Thứ Tư, 24 tháng 1, 2018

Vì cuộc đời là những chuyến đi

Vì cuộc đời là những chuyến đi…
Thuở nhỏ tôi mơ ước sẽ có một ngày bay cao như những cánh diều tôi thả trên nền trời lộng gió, đặt những dấu chân mình xuyên đại ngàn, ước mơ của một đứa trẻ.
Sẽ chẳng có người lớn nếu không bắt đầu từ giấc mơ trẻ thơ ấy.
Cuộc sống quay cuồng khiến tôi nhiều khi muốn tìm một góc bình yên tâm hồn mình, mỗi khi trời đất giao mùa là lại thèm được ngao du, cầm máy ảnh trên tay và bước chân lại tiếp tục. Nhưng đó chỉ mới là những bước chân ngắn trên con đường dài bất tận.
Và nếu như không có cuộc hành trình ngày 10/4/2012 hôm ấy, có lẽ tôi vẫn cứ mãi bước đôi chân của mình lững thững trên những con đường ngắn ấy… Đi, trải nghiệm và thấu hiểu - đó là những gì mà tôi nhận được từ chuyến thực tế vừa qua.
Đi…
Những tiếng cười giòn tan hòa lẫn với những bước chân ríu rít vang xa trong buổi sáng sớm ngày 10/4/2012. Chúng tôi lên đường trong niềm háo hức khó tả, đôi mắt xa xăm hướng về phía trước - nơi trái tim của Tổ quốc đang chờ đợi.
5h30p. Tạm biệt thành phố Đà Nẵng, đoàn chúng tôi hướng thẳng về thành phố Vinh. Ghé qua Đồng Hới- Quảng Bình khi mặt trời đã ngả bóng.Trong cái nắng oi bức của “vùng đất lửa”, chúng tôi lại tiếp tục hành trình. Bóng chiều ngả xuống chúng tôi mới ghé qua thăm Bảo tàng Nguyễn Du và đáp xuống Cửa Lò- Nghệ An khi hoàng hôn đã tắt.
Một đêm dạo chơi quanh bãi biển Cửa Lò. 5h30p sáng ngày 11/4 chúng tôi lại lên đường khi sương còn phủ trắng để tiến ra thủ đô Hà Nội. 11h30p, xe dừng chân nghỉ tại Tam Điệp - Ninh Bình. Cái nắng vẫn không thôi ngừng đốt, con đường vẫn chạy thẳng vào tim. Chúng tôi đến Hà Nội lúc 4h30p. Dọc theo con đường đê sông Hồng, men theo bờ Hồ Tây… chúng tôi đã đặt chân đến trái tim của cả nước. Có một chút gì rất riêng, rất Hà Nội mà tôi tin chắc rằng ai ai một lần đặt chân đến đây đều cảm nhận được. Một cuộc sống nhộn nhịp, xô bồ của những con người bận rộn,dường như họ bị cuốn vào vòng xoáy của công việc. Hà Nội không phải là những con đường yên bình,những con phố hiu hắt người như nơi khác mà là từng dòng người tấp nập đi lại, giao thông là một nỗi khiếp sợ của Hà Nội tất cả như không ngừng nghỉ.
5h30p ngày 12/4, chúng tôi đã có mặt trước Lăng Bác để dự lễ chào cờ. 7h00p, chúng tôi vào lăng viếng Bác. Không khí yên tĩnh khác xa với chốn đô hội ngoài kia. Viếng Bác xong chúng tôi đi thăm khu di tích nhà sàn, ao cá của Bác… Sau khi thăm xong một loạt khu di tích như chùa Một Cột, bảo tàng Hồ Chí Minh, chúng tôi đến thăm trường Đại học đầu tiên của nước ta - Văn miếu Quốc tử giám. Mải mê với những điều mới lạ, bổ ích, chúng tôi bẵng quên đi cái mệt nhọc giữa nắng trưa 12h00. Buổi chiều đoàn đến tham quan Bảo tàng Dân tộc học và dành khoảng thời gian còn lại để tham quan tự do, thưởng thức những danh thắng và đặc sản của đất Hà thành.
Tạm biệt thủ đô Hà Nội lúc rạng đông, khi thành phố đã bắt đầu nhộn nhịp xe cộ, chúng tôi hành hương về nguồn. Đền Hùng nơi hồn thiêng sông núi - đất phát tích của dân tộc Việt Nam.
Nơi đây có các đền đài thờ tự các Vua Hùng, những người đã có công dựng nước. Tới đền Hùng, chúng tôi được chiêm ngưỡng một quần thể di tích và lịch sử nổi tiếng của dân tộc ta. Nơi đây các vua Hùng đã xây dựng nước Văn Lang, quốc gia đầu tiên của dân tộc ta và cũng tại nơi đây chúng tôi được biết về các vua hùng, về các nàng công chúa Tiên Dung, Mị Nương, về hoàng tử Lang Liêu với sự tích bánh chưng, bánh giày… Leo qua hơn 200 bậc đá, chúng tôi lần lượt thăm quan đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, lăng vua Hùng và kết thúc tại đền Giếng.
Rời mảnh đất Phú Thọ, đoàn chúng tôi đến với miền đất Hải Dương, lên thăm Côn Sơn- Kiếp Bạc, thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Nơi đây gồm quần thể các di tích lịch sử liên quan đến những chiến công lẫy lừng trong ba lần quân dân thời Trần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII và trong cuộc kháng chiến 10 năm của nghĩa quân Lam Sơn chống quân Minh ở thế kỷ XV. Đây là nơi gắn liền với thân thế, sự nghiệp của các vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo cùng với nhiều danh nhân văn hoá của dân tộc: Trần Nguyên Đán, Pháp Loa, Huyền Quang… Điểm nhấn của khu di tích này là chùa Côn Sơn và đền Kiếp Bạc.
Điểm dừng chân tiếp theo của đoàn là Hạ Long, một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới. Cuộc hành trình của chúng tôi sẽ xuôi về với điểm đến là chùa Bái Đính ngôi chùa của những kỷ lục, ngôi chùa lớn nhất Đông Nam Á.
Trở lại thành phố Vinh khi đã lên đèn, chúng tôi nghỉ ngơi để tiếp tục cho cuộc hành trình ngày hôm sau. Sáng ngày 16/4 chúng tôi đã có mặt ở quê Bác để đi thăm khu di tích quê nội và quê ngoại của Người. Những hình ảnh về thời niên thiếu của Bác dần hiện ra qua lời kể của chị hướng dẫn viên.
Rồi xe tiếp tục lăn bánh về Phong Nha-Kẻ Bàng - một di tích nổi tiếng của nước ta với nhưng hang động kì vĩ. Điều đặc biệt là chúng tôi đã được chiêm ngưỡng vẻ đẹp nơi Thiên Đường động - một vẻ đẹp tự nhiên mà vô cùng hấp dẫn.
Gửi lời chào Quảng Bình, chúng tôi ghé qua Quảng Trị thăm nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, đến mảnh đất Hà Tĩnh với những cô gái thanh niên xung phong Ngã Ba Đồng Lộc.
Trải nghiệm!
Trong suốt cuộc hành trình, cũng có những lúc vui, lúc buồn… lúc mệt mỏi và muốn dừng lại. Nhưng bước chân vẫn cứ đi, miệng vẫn ca hát vang để xua tan đi cái mệt nhọc.
Chuyến đi lần này, tôi được giao trách nhiệm phụ trách mảng đời sống cho các bạn. Quả thật, từ lúc lên chức Lớp phó đời sống đến giờ, tôi mới có dịp được thể hiện đúng vai trò của mình. Chính vì điều đó, ngay từ lúc chuẩn bị cho đến hết cuộc hành trình, tôi đã rất cố gắng hoàn thảnh tôt nhiệm vụ của mình. Cảm thấy rất hạnh phúc khi được quan tâm đến những người bạn đồng hành của mình.
Ngày đầu tiên qua đi nhẹ nhàng , mặc dù trên xe có nhiều bạn nữ bị say xe. Tôi thật sự lo lắng khi nhiều bạn mới lên xe đã nôn thốc nôn tháo, và lo ngại cho cuộc hành trình của đoàn sẽ vất vả hơn. Nhưng không như tôi nghĩ, những bài hát cất lên, những lời thuyết trình dí dỏm của những bạn khác làm cho không khí tươi tỉnh hẳn. Tôi đỡ lo phần nào.
Xe đáp xuống Cửa Lò - Nghệ An để nghỉ ngơi lúc trời đã nhá nhem tối. Tôi lại lật đật đi sắp xếp phòng ngủ cho cả đoàn.
Đến Hà Nội  vào ngày hôm sau, tôi lại xuống trước và sắp xếp phòng ngủ, nơi ăn uống.
Sáng ngày hôm sau, vẫn cứ dậy sớm để gọi các bạn. Hai ngày trên xe ai cũng rã rời, nên cảm giác mệt mỏi cứ hiển hiện trên gương mặt. Tôi động viên bằng những lời nói đùa, hi vọng các bạn thấy có khí thế hơn.
Vào lăng viếng Bác, có lẽ đây là kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên. Lần đầu tiên tôi được ngắm nhìn khuôn mặt, vóc hình Người cha vĩ đại ấy. “Con từ miền Nam ra thăm lăng Bác. Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát”. Tôi nghẹn ngào xúc động khi đứng trước người, tôi đã chắp tay cầu nguyện, kính chào Người và bỗng dưng nước mắt tràn mi. Giống như một người thân quen của mình, tôi gặp Bác trong lòng đầy quyến luyến.
Cũng trong buổi sáng hôm đó, vì các bạn chạy đi tham quan lung tung mà Thầy tôi đã rất giận. “Tôi sẽ giải tán đoàn để các em được tham quan tự do…”. Tôi giật bắn người khi nghe câu đó, và thật sự lúc đó tôi rất sợ. Trưa lòng vòng trên phố Hà thành quả thật là rất mệt, ai cũng ráng bước thật nhanh để về nghỉ ngơi.
 Trưa hôm đó tôi bỏ cơm. Không phải vì không đói mà vì một lời nói làm tôi thấy mệt mỏi hơn. Vì chiều hôm đó tham quan tự do nên tôi không đặt cơm, nhưng trưa về một số bạn lại có nhu cầu muốn ăn cơm chỗ cũ. “Vì không đặt trước nên mấy anh chị nhà bếp không chuẩn bị trước”. Tôi cũng trình bày trước lớp như vậy, thế mà đáp lại lời tôi là một “tràng” dài những lời cáu gắt… Tôi bật khóc. Sự lo lắng của tôi những ngày qua cảm thấy vô nghĩa. Có đôi lúc tôi cũng phải chịu thua dễ dàng như vậy đó. Nhưng cũng vì thế mà tôi biết được rất nhiều người tốt, lo lắng và quan tâm tới mình. Mấy anh chị nhà bếp vỗ vai tôi và nói “Em nín đi rồi chiều chị sẽ nấu…đừng khóc nhè như con nít vậy”. Họ chỉ là những người xa lạ, chưa một lần quen biết và gặp gỡ, vậy mà họ làm tôi cảm thấy thân quen biết nhường nào…
Đơn giản chỉ là một câu chuyện xảy ra trong một khoảnh khắc nhưng tôi nhận thấy rằng mình cần cố gắng hơn nữa. Sống trong tập thể, không phải lúc nào mình cũng được người khác biết công lao của mình. Sống vì mọi người để mình cảm thấy mình sống có nghĩa, cảm thấy vui vì người khác được vui. Và tôi hạnh phúc vì tôi được quan tâm tới những người xung quanh mình.
Quên đi những giây phút không vui đó, chúng tôi lại đoàn kết bên nhau, lại tiếp tục cuộc hành trình về với cội nguồn. Dọc đường đi là những khoảng thời gian dành cho những câu chuyện thú vị. Vụ án “giờ mới kể” của Sara Trịnh và Dung “đậu”, trong đó có cả tôi làm cả nhà huyên náo và được mấy trận cười nắc nẻ. Cũng nhờ vậy mà dư âm vẫn còn vang vọng đến bây giờ, mỗi lần nhắc lại là không ai nhịn được cười.
Chúng tôi bước vào cuộc hành trình về với cội nguồn trong tâm thế hứng khởi. Tiết trời tháng tư, trời nắng, chúng tôi hành hương về đất Tổ, mỗi người một vẻ, nhưng ai ai cũng chỉ có một ước mong là được thắp nén tâm nhang tỏ lòng thành kính với tổ tiên. Trong tâm thức mỗi người dân Việt, dù có đi muôn phương, thì dòng máu con Rồng cháu Tiên vẫn chảy nóng bỏng, tươi thắm trong huyết quản mỗi người, từ đó hướng về nguồn cội, thành kính tri ân công đức tổ tiên.
Lên thăm Côn Sơn, chúng tôi được hòa mình vào một khoảng trời thiên nhiên với phong cảnh hữu tình, có núi xanh, có rừng thông vi vút tạo nên một “bức tranh thủy mặc” mà không nơi nào có được. Và hiểu được vì sao Nguyễn Trãi lại hứng thú với nơi này mặc dù ngay lúc này, có thông reo nhưng không có “suối chảy rì rầm”, không có “đá như đệm êm”.
Mảnh đất Kiếp Bạc lại nằm giữa vùng thung lũng trù phú của núi Rồng bao bọc, là nơi hội tụ của sáu con sông: sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Thầy và một nhánh của sông Thái Bình. Hình mây thế núi tạo thành thế rồng chầu, hổ phục, Tam quan đền Kiếp Bạc như một bức cuốn thư “Lưỡng long chầu nguyệt” bề thế, nơi hội tụ linh khí của đất trời để những bậc hiền nhân thuở xa xưa gây dựng cơ nghiệp muôn đời. Thắp một nén tâm hương cho Hưng Đạo Đại vương - Trần Quốc Tuấn, lòng tôi cảm thấy thanh tịnh.
Trong suốt cuộc hành trình của chúng tôi, có lẽ nơi để lại trong tôi nhiều cảm xúc nhất chính là lần về thăm quê Bác và lần ghé thăm Ngã Ba Đồng Lộc.
Chúng tôi dành một buổi sáng trong lành nhất để về thăm mộ Bà Hoàng Thị Loan và thăm quê Bác. Những hình ảnh về thời niên thiếu của Bác dần hiện ra qua lời kể của chị hướng dẫn viên. Mọi người đi từ bất ngờ này đến ngạc nhiên khác về cuộc đời của một vị lãnh tụ đáng kính, một con người kiệt xuất đã có một tuổi ấu thơ đầy sóng gió. Và chính những khó khăn gian khổ đấy đã nuôi lớn ý chí cách mạng của Người.
Về thăm quê mẹ Hoàng Trù và Làng Sen quê cha của Bác, dọc theo con đường mòn đất bụi, dưới những hàng tre xanh kẽo kẹt trong gió, lòng tôi xúc động nghẹn ngào. Trước một khung cảnh bình dị, tôi tìm thấy hình hài những người dân quê tôi, như tìm thấy ở đây một bậc vĩ nhân mang hình ảnh chân chất của người dân xứ Nghệ.
Về thăm làng Hoàng Trù, giữa ngôi nhà tranh nhỏ bé, giản dị, có chiếc chõng tre, có khung cửi mà người mẹ tảo tần của Bác một thuở vừa bế con, vừa dệt vải; rồi bếp, rồi chạn bát, chiếc rương gỗ đựng lúa, ngô… Con đường dẫn vào nhà, hai bên là dậu dâm bụt, là những hàng lạc đang mùa đơm hoa. Không hiểu vì sao đứng giữa không gian ấy, tôi thấy sống mũi mình cay cay, chợt bùi ngùi nhớ tới căn nhà tranh vách đất nơi vùng quê lam lũ của mình, nhớ tới tuổi thơ cùng với mẹ nhào đất với rơm để dựng lên căn nhà bếp. Tôi nhớ lắm, nhớ lắm những mùa mưa bão, mẹ lại đội mưa đi chặt lá tro về dẹm mái nhà để khỏi dột… “Vậy đấy Một vĩ nhân, một người làm xoay vần cả lịch sử dân tộc, một tấm gương sáng muôn thuở lại được sinh ra tại ngôi nhà tranh đơn sơ, giản dị đến nhường này, như nhà ta, như nhà của hàng triệu nông dân trên khắp đất nước này”.
Làng Sen, quê nội Bác, vẫn là mái nhà tranh vách nứa thấp lè tè, nhưng có khang trang hơn ngôi nhà của ngoại. Đó là một ngôi nhà gỗ 5 gian, lợp mái tranh, nhỏ bé, mộc mạc, giản dị dưới màu xanh của vườn cây và những bóng tre. Thế mà đã là nơi che chở cho tuổi thơ của Bác, nuôi lớn tâm hồn vĩ đại của Người. Dẫu đã qua cả thế kỷ, vạn vật đổi thay nhưng những hình ảnh xưa cũ gắn liền với tuổi thơ Bác vẫn được lưu giữ đến bây giờ. Ngôi nhà là những ân tình làng xóm quê hương, là nơi chứng kiến quá trình học tập, trưởng thành; là nơi ghi dấu cảm xúc đầu tiên về lòng yêu nước và những nhận thức thời cuộc- bước tiền đề cho con đường cứu nước sau này của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Vậy đấy, về quê hương của một bậc vĩ nhân, sao mà thân quen đến thế! Tôi gửi lại tâm hồn mình nơi đó, để lắng đọng lại trong cái bình dị của không gian, để những bon chen của đời thường không còn ngự trị. Về lại chốn thị thành, nơi nhà cao cửa rộng, nơi cây nhường chỗ cho những ngôi nhà chọc trời, tôi vẫn thấy lòng mình thanh tịnh hơn khi mỗi lần nghĩ về không gian nơi quê Bác.
Về với mảnh đất Hà Tĩnh thân thương, nơi “chảo lửa túi mưa” ấy mẹ đã sinh ra tôi, nuôi tôi khôn lớn thành người. Ngã Ba Đồng Lộc - tôi đã đến nhiều lần, nhưng có lẽ đây là lần xúc động và đáng nhớ nhất. Những lần đi trước  tôi chỉ ghé thăm và thắp hương cho các anh hùng, các chị, còn lần này chúng tôi được xem những đoạn phim và có cả những lời giới thiệu đầy xúc động của anh hướng dẫn viên. Cả hội trường rơm rớm nước mắt, rồi những tiếng nức nở bật thành tiếng khi nghe anh đọc bài thơ viết về chị Cúc. Tôi cố kiềm chế tiếng nức nở thành tiếng, bởi vì nơi đây là quê hương tôi, nên cảm thấy tự hào và mạnh mẽ như các chị chứ không phải sụt sùi vì những xúc cảm.
Đứng lặng người trước khu mộ 10 liệt sĩ thanh niên xung phong, tôi nguyện cầu cho linh hồn các chị được yên nghỉ nơi chín suối,và các chị vẫn sẽ luôn là những cô gái mở đường anh hùng. Những cô gái không bao giờ hi sinh trong tâm trí người dân Việt Nam. Các chị vẫn ở đấy vẫn vui đùa trên mảnh đất của mình vẫn bảo vệ cho tuyến đường mang tên bất tử.
Trở về Đà Nẵng khi đêm buông  màn, thành phố đã lên đèn. Cả xe rộn ràng tiếng nói cười, nhảy múa. Tôi cảm thấy hạnh phúc, khi mình đã hoàn thành một cuộc hành trình, khi mình đã làm tròn nhiệm vụ. Nhưng lòng tôi vẫn thoáng một chút buồn. Cái xoa đầu của thầy tôi, “qua nhà mà không về được, thầy thương quá…”, làm tôi nghẹn ngào, cố quay đi lén lau dòng nước mắt. Những ngày qua được đi, được sống với thầy, chúng tôi gần gũi với thầy hơn. Có khi còn gọi thầy bằng “anh”, mặc dù thầy đáng bậc cha, bậc chú. Tôi thật lòng cảm ơn thầy những ngày qua đã luôn sát cánh bên chúng tôi!
Và thấu hiểu!
Tham quan thực tế là một môn học, nhưng với tất cả sinh viên chúng tôi khi tham gia học phần này đều cảm thấy vô cũng ý nghĩa và thật đặc biệt.
Đối với sinh viên sư phạm chuyên ngành Ngữ Văn, việc tham quan thực tế giúp chúng tôi có những cái nhìn khách quan nhất, thu thập các kiến thức thực tế sẽ hỗ trợ cho chúng tôi rất nhiều trong công việc dạy học sau này.
Được đi, được sống trong môi trường tập thể, chúng tôi biết được cách tổ chức hoạt động, sinh hoạt trong môi trường này là như thế nào. Trên đường về, có bạn thắc mắc hỏi tại sao tôi lại có thể “khỏe mạnh” được như vậy, có bạn lại “không biết vì sao ở nhà tôi thường ngủ dậy muộn mà lúc thế này lại dậy rất sớm”. Tôi cười đáp lại “cũng không hiểu tại sao…”. Không phải tôi không hiểu, bởi vì đó là trách nhiệm của tôi, của một Ban cán sự lớp. Trong suốt cuộc hành trình, có những lúc mệt rã rời, có những buổi sáng muốn ngủ gắng thêm một tí, nhưng vì nghĩ đến nhiệm vụ mình cần phải hoàn thành, tôi phải gượng dậy. Cũng như trong cuộc sống, có đôi lúc mình muốn chùn bước, muốn bỏ lại tất cả để sống cho riêng mình… nhưng đó là điều không thể. Cuộc sống luôn cần những nỗ lực, sự nhạy bén và cả những cố gắng.
Và đặc biệt, trong chuyến thực tế lần này, tôi cảm thấy tâm hồn mình thanh tịnh hơn, vì trong tâm linh của tôi từ trước tới nay chỉ quanh quẩn trong gia đình mình. Được đi nhiều nơi như vậy, tôi được gửi những lời cầu nguyện cho sự bình an, cho con đường học vấn. Tôi vẫn luôn hy vọng về những điều kỳ diệu, về những điều tâm linh.
Còn một điều nữa tôi muốn nói, sau chuyến thực tế này, chúng tôi hiểu về nhau nhiều hơn. Tôi biết nhiều hơn về cuộc sống và sinh hoạt cũng như cách xã giao của những thành viên trong lớp. Tôi gần gũi với các bạn hơn, có những bạn thường ngày hay khép kín nhưng dần dần rồi cũng mở lòng, tham gia vào tập thể rất nhiệt tình.
Và có lẽ đây cũng là những khoảnh khắc hạnh phúc nhất với người thầy mà chúng tôi yêu quý. Gần 60 tuổi, cái tuổi mà đáng ra phải được nghỉ ngơi an dưỡng nhưng thầy vẫn đi cùng chúng tôi, theo từng bước chân của lớp tôi. Những lúc leo núi mệt, ai cũng kêu ca, than mệt, nhưng với thầy tôi thì “không”, có khi thầy còn đi nhanh hơn chúng tôi nữa. Sau chuyến thực tế này, chúng tôi vô cùng khâm phục thầy và đều gọi thầy bằng cái tên rất thân mật - “Anh An”.
Đây là một kỷ niệm của thời sinh viên mà tôi nghĩ ai cũng sẽ rất nhớ.
 Theo https://truongphuongdn.wordpress.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...