Vì cuộc đời là những chuyến đi…
Thuở nhỏ tôi mơ ước sẽ có một ngày bay cao như những cánh diều
tôi thả trên nền trời lộng gió, đặt những dấu chân mình xuyên đại ngàn, ước mơ
của một đứa trẻ.
Sẽ chẳng có người lớn nếu không bắt đầu từ giấc mơ trẻ thơ ấy.
Cuộc sống quay cuồng khiến tôi nhiều khi muốn tìm một góc bình
yên tâm hồn mình, mỗi khi trời đất giao mùa là lại thèm được ngao du, cầm máy ảnh
trên tay và bước chân lại tiếp tục. Nhưng đó chỉ mới là những bước chân ngắn
trên con đường dài bất tận.
Và nếu như không có cuộc hành trình ngày 10/4/2012 hôm ấy, có
lẽ tôi vẫn cứ mãi bước đôi chân của mình lững thững trên những con đường ngắn ấy…
Đi, trải nghiệm và thấu hiểu - đó là những gì mà tôi nhận được từ chuyến thực tế
vừa qua.
Đi…
Những tiếng cười giòn tan hòa lẫn với những bước chân ríu rít
vang xa trong buổi sáng sớm ngày 10/4/2012. Chúng tôi lên đường trong niềm háo
hức khó tả, đôi mắt xa xăm hướng về phía trước - nơi trái tim của Tổ quốc đang
chờ đợi.
5h30p. Tạm biệt thành phố Đà Nẵng, đoàn chúng tôi hướng thẳng
về thành phố Vinh. Ghé qua Đồng Hới- Quảng Bình khi mặt trời đã ngả bóng.Trong cái
nắng oi bức của “vùng đất lửa”, chúng tôi lại tiếp tục hành trình. Bóng chiều
ngả xuống chúng tôi mới ghé qua thăm Bảo tàng Nguyễn Du và đáp xuống Cửa Lò- Nghệ An khi hoàng hôn đã tắt.
Một đêm dạo chơi quanh bãi biển Cửa Lò. 5h30p sáng ngày 11/4
chúng tôi lại lên đường khi sương còn phủ trắng để tiến ra thủ đô Hà Nội.
11h30p, xe dừng chân nghỉ tại Tam Điệp - Ninh Bình. Cái nắng vẫn không thôi ngừng
đốt, con đường vẫn chạy thẳng vào tim. Chúng tôi đến Hà Nội lúc 4h30p. Dọc theo
con đường đê sông Hồng, men theo bờ Hồ Tây… chúng tôi đã đặt chân đến trái tim của
cả nước. Có một chút gì rất riêng, rất Hà Nội mà tôi tin chắc rằng ai ai một lần
đặt chân đến đây đều cảm nhận được. Một cuộc sống nhộn nhịp, xô bồ của những
con người bận rộn,dường như họ bị cuốn vào vòng xoáy của công việc. Hà Nội không
phải là những con đường yên bình,những con phố hiu hắt người như nơi khác mà là
từng dòng người tấp nập đi lại, giao thông là một nỗi khiếp sợ của Hà Nội tất cả
như không ngừng nghỉ.
5h30p ngày 12/4, chúng tôi đã có mặt trước Lăng Bác để dự lễ
chào cờ. 7h00p, chúng tôi vào lăng viếng Bác. Không khí yên tĩnh khác xa với chốn
đô hội ngoài kia. Viếng Bác xong chúng tôi đi thăm khu di tích nhà sàn, ao cá của
Bác… Sau khi thăm xong một loạt khu di tích như chùa Một Cột, bảo tàng Hồ Chí
Minh, chúng tôi đến thăm trường Đại học đầu tiên của nước ta - Văn miếu Quốc tử
giám. Mải mê với những điều mới lạ, bổ ích, chúng tôi bẵng quên đi cái mệt nhọc
giữa nắng trưa 12h00. Buổi chiều đoàn đến tham quan Bảo tàng Dân tộc học và dành
khoảng thời gian còn lại để tham quan tự do, thưởng thức những danh thắng và đặc
sản của đất Hà thành.
Tạm biệt thủ đô Hà Nội lúc rạng đông, khi thành phố đã bắt đầu
nhộn nhịp xe cộ, chúng tôi hành hương về nguồn. Đền Hùng nơi hồn thiêng sông núi - đất phát tích của dân tộc Việt Nam.
Nơi đây có các đền đài thờ tự các Vua Hùng, những người đã có công dựng nước. Tới đền Hùng, chúng tôi được chiêm ngưỡng một quần thể di tích và lịch sử nổi tiếng của dân tộc ta. Nơi đây các vua Hùng đã xây dựng nước Văn Lang, quốc gia đầu tiên của dân tộc ta và cũng tại nơi đây chúng tôi được biết về các vua hùng, về các nàng công chúa Tiên Dung, Mị Nương, về hoàng tử Lang Liêu với sự tích bánh chưng, bánh giày… Leo qua hơn 200 bậc đá, chúng tôi lần lượt thăm quan đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, lăng vua Hùng và kết thúc tại đền Giếng.
Nơi đây có các đền đài thờ tự các Vua Hùng, những người đã có công dựng nước. Tới đền Hùng, chúng tôi được chiêm ngưỡng một quần thể di tích và lịch sử nổi tiếng của dân tộc ta. Nơi đây các vua Hùng đã xây dựng nước Văn Lang, quốc gia đầu tiên của dân tộc ta và cũng tại nơi đây chúng tôi được biết về các vua hùng, về các nàng công chúa Tiên Dung, Mị Nương, về hoàng tử Lang Liêu với sự tích bánh chưng, bánh giày… Leo qua hơn 200 bậc đá, chúng tôi lần lượt thăm quan đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, lăng vua Hùng và kết thúc tại đền Giếng.
Rời mảnh đất Phú Thọ, đoàn chúng tôi đến với miền đất Hải Dương,
lên thăm Côn Sơn- Kiếp Bạc, thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Nơi đây gồm
quần thể các di tích lịch sử liên quan đến những chiến công lẫy lừng trong ba lần
quân dân thời Trần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII và trong cuộc
kháng chiến 10 năm của nghĩa quân Lam Sơn chống quân Minh ở thế kỷ XV. Đây là nơi
gắn liền với thân thế, sự nghiệp của các vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, Trần
Hưng Đạo cùng với nhiều danh nhân văn hoá của dân tộc: Trần
Nguyên Đán, Pháp
Loa, Huyền
Quang… Điểm nhấn của khu di tích này là chùa Côn Sơn và đền
Kiếp Bạc.
Điểm dừng chân tiếp theo của đoàn là Hạ Long, một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới. Cuộc hành trình của chúng tôi sẽ xuôi về với điểm đến
là chùa Bái Đính ngôi chùa của những kỷ lục, ngôi chùa lớn nhất Đông Nam Á.
Trở lại thành phố Vinh khi đã lên đèn, chúng tôi nghỉ ngơi để
tiếp tục cho cuộc hành trình ngày hôm sau. Sáng ngày 16/4 chúng tôi đã có mặt ở
quê Bác để đi thăm khu di tích quê nội và quê ngoại của Người. Những hình ảnh về
thời niên thiếu của Bác dần hiện ra qua lời kể của chị hướng dẫn viên.
Rồi xe tiếp tục lăn bánh về Phong Nha-Kẻ Bàng - một di tích nổi
tiếng của nước ta với nhưng hang động kì vĩ. Điều đặc biệt là chúng tôi đã được
chiêm ngưỡng vẻ đẹp nơi Thiên Đường động - một vẻ đẹp tự nhiên mà vô cùng hấp dẫn.
Gửi lời chào Quảng Bình, chúng tôi ghé qua Quảng Trị thăm nghĩa
trang liệt sĩ Trường Sơn, đến mảnh đất Hà Tĩnh với những cô gái thanh niên xung
phong Ngã Ba Đồng Lộc.
Trải nghiệm!
Trong suốt cuộc hành trình, cũng có những lúc vui, lúc buồn…
lúc mệt mỏi và muốn dừng lại. Nhưng bước chân vẫn cứ đi, miệng vẫn ca hát vang để
xua tan đi cái mệt nhọc.
Chuyến đi lần này, tôi được giao trách nhiệm phụ trách mảng đời
sống cho các bạn. Quả thật, từ lúc lên chức Lớp phó đời sống đến giờ, tôi mới có
dịp được thể hiện đúng vai trò của mình. Chính vì điều đó, ngay từ lúc chuẩn bị
cho đến hết cuộc hành trình, tôi đã rất cố gắng hoàn thảnh tôt nhiệm vụ của mình.
Cảm thấy rất hạnh phúc khi được quan tâm đến những người bạn đồng hành của mình.
Ngày đầu tiên qua đi nhẹ nhàng , mặc dù trên xe có nhiều bạn
nữ bị say xe. Tôi thật sự lo lắng khi nhiều bạn mới lên xe đã nôn thốc nôn tháo,
và lo ngại cho cuộc hành trình của đoàn sẽ vất vả hơn. Nhưng không như tôi nghĩ,
những bài hát cất lên, những lời thuyết trình dí dỏm của những bạn khác làm cho
không khí tươi tỉnh hẳn. Tôi đỡ lo phần nào.
Xe đáp xuống Cửa Lò - Nghệ An để nghỉ ngơi lúc trời đã nhá
nhem tối. Tôi lại lật đật đi sắp xếp phòng ngủ cho cả đoàn.
Đến Hà Nội vào ngày hôm sau, tôi lại xuống trước và sắp
xếp phòng ngủ, nơi ăn uống.
Sáng ngày hôm sau, vẫn cứ dậy sớm để gọi các bạn. Hai ngày trên
xe ai cũng rã rời, nên cảm giác mệt mỏi cứ hiển hiện trên gương mặt. Tôi động
viên bằng những lời nói đùa, hi vọng các bạn thấy có khí thế hơn.
Vào lăng viếng Bác, có lẽ đây là kỷ niệm mà tôi không bao giờ
quên. Lần đầu tiên tôi được ngắm nhìn khuôn mặt, vóc hình Người cha vĩ đại ấy. “Con
từ miền Nam ra thăm lăng Bác. Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát”. Tôi nghẹn
ngào xúc động khi đứng trước người, tôi đã chắp tay cầu nguyện, kính chào Người
và bỗng dưng nước mắt tràn mi. Giống như một người thân quen của mình, tôi gặp
Bác trong lòng đầy quyến luyến.
Cũng trong buổi sáng hôm đó, vì các bạn chạy đi tham quan
lung tung mà Thầy tôi đã rất giận. “Tôi sẽ giải tán đoàn để các em được tham
quan tự do…”. Tôi giật bắn người khi nghe câu đó, và thật sự lúc đó tôi rất sợ.
Trưa lòng vòng trên phố Hà thành quả thật là rất mệt, ai cũng ráng bước thật
nhanh để về nghỉ ngơi.
Trưa hôm đó tôi bỏ cơm. Không phải vì không đói mà vì một
lời nói làm tôi thấy mệt mỏi hơn. Vì chiều hôm đó tham quan tự do nên tôi không
đặt cơm, nhưng trưa về một số bạn lại có nhu cầu muốn ăn cơm chỗ cũ. “Vì không đặt
trước nên mấy anh chị nhà bếp không chuẩn bị trước”. Tôi cũng trình bày trước lớp
như vậy, thế mà đáp lại lời tôi là một “tràng” dài những lời cáu gắt… Tôi bật
khóc. Sự lo lắng của tôi những ngày qua cảm thấy vô nghĩa. Có đôi lúc tôi cũng
phải chịu thua dễ dàng như vậy đó. Nhưng cũng vì thế mà tôi biết được rất nhiều
người tốt, lo lắng và quan tâm tới mình. Mấy anh chị nhà bếp vỗ vai tôi và nói “Em
nín đi rồi chiều chị sẽ nấu…đừng khóc nhè như con nít vậy”. Họ chỉ là những người
xa lạ, chưa một lần quen biết và gặp gỡ, vậy mà họ làm tôi cảm thấy thân quen
biết nhường nào…
Đơn giản chỉ là một câu chuyện xảy ra trong một khoảnh khắc
nhưng tôi nhận thấy rằng mình cần cố gắng hơn nữa. Sống trong tập thể, không phải
lúc nào mình cũng được người khác biết công lao của mình. Sống vì mọi người để
mình cảm thấy mình sống có nghĩa, cảm thấy vui vì người khác được vui. Và tôi hạnh
phúc vì tôi được quan tâm tới những người xung quanh mình.
Quên đi những giây phút không vui đó, chúng tôi lại đoàn kết
bên nhau, lại tiếp tục cuộc hành trình về với cội nguồn. Dọc đường đi là những
khoảng thời gian dành cho những câu chuyện thú vị. Vụ án “giờ mới kể” của Sara
Trịnh và Dung “đậu”, trong đó có cả tôi làm cả nhà huyên náo và được mấy trận cười
nắc nẻ. Cũng nhờ vậy mà dư âm vẫn còn vang vọng đến bây giờ, mỗi lần nhắc lại là
không ai nhịn được cười.
Chúng tôi bước vào cuộc hành trình về với cội nguồn trong tâm
thế hứng khởi. Tiết trời tháng tư, trời nắng, chúng tôi hành hương về đất Tổ, mỗi
người một vẻ, nhưng ai ai cũng chỉ có một ước mong là được thắp nén tâm nhang tỏ
lòng thành kính với tổ tiên. Trong tâm thức mỗi người dân Việt, dù có đi muôn
phương, thì dòng máu con Rồng cháu Tiên vẫn chảy nóng bỏng, tươi thắm trong huyết
quản mỗi người, từ đó hướng về nguồn cội, thành kính tri ân công đức tổ tiên.
Lên thăm Côn Sơn, chúng tôi được hòa mình vào một khoảng trời
thiên nhiên với phong cảnh hữu tình, có núi xanh, có rừng thông vi vút tạo nên
một “bức tranh thủy mặc” mà không nơi nào có được. Và hiểu được vì sao Nguyễn
Trãi lại hứng thú với nơi này mặc dù ngay lúc này, có thông reo nhưng không có “suối
chảy rì rầm”, không có “đá như đệm êm”.
Mảnh đất Kiếp Bạc lại nằm giữa vùng thung lũng trù phú của núi
Rồng bao bọc, là nơi hội tụ của sáu con sông: sông Cầu, sông Thương, sông Lục
Nam, sông Đuống, sông Kinh Thầy và một nhánh của sông Thái Bình. Hình mây thế núi
tạo thành thế rồng chầu, hổ phục, Tam quan đền Kiếp Bạc như một bức cuốn thư “Lưỡng
long chầu nguyệt” bề thế, nơi hội tụ linh khí của đất trời để những bậc hiền nhân
thuở xa xưa gây dựng cơ nghiệp muôn đời. Thắp một nén tâm hương cho Hưng Đạo Đại
vương - Trần Quốc Tuấn, lòng tôi cảm thấy thanh tịnh.
Trong suốt cuộc hành trình của chúng tôi, có lẽ nơi để lại
trong tôi nhiều cảm xúc nhất chính là lần về thăm quê Bác và lần ghé thăm Ngã
Ba Đồng Lộc.
Chúng tôi dành một buổi sáng trong lành nhất để về thăm mộ Bà
Hoàng Thị Loan và thăm quê Bác. Những hình ảnh về thời niên thiếu của Bác dần
hiện ra qua lời kể của chị hướng dẫn viên. Mọi người đi từ bất ngờ này đến ngạc
nhiên khác về cuộc đời của một vị lãnh tụ đáng kính, một con người kiệt xuất đã
có một tuổi ấu thơ đầy sóng gió. Và chính những khó khăn gian khổ đấy đã nuôi lớn
ý chí cách mạng của Người.
Về thăm quê mẹ Hoàng Trù và Làng Sen quê cha của Bác, dọc
theo con đường mòn đất bụi, dưới những hàng tre xanh kẽo kẹt trong gió, lòng tôi
xúc động nghẹn ngào. Trước một khung cảnh bình dị, tôi tìm thấy hình hài những
người dân quê tôi, như tìm thấy ở đây một bậc vĩ nhân mang hình ảnh chân chất của
người dân xứ Nghệ.
Về thăm làng Hoàng Trù, giữa ngôi nhà tranh nhỏ bé, giản dị,
có chiếc chõng tre, có khung cửi mà người mẹ tảo tần của Bác một thuở vừa bế
con, vừa dệt vải; rồi bếp, rồi chạn bát, chiếc rương gỗ đựng lúa, ngô… Con đường
dẫn vào nhà, hai bên là dậu dâm bụt, là những hàng lạc đang mùa đơm hoa. Không
hiểu vì sao đứng giữa không gian ấy, tôi thấy sống mũi mình cay cay, chợt bùi
ngùi nhớ tới căn nhà tranh vách đất nơi vùng quê lam lũ của mình, nhớ tới tuổi
thơ cùng với mẹ nhào đất với rơm để dựng lên căn nhà bếp. Tôi nhớ lắm, nhớ lắm
những mùa mưa bão, mẹ lại đội mưa đi chặt lá tro về dẹm mái nhà để khỏi dột… “Vậy
đấy Một vĩ nhân, một người làm xoay vần cả lịch sử dân tộc, một tấm gương sáng
muôn thuở lại được sinh ra tại ngôi nhà tranh đơn sơ, giản dị đến nhường này,
như nhà ta, như nhà của hàng triệu nông dân trên khắp đất nước này”.
Làng Sen, quê nội Bác, vẫn là mái nhà tranh vách nứa thấp lè
tè, nhưng có khang trang hơn ngôi nhà của ngoại. Đó là một ngôi nhà gỗ 5 gian,
lợp mái tranh, nhỏ bé, mộc mạc, giản dị dưới màu xanh của vườn cây và những bóng
tre. Thế mà đã là nơi che chở cho tuổi thơ của Bác, nuôi lớn tâm hồn vĩ đại của
Người. Dẫu đã qua cả thế kỷ, vạn vật đổi thay nhưng những hình ảnh xưa cũ gắn
liền với tuổi thơ Bác vẫn được lưu giữ đến bây giờ. Ngôi nhà là những ân tình làng
xóm quê hương, là nơi chứng kiến quá trình học tập, trưởng thành; là nơi ghi dấu
cảm xúc đầu tiên về lòng yêu nước và những nhận thức thời cuộc- bước tiền đề
cho con đường cứu nước sau này của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Vậy đấy, về quê hương của một bậc vĩ nhân, sao mà thân quen đến
thế! Tôi gửi lại tâm hồn mình nơi đó, để lắng đọng lại trong cái bình dị của không
gian, để những bon chen của đời thường không còn ngự trị. Về lại chốn thị thành,
nơi nhà cao cửa rộng, nơi cây nhường chỗ cho những ngôi nhà chọc trời, tôi vẫn
thấy lòng mình thanh tịnh hơn khi mỗi lần nghĩ về không gian nơi quê Bác.
Về với mảnh đất Hà Tĩnh thân thương, nơi “chảo lửa túi mưa” ấy
mẹ đã sinh ra tôi, nuôi tôi khôn lớn thành người. Ngã Ba Đồng Lộc - tôi đã đến
nhiều lần, nhưng có lẽ đây là lần xúc động và đáng nhớ nhất. Những lần đi trước
tôi chỉ ghé thăm và thắp hương cho các anh hùng, các chị, còn lần này chúng tôi
được xem những đoạn phim và có cả những lời giới thiệu đầy xúc động của anh hướng
dẫn viên. Cả hội trường rơm rớm nước mắt, rồi những tiếng nức nở bật thành tiếng
khi nghe anh đọc bài thơ viết về chị Cúc. Tôi cố kiềm chế tiếng nức nở thành tiếng,
bởi vì nơi đây là quê hương tôi, nên cảm thấy tự hào và mạnh mẽ như các chị chứ
không phải sụt sùi vì những xúc cảm.
Đứng lặng người trước khu mộ 10 liệt sĩ thanh niên xung
phong, tôi nguyện cầu cho linh hồn các chị được yên nghỉ nơi chín suối,và các chị
vẫn sẽ luôn là những cô gái mở đường anh hùng. Những cô gái không bao giờ hi
sinh trong tâm trí người dân Việt Nam. Các chị vẫn ở đấy vẫn vui đùa trên mảnh đất
của mình vẫn bảo vệ cho tuyến đường mang tên bất tử.
Trở về Đà Nẵng khi đêm buông màn, thành phố đã lên đèn.
Cả xe rộn ràng tiếng nói cười, nhảy múa. Tôi cảm thấy hạnh phúc, khi mình đã hoàn
thành một cuộc hành trình, khi mình đã làm tròn nhiệm vụ. Nhưng lòng tôi vẫn
thoáng một chút buồn. Cái xoa đầu của thầy tôi, “qua nhà mà không về được, thầy
thương quá…”, làm tôi nghẹn ngào, cố quay đi lén lau dòng nước mắt. Những ngày
qua được đi, được sống với thầy, chúng tôi gần gũi với thầy hơn. Có khi còn gọi
thầy bằng “anh”, mặc dù thầy đáng bậc cha, bậc chú. Tôi thật lòng cảm ơn thầy
những ngày qua đã luôn sát cánh bên chúng tôi!
Và thấu hiểu!
Tham quan thực tế là một môn học, nhưng với tất cả sinh viên
chúng tôi khi tham gia học phần này đều cảm thấy vô cũng ý nghĩa và thật đặc biệt.
Đối với sinh viên sư phạm chuyên ngành Ngữ Văn, việc tham
quan thực tế giúp chúng tôi có những cái nhìn khách quan nhất, thu thập các kiến
thức thực tế sẽ hỗ trợ cho chúng tôi rất nhiều trong công việc dạy học sau này.
Được đi, được sống trong môi trường tập thể, chúng tôi biết được
cách tổ chức hoạt động, sinh hoạt trong môi trường này là như thế nào. Trên đường
về, có bạn thắc mắc hỏi tại sao tôi lại có thể “khỏe mạnh” được như vậy, có bạn
lại “không biết vì sao ở nhà tôi thường ngủ dậy muộn mà lúc thế này lại dậy rất
sớm”. Tôi cười đáp lại “cũng không hiểu tại sao…”. Không phải tôi không hiểu, bởi
vì đó là trách nhiệm của tôi, của một Ban cán sự lớp. Trong suốt cuộc hành trình,
có những lúc mệt rã rời, có những buổi sáng muốn ngủ gắng thêm một tí, nhưng vì
nghĩ đến nhiệm vụ mình cần phải hoàn thành, tôi phải gượng dậy. Cũng như trong
cuộc sống, có đôi lúc mình muốn chùn bước, muốn bỏ lại tất cả để sống cho riêng
mình… nhưng đó là điều không thể. Cuộc sống luôn cần những nỗ lực, sự nhạy bén
và cả những cố gắng.
Và đặc biệt, trong chuyến thực tế lần này, tôi cảm thấy
tâm hồn mình thanh tịnh hơn, vì trong tâm linh của tôi từ trước tới nay chỉ
quanh quẩn trong gia đình mình. Được đi nhiều nơi như vậy, tôi được gửi những lời
cầu nguyện cho sự bình an, cho con đường học vấn. Tôi vẫn luôn hy vọng về những
điều kỳ diệu, về những điều tâm linh.
Còn một điều nữa tôi muốn nói, sau chuyến thực tế này, chúng
tôi hiểu về nhau nhiều hơn. Tôi biết nhiều hơn về cuộc sống và sinh hoạt cũng
như cách xã giao của những thành viên trong lớp. Tôi gần gũi với các bạn hơn, có
những bạn thường ngày hay khép kín nhưng dần dần rồi cũng mở lòng, tham gia vào
tập thể rất nhiệt tình.
Và có lẽ đây cũng là những khoảnh khắc hạnh phúc nhất với người
thầy mà chúng tôi yêu quý. Gần 60 tuổi, cái tuổi mà đáng ra phải được nghỉ ngơi
an dưỡng nhưng thầy vẫn đi cùng chúng tôi, theo từng bước chân của lớp tôi. Những
lúc leo núi mệt, ai cũng kêu ca, than mệt, nhưng với thầy tôi thì “không”, có
khi thầy còn đi nhanh hơn chúng tôi nữa. Sau chuyến thực tế này, chúng tôi vô cùng
khâm phục thầy và đều gọi thầy bằng cái tên rất thân mật - “Anh An”.
Đây là một kỷ niệm của thời sinh viên mà tôi nghĩ ai cũng sẽ
rất nhớ.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét