Đi qua một đời
Có rất nhiều ý tưởng lãng mạn cho mùa thu. Chúng ta vẫn bảo mùa
thu đẹp, mùa thu là những vàng đỏ của rừng phong, là những bản tình ca bất tận,
là chuỗi hương ngọt ngào vương vấn không buông. Thế mà, năm nay, tôi không có được
bao nhiêu ý tưởng đẹp đẽ cho mùa thu. Nhìn lớp lá trải mỗi ngày một dày hơn, ngẫm
về những chuyến xe và những hành trình, tôi tưởng mùa thu đi qua… như qua đi một
đời người.
Vừa tròn mười năm ngày mất của ông tôi. Trong suốt khoảng thời
gian mười năm ấy, mỗi lần chứng kiến một ai đó qua đời, những kí ức ấy vẫn chảy
về trong tôi. Tôi thấy một đứa bé gái khóc thút thít, nhiều lúc tưởng chừng như
quá tuyệt vọng và không còn chỗ bấu víu. Nhưng, không chỉ có một màu u xám ấy,
tôi thấy những ý niệm giữa hai ông cháu lớn dần. Sự quý trọng tôi dành cho ông
mỗi ngày một lớn hơn. Tôi thấy tôi yêu quý ông hơn ngày xưa rất nhiều. Tôi nhớ
thuở còn gặm nước đá cục, hay nghịch đất, hay bứt hoa bứt lá chơi đồ hàng xả đầy
sân, tôi nhớ mình từng cãi ông thế nào. Mười năm qua, những gì tôi nói được với
ông đều nhẹ nhàng hơn, thân thương hơn và dường như trưởng thành hơn. Tôi có một
cái tật, hễ người lớn nói khó nghe là bắt đầu cãi. Nhưng, với Ngoại, người đã nặng
tai hơn chục năm, tôi để Ngoại nói đi nói lại hết điều này sang điều nọ, tôi để
ngoại tua một cuốn băng đã được thu từ xa lắc lơ mà vẫn thấy vui. Chỉ cần nghe
Ngoại nói là tôi vui vậy, bất kể là điều gì… Còn Nội, có thể trong sương thiên
thu, bên tiếng gió rì rào, ông vẫn đang nói cho tôi nghe hằng ngày, ít nhất mỗi
khi tôi nhớ ông, ông vẫn phản hồi thì thầm bên ấy. Cảm giác đang lắng nghe nhau
luôn ở đấy, chẳng qua, tai này không rõ mồn một tiếng mà thôi. Có phải, giữ yên
lặng với nhau nhiều hơn, chúng ta sẽ trân trọng nhau hơn, có nói cũng không nỡ
làm nhau đau lòng, thân thương hơn là thế?
Tôi nhớ, ông chỉ dạy được cho tôi vài từ ngữ vỡ lòng. Mỗi khi
nhìn những tập giấy dày ông viết ngày xưa, nhìn những pho sách cũ, tôi cũng
mong ông vẫn đang còn sống đây, để tôi chẳng biết thì có thể hỏi han ông. Nhiều
lúc, tôi ghét phải tự mày mò quá! Thì vẫn theo cái nòi, cái nghiệp ấy, nhưng khác
với việc bố làm bác sĩ thì con làm bác sĩ, nghiệp của ông - của bà đã cách ly
cháu chắt một thế hệ lại đến theo cơ duyên. Một cơ duyên mà chỉ khi lần mò đến
tận cùng đích, người ta mới mường tượng được cơ duyên đấy là thế nào.
Có một người kề bên chỉ dạy cũng tốt. Nhưng vốn dĩ, “Bụt
chùa nhà không thiêng”, ông bà cha mẹ chưa chắc đã dạy được con cháu. Thế là tôi
cảm thấy vui trong lòng, vui vì suốt mười năm qua, tôi nghĩ mình đang đi theo ông,
thực như một đứa cháu nhỏ, không cãi bướng, luôn nghe lời. Ông không còn dạy tôi
thêm một con chữ nào nữa, chỉ đi đằng trước rồi đứa cháu nhỏ như tôi lẽo đẽo đằng
sau. Chẳng như cô bé trong bộ phim Bướm (Le papillon) thi thoảng còn giận, còn
làm ông hàng xóm phát điên, chuyến hành trình của tôi với ông thì cứ thế mà bình
yên tiếp diễn.
Một thời gian đủ dài, khi nhìn lại, tuổi thơ, thời niên thiếu
cũng đã đi qua. Tôi đã qua một vài cái mốc mà người ta đánh dấu cho tuổi trẻ.
Vui có, buồn có, đủ dư vị. Phải chăng, vì bền bỉ đi theo như vậy mà tôi trưởng
thành?
Một thời gian, tôi không dự đám tang của bất kì ai, tôi không
muốn những giọt nước mắt vô thức trở về, tôi sợ mình lại chợn ngợp trong những
nỗi đau li tán. Tôi không muốn thấy lại những đứa trẻ khóc thương ông ngày nào.
Chúng bây giờ đã lớn cả, chúng cười và hết bâng quơ rồi, chúng đã hiểu đời là
chuỗi sinh-ly-tử-biệt. Mỗi lần đi xa quá lâu, những ý nghĩ sẽ vụt mất ai đó
trong khoảng thời gian xa nhà làm tôi buồn nức nở. Những ý niệm ấy không phải
không xuất hiện, mà còn thường xuyên, làm tôi đau đáu cả khi xa nhà rồi. Nhiều
khi, chính những người thân thương nhắc đến, tôi lại thấy bức bối lòng, chẳng
phải tôi vô tâm đến độ chưa mường tượng những chuyện ấy xảy ra. Kỳ lạ thay, đến
lúc chạm cái ngưỡng mười năm ấy, tự dưng cái chết trở thành một ý niệm rõ ràng
và trung thực hơn với tôi. Cái gọi là vô thường của đời sống (mà
theo tôi hiểu, sự đời là thiên biến vạn hóa, không có gì mãi được, cũng không yên
ổn luôn được, vô thường là bấp bênh và biến đổi) bao hàm cả sự bình
thường của cái chết đây:
“Mười năm chân bước trên đường dài,
Gặp nhau không nói, không nụ cười
Chút tình, dường như hiu hắt bay.
Mười năm khi phố, khi vùng đồi
Nhìn nhau ôi cũng như mọi người,
Có một dòng sông đã qua đời…”
Đôi khi, người ta chỉ cần dựa trên âm thanh để biết về thế giới:
có nơi, người ta giao tiếp với nhau bằng lời nói, có nơi người ta trò chuyện cùng
nhau bằng sự im lặng. Tuyệt vời là khi ta ở khe nứt của những thế giới đó. Buồn
thay, trong thực tế, ít khi chúng ta lọt được vào khe nứt hạnh phúc ấy, chỉ có
sự im lặng mà ta cho là không thể hiểu được, sự im lặng của chia cắt và đứt đoạn,
sự im lặng của những niềm riêng không thể, hoặc không muốn chia sẻ:
“Này niềm riêng như nước mắt đầy vơi,
Đâu đây vang vang tiếng buồn gọi mời
Ôi nỗi sầu đong chất ngất
Như một ngày, như mọi ngày
Như vạn ngày không thấy đổi thay…
Có những niềm riêng một đời giấu kín,
Như rêu như rong đắm trong bể khơi
Có những niềm riêng một đời câm nín
“Hãy nghiêng đời xuống, nhìn suốt một mối tình
Chỉ lặng nhìn, không nói năng
Để buốt trái tim, để buốt trái tim.
Trong trái tim, con chim đau nằm yên
Ngủ dài lâu mang theo vết thương sâu
Một sớm mai chim bay đi triền miên
Chị tôi mất chồng, mất mẹ rồi mất cha. Cái ngày ấy, chị chỉ cười
khẩy, chị cười cho cái chát đắng đã quen với lòng mình. Nỗi đau trải qua nhiều
rồi cũng thành quen. Cái sinh ly tử biệt chị đã thấu. “Chim bay đi triền
miên”, kẻ ở lại vẫn phải sống và phải sống tốt. Chúng ta dựa vào nhau, nhưng không
cộng sinh với nhau. Chúng ta là một bản thể sinh ra một mình và chết đi một mình.
Có thêm một ai bên đời là quà tặng và ơn ban, mà ơn ban thì há gì đòi hỏi được?.
“Hãy yêu ngày tới, dù quá mệt kiếp người
Còn cuộc đời, ta cứ vui
Dù vắng bóng ai, dù vắng bóng ai…”
P.S: Ảnh minh họa trong bài viết là cây ngân hạnh (rẻ quạt),
loài cây thiêng liêng biểu tượng cho sự bền vững và trường tồn.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét