LỜI DẪN - Ở phụ lục sách này, tôi
đưa một số tư liệu ít nhiều liên quan đến tiểu thuyết SỐ ĐỎ. Đó là hai truyện
ngắn của Vũ Trọng Phụng, từng đăng báo trước khi công bố SỐ ĐỎ, mà xét về toàn
bộ văn bản hoặc một phần đề tài, có thể thấy là đã được nhà văn sử dụng lại nhiều
hoặc ít, vào văn bản SỐ ĐỎ. Truyện Cuộc Vui Ít Có (từng đăng tuần
báo Nhật Tân, 1933) đã được nhà văn đưa vào chương VIII để làm nên nội
dung “Cuộc khẩu chiến của mấy nhà khoa học”, cụ thể là cuộc đấu khẩu của hai
“danh y” lang Tỳ và lang Phế. Truyện Rửa Hờn (từng đăng tuần
báo Loa,1935), tuy không được tác giả sử dụng lại trực tiếp vào SỐ ĐỎ,
nhưng nó cho thấy nhà văn đã từng viết về giới cảnh sát trật tự công cộng đô thị,
đề tài mà ở SỐ ĐỎ, ông sẽ phát triển thành cả một mạch truyện với cả một nhóm
nhân vật. Tôi cũng đưa vào phụ lục sách này hai truyện ngắn của nhà văn Pháp G.
Maupassant, được nhắc tới ở chương XVII Số Đỏ, liên quan tới hai nội dung
“Một vụ cưỡng bức” và “Cuộc điều tra của nhà chuyên trách” của chương này. Bản
gốc chữ Pháp được lấy từ nguồn Wikisource.org, bản dịch của nhà văn Châu Diên
(tức Phạm Toàn). - L.N.A.
CUỘC VUI ÍT CÓ
Tôi ở chơi nhà một người bạn ở làng này đã trọn năm hôm, sợ phiền
nhiễu mãi người anh em không tiện nên buổi trưa hôm ấy đã định tâm xin phép
"xách khăn gói" lên đường.
Giữa lúc khách xin ra đi, chủ nhất định giữ lại, chưa ngã ngũ
ra sao, chợt thấy chó sủa vang lên với tiếng người nhà quát chó ầm ĩ. Rồi một
người đã đứng tuổi, mặt đỏ bừng nhiệt khí của thần rượu, bước vào. Bạn tôi quay
ra tiếp khách, tôi cũng phải giữ lễ, lại ngồi xuống ghế, lặng im.
Đây, câu chuyện của hai bên.
− Gớm, ông anh bận gì mà cho nó sang mời năm bảy lượt
cũng chửa chịu sang cho.
− Tôi đã xin đến chiều sang mà lại...
Ông khách đó tức khắc hiểu ý, quay lại phía tôi mà rằng:
− Hay là nhân tiện chẳng mấy khi ngài về, mời ngài rời
gót ngọc lại tệ xá xơi chén rượu nhạt mừng cho ông tôi thì chúng tôi thực lấy
làm hân hạnh quá. Thế nào? Ông anh bảo thế có tiện không?
Tôi chưa biết đáp ra sao, cũng chưa hiểu đầu đuôi thế nào, bạn
tôi đã đỡ lời hộ:
− Vâng, để tôi xin nói với anh tôi. Nhưng dù sao cũng
xin cho đến bữa chiều...
Ông kia ra ý rất hài lòng:
− Vâng, thì đến chiều. Miễn các ông anh nhận lời cho là
đủ. Thật là may quá! Thôi, thế tôi xin phép...
− Kìa, hãy ngồi chơi uống chén nước đã...
− Thôi, tôi phải về thu xếp cho bọn khách ấy trổ tài hiến
chư vị trong làng đây!
− Cái gì? Bọn khách nào trổ tài?
− Kìa, thế ông anh chưa biết à? Bọn khách làm trò quỷ
thuật mà lại...
− Thế à? Lôi ở đâu về thế? Sao bảo hát chèo?
− Không, hát chèo sợ tẻ và thường quá. Nhân tiện có bọn
khách đang kiếm ăn ở phủ nên tôi thuê về nhà làm trò cho thêm vui. Này, ôi chà!
Họ lắm cái giỏi lắm!
− Thích nhỉ! Thế thì nhất! Nhưng bao giờ? Họ đã về
chưa?
− Rồi! Đang sắp sửa đấy... Hay là mời hai ông anh cùng
sang một thể?
− Thôi được, bác cứ về. Dăm phút nữa chúng tôi đi.
Khi ông ta đi rồi, bạn tôi mới "giới thiệu vắng mặt"
đó là ông thủ quỹ, nhà đang có việc mừng vì ông bố ăn khao bảy mươi.
Tôi chưa kịp trách bạn tôi sao đã vội nhận trước khi biết ý
tôi thế nào, bạn tôi đã nói chặn:
− Nhận cũng phải. Người ta là người trung hậu tử tế,
mình phải nể lời. Vả lại... có ngại gì? Trước lạ thì sau quen!...
Rồi bạn tôi ra với lấy cái khăn trên mắc áo.
Gần khắp mặt già trẻ lớn bé trong làng tề tựu cả ở sân nhà
ông thủ quỹ để chờ sẵn cuộc cầu vui cho mắt.
Các cụ ngồi đạo mạo trên những bộ ghế rải chiếu cạp điều, người
lớn với trẻ con đứng thành một ô vuông, mấy chú khách thì đang soạn mọi thứ đồ
dùng, thỉnh thoảng lại khoan tay lục hòm để vỗ về vuốt ve một con bú rù (1) và
một con chó.
Đến lúc đồ lề đã bày ra la liệt đâu đấy rồi, ông thủ quỹ ra
giữa sân, đứng cạnh một chú khách cởi trần trùng trục, đầu trọc lốc, hai mắt nhỏ
tý như mắt lươn nhưng bắp thịt ở ngực với ở tay nổi như những khúc rắn quấn khắp
người, rồi ông lên tiếng:
− Thưa các cụ, các ông, các bà đã có lòng yêu đến mừng
cho cụ tôi, tôi thật cảm tạ lắm. Đáng lẽ chúng tôi xin hiến các cụ với các quan
viên hàng xã một buổi tối xem hát chèo, nhưng vì nghĩ rằng chèo là sự thường và
sợ tẻ nên tôi phải mời mấy chú này về trổ tài ở đây. Những chú này có võ nghệ,
có nhiều thuật rất tài tình, lại có nội công nữa. Một chú sẽ cầm thiết côn đập
vào ngực mình cho mà xem. Rồi chú ta lại lấy dao nhọn đâm vào cánh tay nữa.
Xong chú sẽ hiến các cụ, các quan một thứ thuốc cao để rịt đòn... Các chú sẽ trổ
tài về võ nghệ và nội công (ông quay hỏi chú khách), có phải nội công không?
Chú kia gật đầu:
− Nội koòng, nội koòng, pải!
− Nếu đích là nội công thì mới thật là giỏi chứ nếu quỷ
thuật là có khoé riêng rồi, là không giỏi...
Một cụ khác, có ria ở mép, thêm:
− Nội công hay không nhưng nếu sau phải lấy thuốc cao rịt
thì cũng chẳng có gì là phi thường.
Ông thủ quỹ hơi có ý bất mãn:
− Nếu các cụ không tin những nhời tôi tiến dẫn thì cứ
việc xem xét cho kỹ lưỡng mọi vật dụng đi. Đây, thiết côn, đây dao, với thuốc
cao nữa đây này... Tôi xin cam đoan cuộc này là một cuộc vui ít có.
Một cụ cao niên hơn cả đỡ lời:
− Đây chỉ có cụ Tỳ, cụ Phế là hai vị danh sư thì mới đủ
tư cách...
Bọn người làng cũng vội:
− Chính thế. Nhân tiện, hai cụ xem hộ cả thuốc cao cho
chúng con.
Cụ lang Phế, cụ lang Tỳ – hai cụ hoài nghi lúc nãy – cùng vội
vàng xuống ghế ton ton ra khám xét ngay.
Cụ lang Phế cầm cái thiết côn:
− Cái này không rỗng ruột đấy chứ? à, không.
Cụ lang Tỳ bĩu môi:
− Không! Đã chắc là không à?
− Con dao này có lò xo ở chuôi không? À, không thật.
− Phải khám kỹ vào chứ!
− Thuốc cao đây à? Dễ thường không phải...
− Đưa tôi xem nào! Chả thuốc cao thì còn là...
Cụ Phế thấy ông đồng nghiệp khó chịu, phát gắt:
− Cụ làm lối gì thế? Cụ coi tôi là thằng ngu ư? Dễ thường
chỉ một mình cụ biết nghề thuốc!
− Thế này mà bảo không phải thuốc cao!
− Thôi, tôi chịu ông rồi mà!... Ở vùng này chỉ có một
ông biết nghề thuốc!
− Biết hay không mặc xác tôi!... Anh không phải cà...
− Thì việc gì anh phải khoe giỏi? Đám ma nhà chị hai
Vòm lăn đường mẹ mới ngày hôm kia... Anh bốc thuốc tài hơn tôi thật chứ lại...
− A! a!... Nhưng bà cụ mẹ chị ta thọ đã ngoài sáu mươi
rồi. Anh muốn đổ tại tôi ư? Thôi, sao anh không nhắc đến chuyện con đĩ Chắt anh
bốc có hai thang mà lăn ra chết?
− Hai thang? Hai thang? Đứa nào ngoa ngôn thì giời đánh
nhé? Ai bảo nó sốt nó lại đi ăn chuối tiêu vào?!... Hai thang à? Thế anh chỉ
bán có một gói thuốc đau bụng mà thằng nhiêu Toét suýt bỏ mạng thì sao? Thế mà
cũng đòi là lang! Lang thế mấy lúc mà tù mọt gông? Lăng băm ấy à?
− Lang băm? Có lẽ!... Nhưng không làm đoạ thai người
nào thì thôi!
− À! Anh này to gan nhỉ? Nói nốt đi, nói nốt đi xem
nào?
− Chứ lại sợ à? Sẽ nói tại Toà Sứ cho mà xem...
− Này không phải doạ... Quan tỉnh sẽ trói anh lại có
ngày. Dễ không có người đau mắt mời anh đánh mộng rồi nổ con ngươi ra đấy ư?
− Số nó mù thì ai biết làm thế nào? Anh có muốn tôi nói
rõ tên cái thằng bé sài xuyễn mà anh cứ bốc mãi thuốc chữa dạ dày không?
− Sao không nói đến vợ Lý Còm, bệnh điều kinh mà anh
kêu là chửa?
(Vợ chồng Lý Còm đỏ mặt, kéo nhau chạy)
− Anh là thằng khốn nạn nhé. Cả nhà Chánh hội Bầu mắc
ghẻ ruồi mà anh dám nấu cho nó thuốc tim la anh quên rồi à?
(Cả nhà Chánh hội Bầu kéo nhau ra về)
− Thế còn nhà trưởng Toe thì sao? Nó hôi nách mà chữa
mãi bằng là ố nhĩ trong sáu tháng giời à?
(Trưởng Toe đẩy ba người ngã, đỏ mặt chạy)
− Sáu tháng? Thế trong hai năm sao anh không chữa cho
tan cái hạch ở háng cô Thoa đi?
(Cô Thoa trước khi chạy, kêu to: Đồ khốn nạn!)
− Anh có muốn tôi kể đến cái mụ goá chồng mà ngày nào
anh cũng lại đốt ngải cứu ở mông đít không?
− Anh không sợ tôi réo tên con bé mới mười lăm tuổi mắc
bệnh đau tức mà anh cứ lấy rượu thuốc để anh xoa vú nó à? Lang gì? Dê già thì
có!...
− Anh quên mất mấy lần anh chực hiếp dâm sư cô chùa này
mỗi khi sư cô ra mua thuốc sốt rét rồi ư? Đồ con lợn!
Người xem bỏ chạy gần hết. Chỉ còn hai ba anh giai làng tuổi
còn lấc cấc, bò lăn ra giữa sân không dậy được, vì cười...
Chú khách giơ hai tay lên giời:
− Tỉu nà ma cái lổ phồ! Ngổ ti về cái nội koòng!...
THIÊN HƯ
Chú thích:
(1) Bú rù: con khỉ
Nguồn: Nhật tân, Hà Nội, s. 18 (29.11.1933)
RỬA HỜN
Ngay khi nhảy lên yên chiếc xe đạp, thầy đội Chín Tư đã có một
ý nghĩ "Ta quyết chẳng đánh đập ai hôm nay".
Thầy vẫn biết: làm cái nghề phụ bạc này, không bị nguyền rủa
thì lại không trọn bổn phận, nhưng hôm nay, mùng một Tết, trước cảnh quang đãng
của bầu trời, vẻ rộn rịp tưng bừng của tiếng pháo, sự hớn hở của người quần nâu
áo vải cũng như của kẻ ngọc dát vàng đeo,−bao nhiêu cái nó khiến ngày Tết là
ngày của sự tha thứ chung− thầy Chín Tư bất giác cũng có những ý nghĩ
thương đời.
Được thương đời rồi, thầy rất vui, và vui rồi, thầy lại thấy
một cách kinh ngạc rằng người ta muốn có những phút mà tâm hồn thư thái lâng
lâng cũng không khó gì: chỉ việc không đểu với ai là được! Thầy hớn hở coi điều
ấy như một sự phát minh.
Chao ôi! Sao mà cuộc đời lại có thể tốt đẹp như thế!
Xác pháo trông đẹp, mùi thuốc pháo ngửi thơm. Ai cũng có quần
áo đẹp, ai cũng tươi cười. Ăn mày chẳng cần lè nhè nhiều, phu xe không phải giở
giọng vòi vĩnh. Cả đến bọn xúc xắc, bọn cò quay, được ngày "tháo
khoán" nên chi cũng vênh váo vác những bộ mặt "ta đây kẻ giờ".
Ông xếp tây cưỡi xe đi trước, thầy Chín Tư theo sau.
Đoành một cái, thầy chỉ quay lại, mỉm cười tha thứ cho cậu bé
tinh nghịch ném pháo trúng giữa lưng thầy.
Còn ông Xếp thì cứ việc khoan thai đạp bàn đạp, cũng không thấy
có những dáng điệu lăm lăm như mọi ngày, chỉ tựa hồ như một nhà văn sĩ quan sát
cái vui vẻ của một dân tộc ở một nước lạ xứ xa.
Đến một góc phố kia, bỗng thấy đám người xúm lại đông quá...
Thì ra trên vỉa hè chật hẹp có một đám cò quay, một gánh bánh
tôm, một hàng cam với hai đứa ma cà bông đấm đá nhau, chửi bới nhau đến vỡ trời.
Người xem xúm quanh như đám kiến quây quần một giọt mỡ.
− A lê đi!
Ông Xếp tây gác vào bờ hè cái xe đạp, cho mỗi chú một cái bợp
vào gáy rồi giải tán đám đông người. Mấy bác hàng rong vội quẩy gánh ra đi.
Riêng bác hàng cam, còn lúng túng buộc lại hào bao nên chửa đi ngay được.
Giọng gắt gỏng của ông Xếp tây đã có vẻ hứa mọi sự ác nghiệt:
− A lê đi!
Thầy Chín Tư run lập cập cả người. Bác hàng cam ấy, nào phải
ai xa lạ, lại chính là vợ thầy ta. Thầy vội vàng xuống xe, giơ cao cái roi da,
hòng những che mắt ông Xếp:
− Có mau không? Ông lại vụt cho một cái bây giờ!
Nhưng bác gái, thưa các ngài, tôi đã cam đoan là về cái ngu
thì bác ta chiếm kỷ lục đấy. Vì rằng không những bác không biết ý tứ mà quẩy
ngay gánh, lại còn liếc chồng một cái mà cười tủm, ngây thơ một cách rất khả ố,
vẫn lần chần tháo rồi buộc buộc rồi lại tháo cái ruột tượng, thật đủng đỉnh hơn
cái chĩnh trôi sông..., mà chung quanh chỗ ngồi, đống vỏ cam đã đủ là chứng cớ
cho việc làm trái luật lệ, mất vẻ mỹ quan của hè thành phố.
Ông Xếp tây, sốt tiết, đã sấn đến sừng sộ nắm lấy cái
quang...
Nhanh hơn, thầy Chín Tư đã giơ cao roi vụt cho chị hàng cam một
cái, thì ông Xếp cũng thôi, không lật úp thúng hàng.
Bác hàng cam nhăn nhó, nguýt chồng, cất gánh lên vai.
Thầy Chín Tư cũng nhẩy lên xe đạp.
Ông Xếp lại khoan thai đạp bàn đạp, đi trước.
Thầy lính lại đạp theo sau...
Thầy Chín Tư đã có những ý nghĩ khác trước.
Khi thầy đã không thể tử tế được với vợ thầy, vạ gì thầy còn
tử tế với ai.
Nhất là hôm nay, mồng một Tết, vợ thầy ta đã bị
"rông" rồi.
Một cái vụt tuy đã gỡ lại nổi một thúng hàng song một cái vụt
cũng là một sự đáng đau xót. Tất nhiên đêm nay, về nhà, vợ thầy thế nào cũng
giơ ra cái cánh tay tím bầm, cái cánh tay trắng nõn và ẻo lả mà thầy chỉ nắn một
cách âu yếm, những lúc đêm khuya. Rồi thầy sẽ phải cắt nghĩa rõ: nếu không thế,
thúng cam đã bị tung tóe khắp đường. Chẳng thà vợ thầy chịu đau đớn một tí còn
hơn...
Ấy thế là thầy Chín Tư bất giác có những cảm tưởng chua chát
về nghề. Thầy thấy tự mình đã làm một nghề khó khăn quá!
− Chó thật! Chó thật!
Thầy lầm bầm như thế rồi nhìn đến cái roi da.
Đã muốn vui, người ta không cho thầy vui. Đã muốn tử tế, người
ta không cho thầy tử tế. Phải chăng lỗi đó ở thầy? Mà đã không muốn để thầy tử
tế thì, đối với đời, với tất cả mọi người, nếu thầy cứ tử tế, thầy sẽ là thằng
ngu mà thôi!
Đây, mấy cái xe tay nghênh ngang. Mấy anh phu tưởng cứ ngày Tết
thì không cần e gì đến luật đi đường nữa.
− Mở hàng! Phải đánh mở hàng!
Thầy Chín Tư tháo cái roi mắc ở gọng xe ra cầm vào tay, vượt
xe ông xếp, lên trước. Vút! Vút! Vút! Một anh phu được một cái roi vào giữa cổ,
anh khác vào cánh tay, anh thứ ba, vào cạnh sườn... Lại còn lão già này nữa...
Vút! Lại một cái quật làm gẫy gập cái chắn bùn ở chiếc xe...
Rồi thầy lính lại lên xe, đi...
Đi sau, ông xếp Tây chắc hài lòng, sẽ cho thầy nốt tốt.
Đây kia... một đám đông. Hàng mía, hàng kẹo, hàng bún chả.
− Chỗ chúng bay họp chợ đây đấy à.
Vút! Vút! Vút! Cái roi cứ lần lượt đến hỏi tội vai cô hàng
mía, cổ bác hàng kẹo, bà cụ hàng bún chả, nhanh chóng và có hiệu lực biết bao!
− Mở hàng! Phải đánh mở hàng!
Thầy lính lên xe, vẫn còn lẩm bẩm.
Ông xếp Tây cứ khoan thai đi sau, không phải ra một câu hiệu
lệnh nào cả.
Kia, lại một đám ăn mày.
Một thằng què chống nạng, một con mẹ mặt mũi sù sì như mắc bệnh
phong, một lão mù tóc bạc phơ, gầy hơn cái ống sậy, với hai thằng bé hở ngực, hở
đít, tuy có quần áo song lại quá cởi truồng. Chúng quây nhau quanh một cái lá
sen. Khố tải, chiếu rách chúng giải la liệt. Thật là một cái núi trấn lừng lững
cả bờ hè. Chung quanh chúng, ruồi với nhặng vừa bay vo ve loạn xạ hơn cuộc thao
diễn về nghề hàng không ở nước Nga La Tư... Chao ôi! Còn đâu là vẻ mỹ quan của
thành phố!
Thầy Chín Tư ghếch xe đạp vào vỉa hè.
− Chỗ chúng mày ngồi đây à?
Cái roi da lại được giơ cao. Mà bàn tay trái, không có roi,
cũng giơ cao.
Thằng què nhăn nhó xoa cánh tay. Con mụ hủi bưng lấy mũi, cố
ngăn hai giải máu đào. Ông lão lòa thì... đầu râu tóc bạc, chả nỡ đánh, thì...
phốc một cái, gói lá sen đựng bữa tiệc trong tay ông lão té nhào xuống rãnh! Mấy
mẩu bánh chưng góc, mấy củ dưa hành chìm lỉm vào dòng nước đen và hôi.
Rồi thầy cảnh sát lại lên xe đi...
Rồi cái roi da lại cứ việc... mở hàng.
Chiều đến, về đến nhà, thầy được vợ nhìn mình một vẻ rất oán
hận. Chả biết nói gì cả, thầy chỉ xoa cánh tay tím bầm của vợ mà rằng:
"Thôi, chịu vậy. Nghề tao phải thế, mà chả cứ mình mẹ mày rông ngày Tết
đâu". Sau cùng, thầy ngửa cổ cả cười.
Cái cười ròn, kêu ha hả ấy chính là sự sung sướng.
Vì nó giống cái sung sướng của đấng cứu thế, khi bị đóng đanh
câu rút, vì nó giống cái sung sướng của một đôi trai tài gái sắc yêu nhau rồi lấy
được nhau, vì nó chính là cái sung sướng riêng của một ông lính cảnh sát, thưa
các Ngài!
Cái sung sướng ấy phát tự đáy lòng phát ra.
VŨ TRỌNG PHỤNG
Nguồn: Loa, Hà Nội, s. 52 (7.2.1935)
Truyện ngắn Guy de Maupassant:
BÀ CHỦ
Tặng bác sĩ Baraduc
Georges
Kervelen kể, hồi đó tôi sống trong một căn nhà cho thuê có đủ đồ đạc ở phố
Saints-Pères. Khi cha mẹ tôi quyết định tôi sẽ lên Paris học Luật, cả nhà bàn
cãi om sòm về đủ thứ chuyện. Món tiền trọ chi cho tôi ban đầu ấn định là hai
ngàn năm trăm franc, thế nhưng bà mẹ tội nghiệp của tôi bỗng lên cơn hoảng sợ
và bà nói toạc ra với bố tôi: "Ngộ nhỡ hắn tiêu ngoém hết tiền rồi hắn ăn
uống thất thường, thì sẽ tai hại cho sức khỏe của hắn lắm đó. Bọn thanh niên
này có gì mà chúng không dám kia chớ."
Thế là cả nhà quyết định tìm cho tôi một nhà trọ, một nhà trọ
khiêm nhường và đủ tiện nghi, và gia đình tôi hàng tháng sẽ trực tiếp chi trả mọi
khoản.
Trước đó, tôi chưa bao giờ đi xa khỏi Quimper. Tôi ước ao mọi thứ gì mọi người ở tuổi tôi vẫn ao ước và tôi sẵn sàng để bằng mọi cách sống một cuộc đời vui vẻ trẻ trung.
Trước đó, tôi chưa bao giờ đi xa khỏi Quimper. Tôi ước ao mọi thứ gì mọi người ở tuổi tôi vẫn ao ước và tôi sẵn sàng để bằng mọi cách sống một cuộc đời vui vẻ trẻ trung.
Các ông bà hàng xóm được cha mẹ tôi hỏi ý kiến đã giới thiệu
một người đồng hương có nhận chứa trọ là bà Kergaran. Thế là cha tôi viết mấy
lá thư cho con người khả kính đó, và rồi vào một buổi chiều sẩm nọ tôi tới nhà
bà cùng với một chiếc hòm.
Bà Kergaran khoảng chừng bốn
chục. Thân hình mạnh khỏe, rất mạnh khỏe, giọng bà nói như một viên đại úy luyện
tân binh và giải quyết mọi chuyện bằng một từ rõ ràng và dứt khoát. Nhà bà chật
chội, mỗi tầng chỉ có một cửa mở trông ra đường phố, dáng dấp nom như một cái
thang làm bằng cửa chớp, hoặc giống như một khúc bánh mì kẹp với hai bên là hai
căn nhà khác.
Bà chủ ở lầu một với cô hầu; nấu nướng và ăn uống thì ở
lầu hai; bốn khách trọ dân Bretagne ở lầu ba và lầu bốn. Tôi chiếm hai phòng ở
lầu năm.
Một lối cầu thang nhỏ hẹp đen đúa xoáy tròn như
cái mở nút chai dẫn lên hai phòng áp mái đó. Suốt ngày không ngơi nghỉ bà
Kergaran leo lên tụt xuống cái vòng xoáy trôn ốc đó, vất vả đủ chuyện trong căn
nhà hình ngăn kéo đó như một viên thuyền trưởng trong khoang chỉ huy con tàu.
Mười lần liên tiếp bà bước vào từng căn phòng, xem xét mọi thứ và tuôn ra đủ lời,
nhòm ngó coi giường nệm có ngay ngắn ngăn nắp không, xem áo quần có chải cẩn thận
không, xem tách chén có gì đáng chê trách không. Nghĩa là bà chăm nom các khách
trọ như một bà mẹ, còn hơn cả một bà mẹ ấy.
Rồi tôi cũng sớm làm quen với bốn bạn đồng hương. Hai
anh học Y khoa và hai anh kia học Luật, tất cả đều cùng chịu cái ách chuyên chế
của bà chủ nhà trọ. Các cậu sợ bà, như tên trộm lẻn vào vườn nhà người sợ ông
gác đồng.
Còn tôi thì ngay lập tức chỉ cảm thấy mình có nhu cầu được sống
độc lập, vì bản chất tôi là một kẻ nổi loạn. Tôi tuyên bố ngay từ đầu rằng tôi
muốn đi muốn về lúc nào là tùy tôi, vì bà Kergaran lại ấn định mười hai giờ đêm
là hạn cuối khách trọ phải về nhà trọ. Nghe tôi nói ý định đó, bà dùng hai con
mắt trong veo cắm chặt vào mắt tôi trong vài giây, rồi tuyên bố:
− Không được. Tôi không cho phép ai đánh thức cô Annette suốt
đêm. Quá nửa đêm, cậu không có việc gì để làm ngoài đường hết.
Tôi cứng cỏi đáp lại: "Thưa bà, theo luật định, bà có
trách nhiệm phải mở cửa cho tôi vào bất kỳ giờ nào. Nếu bà từ chối làm điều đó,
tôi sẽ báo cảnh sát và tôi sẽ đi ngủ khách sạn mà bà phải trả tiền, vì tôi có
quyền như vậy. Bà buộc phải mở cửa cho tôi hoặc là bà sẽ không cho tôi trọ nữa.
Hoặc là mở cửa hoặc là vĩnh biệt nhau. Bà chọn đi."
Tôi tỏ ý giễu bà khi đưa ra các điều kiện này. Qua phút sửng
sốt ban đầu một chút, bà tìm cách thương lượng, nhưng tôi tỏ ra bất trị, và bà
chịu nhún. Hai bên quy định tôi được giữ một chìa khóa riêng, nhưng với điều kiện
dứt khoát là không ai được biết chuyện này.
Sức mạnh tinh thần của tôi tác động hữu ích đến bà chủ,
và từ đó bà cư xử với tôi với một ưu ái rõ rệt. Bà chăm chút, săn sóc tôi, bà
giành miếng ngon cho tôi, và đôi khi còn có chút âu yếm bất ngờ mà với tôi chuyện
đó cũng chẳng phải là tôi không ưng thích. Đôi khi lúc tôi đang cơn vui, tôi
còn bất ngờ quàng tay ôm bà nữa, chỉ để liền sau đó nhận của bà một cái tát thật
mạnh. Khi tôi cúi đầu nhanh tránh cái tát, bàn tay bà vút qua đầu tôi với tốc độ
viên đạn, và tôi cười như thằng điên chạy trốn trong khi bà quát theo: "A!
Tên vô lại! Ta sẽ trị cho khi khác."
Thế là chúng tôi thân nhau.
Nhưng rồi đang đi bộ trên vỉa hè thì tôi bắt quen được với một
cô bé làm công cho một nhà hàng.
Bạn biết đó, ở Paris những chuyện tình ái vụn là như thế nào.
Một bữa kia, đang đi đến trường, ta bắt gặp một chàng trai trẻ đầu không đội mũ
tay khoác một nàng trước khi nàng đi làm. Ta và nàng trao nhau một ánh mắt và
ta thấy trong lòng một chút xốn xang mà cặp mắt một vài người đàn bà vẫn đem lại
cho ta. Đó chính là vài ba điều êm ái của cuộc đời này, những mối cảm tình vật
chất nhanh chóng ập tới vì một cuộc gặp gỡ thoáng qua, cái quyến rũ nhẹ nhàng
và tinh tế chợt gặp khi chạm khẽ vào một kẻ sinh ra để khiến ta thấy hài lòng
và để được ta yêu đương. Sẽ được yêu nhiều hay ít, chuyện đó có đáng gì? Bản chất
của ta có cái để đáp ứng lại chút ước ao tình ái kín đáo kẻ khác. Ngay lần đầu
tiên ta bắt gặp khuôn mặt ấy, cái miệng ấy, mớ tóc ấy, nụ cười ấy, ta thấy ngay
cái duyên kia nhập vào ta cùng với một niềm vui dịu dàng và ngọt ngào, và ta cảm
thấy một thứ hạnh phúc ngập tràn trong ta, và sự thức tỉnh ấy kéo theo một sự
âu yếm êm ái mơ hồ đẩy ta tới người đàn bà xa lạ nọ. Dường như trong người đàn
bà ấy có một tiếng gọi cho ta đáp lại, một sự hấp dẫn cho ta đón đợi; tưởng đâu
như ta quen nàng đã từ lâu, ta đã gặp nàng, ta biết rõ những gì nàng đang nghĩ.
Sáng hôm sau, cùng giờ ấy, ta đi lại con phố ta đi hôm
qua. Ta thấy lại nàng. Rồi ngày sau đó nữa, ta quay trở lại, và ngày sau nữa,
ngày sau nữa. Sau rồi đôi bên cất lời trò chuyện. Rồi cuộc tình vụn cứ thế diễn
ra, đều đặn thường kỳ như một căn bệnh.
Vậy là, sau khoảng ba tuần lễ, tôi đã cùng Emma bước
vào thời kỳ trước khi xảy ra cuộc sa ngã. Cuộc sa ngã lẽ ra đã xảy tới sớm hơn
nếu như tôi biết tìm chỗ nào khêu gợi nàng. Cô bạn bé bỏng của tôi vẫn sống
cùng gia đình và nàng quyết liệt từ chối bước qua ngưỡng cửa một khách sạn có đồ
đạc đầy đủ. Tôi vắt óc tìm cách, lập một mưu mẹo, tìm một cơ hội. Cuối cùng,
tôi chọn một cách làm tuyệt vọng là đưa nàng lên căn gác trọ của mình vào lúc
mười một giờ đêm, viện cớ mời nàng tách trà. Bà Kergaran ngày nào cũng đi nằm
lúc mười giờ. Vậy là tôi có thể lặng lẽ dùng chìa khóa riêng để về nhà, chẳng
khiến ai để ý cả. Sau một hoặc hai tiếng đồng hồ, hai chúng tôi lại xuống thang
gác theo cung cách đó.
Emma đã nhận lời mời sau khi để tôi nài nỉ một
chút.
Ban ngày hôm đó tôi thật khổ sở. Tôi chẳng thấy yên dạ
chút nào. Tôi lo sẽ có những rắc rối, một thảm họa, một vụ tai tiếng. Rồi tối đến.
Tôi ra phố, vào một hàng giải khát và uống hai tách cà phê và bốn hoặc
năm ly rượu nhỏ để thêm dũng mãnh. Rồi tôi đi dạo một vòng đại lộ Saint-Michel.
Chuông mười giờ vang lên, rồi mười giờ rưỡi. Rồi tôi bước chầm chậm tới nơi hò
hẹn. Nàng ở đó đợi tôi rồi. Nàng mơn trớn tựa vào cánh tay tôi, và chúng tôi nhẹ
bước đi về nơi tôi trọ. Càng đi gần tới cửa, nỗi lo âu của tôi càng tăng. Tôi
nghĩ thầm: "Miễn sao bà Kergaran đã đi ngủ rồi."
Hai ba bận tôi bảo Emma: "Em nhớ lên cầu thang thì nhẹ chân nhé."
Hai ba bận tôi bảo Emma: "Em nhớ lên cầu thang thì nhẹ chân nhé."
Nàng bật cười: "Có vẻ như anh sợ bị có người biết”.
− Không sợ, nhưng tôi không muốn làm thức giấc ông hàng
xóm đang bệnh nặng.
Đã đến phố Saints-Pères. Tôi tới gần nhà với cảm giác đến
phòng chữa răng. Tất cả các cửa sổ đều tối om. Hẳn là cả nhà đều ngon giấc. Tôi
thở mạnh. Tôi mở cửa khẽ khàng cẩn thận như thằng ăn cắp. Tôi đưa cô bạn cùng
đi vào nhà, rồi đóng cửa lại, và tôi nhón gót bước lên cầu thang, cố giữ hơi thở
và bật que diêm nến soi cho nàng khỏi vấp ngã.
Lúc đi ngang phòng bà chủ, tôi thấy tim mình đập thình
thịch. Rồi chúng tôi lên lầu hai, lầu ba, rồi lên lầu năm. Tôi bước vào nhà
mình. Thắng lợi rồi!
Tuy vậy, tôi chỉ dám nói khẽ, và tôi tụt đôi giày cao cổ ra để
không gây một tiếng động nào. Trà được pha trên đèn cồn, và được uống nơi góc tủ
con ở đầu giường của tôi. Rồi tôi thấy vội vã ... vội vã ..., và dần dà, như
trong một cuộc chơi, tôi gỡ bỏ dần từng lớp áo xống của cô bạn nhỏ, nàng để tôi
làm chẳng kháng cự gì, thẹn thò một chút, làm chậm trễ đôi chút cái thời khắc định
mệnh và thi vị.
Quả tình là khi đó nàng chỉ còn trên người một chiếc
váy trắng ngắn, và đúng lúc ấy thì cửa chợt mở, và bà Kergaran xuất hiện, một
tay cầm ngọn nến, trên người thì hoàn toàn giống như bộ trang phục Emma đang mặc.
Tôi nhảy phốc ra xa và đứng đó hoảng loạn, mắt nhìn hai
người đàn bà cũng đang nhìn vào mặt nhau chằm chằm. Chuyện gì rồi sẽ xảy ra
đây?
Bà chủ nói bằng giọng kẻ cả mà tôi không thấy ở bà bao giờ:
"Tôi không ưng có gái điếm trong nhà mình, thưa ông Kervelen."
Tôi lắp bắp: "Nhưng, thưa bà Kergaran, cô này là bạn
tôi, cô tới dùng chén trà với tôi."
Người đàn bà to lớn đẫy đà nói tiếp: "Không ai ăn mặc kiểu
này để dùng trà cả. Xin ông tống khứ ngay lập tức người này."
Emma, hoang mang, bật khóc, mặt úp vào chiếc váy. Còn tôi thì
không nói được gì, không biết làm gì và nói gì lúc này. Bà chủ nói thêm với một
uy lực không cưỡng nổi: "Ông hãy giúp cô này mặc lại áo xống và đưa cô đi
ngay lập tức."
Chắc chắn là lúc này tôi chẳng còn việc gì khác để làm,
và tôi nhặt lên chiếc áo váy đang bị vo tròn như trái bóng, như trái bóng xì
hơi, nằm dưới sàn nhà, rồi giúp cô gái chui đầu qua để mặc lại cho cô, rồi tôi
nỗ lực hết mình cố công cố sức cài các khuy và chỉnh đốn cho cô. Nàng giúp tôi,
và vẫn khóc hoài, hoảng loạn, vội vã, và nhầm lẫn hết chuyện nọ sang chuyện
kia, đến độ không biết đâu là khuy khuyết hoặc quai đeo; còn bà Kergaran thì vẫn
đứng đó, trơ trơ thản nhiên, tay cầm nến soi cho chúng tôi y hệt người đang muốn
làm sang tỏ công lý.
Giờ đây Emma đang hấp tấp mặc nhanh áo xống cho kín người,
điên cuồng thắt thắt cài cài buộc buộc, bị thúc bách vì nhu cầu thoát khỏi chốn
đây; rồi quên cả cái đôi giầy cao cổ nàng chạy ngang bà chủ và lao xuống lối cầu
thang. Tôi mang dép lê chạy theo nàng, chính tôi cũng ăn mặc hở hang, miệng lắp
đi lặp lại: "Thưa cô, nghe đây, thưa cô."
Tôi cảm thấy rõ ràng là mình cần nóí với cô nàng điều
gì đó, nhưng không sao cất nổi lời. Đúng tới cửa ra đường phố thì tôi bắt kịp
nàng, tôi muốn đỡ lấy cánh tay nàng, nhưng nàng mạnh tay gạt đi và lắp bắp nói
giọng trầm trầm kích động: "Kệ tôi ... kệ tôi ... đừng có đụng đến
tôi."
Và nàng đóng sầm cửa và bỏ chạy ra đường.
Tôi quay lại. Bà Kergaran đang ở lầu một, còn tôi thì
chậm chạm bước lên, sẵn sàng chờ đón mọi điều.
Căn phòng bà chủ để mở, bà mời tôi vào với giọng nói nghiêm
khắc:
"Tôi có chuyện thưa với cậu, cậu Kervelen."
Tôi cúi đầu đi ngang bà. Bà đặt cây nến lên bệ lò sưởi,
rồi hai tay khoanh trước bộ ngực đồ sộ trễ tràng che bởi tấm váy ngủ trắng:
− Hay thật đấy, cậu Kervelen, cậu coi nhà của tôi như
là cái nhà thổ!
Tôi không còn hãnh diện nữa. Tôi lẩm bẩm: "Không đâu, thưa bà Kergaran. Xin bà đừng nổi giận, nào, xin bà biết cho, tôi đúng là một chàng trai trẻ."
Tôi không còn hãnh diện nữa. Tôi lẩm bẩm: "Không đâu, thưa bà Kergaran. Xin bà đừng nổi giận, nào, xin bà biết cho, tôi đúng là một chàng trai trẻ."
Bà đáp lại: "Tôi biết là tôi không thích có những tạo vật
thô thiển như thế ở nhà mình, xin cậu hiểu cho. Tôi biết là tôi sẽ buộc mọi người
phải tôn trọng mái nhà của riêng tôi, và tôn trọng danh tiếng ngôi nhà này, ông
hiểu chứ? Tôi biết rằng ..."
Bà diễn thuyết trong ít ra là khoảng hai chục phút, đưa
ra đủ thứ lý lẽ để biện minh cho những điều phẫn nộ, bà kết tội tôi nhân danh
tiếng tăm tốt đẹp của doanh nghiệp nhà bà, gán cho tôi những điều
trách cứ nhói lòng.
Còn tôi (con người là một động vật đặc biệt) thay vì
nghe bà diễn giảng, tôi lại nhìn bà. Tôi chẳng còn nghe nổi một từ nào, hoàn
toàn chẳng nghe nổi chút gì. Cái con mẹ này, bộ ngực nhà chị ta hoành tráng thật,
trắng trẻo và mỡ màng, có thể hơi to, nhưng hấp dẫn khiến ta có những cơn rùng
mình ở sống lưng. Tôi chưa từng nghĩ là lại có những của như thế dưới làn áo
len của bà chủ. Khi ăn mặc hở hang, bà ta có vẻ như trẻ lại đến mười tuổi. Và
lúc này tôi cảm thấy mình thật nực cười, thật là … tôi vừa nói gì nhỉ? ... thấy
mình hoàn toàn xao động. Đột nhiên đứng trước bà ta, tôi trở về với cái thực trạng...
đã bị ngắt quãng một phần tư giờ đồng hồ trước đó ngay tại phòng ngủ của mình.
Và sau lưng bà ta, chỗ kia kìa, trong góc buồng ngủ,
tôi nhìn vào cái giường của bà ta. Cửa buồng mở hé, giường và chăn nệm nhầu
nhĩ, qua chỗ thủng của chăn nệm tôi hình dung thấy sức nặng tấm thân bà đè lên
đó. Và tôi nghĩ, chốn đó chắc là rất ấm nóng, ấm nóng hơn một chiếc giường nằm
khác. Tại sao lại ấm nóng hơn nhỉ? Tôi chẳng biết nữa, có thể là vì tấm thân bà
nồn nộn đã từng đè lên đó.
Còn có gì khiến ta xao động và thi vị hơn là một chiếc
giường xô xệch? Nhìn nó từ xa khiến tôi lâng lâng say, khiến làn da tôi gai gai
run rẩy.
Vẫn tiếp tục nói, nhưng bây giờ đã dịu giọng hơn, bà nói với
giọng bạn bè, tuy có cứng quèo nhưng ân cần, chỉ mong được tha thứ cho tôi mà
thôi.
Tôi lắp bắp: "Kìa ... thưa bà ... bà Kergaran...
kìa kìa ..." Và do chỗ bà ngừng nói để chờ tôi đáp lại, tôi liền
choàng cả hai cánh tay ôm lấy bà, và tôi bắt đầu hôn bà, hôn hôn hôn, hôn như một
kẻ sắp chết đói, như một tên đàn ông đợi chờ chuyện đó đã từ lâu.
Bà giãy giụa, quay đầu đi, song chẳng tỏ vẻ giận dữ bao
nhiêu, lặp đi lặp lại một cách máy móc theo thói quen của bà: "A! Tên vô lại!
... tên vô lại ... tên vô ..."
Bà ta không thể nói cho gọn từ đó, tôi đã nhấc bổng bà
ta lên, tôi bê bà ta đi, thân hình bà áp sát thân hình tôi. Hay thật đấy, đôi
khi chúng ta cực kỳ mạnh mẽ, đôi khi!
Tôi chạm vào thành giường, và tôi ngã đè lên bà, vẫn
không buông bà ta ra…
Quả thực là ở cái giường của bà cũng ấm và nóng thật.
Một giờ sau, ngọn nến đã lụi, bà chủ dậy thắp nối ngọn khác.
Và khi bà tới nằm vào bên tôi, thân hình bà với cặp đùi tròn và khỏe rúc dưới
chăn nệm, bà cất tiếng nói mơn trớn, mãn nguyện, có thể là hàm ơn nữa: "
A! Tên vô lại! ... tên vô lại ... tên vô ... "
PHẠM TOÀN dịch
Truyện ngắn Guy de Maupassant:
TỘI ÁC ĐỐI VỚI BÁC BONIFACE
Bữa đó, khi
bước ra khỏi nhà Bưu điện, bác bưu tá Boniface bỗng nhận ra rằng hôm nay ngày
làm việc có vẻ như sẽ không dài như mọi hôm, và bác bỗng cảm thấy vui vẻ lạ
lùng. Nhiệm vụ của bác là phân phát thư cho vùng quê chung quanh thị trấn
Vireville, và mỗi khi chiều xuống trên đường về sau một ngày làm việc mệt nhừ,
đôi khi trong cặp giò của bác có chứa tới bốn chục cây số chứ chẳng chơi.
Vậy thì hôm nay việc phân phát thư sẽ xong sớm; bác có thể la
cà một chút dọc đường và có thể về nhà mình sớm được ba giờ đồng hồ. May ơi là
may!
Bác đi ra khỏi thị trấn theo đường Sennemare và bắt đầu công
việc. Trời tháng sáu, tháng màu xanh và tháng hoa nở, cái tháng thực thụ của
vùng đồng quê.
Mình mặc áo blu màu xanh đầu đội mũ lưỡi trai đen có viền đỏ,
bác đi theo những con đường nhỏ băng qua những cánh ruộng cải dầu, lúa mạch hoặc
lúa mì, người bác chìm ngập đến vai trong mùa màng; và đầu bác trườn đi bên
trên các nhánh lúa như thể bồng bềnh trôi trên mặt biển thanh bình và mướt xanh
đang được làn gió nhẹ mơn man gợn sóng.
Bác bước vào từng nông trại qua những thanh chắn bằng gỗ chôn
vào vách đất dưới bóng râm hai hàng cây sồi, và chào gia chủ bằng tên gọi chân
quê của ông ta: "Chào lão Chicot", rồi bác đưa cho người kia tờ
báo le Petit Normand. Người chủ nông trại chùi tay vào đít quần, nhận tờ
báo, đút vào túi để rồi sẽ đọc cho thoải mái sau bữa trưa. Nằm trong chiếc cũi
đặt dưới cây táo xõa cành, con chó kéo căng sợi xích và sủa nhặng xị; còn bác
bưu tá vẫn chẳng thèm ngoái cổ chú ý, lại quay bước ra đi sải cẳng thật dài
theo dáng đi nhà binh, cánh tay trái giữ chiếc sà-cột còn tay phải chống vào
cây gậy, cái cây gậy cũng bước đi như bác, đi suốt, đi mãi mãi, và lúc nào cũng
vội vàng.
Bác phân phát ấn phẩm và thư từ tại xóm Sennemare, rồi bác lại
lên đường băng đồng để đem thư từ đến cho ông thu ngân ở một ngôi nhà nhỏ hẻo
lánh cách thị trấn một cây số.
Ông thu ngân này mới làm tên là Chapatis, tuần trước mới tới
đây và cũng mới cưới vợ trước đó chưa lâu.
Ông đặt một tờ báo xuất bản ở Paris, và đôi khi bác bưu tá
Boniface, khi rỗi cũng đảo mắt vào những hàng chữ in trước khi trao cho người
nhận.
Vậy là bây giờ đây bác mở sà-cột, lấy tờ báo ra, rút khỏi
băng ghi địa chỉ, mở ra và vừa đi vừa đọc. Trang nhất thì bác chẳng mấy quan
tâm; chuyện chính trị bác thấy dửng dưng; bác cũng đọc mục tài chính, nhưng những
tin tức vặt vãnh là bác mê nhất.
Bữa đó sao mà lắm chuyện vặt. Bác thấy cảm động thực sự khi đọc
chuyện tội ác gây ra tại nhà viên gác rừng, đến nỗi bác dừng lại giữa đám cỏ ba
lá để chầm chậm đọc lại từ đầu. Các chi tiết thật ghê tởm. Một người hái củi sớm
kia đi ngang nhà bác gác rừng chợt thấy có chút máu nơi bậu cửa, như là thứ máu
cam ấy. "Bác gác chắc là đêm qua đã hạ được con thỏ”, người này nghĩ bụng;
nhưng tới gần, người này thấy cửa nhà bác gác rừng mở hé và khóa bị bẻ. Thế là
người này hoảng sợ chạy về làng báo cho viên xã trưởng, vị này lấy thêm lực lượng
là ông gác đồng và ông giáo tiểu học; thế rồi cả bốn người cùng trở lại ngôi
nhà kia. Họ thấy ông gác rừng bị cắt cổ trước lò sưởi, bà vợ ông này thì bị cắt
cổ trên giường, và đứa con gái sáu tuổi của họ thì bị chết nghẹt giữa hai chiếc
nệm.
Bác bưu tá Boniface thấy vô cùng xúc động khi nghĩ tới vụ án
mạng đó với toàn bộ các cảnh kinh hoàng cứ hiện dần trở lại từng tình tiết
trong đầu mình, đến độ bác thấy đôi chân mình mềm nhũn ra, và bác nói thật to:
− Mẹ kiếp, vẫn có những kẻ thật khốn kiếp!
Rồi bác nhét lại tờ báo vào chiếc băng ghi địa chỉ và chân bước
đi mà trong đầu thì vẫn đầy những hình ảnh của tội ác. Chẳng mấy lúc mà đã tới
nhà ông Chapatis; bác nhấc chiếc thanh chắn khu vườn nhỏ và đi dần vào ngôi
nhà. Đó là một ngôi nhà thấp, chỉ có một tầng mé trên gác áp mái. Từ ngôi nhà
này sang nhà hàng xóm có dễ tới năm trăm mét.
Bác bưu tá bước lên mấy bậc tam cấp, đưa tay vào nắm ổ khóa,
thử mở cửa, và thấy rằng cửa vẫn khóa. Khi ấy, bác còn thấy là các cánh cửa sổ
vẫn đóng kín, và đúng là bữa đó không có ai đã ra khỏi nhà.
Bác thấy sờ sợ, vì kể từ khi tới sống ở đây, ông Chapatis bao
giờ cũng dậy khá sớm. Bác Boniface lấy chiếc đồng hồ ra. Mới bảy giờ mười
phút sáng, đồng hồ của bác có lẽ bị sớm gần một giờ. Chẳng sao, ông thu ngân hẳn
là phải dậy rồi chứ.
Thế là bác bưu tá đi một vòng quanh ngôi nhà, đi rón rén như
đang gặp nguy cơ nào đó. Bác chẳng thấy có gì khả nghi, ngoài những dấu chân to
của đàn ông trên một luống dâu.
Nhưng bỗng dưng khi đi ngang một chiếc cửa sổ bác khựng lại,
người cứng đơ vì sợ hãi. Trong nhà có tiếng ai rên rỉ.
Bác tới gần, xéo ngang một hàng rào cây húng, áp sát tai vào
bậu cửa sổ để nghe cho tỏ; chắc chắn là có ai đang rên. Bác nghe rõ những tiếng
thở thật dài đau đớn, kiểu thở khò khè, tiếng vật vã. Rồi tiếng rên càng rõ hơn
lên, gấp gáp hơn, mạnh lên, và chuyển thành tiếng kêu.
Thế là chẳng còn nghi ngờ gì nữa, một tội ác đã diễn ra ở
chính nơi đây, ở nhà ông thu ngân, bác Boniface chạy bổ đi, đi ngược trở lại
cái vườn nho nhỏ, lao đi ngang cánh đồng, xéo qua các cây trồng, chạy muốn đứt
hơi, chiếc sà-cột đập đập vào hông, và đến đồn cảnh binh, người mệt rũ ra.
Viên đội Malautour đang dùng búa và đục chữa một chiếc ghế
gãy. Viên cảnh binh Rautier kẹp chiếc ghế hỏng giữa hai đùi và chỉ vào chiếc
đinh lòi ra ở cạnh chỗ gãy; thế rồi viên đội, miệng vẫn nhai nắm ria mép của
mình, mắt tròn xoe và chăm chú hết sức, dùng búa đập mạnh trúng ngón tay của
người thuộc cấp.
Bác bưu tá vừa thấy họ liền nói:
− Đến nhanh lên, có kẻ giết ông thu ngân, nhanh lên,
nhanh lên!
Hai người kia ngừng tay và ngẩng mặt lên, hai cái mặt ngạc
nhiên thấy có người đến quấy rầy công việc họ đang làm.
Boniface nhắc lại vì thấy họ chỉ ngạc nhiên chứ không tỏ ra vội
vã:
− Nhanh lên! Nhanh lên! Kẻ trộm trong nhà, tôi nghe rõ
tiếng người kêu, nhanh lên vẫn còn kịp.
Viên đội đặt búa xuống đất và hỏi:
− Ai cho ông biết chuyện đó?
Bác bưu tá nhắc lại:
− Tôi đi đưa báo và hai lá thư, thế rồi thấy cửa đóng
còn ông thu ngân thì chưa dậy. Tôi đi vòng quanh nhà xem sao, thì nghe thấy tiếng
người rên rỉ như thể có người đang bóp cổ ai đó hoặc cắt cổ ai đó; thế là tôi
chạy thật nhanh để tìm báo các ông. Vẫn còn kịp đấy.
− Và ông không tự mình vào cứu à?
Bác bưu tá hoảng hốt đáp:
− Tôi sợ một mình thì không đủ sức.
Khi đó viên đội đã hiểu ra, liền tuyên bố:
− Chờ mặc đồ rồi tôi đi cùng ông.
Và ông ta vào trong trụ sở cảnh binh, theo sau là anh lính
mang chiếc ghế trở vào.
Gần như hai người trở ra ngay lập tức, và cả ba người lên đường
tới nơi xảy ra tội ác, họ đi theo bước chạy thể dục.
Gần tới ngôi nhà nọ, họ thận trọng đi chậm lại, và viên đội
rút khẩu súng lục ra, sau đó họ nhẹ nhàng đi vào vườn và tới gần tường nhà.
Không có một dấu vết nào cho thấy bọn thủ ác đã đi khỏi nơi này. Cửa ra vào vẫn
đóng kín, cửa sổ đóng chặt.
− Bắt lấy chúng, − viên đội nói nhỏ.
Bác Boniface xúc động hồi hộp lôi ông ta đi ra mé bên kia và
chỉ vào bậu cửa sổ:
− Chỗ đó, − bác nói.
Viên đội một mình xông lên và áp tai vào lớp ván cửa sổ. Hai
người kia đợi, mắt dán vào ông đội, sẵn sàng hành sự.
Ông ta đứng đó hồi lâu không nhúc nhích lắng nghe. Để áp sát
hơn vào cánh cửa gổ, ông đã bỏ chiếc mũ có sừng (của cảnh binh – N.D. thêm)
và cầm nó ở bên tay phải.
Ông nghe thấy gì? Gương mặt thản nhiên của ông không hé lộ
chút gì, nhưng bỗng dưng bộ ria mép của ông nhếch lên, đôi má ông nhăn lại như
ông đang cười lặng lẽ, và, xéo ngang cái hàng rào bằng cây húng, ông quay lại với
hai người kia, hai ông này cũng sững sờ nhìn lại.
Ông đội sau đó ra hiệu cho hai người rón rén đi theo; đến cửa
ra vào, ông ta bảo bác bưu tá lùa báo và thư qua khe cửa bên dưới.
Bác bưu tá sững sờ song vẫn ngoan ngoãn tuân lệnh.
− Bây giờ, đi thôi, − viên đội nói.
Nhưng khi họ vừa bước ngang thanh chắn, ông ta liền quay lại
bác bưu tá, ông ta nói, dáng vẻ ngạo nghễ, môi trề ra tai quái, mắt nheo lại
long lanh vui vẻ:
− Ông thật là ranh ma, ông ấy!
Bác già bưu tá hỏi:
− Sao kia? Tôi thề là có nghe thấy, có nghe ….
Nhưng ông đội không nhịn được nữa, phá lên cười. Ông ta cười
như người nghẹt thở, hai tay ôm bụng, người cúi gập xuống, mắt ướt nhòe, mặt
mũi nheo lại. Còn hai người kia thấy hoảng, chỉ biết nhìn ông ta.
Nhưng vì ông ta mải cười không thể nói cũng chẳng thể ngừng lại
không cười, cũng chẳng thể nào làm cho hai người này hiểu chuyện gì ông đã khám
phá ra, ông liền ra hiệu theo lối dân gian vẫn ra hiệu cho nhau biết về cái
chuyện ranh ma kia.
Vì hai người này vẫn còn chưa hiểu, ông ta làm lại cử chỉ đó
nhiều lần liền, đầu hất về phía ngôi nhà vẫn kín cửa cao tường để ra hiệu có
cái chuyện ấy đang diễn ra trong đó.
Rồi người lính thuộc cấp bỗng cũng đã hiểu ra, liền phá lên
cười to kinh hoàng.
Bác bưu tá già thì vẫn ngốc nghếch đứng giữa hai anh đàn ông
đang cười lăn cười lộn.
Sau rồi ông đội thôi cười và lấy tay vỗ thật mạnh vào bụng
ông già bằng cái tín hiệu đàn ông vẫn dùng để đùa, ông nói:
− A chà! Ông thật là hề, tên hề vĩ đại, tôi sẽ nhớ mãi, đây
là một tội ác do bác Boniface bịa ra!
Bác bưu tá mở đôi mắt to đùng và nhắc lại:
− Tôi thề với ông là tôi có nghe thấy.
Viên đội lại phá lên cười. Viên cảnh binh thì ngồi bệt xuống
cỏ để cười cho thỏa sức.
− A chà! Bác đã nghe thấy thật hả? Thế vợ bác, thì cũng bị
bác ám sát theo cách đó chứ, hả lão hề già kia?
− Vợ tôi?...
Nói xong thì bác ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi cất tiếng:
− Vợ tôi ... Có, bà ấy cũng la lên khi tôi choảng bà ấy chứ...
Nhưng là bà ấy la … Vậy có chăng là ông Chapatis đánh vợ sao?
Thế là viên đội, trong cơn vui muốn chết ngất, dùng hai tay
bám lấy vai và xoay ông này như xoay con búp bê, rồi nói khẽ sát vào tai ông ta
một điều gì đó khiến bác bưu ra ngạc nhiên đứng im như trời trồng.
Sau rồi ông già vẻ tư lự lẩm bẩm:
− Không ... chẳng la như thế ..., chẳng la như thế .... chẳng
la như thế ..., bà vợ tôi, bà chẳng nói gì hết ... Tôi chẳng bao giờ
nghĩ là lại có thể đến thế ... nếu đúng là như thế ... thì đó phải là một người
đàn bà tử vì đạo ...
Thế rồi, hoang mang, xấu hổ, vẫn hoàn toàn không hiểu, cảm thấy
nhục nữa, bác lộn trở lại con đường băng cánh đồng, còn viên cảnh binh và viên
đội thì vẫn tiếp tục cười, và rồi từ xa, họ ném theo bác bưu tá những câu đùa
lính tráng, mắt nhìn theo chiếc mũ lưỡi trai đen đang xa dần trên mặt biển êm ả
những lúa mì lúa mạch...
NGUYÊN BẢN CHỮ PHÁP:
LA PATRONNE
Au docteur Baraduc
J'habitais
alors, dit Georges Kervelen, une maison meublée, rue des Saints-Pères. Quand
mes parents décidèrent que j'irais faire mon droit à Paris, de longues
discussions eurent lieu pour régler toutes choses. Le chiffre de ma pension
avait été d'abord fixé à deux mille cinq cents francs, mais ma pauvre mère fut
prise d'une peur qu'elle exposa à mon père: "S'il allait dépenser
mal tout son argent et ne pas prendre une nourriture suffisante, sa santé en
souffrirait beaucoup. Ces jeunes gens sont capables de
tout."
Alors il fut décidé qu'on me chercherait une pension, une
pension modeste et confortable, et que ma famille en payerait directement le
prix, chaque mois.
Je n'avais jamais quitté Quimper. Je désirais
tout ce qu'on désire à mon âge et j'étais disposé à vivre joyeusement, de
toutes les façons.
Des voisins à qui on demanda conseil indiquèrent une
compatriote, Mme Kergaran, qui prenait des pensionnaires. Mon père donc traita
par lettres avec cette personne respectable, chez qui j'arrivai, un soir,
accompagné d'une malle.
Mme Kergaran avait quarante ans environ.
Elle était forte, très forte, parlait d'une voix de capitaine instructeur et
décidait toutes les questions d'un mot net et définitif. Sa demeure tout
étroite, n'ayant qu'une seule ouverture sur la rue, à chaque étage, avait l'air
d'une échelle de fenêtres, ou bien encore d'une tranche de maison en sandwich
entre deux autres.
La patronne habitait au premier avec sa
bonne; on faisait la cuisine et on prenait les repas au second; quatre
pensionnaires bretons logeaient au troisième et au quatrième. J'eus les deux
pièces du cinquième.
Un petit escalier noir, tournant comme un tire-bouchon,
conduisait à ces deux mansardes. Tout le jour, sans s'arrêter, Mme Kergaran
montait et descendait cette spirale, occupée dans ce logis en tiroir comme un
capitaine à son bord. Elle entrait dix fois de suite dans chaque appartement,
surveillait tout avec un étonnant fracas de paroles, regardait si les lits
étaient bien faits, si les habits étaient bien brossés, si le service ne
laissait rien à désirer. Enfin, elle soignait ses pensionnaires comme une mère,
mieux qu'une mère.
J'eus bientôt fait la connaissance des mes quatre
compatriotes. Deux étudiaient la médecine, et les deux autres faisaient leur
droit, mais tous subissaient le joug despotique de la patronne. Ils avaient
peur d'elle, comme un maraudeur a peur du garde
champêtre.
Quant à moi, je me sentis tout de suite des désirs
d'indépendance, car je suis un révolté par nature. Je déclarai d'abord que je
voulais rentrer à l'heure qui me plairait, car Mme Kergaran avait fixé minuit
comme dernière limite. A cette prétention, elle planta sur moi ses yeux clairs
pendant quelques secondes, puis elle déclara:
− Ce n'est pas possible. Je ne peux pas tolérer qu'on réveille Annette toute la nuit. Vous n'avez rien à faire dehors passé certaine heure.
− Ce n'est pas possible. Je ne peux pas tolérer qu'on réveille Annette toute la nuit. Vous n'avez rien à faire dehors passé certaine heure.
Je répondis avec fermeté: "D'après la
loi, madame, vous êtes obligée de m'ouvrir à toute heure. Si vous le refusez,
je le ferai constater par des sergents de ville et j'irai coucher à l'hôtel à
vos frais, comme c'est mon droit. Vous serez donc contrainte de m'ouvrir ou de
me renvoyer. La porte ou l'adieu. Choisissez."
Je lui riais au nez en posant ces conditions.
Après une première stupeur, elle voulut parlementer, mais je me montrai
intraitable et elle céda. Nous convînmes que j'aurais un passe-partout, mais à
la condition formelle que tout le monde l'ignorerait.
Mon énergie fit sur elle une impression salutaire et elle me traita désormais avec une faveur marquée. Elle avait des attentions, des petits soins, des délicatesses pour moi, et même une certaine tendresse brusque qui ne me déplaisait point. Quelquefois, dans mes heures de gaieté, je l'embrassais par surprise, rien que pour la forte gifle qu'elle me lançait aussitôt. Quand j'arrivais à baisser la tête assez vite, sa main partie passait par-dessus moi avec la rapidité d'une balle, et je riais comme un fou en me sauvant, tandis qu'elle criait : "Ah! la canaille! je vous revaudrai ça."
Mon énergie fit sur elle une impression salutaire et elle me traita désormais avec une faveur marquée. Elle avait des attentions, des petits soins, des délicatesses pour moi, et même une certaine tendresse brusque qui ne me déplaisait point. Quelquefois, dans mes heures de gaieté, je l'embrassais par surprise, rien que pour la forte gifle qu'elle me lançait aussitôt. Quand j'arrivais à baisser la tête assez vite, sa main partie passait par-dessus moi avec la rapidité d'une balle, et je riais comme un fou en me sauvant, tandis qu'elle criait : "Ah! la canaille! je vous revaudrai ça."
Nous étions devenus une paire d'amis.
Mais voilà que je fis la connaissance, sur le trottoir,
d'une fillette employée dans un magasin.
Vous savez ce que sont ces amourettes de Paris. Un jour,
comme on allait à l'école, on rencontre une jeune personne en cheveux qui se
promène au bras d'une amie avant de rentrer au travail. On échange un regard,
et on sent en soi cette petite secousse que vous donne l'oeil de certaines
femmes. C'est là une des choses charmantes de la vie, ces rapides sympathies
physiques que fait éclore une rencontre, cette légère et délicate séduction
qu'on subit tout à coup au frôlement d'un être né pour vous plaire et pour être
aimé de vous. Il sera aimé peu ou beaucoup, qu'importe? Il est dans sa
nature de répondre au secret désir d'amour de la vôtre. Dès la première fois
que vous apercevez ce visage, cette bouche, ces cheveux, ce sourire, vous
sentez leur charme entrer en vous avec une joie douce et délicieuse, vous
sentez une sorte de bien-être heureux vous pénétrer, et l'éveil subit d'une
tendresse encore confuse qui vous pousse vers cette femme inconnue. Il semble
qu'il y ait en elle un appel auquel vous répondez, une attirance qui vous
sollicite; il semble qu'on la connaît depuis longtemps, qu'on l'a déjà
vue, qu'on sait ce qu'elle pense.
Le lendemain, à la même heure, on repasse par la même rue. On
la revoit. Puis on revient le jour suivant, et encore le jour suivant. On se
parle enfin. Et l'amourette suit son cours, régulier comme une maladie.
Donc, au bout de trois semaines, j'en étais avec Emma à la
période qui précède la chute. La chute même aurait eu lieu plus tôt si j'avais
su en quel endroit la provoquer. Mon amie vivait en famille et refusait avec
une énergie singulière de franchir le seuil d'un hôtel meublé. Je me creusais
la tête pour trouver un moyen, une ruse, une occasion. Enfin, je pris un parti
désespéré et je me décidai à la faire monter chez moi, un soir, vers onze
heures, sous prétexte d'une tasse de thé. Mme Kergaran se couchait tous les
jours à dix heures. Je pourrais donc rentrer sans bruit au moyen de mon
passe-partout, sans éveiller aucune attention. Nous redescendrions de la même
manière au bout d'une heure ou deux.
Emma accepta mon invitation après s'être fait un peu prier.
Je passai une mauvaise journée. Je n'étais point tranquille.
Je craignais des complications, une catastrophe, quelque épouvantable scandale.
Le soir vint. Je sortis et j'entrai dans une brasserie où j'absorbai deux
tasses de café et quatre ou cinq petits verres pour me donner du courage. Puis
j'allai faire un tour sur le boulevard Saint-Michel. J'entendis sonner dix
heures, dix heures et demie. Et je me dirigeai, à pas lents, vers le lieu de
notre rendez-vous. Elle m'attendait déjà. Elle prit mon bras avec une allure
câline et nous voilà partis, tout doucement, vers ma demeure. A mesure que
j'approchais de la porte, mon angoisse allait croissant. Je pensais:
"Pourvu que Mme Kergaran soit couchée."
Je dis à Emma deux ou trois fois: "Surtout,
ne faites point de bruit dans l'escalier."
Elle se mit à rire: "Vous avez donc bien peur d'être entendu.
- Non, mais je ne veux pas réveiller mon voisin qui est gravement malade."
Elle se mit à rire: "Vous avez donc bien peur d'être entendu.
- Non, mais je ne veux pas réveiller mon voisin qui est gravement malade."
Voici la rue des Saints-Pères. J'approche de mon logis
avec cette appréhension qu'on a en se rendant chez un dentiste. Toutes les
fenêtres sont sombres. On dort sans doute. Je respire. J'ouvre la porte avec
des précautions de voleur. Je fais entrer ma compagne, puis je referme, et je
monte l'escalier sur la pointe des pieds en retenant mon souffle et en allumant
des allumettes bougies pour que la jeune fille ne fasse point quelque faux
pas.
En passant devant la chambre de la patronne je sens que mon
coeur bat à coups précipités. Enfin, nous voici au second étage, puis au troisième,
puis au cinquième. J'entre chez moi. Victoire!
Cependant, je n'osais parler qu'à voix basse et j'ôtai
mes bottines pour ne faire aucun bruit. Le thé, préparé sur une lampe à
esprit-de-vin, fut bu sur le coin de ma commode. Puis je devins pressant...
pressant..., et peu à peu, comme dans un jeu, j'enlevai un à un les vêtements
de mon amie, qui cédait en résistant, rouge, confuse, retardant toujours
l'instant fatal et charmant.
Elle n'avait plus, ma foi, qu'un court jupon blanc quand ma
porte s'ouvrit d'un seul coup, et Mme Kergaran parut, une bougie à la main,
exactement dans le même costume qu'Emma.
J'avais fait un bond loin d'elle et je restais
debout effaré, regardant les deux femmes qui se dévisageaient. Qu'allait-il se
passer?
La patronne prononça d'un ton hautain que je ne lui
connaissais pas: "Je ne veux pas de filles dans ma maison, monsieur
Kervelen."
Je balbutiai: "Mais, Madame Kergaran,
mademoiselle n'est que mon amie. Elle venait prendre une tasse de thé."
La grosse femme reprit: "On ne se met pas en
chemise pour prendre une tasse de thé. Vous allez faire partir tout de suite
cette personne."
Emma, consternée, commençait à pleurer en se cachant la
figure dans sa jupe. Moi, je perdais la tête, ne sachant que faire ni que dire.
La patronne ajouta avec une irrésistible autorité: "Aidez
mademoiselle à se rhabiller et reconduisez-la tout de suite."
Je n'avais pas autre chose à faire, assurément, et je
ramassai la robe tombée en rond, comme un ballon crevé, sur le parquet, puis je
la passai sur la tête de la fillette, et je m'efforçai de l'agrafer, de
l'ajuster, avec une peine infinie. Elle m'aidait, en pleurant toujours,
affolée, se hâtant, faisant toutes sortes d'erreurs, ne sachant plus retrouver
les cordons ni les boutonnières; et Mme Kergaran impassible, debout, sa
bougie à la main, nous éclairait dans une pose sévère de justicier.
Emma maintenant précipitait ses mouvements, se couvrait
éperdument, nouait, épinglait, laçait, rattachait avec furie, harcelée par un
impérieux besoin de fuir; et sans même boutonner ses bottines, elle passa
en courant devant la patronne et s'élança dans l'escalier. Je la suivais en
savates, à moitié dévêtu moi-même, répétant: "Mademoiselle, écoutez,
mademoiselle."
Je sentais bien qu'il fallait lui dire quelque chose,
mais je ne pouvais rien. Je la rattrapai juste à la porte de la rue, et je
voulus lui prendre le bras, mais elle me repoussa violemment, balbutiant d'une
voix basse et nerveuse: "Laissez-moi... laissez-moi... ne me touchez
pas."
Et elle se sauva dans la rue en refermant la porte
derrière elle.
Je me retournai. Mme Kergaran était restée au haut du premier étage, et je remontai les marches à pas lents, m'attendant à tout, et prêt à tout.
Je me retournai. Mme Kergaran était restée au haut du premier étage, et je remontai les marches à pas lents, m'attendant à tout, et prêt à tout.
La chambre de la patronne était ouverte, elle m'y fit
entrer en prononçant d'un ton sévère: "J'ai à vous parler, monsieur
Kervelen."
Je passai devant elle en baissant la tête. Elle posa sa
bougie sur la cheminée, puis croisant ses bras sur sa puissante poitrine que
couvrait mal une fine camisole blanche:
− Ah ça, monsieur Kervelen, vous prenez donc ma maison pour une maison publique!
Je n'étais pas fier. Je murmurai : "Mais non, madame Kergaran. Il ne faut pas vous fâcher, voyons, vous savez bien ce que c'est qu'un jeune homme."
− Ah ça, monsieur Kervelen, vous prenez donc ma maison pour une maison publique!
Je n'étais pas fier. Je murmurai : "Mais non, madame Kergaran. Il ne faut pas vous fâcher, voyons, vous savez bien ce que c'est qu'un jeune homme."
Elle répondit: "Je sais que je ne veux pas
de créatures chez moi, entendez-vous. Je sais que je ferai respecter mon toit,
et la réputation de ma maison, entendez-vous ? Je sais..."
Elle parla pendant vingt minutes au moins, accumulant
les raisons sur les indignations, m'accablant sous l'honorabilité de sa maison,
me lardant de reproches mordants.
Moi (l'homme est un singulier animal), au lieu de l'écouter, je la regardais. Je n'entendais plus un mot, mais plus un mot. Elle avait une poitrine superbe, la gaillarde, ferme, blanche et grasse, un peu grosse peut-être, mais tentante à faire passer des frissons dans le dos. Je ne me serais jamais douté vraiment qu'il y eût de pareilles choses sous la robe de laine de la patronne. Elle semblait rajeunie de dix ans, en déshabillé. Et voilà que je me sentais tout drôle, tout... Comment dirai-je ?... tout remué. Je retrouvais brusquement devant elle ma situation... interrompue un quart d'heure plus tôt dans ma chambre.
Moi (l'homme est un singulier animal), au lieu de l'écouter, je la regardais. Je n'entendais plus un mot, mais plus un mot. Elle avait une poitrine superbe, la gaillarde, ferme, blanche et grasse, un peu grosse peut-être, mais tentante à faire passer des frissons dans le dos. Je ne me serais jamais douté vraiment qu'il y eût de pareilles choses sous la robe de laine de la patronne. Elle semblait rajeunie de dix ans, en déshabillé. Et voilà que je me sentais tout drôle, tout... Comment dirai-je ?... tout remué. Je retrouvais brusquement devant elle ma situation... interrompue un quart d'heure plus tôt dans ma chambre.
Et, derrière elle, là-bas, dans l'alcôve, je regardais
son lit. Il était entr'ouvert, écrasé, montrant, par le trou creusé dans les
draps la pesée du corps qui s'était couché là. Et je pensais qu'il devait faire
très bon et très chaud là dedans, plus chaud que dans un autre lit. Pourquoi
plus chaud? Je n'en sais rien, sans doute à cause de l'opulence des
chairs qui s'y étaient reposées.
Quoi de plus troublant et de plus charmant qu'un
lit défait? Celui-là me grisait, de loin, me faisait courir des
frémissements sur la peau.
Elle parlait toujours, mais doucement maintenant, elle
parlait en amie rude et bienveillante qui ne demande plus qu'à pardonner.
Je balbutiai: "Voyons... voyons... madame
Kergaran... voyons..." Et comme elle s'était tue pour attendre ma réponse,
je la saisis dans mes deux bras et je me mis à l'embrasser, mais à l'embrasser
comme un affamé, comme un homme qui attend ça depuis longtemps.
Elle se débattait, tournait la tête, sans se fâcher
trop fort, répétant machinalement selon son habitude: "Oh! la
canaille... la canaille... la ca..."
Elle ne put pas achever le mot, je l'avais enlevée d'un
effort, et je l'emportais, serrée contre moi. On est rudement vigoureux, allez,
en certains moments!
Je rencontrai le bord du lit, et je tombai dessus sans
la lâcher...
Il y faisait en effet fort bon et fort chaud dans son
lit.
Une heure plus tard, la bougie s'étant éteinte, la
patronne se leva pour allumer l'autre. Et comme elle revenait se glisser à mon
côté, enfonçant sous les draps sa jambe ronde et forte, elle prononça d'une
voix câline, satisfaite, reconnaissante peut-être: "Oh!... la
canaille !... la canaille !..."
Nguồn: Đăng lần đầu trên tờ Gil Blas (1.4.1884) ký
tên de Maufrigneuse, sau đó đưa vào tập truyện Les soeurs
Rondoli ký tên Maupassant (Éditeur Paul Ollendorff, 1884).
Người sưu tập và đánh số: Rémi Charest
Người lên định dạng HTML (ngày 27.8.1998): Thierry Selva
Người lên định dạng HTML (ngày 27.8.1998): Thierry Selva
(Theo Wikisource.org)
LE CRIME AU PÈRE BONIFACE
Ce jour-là le facteur Boniface, en sortant de la maison de
poste, constata que sa tournée serait moins longue que de coutume, et il en
ressentit une joie vive. Il était chargé de la campagne autour du bourg de
Vireville, et, quand il revenait, le soir, de son long pas fatigué, il avait
parfois plus de quarante kilomètres dans les jambes.
Donc la distribution serait vite faite; il pourrait même
flâner un peu en route et rentrer chez lui vers trois heures de relevée. Quelle
chance!
Il sortit du bourg par le chemin de Sennemare et commença sa
besogne. On était en juin, dans le mois vert et fleuri, le vrai mois des
plaines.
L'homme, vêtu de sa blouse bleue et coiffé d'un képi
noir à galon rouge, traversait, par des sentiers étroits, les champs de colza,
d'avoine ou de blé, enseveli jusqu'aux épaules dans les récoltes; et sa tête,
passant au-dessus des épis, semblait flotter sur une mer calme et verdoyante
qu'une brise légère faisait mollement onduler.
Il entrait dans les fermes par la barrière de bois plantée dans
les talus qu'ombrageaient deux rangées de hêtres, et saluant par son nom le
paysan: "Bonjour, mait' Chicot", il lui tendait son journal le
Petit Normand. Le fermier essuyait sa main à son fond de culotte, recevait la
feuille de papier et la glissait dans sa poche pour la lire à son aise après le
repas de midi. Le chien, logé dans un baril, au pied d'un pommier penchant,
jappait avec fureur en tirant sur sa chaîne; et le piéton, sans se retourner,
repartait de son allure militaire, en allongeant ses grandes jambes, le bras
gauche sur sa sacoche, et le droit manoeuvrant sur sa canne qui marchait comme
lui d'une facon continue et pressée.
Il distribua ses imprimés et ses lettres dans le hameau de
Sennemare, puis il se remit en route à travers champs pour porter le courrier
du percepteur qui habitait une petite maison isolée à un kilomètre du bourg.
C'était un nouveau percepteur. M. Chapatis, arrivé la semaine
dernière et marié depuis peu.
Il recevait un journal de Paris, et, parfois le facteur
Boniface, quand il avait le temps, jetait un coup d'oeil sur l'imprimé, avant
de le remettre au destinataire.
Donc, il ouvrit sa sacoche, prit la feuille, la fit glisser
hors de sa bande, la déplia, et se mit à lire tout en marchant. La première
page ne l'intéressait guère; la politque le laissait froid; il passait toujours
la finance, mais les faits divers le passionnaient.
lls étaient très nourris ce jour-là. Il s'émut même si
vivement au récit d'un crime accompli dans le logis d'un garde-chasse, qu'il
s'arrêta au milieu d'une pièce de trèfle, pour le relire lentement. Les détails
étaient affreux. Un bûcheron, en passant au matin auprès de la maison
forestière, avait remarqué un peu de sang sur le seuil, comme si on avait
saigné du nez. "Le garde aura tué quelque lapin cette nuit, pensa-t-il;
mais en approchant il s'aperçut que la porte demeurait entr'ouverte et que la
serrure avait été brisée. Alors. saisi de peur, il courut au village prévenir
le maire, celui-ci prit comme renfort le garde champêtre et l'instituteur: et
les quatre hommes revinrent ensemble. Ils trouvèrent le forestier égorgé devant
la cheminée, sa femme étranglée sous le lit, et leur petite fille, âgée de six
ans, étouffée entre deux matelas.
Le facteur Boniface demeura tellement ému à la pensée de cet
assassinat dont toutes les horribles circonstances lui apparaissaient coup sur
coup, qu'il se sentit une faiblesse dans les jambes, et il prononça tout haut:
− Nom de nom, y a-t-il tout de même des gens qui sont
canailles!
Puis il repassa le journal dans sa ceinture de papier et
repartit, la tête pleine de la vision du crime. Il atteignit bientôt la demeure
de M. Chapatis; il ouvrit la barrière du petit jardin et s'approcha de la
maison. C'était une construction basse, ne contenant qu'un rez-de-chaussée,
coiffé d'un toit mansardé. Elle était éloignée de cinq cents mètres au moins de
la maison la plus voisine.
Le facteur monta les deux marches du perron, posa la main sur
la serrure, essaya d'ouvrir la porte, et constata qu'elle était fermée. Alors,
il s'aperçut que les volets n'avaient point été ouverts, et que personne encore
n'était sorti ce jour-là.
Une inquiétude l'envahit, car M. Chapatis, depuis son
arrivée, s'était levé assez tôt. Boniface tira sa montre. Il n'était encore que
sept heures dix minutes du matin, il se trouvait donc en avance de près d'une
heure. N'importe, le percepteur aurait aurait dû être debout.
Alors il fit le tour de la demeure en marchant avec
précaution, comme s'il eût couru quelque danger. Il ne remarqua rien de
suspect, que des pas d'homme dans une platebande de fraisiers.
Mais tout à coup, il demeura immobile, perclus d'angoisse, en
passant devant une fenêtre. On gémissait dans la maison.
Il s'approcha, et enjambant une bordure de thym, colla son oreille
contre l'auvent pour mieux écouter; assurément on gémissait. Il entendait fort
bien de longs soupirs douloureux, une sorte de râle, un bruit de lutte. Puis,
les gémissements devinrent plus forts, plus répétés, s'accentuèrent encore, se
changèrent en cris.
Alors Boniface, ne doutant plus qu'un crime s'accomplissait
en ce moment-là même, chez le percepteur, partit à toutes jambes, retraversa le
petit jardin, s'élança à travers la plaine, à travers les récoltes, courant à
perdre haleine, secouant sa sacoche qui lui battait les reins, et il arriva,
exténué, haletant, éperdu, à la porte de la gendarmerie.
Le brigadier Malautour raccommodait une chaise brisée, au
moyen de pointes et d'un marteau. Le gendarme Rautier tenait entre ses jambes
le meuble avarié et présentait un clou sur les bords de la cassure; alors le
brigadier, mâchant sa moustache, les yeux ronds et mouillés d'attention, tapait
à tous coups sur les doigts de son subordonné.
Le facteur, dès qu'il les aperçut, s'écria:
− Venez vite, on assassine le percepteur, vite, vite!
Les deux hommes cessèrent leur travail et levèrent la tête,
ces têtes étonnées de gens qu'on surprend et qu'on dérange.
Boniface, les voyant plus surpris que pressés, répéta:
− Vite! vite! Les voleurs sont dans la maison, j'ai entendu
les cris, il n'est que temps.
Le brigadier, posant son marteau par terre, demanda:
− Qu'est-ce qui vous a donné connaissance de ce fait?
Le facteur reprit:
− J'allais porter le journal avec deux lettres quand je
remarquai que la porte était fermée et que le percepteur n'était pas levé. Je
fis le tour de la maison pour me rendre compte, et j'entendis qu'on gémissait
comme si on eût étranglé quelqu'un ou qu'on lui eût coupé la gorge; alors je
m'en suis parti au plus vite pour vous chercher. Il n'est que temps.
Le brigadier se redressant, reprit:
− Et vous n'avez pas porté secours en personne?
Le facteur effaré répondit:
− Je craignais de n'être pas en nombre suffisant.
Alors le gendarme, convaincu, annonça:
− Le temps de me vêtir et je vous suis.
Et il entra dans la gendarmerie, suivi par son soldat qui
rapportait la chaise.
lls reparurent presque aussitôt, et tous trois se mirent en route, au pas gymnastique, pour le lieu du crime.
lls reparurent presque aussitôt, et tous trois se mirent en route, au pas gymnastique, pour le lieu du crime.
En arrivant près de la maison, ils ralentirent leur allure
par précaution, et le brigadier tira son revolver, puis ils pénétrèrent tout
doucement dans le jardin et s'approchèrent de la muraille. Aucune trace
nouvelle n'indiquait que les malfaiteurs fussent partis. La porte demeurait
fermée, les fenêtres closes.
− Nous les tenons, murmura le brigadier.
− Nous les tenons, murmura le brigadier.
Le père Boniface, palpitant d'émotion, le fit passer de
l'autre côté, et, lui montrant un auvent:
− C’ est là, dit-il.
Et le brigadier s'avança tout seul, et colla son oreille
contre la planche. Les deux autres attendaient, prêts à tout, les yeux fixés
sur lui.
Il demeura longtemps immobile, écoutant. Pour mieux approcher
sa tête du volet de bois, il avait ôté son tricorne et le tenait de sa main
droite.
Qu'entendait-il? Sa figure impassible ne révélait rien, mais
soudain sa moustache se retroussa, ses joues se plissèrent comme pour un rire
silencieux, et enjambant de nouveau la bordure de thym, il revint vers les deux
hommes, qui le regardaient avec stupeur.
Puis il leur fit signe de le suivre en marchant sur la pointe
des pieds; et, revenant devant l'entrée, il enjoignit à Boniface de glisser
sous la porte le journal et les lettres.
Le facteur, interdit, obéit cependant avec docilité.
− Et maintenant, en route, dit le brigadier.
Mais, dès qu'ils eurent passé la barrière, il se retourna
vers le piéton, et, d'un air goguenard, la lèvre narquoise, I'oeil retroussé et
brillant de joie:
− Que vous êtes un malin, vous!
Le vieux demanda:
− De quoi? j'ai entendu, j'vous jure que j'ai entendu.
Mais le gendarme, n'y tenant plus, éclata de rire. Il riait
comme on suffoque, les deux mains sur le ventre, plié en deux, I'oeil plein de
larmes, avec d'affreuses grimaces autour du nez. Et les deux autres, affolés,
le regardaient.
Mais comme il ne pouvait ni parler, ni cesser de rire, ni
faire comprendre ce qu'il avait, il fit un geste, un geste populaire et
polisson.
Comme on ne le comprenait toujours pas, il le répéta,
plusieurs fois de suite, en désignant d'un signe de tête la maison toujours
close.
Et son soldat, comprenant brusquement à son tour, éclata
d'une gaité formidable. Le vieux demeurait stupide entre ces deux hommes
qui se tordaient.
Le brigadier, à la fin, se calma, et lançant dans le ventre
du vieux une grande tape d'homme qui rigole, il s'écria:
− Ah! farceur, sacré farceur, je le retiendrai l'crime au
père Boniface!
Le facteur ouvrait des yeux énormes et il répéta:
− J'vous jure que j'ai entendu.
Le brigadier se remit à rire. Son gendarme s'était assis sur
l'herbe du fossé pour se tordre tout à son aise.
− Ah! t'as entendu. Et ta femme, c'est-il comme ça que tu
l'assassines, hein, vieux farceur?
− Ma femme?...
Et il se mit à réfléchir longuement, puis il reprit:
− Ma femme... Oui, all' gueule quand j'y fiche des coups...
Mais all' gueule, que c'est gueuler, quoi. C'est-il donc que M. Chapatis
battait la sienne?
Alors le brigadier, dans un délire de joie, le fit tourner
comme une poupée par les épaules, et lui souffla dans l'oreille quelque chose
dont l'autre demeura abruti d'étonnement.
Puis le vieux, pensif, murmura:
− Non... point comme ça..., point comme ça.... point
comme ça..., all' ne dit rien, la mienne... J'aurais jamais cru... si c'est
possible... on aurait juré une martyre...
Et, confus, désorienté, honteux, il reprit son chemin à
travers les champs, tandis que le gendarme et le brigadier, riant toujours et
lui criant, de loin, de grasses plaisanteries de caserne, regardaient
s'éloigner son képi noir, sur la mer tranquille des récoltes.
Nguồn: Đăng lần đầu trên báo Gil Blas (24.6.1884),
Sau đó được đưa vào tập truyện Contes du jour et de la
nuit của Maupassant (Éditions Marpon-Flammarion, 1885).
(Theo Wikisource.org).
VŨ TRỌNG PHỤNG
Nguồn: Loa, Hà Nội, s. 52 (7.2.1935)
Lại Nguyên Ân
Nguồn: NXB VH-VN
Thành phố Hồ Chí Minh, 2016












Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét