Mặc cảm - Tha hóa - Phân thân
I/ Trong một lá thư viết năm 1988 mà nhiều người được đọc, Chế
Lan Viên phản đối tính dự báo của văn học. Đại ý ông bảo nếu căn cứ vào sáng
tác trước 1945 thì không ai nghĩ Cách mạng tháng Tám có thể nổ ra. Vậy mà đã có
Cách mạng. Cái sự kiện có thực ấy đã bác bỏ tất cả.
Tôi nghĩ rằng lúc này đây, vấn đề tính dự báo của văn học
không còn là chuyện phải bàn cãi - đã có hàng loạt trường hợp khác minh chứng
cho nó. Nhưng nhận xét của Chế Lan Viên vẫn hết sức thú vị ở chỗ nó gợi ý chúng
ta nghĩ sang một hướng khác.
Đúng là cuộc Cách mạng của chúng ta là một cuộc cách mạng kỳ
lạ.
Tính trong văn học công khai thì gần như không có một dấu hiệu
nào dự báo là nó sẽ tới.
Ở một ngòi bút năng động, nhạy cảm như Vũ Trọng Phụng, cách mạng
chỉ được biểu hiện qua hình ảnh ông già Hải Vân, một người mà hành tung có quá
nhiều chỗ ám muội và thiếu hẳn cái đàng hoàng của người làm việc chính nghĩa.
Tiếp theo Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan định viết Bước
đường ngoặt, Bước đường sáng. Nhưng đấy là ý định. Hơn nữa, sau Cách mạng,
khi một phần ý định ấy được thực hiện- chúng tôi muốn nói tới các tiểu thuyết Tranh
tối tranh sáng, Hỗn canh hỗn cư - thì cũng không ai nghĩ là tác giả hiểu
cách mạng cả.
Trước 1945, Nam Cao, Tô Hoài là những nhà văn đã có chân
trong Văn hoá cứu quốc. Phần công dân của các ông, như thế đã rõ. Nhưng
còn về sáng tác, thì người nghệ sĩ trong các ông chín chắn hơn mà cũng là… chậm
thức tỉnh hơn. Đọc các truyện loài vật Tô Hoài tập hợp trong O chuột, người
ta thấy cuộc sống có vận động, nhưng chỉ là vận động để đến với già nua, nhạt
nhẽo, trống rỗng. Còn trong nhiều thiên truyện của Nam Cao, người ta bắt gặp
tình trạng tiến thoái lưỡng nan (dilemme): con người hoặc là cam chịu sống mòn,
hoặc là trở thành thoái hoá, kỳ dị, khi muốn thay đổi.
Rút lại về căn bản, trước Cách mạng 8/1945 cuộc sống được phản
ánh là một cái gì lặp đi lặp lại, ngưng đọng, đẹp ngay trong sự ngưng đọng ấy,
như trong thiên truyện của Thạch Lam mà chúng tôi nghĩ là một gợi ý tốt để hiểu
thế nào là chủ nghĩa hiện thực: truyện Hai đứa trẻ.
Ấy vậy mà Cách mạng vẫn cứ xảy ra. Và khi đã xảy ra, thì “như
một lưỡi cày khổng lồ”, xốc lại tất cả, lật tung tất cả, bất kể người ta có dự
báo trước hay không.
Vốn là những người có lòng yêu nước, việc phần lớn các nhà
văn thế hệ tiền chiến trước sau đều đứng về phía cách mạng, là chuyện tất
nhiên.
Nhưng cũng rất dễ hiểu, nếu nói rằng, với tư cách những người
hết sức nhạy cảm, lại cũng nhanh chóng nảy sinh trong lòng họ một tình cảm mới:
cảm thấy mình có lỗi, mình đã không đến với cách mạng từ chỗ còn trong bóng tối;
do đó mình có vẻ “ăn theo”, thậm chí đứng trên lập trường mới mà suy xét, thì
lúc bấy giờ, sáng tác của mình có hại cho cách mạng nữa. Đi với dòng đời (tên
một bài thơ của Xuân Diệu), mà họ cứ canh cánh bên lòng. Động có việc gì xảy ra
(mà trong cách mạng thì thiếu gì việc xảy ra), là họ lấy mình ra xỉ vả.
Có thể nói, đấy là một thứ chủ đề chủ đạo quán xuyến
trong tâm lý hàng loạt người, từ những người lặng lẽ, nín nhịn như Nam Cao, đến
những người sôi nổi, dễ bốc dễ say, như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu. Cái gì đã chi
phối việc Hoài Thanh đến chết cũng không dám nhận đứa con yêu Thi nhân Việt
Nam 1932-1941, nếu không phải là cái mặc cảm tội lỗi này? Còn Chế Lan Viên, một
lần bắt gặp cảm giác ấy là ông không bao giờ quên nổi nữa; ông sẵn sàng khai
thác nó đến cùng; trong thơ, trong tiểu luận, bất cứ dịp nào nhắc tới nó là ông
nhắc bằng được.
- Tôi ở đâu? Đi đâu? Tôi đã làm gì
Đời thấp thoáng sau những trang sách Phật
Đất nước đau dưới gót bầy ngựa Nhật
Lạc giữa sao trời, tôi vẫn còn mê
- Tôi như con sông Thương
Chảy lòng mình thương nhớ
Đánh đắm cả thuyền mình
Trong cuộc đời tại chỗ
Như tờ lịch mỏi mòn
Thời gian đến lấp bùn.
Những dòng thơ giống như lời tự đay nghiến, nó cũng là nỗi hối
hận về những lỗi lầm không gì tự biện hộ nổi.
Chúng ta thường nghe nói tới cái hoang tưởng của những người
có công, họ gán cho mình quá nhiều thành tích, tưởng thiếu mình là thiên hạ chết
hết, họ tha hồ phóng to công lao của mình lên, cuộc phiêu lưu cứ thế không biết
đâu là cùng. Nhưng hoá ra, nỗi hoang tưởng về tội lỗi của chính mình cũng có đường
biên dao động gần như vô tận, mà trường hợp Chế Lan Viên ở đây là một thí dụ. Nếu
ở Xuân Diệu, nhiều lúc ta còn thấy lời tự xỉ vả chỉ được nói ra một cách ngượng
nghịu, hình như cực chẳng đã nên phải làm vậy, thậm chí có lúc tính chuyện cãi
lại (như khi bàn về Thơ mới, Xuân Diệu đã cãi lại), thì ở Chế Lan Viên lối
nghĩ mới thật dứt khoát, các mệnh đề chỉ có một nghĩa và không thể hiểu sang
nghĩa khác. “Cách mạng làm tôi vui mà làm tôi hơi áy náy: mình đã làm gì để được
hưởng cái vui này? Ngỡ như mình dự một bữa tiệc mà không phải tốn công xuống bếp”.
“Chúng tôi vào cách mạng là người cách mạng rồi, nhưng không ngớt làm phiền cho cách mạng”. “Hình như một tên ăn trộm dễ cải tạo hơn một người thần bí!”. Từ những nhận định kiểu ấy của Chế Lan Viên, người ta chỉ có thể nghĩ: phải nói văn nghệ có một cái tội tổ tông truyền là xa rời cách mạng. Cả nước thì tiến lên mà người làm văn nghệ thì dừng lại.
“Chúng tôi vào cách mạng là người cách mạng rồi, nhưng không ngớt làm phiền cho cách mạng”. “Hình như một tên ăn trộm dễ cải tạo hơn một người thần bí!”. Từ những nhận định kiểu ấy của Chế Lan Viên, người ta chỉ có thể nghĩ: phải nói văn nghệ có một cái tội tổ tông truyền là xa rời cách mạng. Cả nước thì tiến lên mà người làm văn nghệ thì dừng lại.
Có người sẽ bảo rằng qua đấy là một cách nói của Chế Lan
Viên, ông quen tuyệt đối hoá vấn đề, nói đến cùng, nói cho thật cạn kiệt!
Có điều, mấy chục năm qua, loại ý kiến ấy tự do trình bày,
không có ai nói lại lấy nửa lời.
Và những mặc cảm kiểu ấy cứ tha hồ lây truyền từ người nọ
sang người kia, từ lớp nhà văn này đến lớp nhà văn khác, như một mạch nghĩ chủ
đạo.
Hồi chống Pháp, một lớp nhà văn hình thành.Vũ Tú Nam và Mạc
Phi, Hồ Phương và Hữu Mai, Nguyễn Khải và Nguyên Ngọc… Tiếp đó là các nhà văn lớp
chống Mỹ: Đỗ Chu, Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Ngọc Tú, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Thanh
Thảo… Ngay từ lúc mới viết văn, họ đã hiểu rằng họ là con đẻ của cách mạng.
Không một dòng chữ nào của họ được in ra trong xã hội cũ. Nhưng mặc cảm tội lỗi,
hay suy rộng hơn, mặc cảm về sự kém cỏi của mình, cái đó vẫn cứ như một thứ
tình cảm bẩm sinh, không cần tìm mà tự nó đến và nếu không nói ra thì cũng chưa
bao giờ họ phủ nhận. Lối biểu hiện của mặc cảm lúc này cũng khá đa dạng. Ở Nguyễn
Khải, đấy là cái dứt khoát muốn đoạn tuyệt với khái niệm nhà văn kiểu cũ,
do đó, khái niệm nhà văn nói chung. Trong một bài viết mang trên Con đường
dẫn tôi đến nghề văn (1963), Nguyễn Khải nói thẳng ra rằng không thích ai
gọi mình là nhà văn, chỉ thích được gọi là người làm công tác văn học (đại khái
là một loại cán bộ, mà cán bộ vốn được quan niệm thế nào, chúng ta đều đã biết).
Ở Vũ Thị Thường, nó là ý thức về sự non kém của mình trước những con người
gọi là nhân vật tích cực của thời đại. Trong một bài viết, in trên báo Nhân
dân 10-8-1975, Vũ Thị Thường viết: “Ở những xứ sở khác, nhà văn có thể cao
hơn nhân vật của anh ta… nhưng ở đây, trên đất nước này, những nhân vật có thật
ở ngoài đời lại thường cao hơn người viết (...). Những con người như thế, khi
miêu tả về họ, chính là người viết đã phải nâng mình lên, để cố gắng ngang tầm
nhân vật”. Nhiều ý nghĩ tương tự như ý nghĩ trên đây của Vũ Thị Thường đã là điều
được người cầm bút viết ra, trong các bài tiểu luận và cả trong sáng tác. Hồi đầu
chiến tranh chống Mỹ, khi nhà thơ Xuân Quỳnh viết trong một bài thơ rằng không
muốn làm thơ nữa, mà chỉ muốn cầm khẩu súng ra chiến trường, thì chị cũng đã
nghĩ trên cái mạch chung mọi người vẫn nghĩ.
Ở ta không có thói quen lấy
người viết văn làm nhân vật chính trong các tiểu thuyết. Nhưng trong một số
truyện ngắn, họ cũng đã được nói tới (chẳng hạn, tôi nhớ mấy trường hợp in ra từ
hơn chục năm về trước, trong các tập truyện ngắn Trang 17 của Nhật Tuấn, Mùa
hạ cuối cùng của Lưu Quang Vũ). Bấy giờ họ thường hiện ra như những kẻ lười
biếng, ích kỷ, vô trách nhiệm với vợ con, mà về chuyên môn thì, ngoài một chút
tài hoa, chẳng có điều gì để nói. Tâm lý thích kể xấu giới mình, các đồng nghiệp
của mình, chẳng qua cũng là một biến tướng của cái mặc cảm tội lỗi được truyền
lại từ các lớp người trước!
II/ Có những chữ mà chỉ cần đọc lên là người ta lập tức hình dung
ra cung cách sinh hoạt một thời. Một trong những chữ đó, từ khoảng 1985 về trước,
vốn rất quen, là đi thực tế. Đại khái đó là những dịp các nhà văn tổ chức
thành từng đoàn đến thâm nhập cơ sở, cùng sinh hoạt và làm việc tại một đơn vị
bộ đội, một nhà máy hay một hợp tác xã nào đó; một thời gian sau họ có ngay
sáng tác về cái cơ sở mà họ cùng sinh hoạt đó.
Công bằng mà nói những chuyến đi đó có cái phía bổ ích của
chúng. Để ép những cây bút lười biếng, thiếu nghị lực phải làm việc, và để có
được những tác phẩm thuộc loại trung bình, đọc được, bám sát ngay được vào một
chủ trương cụ thể nào đó, thì phải nói đó là những biện pháp hiệu nghiệm,
rất hiệu nghiệm nữa. Thế nhưng, đáng lẽ chỉ nên coi đó là một động tác nghề
nghiệp, cùng lắm, là những hoạt động có tính cách biểu dương lực lượng về mặt
chính trị của cả giới, thì nhiều khi chúng ta lại tuyệt đối hoá ý nghĩa công việc,
coi đi thực tế là cái chìa khoá vạn năng mở ra mọi thành tựu sáng tác. Trong một
bài phỏng vấn, nhà văn Nguyễn Tuân kể rất hay về cái vai trò Tổng Thư ký Hội
văn nghệ Việt Nam mà ông đảm nhiệm, hồi chống Pháp:
- Việc chủ yếu của ông Tổng Thư ký là hành quân theo bộ đội hết
chiến dịch này đến chiến dịch khác, đi vào vùng địch hậu với dân quân du kích,
đi tuyên truyền chính sách thuế nông nghiệp, đi tham gia phát động quần chúng
giảm tô và cải cách ruộng đất.
Tại sao đi thực tế lại trở thành “việc chủ yếu của ông Tổng
Thư ký” như vậy? Ở đây, có nhu cầu của cuộc kháng chiến lúc ấy: cần động
viên bộ đội. Lại có vai trò của một nhận thức máy móc, hiểu sáng tác như một
cái gì trực tiếp nảy ra từ thực tế, vậy, theo công thức “gà đẻ trứng vàng”, có
đi thì mới có viết. Nhưng vượt lên trên những lý do cụ thể đó, câu chuyện động
viên nhau “đi” còn có ý nghĩa khác: khi tự nguyện đi theo thực tế, đi ồ ạt, ầm
ĩ, vừa đi vừa kêu lên cho cả xã hội biết, tức các nhà văn muốn khẳng định mình
vốn xa thực tế, và nay đã hiểu rằng đấy là điều không thể tha thứ nổi. Khi công
khai tuyên bố là phải tìm cái đẹp, cái tốt, ở người công nhân, ở người chiến
sĩ, có ý nghĩa là người viết văn cảm thấy mình và những người quanh mình hàng
ngày sống phù phiếm, vớ vẩn, phải nhờ quần chúng tẩy rửa, thanh lọc để tâm hồn
trong trẻo, sạch sẽ hơn. Đi thực tế, do đó, là một cách để từ bỏ tội lỗi, như
trên vừa nói.
Hình như đã linh cảm đến điều ấy, cho nên hoạ sĩ Tô Ngọc Vân
từ năm 1948 đã viết trên tạp chí Văn nghệ(loại in bằng giấy dó, ra ở Việt Bắc).
Cái hư truyền rằng nghệ sĩ sống xa quần chúng, một người nói
đi, hai người nhắc lại, đã hầu thành một tục truyền, đến nỗi người ta không thể
nào nghĩ khác được... Người ta có hiểu chăng: trong xã hội loài người, kẻ nào sống
gần đại chúng hơn, ấy là bọn nghệ sĩ. Người nghệ sĩ Việt Nam biết và hiểu Việt
Bắc trước kháng chiến từ lâu.
Phải nói ngay rằng khi viết đoạn văn đó, Tô Ngọc Vân không hề
có ý muốn tránh việc đi thực tế. Trong kháng chiến, ông cũng đã đi rất nhiều. Bản
thân cái chết của ông trên đường đến Điện Biên Phủ đã chứng minh cho điều đó.
Cái mà Tô Ngọc Vân muốn cãi lại chỉ là cái ý nghĩa người ta muốn gán cho việc
“đi” ấy. Có điều trong không khí cuồng nhiệt đương thời và lối nghĩ một chiều
những năm về sau, ý kiến của Tô Ngọc Vân lọt thỏm đi không một tiếng vang. Từ
hoà bình lập lại (1954), qua cuộc chống Mỹ, đi thực tế tiếp tục được giải thích
như một sự nghiệp có ý nghĩa xã hội lớn lao mà không phải là một động tác nghề
nghiệp đơn thuần. Bởi thế mới có chuyện không chỉ các văn nghệ sĩ sống quá sung
sướng trước đây cần đi thực tế, mà các cây bút vừa chân ướt chân ráo chuyển từ
cơ sở lên các cơ quan sáng tác cũng lo đi thực tế, coi một ngày mình xa thực tế
là một ngày hỏng. Mặc cảm tội lỗi đã trở thành mã di truyền, dù ở những thế
hệ sau không có những người bảo vệ và thuyết lý cho nó đầy sức thuyết phục như
Chế Lan Viên từng làm với thế hệ tiền chiến.
Dẫu sao, đi thực tế vẫn chỉ là chặng đường đầu tiên. Quyết
tâm vượt qua tội lỗi còn phải đuợc thể hiện đầy đủ khi nguời nghệ sĩ ngồi trước
bàn sáng tác định huớng cho mình từ nội dung viết (tỉ lệ tiêu cực - tích cực,
màu đen và màu hồng, mức độ lạc quan tin tưởng ở cuối tác phẩm), cho tới cách
viết. Về mặt này, những băn khoăn mà Nam Cao từng ghi lại trong nhật ký Ở
rừng, có ý nghĩa tiêu biểu. Gần như lúc nào Nam Cao cũng sợ rằng mình xa quần
chúng quá, những cái mình đã viết ra, quần chúng không hiểu. Trong một bài viết
mang tên Sáng tác kịp thời để đẩy mạnh tổng động viên, in
trên Văn Nghệ số 5-1950, cũng Nam Cao viết:
Phải thừa nhận rằng những sáng tạo của chúng ta vẫn chưa thật
gần gũi với nhân dân. Một phần vì chúng ta chưa đủ thì giờ để hiểu rõ đối tượng.
Nhưng một phần nữa cũng vì chúng ta không thực tâm cố gắng trong khi sáng tác,
chúng ta vẫn chiều theo ý riêng, tình cảm riêng của chúng ta, chúng ta vẫn sáng
tác cho ta (...). Những thứ “truyện không có truyện” tả dài dòng, phân tích
theo lối chẻ sợi tóc làm tư, làm sốt ruột công nông, bởi họ là những người hành
động chiến đấu thiết thực, chứ không phải là những người chỉ toàn nghĩ lơ mơ,
nghĩ viển vông, nghĩ không đâu, nghĩ để chẳng để làm gì cả.
Đây là việc mọi người bàn nhau ở Việt Bắc. Còn ở Khu Năm?
Trong một bài viết mang tên Sống còn, đăng ở báo Văn nghệ số
3-12-1993, nhà văn Nguyễn Thành Long nhớ lại việc rèn luyện ngòi bút của mình hồi
kháng chiến chống Pháp, với niềm tự hào kín đáo:
Thật là nhọc, nhưng cũng thấy là kỳ công thật, việc chúng
tôi, ví dụ, đã rèn luyện bằng cách nhặt những câu chuyện ở địa phương, kể lại bằng
miệng, nhìn nét mặt người nghe, xem phản ứng thế nào với từng câu văn. Và, về
nhà viết lại để đăng trên báo. Nhưng cốt truyện ngắn không quá một cột.
Sẽ là không đúng sự thật nếu bảo rằng mấy chục năm qua,
văn xuôi ta cứ giẫm chân tại chỗ một kiểu như Nam Cao và Nguyễn Thành Long đã
nói. Trong những căn phòng của mình ở Hà Nội sau 1954 và ở thành phố Hồ Chí
Minh sau 1975, cuộc sống của nhiều người viết văn đã thay đổi, cách viết của họ
cũng thay đổi. Nhưng cũng sẽ là sai lầm, nếu như nhắm mắt trước một thực tế rằng cái
tinh thần mà Nam Cao, Nguyễn Thành Long nói ở trên vẫn là tinh thần chính
quán xuyến trong văn học. Trong thế đối lập giữa “ta” (người viết) và “họ” (người
đọc), “ta” phải hy sinh cho “họ”. Có thể theo “họ” mà lên. Nhưng nhất thiết
không được vượt trước “họ”. Nó cũng là cái tinh thần ngự trị ở văn học Xô-viết
mà A. Gide mô tả trong cuốn Đi Liên Xô về: “Ngày nay nghệ thuật phải
là bình dân, hoặc không phải là nghệ thuật” [1]. Ý thức chủ đạo
là như vậy. Thành thử những thể nghiệm nếu có chỉ là chuyện dấm dúi, mò mẫm của
từng người. Trong hơn bốn chục năm qua, ở ta, các vấn đề nghề nghiệp của người
viết văn vẫn thường không được mang ra thảo luận một cách nghiêm chỉnh. Mặc dù
trên lý thuyết ai cũng bảo nội dung và hình thức đều quan trọng, nhưng trong thực
tế của giới sáng tác thì vẫn có sự tách rời nội dung và hình thức một cách thật
hồn nhiên, để rồi, cái được chú ý hơn hẳn là phần nội dung thiển cận và vụ lợi
của tác phẩm. Sáng tác trở thành một cuộc săn đuổi tuyệt vọng: đuổi theo cuộc đời.
Dĩ nhiên không bao giờ nó đuổi kịp. Bao giờ nó cũng thấy mình lạc hậu. Mặc cảm
tội lỗi trong từng nghệ sĩ do đó lại thêm một bước củng cố vững chắc.
III/ Ở nước nào cũng vậy, một dấu hiệu chứng tỏ xã hội trưởng
thành là sự phân công lao động được thúc đẩy mạnh mẽ, đi kèm với nó là sự hình
thành tầng lớp trí thức chuyên làm công việc sáng tạo. Của cải mà lớp trí thức
này giao nộp cho xã hội là những giá trị tinh thần với tất cả sự phong phú đa
nghĩa của hai chữ tinh thần. Trong khi có vẻ sống xa nhân dân thì những gì tốt
đẹp mà họ làm ra lại gắn liền với nhân dân. A. P. Tchékhov còn nói trí thức, đó
là lương tâm của nhân dân nữa.
Trong số những thành phần làm nên giới trí thức, dĩ nhiên có
các văn nghệ sĩ. Dù là ở nước Việt Nam thuộc địa trước 1945, trí thức nói chung
bị đào tạo theo lối thực dụng, riêng các nhà văn nhiều người lại xuất thân từ tầng
lớp dân nghèo, bản lĩnh trí thức chưa được bồi đắp vững chãi, nhưng ở họ vẫn
thường âm thầm một niềm kiêu hãnh chính đáng: họ là những người lao động trong
sạch. Trong khi vật lộn với trường đời để kiểm miếng cơm manh áo nuôi sống bản
thân và gia đình, đồng thời họ còn làm được cái việc đáng kể là nói lên nỗi khổ
của nhân dân. Mà ý nghĩa sáng tạo trong công việc của họ thì trước sau còn đó,
không gì đánh tráo được.
Thành thử, cái mảnh đất đẻ cho mặc cảm tội lỗi nói trên phát
triển, suy cho cùng là rất bé nhỏ.
Huống chi, trong thực tế đời sống từ sau 1945 đến nay, vai
trò văn nghệ sĩ vẫn có cái phần quan trọng khiến người tỉnh táo không thể không
nghĩ tới chuyện sử dụng. Để chứng minh rằng cách mạng là sự nghiệp chính nghĩa
và tất yếu phải xảy ra, các tài liệu chính thức vẫn viện dẫn rằng cách mạng đã
lôi cuốn được những kiện tướng xuất sắc của văn học cũ vào hàng ngũ của mình.
Dưới hình thức những đặc ân đã có nhiều sự đền đáp không phải là không đáng kể.
Trước các đặc ân ấy, những Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Bùi Hiển, Tô Hoài, Nguyễn
Xuân Sanh… sớm nhận ra ngay và không bao giờ quên khai thác đến cùng. Còn đối với
thế hệ đến sau, từ Nguyễn Khải, Hữu Mai, Hồ Phương… cho tới Đỗ Chu, Phạm Tiến
Duật… những vinh quang mà tác phẩm mang lại rõ ràng không phải là nhỏ. Giống
như phụ nữ, không cần kêu to lên, nhưng họ đều hiểu giá trị của mình, hiểu rằng
ngòi bút của mình là một thứ tài sản vô giá. Niềm tự hào đến với từng người
hàng ngày, hàng giờ. Niềm tự hào cụ thể như là sờ mó thấy, nó luôn luôn thì
thào vào tai người ta rằng thật ra chỉ nó là có thực, chỉ nó mới quan trọng.
Thế thì tại sao người ta vẫn cứ tha thiết tự nhận rằng mình
xa thực tế, chưa phản ánh hết cái tốt đẹp của thực tế, vẫn bằng mọi cách kể lể
về các tội lỗi của mình, và vẫn ép mình làm đủ việc, sẵn sàng định hướng cả nghề
nghiệp mình vào việc giải tội? Ở đây trong lúc chưa thể cắt nghĩa đầy đủ,
chúng tôi chỉ có thể đưa ra một số giả định về một quá trình tâm lý đã hình
thành ở trong người viết văn.
Đúng là chúng ta đã có một cuộc cách mạng kỳ lạ, một cuộc
cách mạng vượt ngoài mọi dự báo. Cuộc cách mạng đó cộng với sự nghiệp đánh giặc
cứu nước mấy chục năm tiếp theo, đòi hỏi một sự động viên lực lượng thật lớn.
Trước cuộc biểu dương lực lượng quần chúng kỳ vĩ như vậy, ở người nghệ sĩ dễ nảy
sinh cái tâm lý thấy mình quá bé bỏng, và quan trọng hơn, thấy mình quá phiền
nhiễu, do đó, như là vô tích sự. Trước những người dân thường, công nhân, nông
dân, cảm giác ban đầu về sự có lỗi của mình là một điều hoàn toàn có thể thông
cảm.
Nhưng ngày một ngày hai, mỗi ngày một tí, mỗi người một tí,
không ai bảo ai cái tâm lý có thực ấy đã bị tố lên, lại bị kéo quá dài, và đã xảy
ra một tình trạng mâu thuẫn. Lúc bấy giờ, trong những người viết văn nảy sinh
hai kiểu định hướng tâm lý khá rõ.
Loại thứ nhất, nói một đằng, nghĩ một nẻo, mà không tự biết.
Như Freud từng lưu ý, quá trình tâm lý ở mỗi cá nhân là
một quá trình phức tạp. Người ta không phải bao giờ cũng làm chủ được đời sống
nội tâm. Trong một người thường vẫn có những xu thế mâu thuẫn nhau cùng tồn tại,
mà người ta không ý thức nổi. Trong khi tiền hậu bất nhất rõ rệt, người ta vẫn
tin là mình thành thực, và sự biến hình lặng lẽ xảy ra, một sự biến hình ngoài
ý thức.
Trong thực tế, đây là một quá trình có thật đã đến với một số
rất đông những người cầm bút: lúc nghe bảo rằng mình có cái tội là xa nhân dân,
thì họ rưng rưng cảm động và tin rằng mình xa nhân dân thật. Họ thành tâm muốn
sửa chữa. Trong khi đó thì ở cõi vô thức của người trí thức, vẫn còn nguyên nỗi
tự hào chính đáng. Cả hai yếu tố đó “tồn tại hoà bình” bên cạnh nhau, tuỳ lúc
mà mặt nọ hay mặt kia nổi lên, chi phối hành động và suy nghĩ của người cầm
bút.
Nếu sự phân thân ở loại người nói trên là ngây thơ, vô ý thức,
thì ở loại người thứ hai lại là cố tình, hoàn toàn có ý thức.
Họ không lơ mơ bao giờ hết. Là những người tỉnh táo làm
chủ bản thân, chắc chắn họ nhận ra rằng ở mình có mâu thuẫn. Cả cảm giác về tội
lỗi lấn niềm tự hào đều được đưa lên bình diện ý thức. Theo thói quen, họ
vẫn nói rằng người viết văn là xa nhân dân, là phải tích cực cải tạo. Mặt khác
trong công việc hàng ngày của mình, họ lại thấy ngay là không phải vậy. Họ cố ý
nói một đằng nghĩ một nẻo, để rồi lúc một mình đối diện với mình, lặng lẽ cười
khẩy: Ai khôn hơn mình nào? Ai sống sướng hơn mình nào?
Sự phân thân cố ý chỉ xảy ra ở một số ít nhà văn. Lại nữa, có
khi lúc này có ý thức, lúc khác người ta cũng ngây thơ vô ý thức như các đồng
nghiệp. Nhưng bảo rằng tuyệt đối không ai làm việc này có ý thức thì không
đúng. Có, vẫn có loại người hành động theo sự dẫn dắt của ma quỷ như vậy, và,
do kéo dài, nó sẽ là căn bệnh làm cho nhân cách người viết thối rữa tự bên
trong, không sao cứu vãn nổi.
Dù có ý thức hay không, những sự phân thân nói trên chính là
sự biến đổi theo hướng xấu, một sự làm hỏng, làm biến dạng con người. Khiến họ
dần dần đánh mất bản chất của mình. Trong thực tế đời sống mấy chục năm qua, sự
tha hoá của người viết văn được biểu hiện ra thành thiên hình vạn trạng, ở mỗi
thế hệ, mỗi lứa tuổi, trong mỗi thời kỳ lịch sử, lại bộc lộ ra một kiểu. Có người
luôn luôn sống trong tâm lý giằng xé hối hận, vừa sống vừa thấy bức xúc không
yên, có khi đã bắt tay vào việc rồi, lại không viết tiếp nữa, không sao đủ sức
kết thúc tác phẩm như đã dự định. Có người có ý thức tổ chức cuộc sống
viết văn của mình theo kiểu hai mang, hai mặt, họ cũng thích được tiếng là
sắc sảo và thực tế cũng sắc sảo thật, nhưng sau những sáng tác có vẻ đặt vấn đề
kiểu đó, lại tung ra những bài phát biểu nhũn như chi chi, xuê xoa dư luận, cốt
để khỏi bị lên án và yên thân tiếp tục lối viết sắc sảo của mình. Nhưng đó còn
là những “ca” sang trọng!
Một số khác láu cá hơn mà cũng là thực dụng hơn, cứ nói theo thời thượng, rồi ra sức viết, viết thật nhiều, viết lấy được, chỉ cốt dư luận khen và những người có chức quyền khen, lấy sự khen tụng đó để doạ mọi người, coi là mình đã làm lợi cho cách mạng, còn trong thực tế, sáng tác có công thức, sơ lược, xa lạ với sự thực và đời sống nhân dân chăng nữa, họ cũng chẳng mảy may xúc động. Khi mang mặc cảm phạm tội, cố nhiên số đông người viết văn lo viết cho quần chúng dễ hiểu, chẳng bận tâm đi vào những tìm tòi nghiêm túc về nghề nghiệp làm gì. Nhưng trong hoàn cảnh phân thân, đôi khi người ta lại lặng lẽ phiêu lưu, âm thầm sa vào một thứ chủ nghĩa hình thức kỳ quái, tìm chữ lạ, đặt câu tuỳ tiện, tự coi như vậy mới là văn chương thật hạt. Đó là một biến chứng hiếm hoi của chủ nghĩa hình thức: chủ nghĩa hình thức ở dạng cùng khốn của nó.
Một số khác láu cá hơn mà cũng là thực dụng hơn, cứ nói theo thời thượng, rồi ra sức viết, viết thật nhiều, viết lấy được, chỉ cốt dư luận khen và những người có chức quyền khen, lấy sự khen tụng đó để doạ mọi người, coi là mình đã làm lợi cho cách mạng, còn trong thực tế, sáng tác có công thức, sơ lược, xa lạ với sự thực và đời sống nhân dân chăng nữa, họ cũng chẳng mảy may xúc động. Khi mang mặc cảm phạm tội, cố nhiên số đông người viết văn lo viết cho quần chúng dễ hiểu, chẳng bận tâm đi vào những tìm tòi nghiêm túc về nghề nghiệp làm gì. Nhưng trong hoàn cảnh phân thân, đôi khi người ta lại lặng lẽ phiêu lưu, âm thầm sa vào một thứ chủ nghĩa hình thức kỳ quái, tìm chữ lạ, đặt câu tuỳ tiện, tự coi như vậy mới là văn chương thật hạt. Đó là một biến chứng hiếm hoi của chủ nghĩa hình thức: chủ nghĩa hình thức ở dạng cùng khốn của nó.
Trong một cuốn tiểu thuyết mang tên Mặt lạ, nhà văn hiện
đại Nhật Bản Kobo Abe có nói tới một mô-típ biến hoá điển hình trong xã hội hiện
đại: sau khi bị mắc tai nạn, để khỏi trở thành kỳ quái, một nhà khoa học phải
thường xuyên mang một mặt nạ để sống. Lâu dần, cái mặt nạ đó không gỡ ra nổi,
nó mặc nhiên trở thành khuôn mặt thật của người ấy. Từ chỗ là một phương tiện bảo
vệ cho người ta khỏi thế giới bên ngoài, mặt nạ trở thành một sự ràng buộc đối
với nhân vật. Cá nhân ông ta nhân đôi. Trong thế thất bại, nhà khoa học đành tự
an ủi rằng sự mất mặt không phải là bi kịch của riêng mình, mà là của nhiều người
khác. Mặt nạ ở đây tượng trưng cho sự thích ứng của con người với thế giới và sự
đối phó lại của con người trước những thế lực xa lạ nhưng có sức ràng buộc cá
nhân một cách nghiệt ngã.
Từ tấn kịch mà K. Abe miêu tả trong cuốn tiểu thuyết trên,
chúng ta có thể tiếp tục suy nghĩ về sự tha hoá nói chung và ở mức độ nào đó
tâm thế của người viết văn nói riêng: phải chăng nhiều người trong chúng ta ở dạng
này hay dạng khác cũng đã rơi vào tấn kịch tương tự mà ta không biết?
Một xu thế phát triển của các nhà văn ở ta là xu thế quan
liêu hoá, với tất cả sự phổ biến rộng rãi và mức độ nặng nề của nó. Quan liêu
hoá cũng là một dấu hiệu của bệnh tha hoá. Dù ban đầu hình như xuất phát từ một
mục đích tốt đẹp (cần đoàn kết nhau lại trong một tổ chức để cùng làm việc),
song nó vẫn dẫn tới một kết cục có hại. Quan liêu hoá sự thật đối nghịch với sự
sáng tạo như nước với lửa và cũng là nhân tố phá hoại bản chất cao đẹp của nghề
viết văn.
IV/ Có một nét tâm lý có thật người ta thường quan sát thấy
ở nhiều nghệ sĩ, nhiều người cầm bút trong những năm đất nước khó khăn: đó là sự
ráng chịu. Thôi – họ bảo nhau và tự bảo mình – giữa lúc nước sôi lửa bỏng này,
hãy phục vụ cái đã! Mai kia cuộc sống khá hơn, tự do và thoải mái hơn, chắc là
mình sẽ viết được! Ôi, mình sẽ viết hay lắm, lúc ấy người ta nghĩ thế.
Tuy đất nước chưa hết khó khăn, song dẫu sao, cái ngày mà người
nghệ sĩ mong mỏi, ngày đó hôm nay đã tới. Trước 1986, nằm mơ cũng không thể
nghĩ có lúc Nguyễn Khải lại tự bảo rằng mình viết Tầm nhìn xa là bất
nhân và giả dối. Chế Lan Viên đứng ra viết tựa cho Bích Khê, cho Hàn Mặc Tử; chẳng
những Vũ Trọng Phụng được in lại toàn bộ, mà những cuốn tiểu thuyết chính của
Nhất Linh, Khái Hưng cũng được in lại không thiếu cuốn gì. Nay thì tất cả những
việc đó đã xảy ra! Bởi hiểu không bao giờ có tự do tuyệt đối cả, nên
chúng ta hết sức vui mừng với chút tự do hôm nay đã có – quả thật, trước đây mấy
năm, có ai mong ước hơn đâu!
Ấy vậy mà nhìn vào đời sống sáng tác và nghiên cứu phê bình
văn học một vài năm nay, phải nói là sự chuyển biến còn rất ỳ ạch. Sinh khí có
thấy ở khu vực văn chương thương mại, nhưng ở đó cũng chưa bao giờ người ta đạt
tới sự làm hàng (hàng = tác phẩm) theo quy trình kỹ thuật hiện đại và đạt tiêu
chuẩn quốc tế. Còn ở khu vực văn chương nghiêm túc, tự do chân chính cũng chỉ mới
được khai thác hữu hiệu qua một ít thể nghiệm của các cây bút mới vào nghề. Còn
đang thiếu hẳn những tác phẩm dầy dặn của các cây bút chuyên nghiệp. Giá có loay
hoay ngồi viết, một số nhà văn (kể cả những người dẫn đầu nền văn học) cũng vẫn
chưa đưa ra được những cái như chính người ta và bạn đọc hằng mong muốn.
Có thể giải thích tình hình trên bằng nhiều cách, nhưng theo
chúng tôi ở đây có vai trò của cái hiện tượng mà bài viết này thử tìm cách phác
hoạ: sự tha hoá. Ai cũng biết là nếu có sự tha hoá đó, thì những thay đổi muộn
màng mà hoàn cảnh mang lại chỉ rất hạn hẹp. Phải có những cố gắng vượt bực đến
mức như là phải sẵn sàng làm lại mình nữa, người ta mới tận dụng được cái không
khí tự do vừa được mở ra cho công việc. Nhưng đó cũng là một khía cạnh thú vị của
viết văn nói riêng, của những tìm tòi trí thức nói chung chăng? A. Camus viết:
“Chân lý thì luôn bí mật, tránh né, luôn luôn phải được chinh phục. Tự do thì
nguy hiểm, làm chật vật nhưng cũng làm phấn khởi sự sống”. Càng sống càng thấy
cần chia sẻ cái cảm giác đó của Camus một cách đầy đủ.
[1] Trước đây, cuốn sách của Gide được coi như vu cáo, bôi đen xã hội
Xô viết, nay được dịch ra ở Liên Xô và được xem như là một lời tiên tri xác
đáng.
Vương Trí Nhàn











Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét