan họ và tình “chị - em” độc đáo, ông như bị chế biến thành
món giải trí dễ dãi cho một số đông tò mò hơn là thực sự thưởng thức văn
chương”, và “Rất ít người để ý đến một Hoàng Cầm mới lạ của tổ khúc thơ rock
siêu thực - xuất biểu có một không hai trong thơ Việt Nam”, rằng tập thơ Về
Kinh Bắc là “thế giới hoài niệm với thơ là nơi bấu víu, là nguồn sống, là năng
lượng giải thoát độc nhất”, rằng nhạc điệu thơ Hoàng Cầm là thứ nhạc “dặt dìu,
đón đưa, dan díu, buông bắt”. Những ý tưởng này không phải của một người đọc
bình thường, mà là sản phẩm của một niềm yêu vô kể và đớn đau vô kể, sản phẩm của
một người đọc tri kỷ và nhẫn chịu nhiều phiền lụy từ tình yêu thơ. Tiểu luận
Hoàng Cầm, gã phù du Kinh Bắc của Chu Văn Sơn là bức phù điêu tạc tượng thơ
Hoàng Cầm. Nhãn tự của bài viết là chữ “phù du” - một thứ nhãn tự nói được quá
nhiều khí chất, tư dung, ám gợi và cảm nghiệm của nhà thơ Hoàng Cầm. Và rất
đáng chú ý, bài viết Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng Cầm của Đỗ Lai Thúy nhận được
“một đảm bảo vàng” từ Hoàng Cầm với lời bình luận rằng người viết đã “bóc ra
đúng cái con người thầm kín ở trong ông”.
Bấy nhiêu tên tuổi ở ngay buổi đương đại này cũng là những “đảm
bảo” đáng giá cho sức sống của một tài thơ. Thơ khó đọc mà chọn được cả người đọc,
chọn được cả công phu và sở trường của người đọc là rất hiếm. Hoàng Cầm, người
thơ xứ Thuận Thành, người mãi ham mê “vớt mắt em về bến hóa sinh” đã làm được
việc ấy. Hoàng Cầm đánh thức tinh hoa của những người chịu đọc ông. Tôi cho rằng
đó là vinh dự lớn hơn hết của một đời thơ; dường như hơn cả niềm vinh dự “được
tuổi trẻ hoan nghênh” như chàng Xuân Diệu năm xưa.
[1] Nhiều tác giả, Xuân thu nhã tập, NXB Văn học, HN,
1991, tr 20.
[2] Toàn bộ thơ Hoàng Cầm được trích dẫn trong bài viết
này đều lấy từ nguồn: Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn (2003), Hoàng Cầm tác
phẩm - Thơ, NXB Hội Nhà văn, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội.
[3] Chữ dùng của Đỗ Lai Thúy trong Hồ Xuân Hương, Hoài
niệm phồn thực, NXB Văn học, Hà Nội, 2010.
[4] Đỗ Lai Thúy, Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng Cầm, http://vanhoanghean.com.vn/
Hà Nội, ngõ Trần Cao Vân, 2/2014
LÊ THỊ THANH TÂM










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét