I/ Mấy năm từ 1992 đến 1996, do công việc ở một đề tài khoa học,
gần như hàng tuần tôi đều có dịp phải gặp và làm việc với nhà văn Tô Hoài. Ấn
tượng còn lại ở tôi: đây là một người có cách sống cách làm việc phù hợp với
nghề, do đó, đời cầm bút thật bền mà cũng thật hiệu quả. Sau hơn 50 năm lao động
chữ nghĩa, con người đó vẫn làm việc đều đặn tưởng như có viết vài chục năm nữa
cũng không hết việc.
Kể ra đã ngoài 70, đâu ông còn khoẻ như thời mỗi đêm lia xong
một truyện ngắn nữa! Thỉnh thoảng đã triệu tập chúng tôi đến họp rồi, ông lại gọi
điện bảo hoãn. Khi thì cái chân ông giở chứng. Khi thì máu lên huyết áp. Nhưng
nếu Tô Hoài khỏe mạnh bình thường, ông khá nghiêm túc. Thông thường trước giờ họp
ông đã có mặt, trò chuyện linh tinh với mọi người. Về phần mình, chúng tôi cũng
muốn nghe chuyện ông trước khi vào việc. Chuyện ông mang đủ vui buồn của sự đời,
không nghe chỉ thiệt, nên anh chị em có thói quen đến sớm, góp chuyện. Còn như
nếu có đến họp muộn, chúng tôi cũng không phải quá lo lắng, bởi Tô Hoài là loại
“sếp” biết thông cảm với nhân viên, ông hiểu rằng luôn luôn, người ta có muôn
ngàn lý do để đi chậm để dề dà ngần ngại trong công việc, thôi, loanh quanh thế
nào cũng xong, cứ thủng thẳng mà làm, có sốt ruột cũng chẳng được.
Thế còn Tô Hoài nói gì trước khi họp? Đủ thứ! Chuyện bên hàng
xóm, người ta xây những ngôi nhà to vật to vã, thành thử nhà ông, cái nhà mua bằng
nhuận bút kịch bản phim Vợ chồng A Phủ, đang khang trang rộng rãi, tự
nhiên trông như túp lều, có lẽ phải gọi bán. Chuyện đi ăn phở bây giờ nhiều người
còn thích đập thêm quả trứng vào, có biết đâu một người như cụ Tuân, cả đời chỉ
ăn phở bò chín. À cửa hàng nọ chuyên bán cho dân rực của lại còn sáng chế ra thứ
phở thịt nạc băm viên như viên mọc, ở Hà nội xưa nay không ai ăn thứ phở táp
nham vậy.
Chờ xe cùng với chúng tôi bên đường, Tô Hoài chỉ cái cống nước
đen ngòm đang chảy:
- Hồi trước, nhà nào để thế này đội xếp nó phạt chết.
Đá sang chuyện dạo này người ta đi hội nhiều, ông than phiền:
- Cứ như tôi nhớ vùng Bưởi hồi trước, không phải làng nào
cũng có hội. Tế lễ ở đình thì mọi làng đều làm, nhưng mở hội tức là góp mặt với
thiên hạ. Phải thế nào, người ta mới đến xem cho chứ tưởng dễ hẳn. Anh để ý,
bây giờ nhiều đám rước người đi rước đông hơn người đi xem. Đấy là điều trái
ngược và xấu hổ.
Dông dài mà thiết thực, chuyện của Tô Hoài là chuyện của người
đang sống đang lo toan vui buồn về cái hàng ngày, như mọi người khác. Chả thế
mà trong những thiên truyện như Con ngựa, những thiên tuỳ bút như Tình
tình gió bay... hoặc các chân dung viết về Nguyễn Văn Bổng, Trọng Hứa... mới in
gần đây, Tô Hoài có thể mang vào đó đủ thứ chi tiết linh tinh của “thời mở cửa”
mà người ta khó nghĩ là một ông già bảy mươi lại có thể còn để ý tới. Sau thời
bao cấp, không ít nhà văn lúng túng. Con người bây giờ nhộn nhạo quá. Trong lúc
lao đi kiếm sống, cá nhân trở lại cái tự phát nguyên sơ của mình và vận động
không theo khuôn phép nào cả. Đỗ Chu ngơ ngác nhìn Mảnh vườn xưa hoang vắng;
Nguyễn Khải than thở cho Một thời gió bụi. Về phần mình, Tô Hoài có vẻ như
không chút ngạc nhiên. Đã già từ lúc còn trẻ, nay về già ngòi bút ông lại trẻ lại.
Ông vẫn đi họp, làm báo, chủ toạ hội nghị, và lại viết khoẻ. Nhiều lần tôi đã tự
hỏi, vì sao Tô Hoài lại có được sự trẻ khoẻ dẻo dai như vậy? Ở đây, hẳn có những
phần thuộc về sự rèn luyện của ông, lâu ngày thành một thói quen không cần cố gắng.
Và trước bao thay đổi hàng ngày, con người ông vẫn dễ dàng thích ứng. Vũ Quần
Phương có lần nói, đại ý: tìm hiểu về Tô Hoài, là cả một thách thức thú vị.
Những ai có dịp cùng làm việc với Tô Hoài đều có cái bỡ ngỡ
và háo hức tương tự.
Được cái, trong việc này chúng tôi có một thuận lợi là Tô
Hoài rành mạch: Trong khi vẫn giữ cho mình một thế giới riêng tư, ông không quá
khép kín và đẩy mọi người ra xa, để gây ấn tượng. Mà ông cũng không tạo ra vẻ cởi
mở giả tạo, cốt lấy lòng ai. Đôi khi, ông ngồi uống bia hay uống rượu quán bờ
hè. Đội cái mũ che cái trán quá hói, ai hỏi thì bảo trước làm nghề kế toán, về
hưu đã lâu như vậy dễ chuyện hơn. Một lần ở quán rượu cụ Xưởng phố Nguyễn Khuyến,
người con ông cụ đến thăm bố, nhận ra ông. Vì anh ấy làm giáo viên, đã gặp ông.
Thế là những lần sau, lần nào cụ Xưởng cũng đem bản thảo dịch thơ Lamactin của
cụ đọc cho ông nghe và yêu cầu góp ý kiến. Ông Tô Hoài lủi dần.
Ông thường sống đúng như ông có, biết lui biết tới, biết lẩn
tránh, nhưng cũng biết đối mặt trước mọi sự tọc mạch. Mẩu chuyện sau đây minh
chứng cho điều đó.
- Dế mèn lưu lạc mười năm
Để O chuột phải ôm cầm thuyền ai
Miền Tây sen đã tàn phai
Trăng thề một mảnh lạnh ngoài Đảo hoang.
Đấy là mấy câu tả chân dung Tô Hoài của Xuân Sách. Trong khi
chơi trò ghép các tác phẩm của Tô Hoài lại thành vần, người viết chân dung vẫn
làm toát ra được chút cám cảnh về một cuộc đời buồn buồn, đơn độc.
Hồi đó là vào khoảng 72-73 gì đó, tập chân dung sau này sẽ
gây ra nhiều tai tiếng của Xuân Sách chỉ vừa mới thành hình được những bài
đầu tiên. Một trong những người có tham gia vào khâu bếp núc những bài thơ ấy
là Nguyễn Khải, cây bút có những lúc khá hiếu động, thành thử mặc dù đã bảo
nhau là chỉ làm chơi thôi, song vẫn cứ táy máy, muốn đi đây đi đó, kháo với mọi
người. Cho đến lần ấy, nhân buổi chiêu đãi ở nhà xuất bản nọ, có mặt cả mấy nhà
văn cỡ bự. Nguyễn Khải liền tính chơi trò vỗ mặt, đọc thẳng cho các vị ấy nghe.
Trước những lời rào đón của Nguyễn Khải, nhà văn X. ra vẻ xởi lởi:
- Đọc đi xem nào, cái lối viết anecdote này, nước
nào chẳng có?
Tô Hoài thì dè dặt hơn, chỉ mủm mỉm cười, như có vẻ không tin
mà lại như có vẻ chờ đợi.
- Tính cách mình hơi khó nắm bắt đấy!
Thế là cánh cửa đã mở. Nguyễn Khải vừa đọc, vừa thăm dò phản ứng.
Quả nhiên trận lôi đình nổi lên, nhưng nhà văn X. đành cố kiềm chế, chỉ nghiêm
mặt hỏi:
- Loại thơ này có lợi cho ai nhỉ?
Đến lượt Tô Hoài, nghe được ba phần tư bài thơ, Tô Hoài đã
xua xua tay:
- Thôi đủ rồi! Thế là biết tài nhau rồi.
Và ông lảng sang chuyện khác.
Theo tôi nghĩ, cái đáng quý của Tô Hoài trong trường hợp này
cũng như nhiều trường hợp tương tự là sự sòng phẳng và biết lui biết tới. Ông
không đặt mình cao hơn mọi người. Ông hiểu rằng, đã gọi là nghề văn, cái sự chế
giễu khích bác nhau là không khỏi xảy ra hàng ngày, và mình không phải là một
ngoại lệ. Mình có thể là một nhà văn nổi tiếng, là cán bộ phụ trách Hội. Nhưng
đấy là khi vào các buổi họp, còn ở đây, trong câu chuyện bên bàn tiệc, mọi người
bình đẳng, và nếu như có ai đó lỡ lời nói quá, thì nên quên ngay cho được vui vẻ.
Vâng. Ở Tô Hoài, sự thoả hiệp đã thành một thói quen thường trực. Sau hơn một
tháng dự trại viết cho thiếu nhi ở Đại Lải, Nguyễn Minh Châu rút ra một nhận
xét về Tô Hoài: Không bao giờ ông muốn đối lập với người đang trò chuyện với
mình, bao giờ ông cũng nhanh chóng tìm ra cách hòa hoãn.
Còn theo nhận xét của một người làm việc cùng cơ quan với Tô
Hoài, thì chính ra ông là người thích lẩn trốn vào một chỗ vắng, làm nhòa mình
đi, trong những hoàn cảnh không cần thiết.
Dù sắc sảo đến đâu, mọi ý tưởng của ông đều được nói ra một
cách từ tốn. Cái sự tồn tại trong đời của ông là nhởn nhơ bảng lảng. Ông thường
nói đùa: dong chơi có trách nhiệm và bổ ích. Giữa đám chúng sinh nhợt nhạt, bản
sắc riêng của ông không hằn lên, khắc lên như Nguyễn Tuân mà ông đã để cả cuốn Cát
bụi chân ai để miêu tả. Ông lại càng không cố ý kềnh càng giữa đời như cụ
Nguyễn. Nên đúng là hơi khó nắm bắt. Nhưng bảo là ông không có cái riêng là
không đúng.
“Ô hay, người ta ra người ta thì phải là người ta đã chứ” - Ai
đọc Cát bụi chân ai, làm sao quên được cái câu lý sự rất Tô Hoài ấy!
Một lần, trong lúc vui chuyện sau một bữa ăn, một người chợt
nhận ra là nét mặt Tô Hoài sao hao hao giống như ông X., một nhà hoạt động xã hội,
ảnh vẫn thường thấy trên mặt báo. Tô Hoài không cần suy nghĩ, nói bằng giọng
bông đùa mà có ngụ ý khiến chung quanh cùng cười:
- Sao lại bảo là tôi giống ông ấy, phải nói ông ấy nhang nhác
giống tôi mới đúng.
Lần khác, khi ra cửa sân bay Nội Bài, đáp lại tiếng reo của một
cô gái trẻ: “A! Bác Tô Hoài! Bác viết Dế mèn phiêu lưu ký đây mà!”,
ông chỉ tủm tỉm không nói gì. Nhưng đi một quãng, Tô Hoài ghé tai bọn tôi nói
nhỏ:
- Chẳng phải nó đọc, mà bố mẹ nó đọc, ông bà nó đọc ấy chứ!
Biết mình biết người; tận hưởng ưu thế của một nhà văn nổi tiếng
giữa đời thường, song lại biết điều, phải chăng trong cư xử; khi không cần thiết
thì sẵn sàng tránh sang một bên nhưng không việc gì là qua khỏi mắt, và khi cần,
lại diễn rất tài cái vai đang phải đóng - Tô Hoài là vậy. Trong lúc thân tình,
một lần Nguyễn Khải nửa đùa nửa thật tâm sự với tôi: “Các bố trẻ bây giờ không
quen nổi tiếng, nên vừa được người ta để mắt tới là cong cớn hợm hĩnh trông rất
buồn cười. Chỉ một số cáo già trong nghề đã quen với sự nổi tiếng, mới biết làm
sao mình vẫn là mình trước sự trầm trồ ca tụng của thiên hạ. Có phải dễ mà biết
sống trong sự nổi tiếng đâu!”. Lúc nói câu này, Nguyễn Khải không chỉ cụ thể một
ai, những mỗi lần nhớ tới cái nhận xét thần tình ấy tôi lại liên hệ ngay tới
tác giả Dế mèn phiêu lưu ký.
II/ Mỗi nhà văn đến với nghề nghiệp bằng một con đường
riêng và sẽ tồn tại trong nghề theo những phong cách riêng. Song ở các nhà văn
có thể gọi là thành đạt, những nhà văn có một cái tên mà đọc lên, nhớ ngay được,
người ta thường nhận ra một nét chung: ấy là, những độc đáo trong tính cách,
trong số phận khiến cho họ gần như nhất thiết phải làm nghề ấy, mà không thể
làm nghề khác.
Tô Hoài là một ví dụ về cái sự gần như nhất thiết ấy.
Dù là chỉ tính ang áng theo kiểu Việt Nam, thì nhìn vào tuổi
nhỏ Tô Hoài, không ai tìm thấy một sự chuẩn bị hoặc một bệ phóng nào cả. Nhà
văn đã viết trong Cỏ dại và Tự truyện có lần kể với tôi là
gia đình bên nội bên ngoại ông nghèo lắm, đến sinh ngày nào con cháu cũng không
biết. Chơi đùa chạy nhảy là trên cánh đồng Nghĩa Đô; đi học là ở trường làng và
các vùng ngoại ô lân cận; người dắt ra làm quen với phố xá Hà Nội là các dì,
các mợ - sự lớn lên của Tô Hoài lúc đó dựa hẳn vào bên ngoại. Song dựa vào để lấy
chỗ làm ăn, chứ mấy quyển truyện nôm của các nhà in sách phố hàng Gai, quyển Kiều truyền
tay giữa bạn bè, hoặc mấy quyển sách dịch của tủ sách Đông Tây tư tưởng mà
anh thợ cửi Nguyễn Sen mượn ở nhà các ông trưởng bạ, hộ lại làng quê để đọc những
lúc rỗi... những sự chuẩn bị vẩn vơ ấy đâu đủ là bảo đảm chắc chắn để con người
này đến với nghề cầm bút.
Có điều càng thấy rằng sự chuẩn bị của gia đình và xã hội cho
Tô Hoài vào nghề vẫn là không có gì, người ta mới càng hiểu hơn cái phần năng
khiếu to lớn, nó khiến cho Tô Hoài chỉ trong nghề này mới tìm thấy sự thích thảng
thoải mái.
Nhân ngẫm nghĩ về sự đời, trong một lần vui chuyện, Tô Hoài
nói với tôi cái điều có lẽ ông đã chiêm nghiệm từ lâu:
- Không có Cách mạng 1945, chắc ông X. sẽ ra làm quan (khoảng
1943-1944, X. từng theo học trường luật, nơi chuyên đào tạo luật sư, tri huyện).
Mà không có Cách mạng chắc ông Y. đi làm giáo sư. Chỉ có mình, không có Cách mạng
chắc vẫn đi viết văn.
Cũng cái ý ấy, song Tế Hanh có cách nói khác. Có mặt trong buổi
lễ mừng thọ Tô Hoài 70 tuổi, đặt bên cạnh bao nhiêu lời chúc tụng ồn ào, Tế
Hanh chỉ bảo rằng Tô Hoài sinh ra để viết, đại khái giống như, tuy ở một tầm cỡ
khác, như P. Picasso cũng sinh ra để vẽ. Sự so sánh đã được giới hạn, nhưng chắc
chắn, đó là một lời khen tuyệt vời mà người cầm bút nào cũng mong mỏi và với Tô
Hoài lại vẫn là một lời khen đích đáng. Có cảm tưởng như bao nhiêu kinh nghiệm
hàng ngày, trước sau đều được nhà văn đưa hết vào trang giấy. Ông sống để viết
và phải viết, như phải ăn phải uống. Không phải ông chỉ ỷ vào cái năng khiếu sẵn
có. Ngược lại ông biết gây dựng cho sự nghiệp của mình, như chăm một cái cây,
cho thân nó cao, lá nó xanh, tán nó rộng. Và ông biết nuôi tài năng ấy, bằng cuộc
sống quanh ông, chứ không tìm ở đâu khác.
Điều này diễn ra trong suốt cuộc đời làm nghề của Tô Hoài.
Hơn nửa thế kỷ trước, khoảng 1942-43, sau khi Những ngày
thơ ấu của Nguyên Hồng được in ra, Vũ Ngọc Phan có viết trong Nhà văn
hiện đại rằng ông có cảm tưởng được đọc một cuốn sách in ở bên Anh bên
Nga. Là vì tự truyện của Nguyên Hồng thực quá. Bằng một giọng kể run run cảm động,
người thanh niên Nguyên Hồng lúc đó dám giãi bày trên mặt giấy những sự việc mà
trong câu chuyện riêng với nhau, người ta cũng phải giấu.
Cũng thời gian này, Tô Hoài viết Cỏ dại (in ra
1944) một cuốn hồi ký có cách viết, cách nhìn đời tương tự như quyển tự truyện
của Nguyên Hồng. Sau khi trổ tài quan sát và trình bày nhiều ý nghĩ sâu sắc
trong Dế mèn phiêu lưu ký, đến đây, ngòi bút Tô Hoài như đằm xuống. Nếu ở Những
ngày thơ ấu, người ta được nghe chuyện trốn học, chuyện đánh đáo ăn tiền, thì ở Cỏ
dại hết chuyện cậu bé chốc đầu, được ông ngoại lấy nước điếu chữa ra sao,
lại chuyện từ nhà quê lên phố chờ đi học, sống ít ngày không đâu vào đâu, rồi
ngơ ngẩn vẫn hoàn ngơ ngẩn. Trước mắt chúng ta là một cuốn phim quay chậm ghi lại
chuỗi ngày tầm thường nhạt nhẽo của một đứa bé tinh quái, lêu lổng. Phải một
ngòi bút tự tin lắm mới dám đưa những chuyện đó lên mặt giấy. Nhất là đưa ra
sao khiến khi đọc, người ta có thể cảm động đến ứa nước mắt thì chỉ loại Tô
Hoài, Nguyên Hồng mới làm nổi.
Những cái nhếch nhác, nhất là những cái xấu xa nhảm nhí mà
Nguyễn Công Hoan hoặc Vũ Trọng Phụng nói tới trong văn các ông là những gì ở
ngoài các ông và các ông thường nhìn chúng căm ghét khinh bỉ. Nhà văn đứng cao
hơn hẳn điều mình miêu tả.
Đọc văn Nguyên Hồng cũng như Tô Hoài, thấy sự nhếch nhác là ở
ngay đây, bên cạnh nhà văn, trong chính bản thân kẻ viết văn, và việc cầm bút
lúc này giống như một sự giải thoát. Tôi biết là tôi sống giữa xấu xa dơ bẩn
như mọi người. Mọi chuyện không thơm tho đẹp đẽ gì. Nhưng tôi chấp nhận. Và
riêng việc được viết nó ra đối với tôi đã là một điều hào hứng. Cái sự chủ động
trong bị động này ở Tô Hoài đã thành một thứ bản lĩnh thường trực. Ngoài chuyện
giúp ông dám viết, nó còn giúp ông vững vàng ở một lĩnh vực cần thiết cho viết
lách tới mức thiếu đi không viết nổi, đó là sự quan hệ với người trong giới và
sự tự học.
Giờ đây, có dịp lùi xa hơn nửa thế kỷ, văn học 1932-45 đối với
chúng ta là một cái gì thuần nhất, và những tên tuổi như Nguyễn Công Hoan,
Ngô Tất Tố, rồi quá nữa, Khái Hưng, Nhất Linh có đặt bên cạnh Nam Cao, Tô Hoài,
Nguyễn Bính thì cũng là sự tự nhiên, họ là thuộc về cùng một thời đại.
Nhưng hãy thử đặt mình vào địa vị Tô Hoài, ở cái điểm khởi đầu,
là quãng năm 1940 khi mà anh thợ cửi Nguyễn Sen bắt đầu gửi bài tới các báo,
báo nào cũng gửi, và đến khi có truyện ngắn Mê gái - sau đổi là Chú
gà trống di - in ở báo Chủ nhật, đến muốn đòi tiền, thì người ta chỉ
gọi nhau chạy ra xem, chứ tiền không trả. Bấy giờ, khoảng cách giữa một người
dân ngoại thành học chưa hết tiểu học với đám nhà văn nhà báo đã học hết thành
chung, tú tài, khoảng cách ấy là xa vời đến mức làm người ta rợn ngợp và không
đám nghĩ tới nữa. Ấy thế mà Tô Hoài không nản. Mới quen với nhà văn Vũ Ngọc
Phan do mấy truyện ngắn đăng trên báo Hà Nội Tân văn, ông đã lân la định
nhờ tác giả Nhà văn hiện đại giới thiệu để xin thẻ Thư viện quốc gia
và khi không được, thì đến ngay thư viện của gia đình Vũ Ngọc Phan, để mượn
sách bù vào chỗ thiếu ấy vậy. Quen Vũ Bằng cũng một phần là để học nghề, để mượn
sách, bởi vậy mấy chục năm sau, Tô Hoài còn nhớ đến cuốn Phố Mèo câu cá của
nhà văn Rumani gốc Hung, mà Vũ Bằng đã cho Nam Cao và Tô Hoài mượn, rồi vài hôm
sau cho anh xe lên đòi. Đời sống đã đẩy Tô Hoài đi viết văn, nhưng lại chỉ cho
ông năng khiếu mà không cho ông kiến thức sách vở. Để bù vào chỗ thiếu sót ấy, ông
đành tự học suốt đời. Giới cầm bút đã quá quen với chuyện thượng vàng hạ cám
cái gì cũng đọc của Tô Hoài, song đến lượt tôi, tôi vẫn không hết ngạc nhiên.
Cho đến khi, tôi trực tiếp hỏi, thì vẫn cái cách trả lời dẽ dàng vốn có.
Về thời giờ để đọc:
- Tuổi già, ngủ một lúc đến độ hai ba giờ là mình dậy, lúc ấy
sách gì mà chẳng đọc hết.
Về bản chất của cái sự đọc nhiều này:
- Ấy là thói quen của người tự học.
Cũng nên nói thêm là, trong cuộc đời Tô Hoài, còn có một chặng
thử thách nữa, mà nhờ thói quen thích ứng, tức cũng là nhờ bản lĩnh, ông đã hồn
nhiên để trụ vững để rồi vượt qua, một cách nhẹ nhõm, ấy là những ngày đầu
kháng chiến chống Pháp khi ông cùng các đồng chí đồng nghiệp được điều lên Việt
Bắc, tận chân dãy núi Phia Boóc (Bắc Cạn) làm báo Cứu quốc. Bấy giờ
khoảng 1947-48. Dường như cách sống của một nhà văn nổi tiếng tiền chiến chưa hề
nhiễm vào Tô Hoài, lúc này, những tháo vát xoay xoả của người thợ cửi cũ, lại
được thức dậy. Ông sống giữa đồng bào dân tộc Mán, làm công tác địa phương. Ông
viết báo, viết tường thuật các trận đánh, viết xong, đọc ngay cho đồng bào nghe
để lấy ý kiến. Bề ngoài tưởng như trước mắt chúng ta là một con người hoàn toàn
khác, và người cán bộ ba mươi tuổi ấy không còn dây dưa gì đến những chơi bời
lăn lóc trên phố phường Hà Nội thuở nào. Song thật ra con người viết văn của Tô
Hoài vẫn làm việc, ông gần như chuẩn bị lại từ đầu. Ông vẫn viết đều, truyện ngắn
có, truyện vừa có, nhưng lại rất nhiều những ghi chép, phóng sự, ký sự và các
bài báo vặt, và cả ca dao nữa, ca dao cho người dân kháng chiến dễ nhớ. Có cảm
tưởng Tô Hoài là cái cây khoẻ, đất nào cũng mọc được, vứt vào đâu cũng sống được,
và sống đến đâu viết đến đấy.
III/ Từ những năm mới bước vào nghề làm văn làm báo, tôi đã
được nghe các bậc đàn anh ở tạp chí Văn nghệ Quân đội cũng như đám bạn
bè cùng tuổi kể nhiều về Tô Hoài, đại khái nói bằng ngôn ngữ của đường phố thì
ai cũng kêu rằng đấy là một bậc “lõi đời”, dân làm nghề loại “bợm”, trình độ võ
công thượng thặng bộc lộ ở chỗ lúc nào cũng nhẹ như không, có vẻ chẳng cần nỗ lực
làm gì, chỉ nhởn nhơ, thoải mái mà công việc vẫn chạy đều đều.
Kể ra, nghề gì cũng vậy, có chăm chỉ mới sống nổi. Nghe nói ở
nhiều nước phương Tây có những nhà văn viết bằng cách đọc vào máy, rồi có người
gỡ băng, đánh máy lại. Sách ra ùn ùn. Nhưng ở ta cái thời văn chương điện tử ấy
chưa tới, nghề văn đại khái vẫn là nghề thủ công, thành thử, sự chăm chỉ ở đây
phải mang bộ mặt thô sơ của nó. Có tài cán đến mấy, mà không vào bàn, cũng
không ra chữ - đấy là điều đã đúng với bao nhà văn khác, Nguyễn Công Hoan và
Ngô Tất Tố, Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu.
Tuy nhiên giữa bao nhiêu sự cần cù ấy, riêng lối chăm chỉ của
Tô Hoài vẫn là lạ, là khác đời. Nó thành một nếp sinh hoạt hàng ngày. Nó bền.
Nó kéo dài. Đôi khi nó công khai bày ra trước mọi người trong các buổi họp đến
mức người ngoài trông chướng anh ách, song Tô Hoài vẫn không lấy làm điều, cứ
cách của mình mà làm. Vâng, quả thật là giữa một thế giới văn chương nửa nghiệp
dư, nửa chuyên nghiệp, kết quả của một kiểu sống nửa cán bộ, nửa nghệ sĩ luôn
luôn thấy những tuyên bố, những tranh cãi hão huyền, mà tác phẩm có chất lượng
chẳng là bao, thì việc Tô Hoài cứ miệt mài viết cắm cổ viết, sách ra đều đều và
bao giờ cũng có chút gì đó để người ta đọc như thế, bảo không lạ sao được! Dường
như nhà văn tìm thấy ở trong cái sự có mặt thường xuyên của mình một lẽ sống,
và hơn nữa, một triết lý, nó nâng đỡ và hướng dẫn ông trong suốt cuộc sống.
Cuối năm 1969, tạp chí Tác phẩm mới ra đời. Từ chỗ
chỉ có một tờ báo duy nhất là tờ Văn nghệ, nay Hội Nhà văn có thêm một cơ
quan ngôn luận nữa, nên mọi người dễ để tâm lo liệu cho nó. Tự tay Nguyễn Đình
Thi đứng ra làm mấy số đầu. Rồi có dạo Hoàng Trung Thông đứng ra phụ trách.
Nhưng hai người làm lâu nhất là Tô Hoài và Chế Lan Viên - hai ông theo lối luân
phiên hết sáu tháng người này trực đến sáu tháng người kia trực. Biết tôi thích
nghe chuyện Tô Hoài, anh bạn H. làm chân ét chuyên lo chạy bài cho phần
phê bình kể:
- Cơ quan kéo nhau đi nghỉ ở Đồ Sơn ít ngày, trên đường về gặp
nước lụt. Xe không đi được phải chờ. Trong lúc anh em ngòi tán phét, thì cụ Tô
Hoài cụ ấy ngồi viết xong một kịch bản phim hoạt hình.
- Thì vẫn đến chơi với cơ quan, ông còn lạ gì, trở đi trở lại
có cái phòng ấy, bàn tổng biên tập ngay cạnh bàn chúng tôi, đấy là nơi cụ ấy vừa
tiếp khách, vừa viết tiểu thuyết.
Trở lên là chuyện tôi nghe được, còn đây là chuyện chính tôi
chứng kiến: một lần, ở Moskva, hôm trước vừa đi với Tô Hoài nghe ông kể định viết
bài bút ký thế này thế này, hôm sau, trong điện thoại, đã nghe ông bảo rằng viết
xong rồi!
- Ôi! Anh viết nhanh thế!
- Đời người ta chơi nhiều, dông dài nhiều, chứ ngồi viết có mất
mấy thì giờ.
Một lần khác, có dịp sống cạnh Tô Hoài trong một chuyến đi
công tác, tôi ngạc nhiên nhận thấy: khi lấy kim chỉ ra khâu lại cái khuy áo với
khi kỳ cạch chữa bản thảo cho kịp gửi về Hà Nội cũng vẫn cái dáng ông già cặm cụi
ấy. Đoán ra tâm trạng tôi, ông cười, trông vừa láu lại vừa hiền:
- Thì mình chẳng đã viết đây đó rằng nghề văn xuôi giống như
nghề của mấy anh thợ may là gì?
Một sự so sánh thuần tuý Việt Nam. Song mỗi lần nhớ tới nó, lại
không khỏi liên hệ tới cách nói của một nhà văn Pháp còn đang sống, ông Le
Clézio:
“Trở thành nhà văn có lẽ làm ta vướng víu. Nhưng viết văn là
một nghề theo nghĩa cổ nhất của từ này. Khi nghĩ đến nhà văn, tôi nghĩ đến những
quyển sách mà người ta truyền tay nhau đọc. Rồi tôi nghĩ ngay đến bút, giấy.
Càng ngày càng khó tìm ra giấy đẹp, thứ giấy không trắng quá, nhưng lại thấm mực
và khiến cho người ta thích viết... Nhà văn là người mang những thói tật của
người thợ thủ công mỹ nghệ, thợ làm đồ nữ trang. Một nghề nghiệp đòi hỏi phải
thật khéo tay. Phải giải quyết những khó khăn trong việc và víu và lắp ráp như
thợ chữa giày, chỉ khác ở chỗ giày thì người ta biết dùng để làm gì. Còn sách
thì... tôi chưa chắc chắn lắm. Tuy nhiên, có những dân tộc không cần đi giày
nhưng lại cần sách”.
Giữa các nhà văn Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân là một trong
nhưng bậc thầy, một người sinh ra để viết văn, và nói như Nguyễn Minh Châu, thực
sự là đã trở thành một định nghĩa về nhà nghệ sĩ. Đi để viết, đọc để viết, kiểu
gì Nguyễn Tuân cũng thiện nghệ cả. Chỉ có điều chính sự viết thì khi về già cụ
Nguyễn lại dề dà, ngần ngại, hàng ngày có bao nhiêu điều dự định song cứ ấp ủ vậy,
mà không viết ra nổi. Ở chỗ này, xem ra Tô Hoài có phần thực tế hơn. Hồi sinh
thời Nguyễn, có lần tôi đánh bạo hỏi, thì được cụ trả lời:
- Mình làm việc có mê-tót gì đâu! Có mê-tót,
phải là sừ Tô Hoài.
Tạm thời có thể quy cái mê-tót mà Tô Hoài theo đuổi,
vào mấy điểm như thế này:
1. Đi đâu cũng viết, gặp cái gì cũng viết, viết đủ các thể loại
- thể tài, không mảy may bỏ phí một chút gì. Chẳng những thế, tận dụng cái vốn
sẵn có huy động nó đến cùng, để tạo nên hiệu quả tối đa.
2. Sống không cầu kỳ, nhất là không làm khổ mình bằng những
thói quen có hại mà sống tất cả để viết.
Có thể phải viết cả một quyển sách, để nói về cái điểm thứ
hai này, tức là sự sống nhẹ nhõm đơn giản của Tô Hoài. Ông dễ dàng tự thay đổi.
Ông thích ứng nhanh. Ông thật hoạt. Là người Hà Nội gốc, ông giữ được và ngày
càng trau dồi cái bặt thiệp riêng, trong sự ăn uống, sự tiếp đãi khách khứa, ở
đấy cái sành sỏi đã trở thành tự nhiên, và đứng đằng sau nó, là một nhu cầu
ngày càng cao về hưởng thụ. Song chỗ hơn người của Tô Hoài là không bị những
sành sỏi đó ràng buộc. Vào một khách sạn sang trọng ông chuyện trò như một người
ngày nào cũng đến, và rất biết người biết của. Song ngay sau đó, nếu phải ghé
vào một quán hàng bên đường, chỉ có cái bánh nếp quả trứng luộc, ông cũng ăn uống
ngon lành, và nếu như hôm sau có dịp lên các vùng cao, thì ông sống ngay được
như đồng bào các dân tộc.
Khoảng cuối 1970, nhà văn Nguyễn Khải có dịp cùng với Tô Hoài
qua New Delhi, dự hội nghị nhà văn Á Phi, trước và sau đó đều có ghé qua
Moskva. Trong câu chuyện kể lại với chúng tôi ở Văn nghệ Quân đội, Nguyễn
Khải dành cho Tô Hoài một vai khá đẹp:
- Đến New Delhi, ông ấy cũng chỉ có bộ vét-tông tài chính cũ
kỹ. Ấy thế nhưng tây nó lại thích, có mấy tay nhà văn Ấn Độ nổi tiếng, sách
toàn được nhà Gallimard ở Pháp cho in mà trông cũng xuềnh xoàng như
lão bán vải.
- Đi họp thời nay thể nào cũng phải có chuyện đấu đá một
chút. Được cái Tô Hoài nói khôn lắm. Trước lúc thông qua cái văn kiện, ông ấy
chỉ vừa cười vừa bảo với mấy tay Nga: “Làm thế nào để tôi có thể đi nữa thì
làm”. Thế là tự họ thu xếp với nhau, khiến cho sứ quán mình cũng nghe được.
- À mà này, có biết ai đi tiễn Tô Hoài lần này không? Một ông
phó mộc. Chả ông ta là phó mà Tô Hoài thì là trưởng ban đại biểu dân phố.
Ngay từ trước 1945, tác giả Dế mèn đã có truyện ngắn Hết
một buổi chiều (viết ở Sài Gòn) trong đó ông chế giễu một anh nhà văn tập
tọng, thích nổi tiếng, nhưng lại lười, lúc nào cũng chờ cảm hứng, rút cuộc chả
viết được gì nên hồn. Thực tế kiếm sống rèn cho Tô Hoài những thói quen khác.
Trong ông, con người làm nghề hình thành với bộ mặt đa dạng: có phía cả quyết,
bám vào đó mà sống; có phía nhạy cảm, biết mình mạnh ở chỗ nào, yếu ở chỗ nào,
vậy phải viết về cái gì mới “ăn”; có tâm lý tự trọng, thái độ làm việc kỹ lưỡng,
thông thạo mọi mẹo mực trong nghề, và hào hứng chấp nhận thử thách, muốn đóng
góp thêm cho nghề; lại có phía ranh ma, biết tận dụng mọi thứ rơi vãi, làm hàng
kỹ cũng được, làm hàng “xổi”, hàng chợ cũng không chối từ. Sự đa dạng của tài
năng Tô Hoài - hoặc nói rõ hơn, sự pha tạp của tài năng ấy - bắt nguồn từ một ý
thức sâu xa: đã gọi là làm nghề thì phải biết làm tất cả mọi việc trong nghề,
đi từ điểm A (điểm đầu tiên) đến Z (điểm tận cùng) của nghề nghiệp. Hình như
không bao giờ Tô Hoài bí cái để viết. Ông lui tới giữa chữ nghĩa sách vở như
người thợ mộc giữa đống gỗ, gỗ xấu gỗ tốt gỗ cứng gỗ mềm thế nào, rồi cũng sắp
vào việc được. Chuyện viết tạp của Tô Hoài, đã thành bản tính thứ hai của ngòi
bút. Khi có thì giờ, ông viết tiểu thuyết. ít thì giờ hơn lo trông nom các tập
truyện ngắn. Ngoài ra là bút ký đi đường, và mẩu truyện, là chân dung văn học
và lời giới thiệu cho các tuyển tập, là vô số các bài điểm sách nho nhỏ, các
bài dọn vườn, ý kiến ngắn hoặc lời cho truyện tranh thiếu nhi v.v... tóm lại đủ
thứ lỉnh kỉnh trong nghề làm báo, chỉ trừ có thơ, còn những gì thuộc lĩnh vực
văn xuôi, Tô Hoài đều viết hết!
Nếu đã có lần trực tiếp biên tập một cuốn sách của Tô Hoài,
người ta sẽ thấy nhà văn này có lối chăm sóc những gì đã viết ra một cách kỹ lưỡng
và phải nói là tạo thành một thói quen đáng quý. Bản thảo thường viết trên giấy
một mặt, chữ rất đều, dễ trông. Với các truyện ngắn đã đăng báo, Tô Hoài dỡ ra,
dán lại vào những tờ giấy một mặt. Gặp trường hợp truyện đã in ở một tạp chí, tức
trải ra trên cả hai mặt giấy, thì hết một trang in, lại một trang viết tay, do
tự tay Tô Hoài ngồi chép. Lề của các trang bản thảo này thường được chừa khá rộng,
những dấu đài lên đài xuống như những cái tua vằn vèo chi chít, lắm khi lại còn
những đoạn lèo thêm bổ sung, kín cả mặt giấy. Dường như đã đọc lại, là Tô Hoài
phải cầm bút và chữa vào đấy, không động đậy không yên tâm. Mấy năm gần đây,
khi các thứ đồ nghề văn phòng đa dạng hơn và bán ra nhiều hơn, Tô Hoài lại có
cách chăm sóc bản thảo kiểu khác. Cát bụi chân ai, Mười năm, Hồi ký đều
được chuyển cho cánh biên tập viên chúng tôi ở dạng bản thảo đánh máy sạch sẽ,
được đóng lại bằng bìa mỏng gáy dán băng dính đâu vào đấy. Thế này thì tốn kém
cho người viết quá - tôi thầm nghĩ. Dường như đoán ra ý nghĩ của tôi, Tô Hoài bảo:
“Quen thế mất rồi, có lỗ vốn cũng phải sửa sang cho cái bản thảo nó tươm tất một
chút”.
Rộng hơn câu chuyện chăm chỉ, cần cù, ở đây hình như còn có vấn
đề cách hiểu về nghề, cũng như sự điều chỉnh bản thân cho phù hợp với nghề. Và
tất cả được làm một cách nhẹ nhàng, bởi đã thuần thục. Đến khi đã có được cái đạo
viết trong người, thì viết bao nhiêu cũng không thấy ngại, càng viết lại càng
muốn viết nữa. Viết là say và viết là tỉnh. Viết để ghi lại những gì đã sống,
viết lại chính là sự sống nữa.
IV/ Có một căn bệnh thoạt nhìn cũng vô can, song bởi vậy,
nên khó chữa, nó tồn tại ở nhiều nhà văn Việt Nam và để lại nhiều giai thoại ngồ
ngộ, đó là sự lý tưởng hóa nghề nghiệp, xem nghề của mình một chiều thiêng
liêng, người làm nghề toàn hạng tâm huyết với nhiệt tình. Mặc dù không cố ý,
song loại người mắc bệnh này động nói tới văn chương là ngả sang giọng rưng
rưng cảm động. Chữ nghĩa được dùng cao sang. Làm như ở đây toàn là thánh thần cả!
Phải thành thật mà thú nhận là lúc mới vào nghề, tôi cũng
không tránh khỏi căn bệnh quý hoá đó. Chỉ dần dần, dạn dĩ lên trong tiếp xúc,
tôi mới tìm tới được một cách nghĩ về văn chương tạm gọi là phải chăng. Và một
trong những người giúp tôi có cách nghĩ hợp lý hơn này, là Tô Hoài.
Như trên vừa kể, trong những năm cộng tác với đề tài khoa học
KX-06-17, tôi có dịp tiếp xúc với nhà văn này gần như hàng tuần và sớm nhận ra
một điều: Không muốn thì thôi, còn khi đã muốn, ông có cái lối riêng để đến gần
mọi người.
Những lúc có vài phút dư thừa, ngồi tán hão bên bàn, nếu cần
xích lại với người đang nói chuyện với mình, ông chỉ cần vài câu, diễn tả đúng
cái đơn giản tầm thường của đời sống, trước tiên là về chính mình, thế là mọi
khoảng cách bị xoá sạch.
Một lần, nghe chúng tôi hỏi có những tác phẩm nào sắp cho in,
Tô Hoài cắt nghĩa giản dị:
- Ấy toàn của xếp hàng từ mấy năm trước. Cần có cái in ra để
thỉnh thoảng làm một hai chén với anh em, lại phải có món để mang về cho bà nó
đong gạo nữa chứ.
Một lần khác, đến một nhà xuất bản nọ, trước khi ngồi nán lại
một lúc, ông nhờ gọi điện về nhà nhắn với đứa cháu ngoại là bảo bà cho ông ăn
cơm trưa với:
- Sao lại phải gọi về thế anh? - Hàng ngày chúng tôi vẫn gọi
Tô Hoài là anh, dù biết người đối thoại với mình đã trên 70 từ lâu.
- Nghe có mình về, bà ấy còn làm thêm tí thức ăn, chứ không
có mấy bà cháu ở nhà, lại trần xì có nồi cơm nguội.
Khi nói về những chuyện này Tô Hoài chỉ mỉm một nụ cười nhũn
nhặn, con mắt lim dim gật gù, như có ý muốn nói: chúng ta cùng một cảnh ngộ cả,
tôi có khác gì các anh các chị đâu. Và mặc dù nói đông nói tây đủ thứ song cách
nói chuyện của Tô Hoài vẫn dẽ dàng tự nhiên không mang tiếng là người nói nhiều,
nói át người khác.
Nam Cao là một nhân vật lớn của cả văn học tiền chiến lẫn những
năm sau 45.
Bản thân Tô Hoài trước sau đã viết năm sáu bài, khi để tưởng
nhớ Nam Cao, khi để phân tích quá tình trưởng thành của một nhà văn cùng lớn
lên từ cuộc sống cần lao như mình. Song trong khi miêu tả Nam Cao đáng yêu đáng
quý, Tô Hoài vẫn cho người ta thấy nhà văn rất gần với mọi người. Nào những băn
khoăn của Nam Cao muốn kiếm một cái vé sợi cho vợ. Nào những thèm muốn thường
tình ở anh giáo nghèo khi từ nhà quê, nhìn vào đời sống thành thị. Và đây công
việc viết văn của Tô Hoài mà cũng là của Nam Cao:
“Mỗi tháng chúng tôi túi bụi bận viết vào mấy ngày cuối
tháng. Đã vào nghề viết, nhưng nghề thế nào tôi không bao giờ có được kinh nghiệm
và thành thạo, chỉ biết lúc nào cũng là nỗi dằn vặt. Cứ sắp đến ngày hẹn đem
truyện xuống nhà xuất bản tôi mới ráo riết, cắm cúi thâu đêm.
Có khi, chúng tôi phải viết đổi tay cho nhau mới làm kịp. Nam
Cao thạo tả nhân vật, tôi nhờ anh viết cho tôi những đoạn như thế. Lúc Nam Cao
buồn ngủ hay chán viết, anh bảo tôi: “Cậu làm hộ mình thế này nhé. Sắp
mưa, bờ ao có bụi tre. Buổi chiều. Mấy trang cũng được”. Tôi vốn thích tả
cảnh. Tôi lia hộ bạn vài trang như anh đã phác. Cũng là một thứ công ti” (*)
Trước mắt chúng ta, công việc viết văn hiện ra lam lũ, như
nghề dệt cửi đầu hôm tối mai mà Tô Hoài vẫn tả.
Sống mòn là một tác phẩm mang nhiều yếu tố tự truyện của
Nam Cao. Đã có một nhà văn lớp sau xem cái gì tác giả Chí Phèo viết
ra cũng là lý tưởng, khi giải thích tại sao trước 1945 cuốn Sống mòn này
không in ra được, đã khoác cho sự việc một cớ rất sang: bởi nó đặt các vấn đề
xã hội một cách xa xôi kín đáo nên Sở kiểm duyệt cũ của thực dân ngửi hơi thấy
và xoay đi xoay lại nhiều lần không cho in. Song, là người chứng kiến việc Nam
Cao viết Sống mòn từ đầu, Tô Hoài lại hé ra cho bạn đọc thấy một sự
thực khác. Theo Tô Hoài, khi viết xong tiểu thuyết (mà ban đầu gọi là Chết
mòn), Nam Cao hay nói nửa đùa nửa thật: “Bao giờ những người trong tiểu thuyết
này chết đi, mình mới đem in được sách. In bây giờ thì không dám nhìn mặt ai nữa”.
Vả chăng hồi đó Nam Cao chưa thành một cái tên để người ta nhận in tiểu thuyết
dày, Tô Hoài nói thêm. Hoá ra chỉ đơn giản có thế! Biết những chuyện này, chúng
ta không chán Sống mòn mà chỉ thấy mừng là một quyển sách như thế
lang bạt suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, may mắn sao lại còn sống sót để tồn
tại vĩnh viễn trong văn học Việt Nam. Cũng như biết thêm con người yếu đuối,
con người cái gì cũng thèm, cái gì cũng tiếc của Nam Cao, chúng ta càng quý cái
sự vượt lên của ông và càng cắt nghĩa được tại sao người ta có thể đọc Nam Cao
mãi.
Những tầm thường vốn có không làm hại tình cảm của chúng ta đối
với nhau. Ngược lại đằng khác. Với người sống lâu trong nghề nói là một lý do để
an ủi: đấy, điều kiện sống của chúng ta eo hẹp vậy, làm sao để có tác phẩm lớn
được. Mà làm thế nào biết được tác phẩm ấy sẽ lớn, sẽ sống mãi, thôi hãy sống
nhì nhằng qua ngày!
Riêng với người còn đang định vào nghề, nó là một lời cảnh tỉnh,
nghề văn vất và lắm, anh có chịu được thì hãy đến.
Bằng cái biết cái hiểu của người trong cuộc, rỉ rả mỗi ngày một
tí, Tô Hoài hé ra những sự thật chung quanh cái nghề mà ông thành thạo, theo
cái hướng như thế. Kể làm sao hết những sự thực nghề nghiệp mà Tô Hoài đã nói tới
đây đó vui vui mà đau xót. Nhắc đến Nguyễn Công Hoan, bên cạnh câu chuyện
nghiêm chỉnh viết thư xin phép cho diễn Tấm lòng vàng, là những chuyện buồn
cười, Nguyễn Công Hoan khi về già viết truyện cổ lỗ thế nào trong khi lại chủ
quan, thơ ngây với sự đời ra sao. Liên quan đến Nguyên Hồng là câu chuyện
đi khuân thùng bia hộ mấy bà phe phẩy. Trong hình ảnh thân thuộc của Nguyễn
Bính, có hình ảnh anh chàng si tình cầm chiếc hộp sắt đầy những là thư tình dở
hơi. Hình như Tô Hoài muốn tìm lấy sự công bằng, trong khi vẫn giữ một
tình cảm ấm áp giữa các đồng nghiệp, và nhiều lần, chỉ cần một nhận xét bỏ nhỏ
thôi, ông phác ra cả một tính cách.
Về một nhà văn nổi tiếng viết về đời sống nông thôn:
- Tranh chánh hội mấy lượt không được, nên cái sự cụ ấy ghét
cường hào có gì là lạ!
Về một nhà văn say rượu tự mình làm hỏng cuộc đời của mình vì
rượu:
- Ông này đi họp với tôi ở Liên Xô mấy lần, từ máy bay xuống
đã say, trước cái vòng quay trả hành lý, có mỗi cái va ly cũng không lấy nổi: cứ
chạm vào lại trượt, lại phải chờ vòng quay sau, say như thế nên mới hỏng cả người.
Về một nhà thơ, chỗ nào cũng có mặt, mà thơ thẩn thì không ra
sao:
- Cứ trông thấy thơ của ông ấy là tôi phải đọc. Đọc vì tò mò.
Đọc cho nó đỡ buồn.
Về một giọng văn “công chức bẩm sinh”:
Mỗi người một vẻ, cuộc đời khá nhiều các bạn đồng nghiệp đi
qua, để lại trong Tô Hoài những ấn tượng hơi buồn: chúng ta sống không ra sao,
đáng lẽ chúng ta phải biết mình biết người hơn, phải sống và viết cho khá hơn,
mà cũng ra người hơn một chút, chứ thế này sao tiện?!
Cùng với việc lý tưởng hoá nghề nghiệp, có một nguyên tắc
không ghi thành văn bản chi phối quan hệ giữa những người viết văn là để chuyện
tiền nong sang một bên, không đả động đến nó bao giờ. Có thể là trong câu chuyện
hàng ngày cũng đôi khi người ta hỏi nhau, kháo nhau tỉ mỉ và nhất là trong đầu
óc từng người, việc so đo tính viết thế này cho báo này được tiền hơn, viết thế
kia, gửi cho báo kia, được ít lắm... những chuyện ấy luôn luôn trở đi trở lại,
song viết ra thì không, hầu như là chuyện cấm kỵ. Về phần mình, Tô Hoài công
khai bày ra sự tính đếm của mình khá sớm. Sao báo Chủ nhật đăng truyện
mà không trả tiền cho mình? Nhuận bút một truyện in trong Hà Nội tân văn là
bao nhiêu, tương đương ra sao với thu nhập của một anh thư ký hãng buôn? Cách ký
hợp đồng của các ông chủ xuất bản thời xưa... Cách nhận bản thảo... Bấy nhiêu
chuyện đã kể không làm cho người ta thấy văn chương hèn hạ mà ngược lại nó giúp
người đọc nhận ra những xót xa còn ẩn giấu giữa những dòng chữ.
- Mấy năm 43-44, có lệ là sáng mồng một, phải đến mừng tuổi
ông Tân Dân. Mừng tuổi thế nào? Dọn dẹp cỗ bàn cúng giao thừa xong, tôi còn ngồi
lia luôn được một cái truyện. Đến nơi, mừng tuổi ông ấy cái truyện mới viết,
thì ông mừng tuổi lại năm đồng. Thế là hoà, mà lại được cái tiếng lịch sự (Truyện
tết viết năm nay, ông cất vào kho, để sang năm, lại in vào số Tết)
- Nhuận bút báo tết có cao hơn báo thường?
- Không. Nhưng người viết văn ngày xưa có cái sướng hơn hẳn
người viết văn bây giờ là tiền ấy, do chính tay ông chủ trao, chứ không phải
như bây giờ, giám đốc chỉ tay bảo mình ra gặp kế toán, rồi có tiền thì có kế
toán bảo đến đấy mà lấy, không có tiền bảo hôm khác đến, muốn hành thế nào mình
cũng phải chịu.
V/ Ai đã từng sống ở Hà Nội, từ trước 1945 - hoặc nói rộng
ra một chút, trước 1954 - hẳn nhớ thành phố này vốn bé nhỏ và xinh xắn so với
bây giờ rất nhiều. Ngày ấy, từ mạn trường Chu Văn An đổ lên suốt đường Thụy
Khuê và song song với nó là đường Hoàng Hoa Thám, phố xá đã trở nên vắng vẻ hẳn.
Đến đầu dốc Tam Đa, chỗ tránh tàu điện, thì cảm giác ngoại ô càng trở nên rõ rệt;
từ đây đến chợ Bưởi là vùng đất của các làng nghề: làng Hồ, làng Cả làm giấy,
dân Nghĩa Đô, làng Võng dệt cửi... Một tháng sáu phiên, như mọi phiên chợ vùng
quê, chợ Bưởi họp, và ở đấy người ta bắt gặp những gương mặt của một vùng đất bảo
hào hoa, thanh lịch cũng được, mà bảo cũ kỹ, mòn mỏi, quê mùa, đi dần đến tan
rã cũng được. Những cảm giác này đã được diễn tả khá đầy đủ trong những trang
sách của Tô Hoài, và các nhà nghiên cứu đã nói đủ thứ về nó, nào là ý nghĩa hiện
thực, nào là ý nghĩa nhân đạo (Mới đây, theo Tô Hoài kể, một nhà xuất bản ở
Pháp đã gửi thư cho ông, ngỏ ý muốn dịch in lại tất cả những gì Tô Hoài đã viết
liên quan đến cái vùng ngoại thành phía bắc). Song để tìm hiểu con người làm
nghề Tô Hoài, thì đấy cũng là điểm xuất phát. Những câu hát ru con, hát ví, mà
bây giờ ta gọi là ca dao, dân ca, hoặc những câu Kiều, Hoa Tiên lởn
vởn trở đi trở lại trong truyện Tô Hoài.
- Nhớ ngày nào liễu mới ngâm
Le te bên vũng độ tầm ngang vai
Chợt đâu bóng cả cành dài
Đã sương đã khói đã vài năm nay
- Anh thương cô nàng như lá đài bi
Ngày thì nắng dãi đêm thì dầm sương
Trong truyện này nhân vật chính là cô Lụa, ở truyện kia là cô
Mùi, rồi cô Ngây, cô Mì... xoay quanh các cô bao giờ cũng có một trang thanh
niên giỏi giang văn vẻ nhưng lại nghèo rớt mùng tơi và lại thuộc Kiều và
có thể làm thơ lẩy Kiều, để nói điều tâm sự. Có cảm tưởng như Tô Hoài là từ
đám trai làng ấy mà ra. Tô Hoài viết văn, là để đi xa hơn cái việc nhũng người
thanh niên kia bắt đầu mà không bao giờ dám nghĩ tới chuyện đi tiếp.
Cần nhất lúc đầu là phải láu lỉnh và liều lĩnh một chút, liều
lĩnh phiêu lưu như chàng dế mèn nọ, mà Tô Hoài đã dựng lên, để gửi gấm ít mơ mộng
của tuổi trẻ. Nhưng những cái đó ở Tô Hoài không thiếu. Và thế là, cũng như những
Nam Cao, Nguyên Hồng, Kim Lân, một người làm nghề kiểu mới đã hình thành.
Xưa kia, nói tới văn chương là nói tới lớp nhà nho hay chữ.
Chẳng qua chán công danh, nên lấy câu thơ quyển truyện làm vui, mà trong những
điều viết ra, vẫn còn bao niềm tâm sự.
Cho tới đầu thế kỷ này, khi cái nền văn học cũ tàn lụi thì lập
tức nền học mới thay thế, và người làm văn chí ít cũng là lớp con nhà giàu, ở
nhà học chữ Hán với gia đình, đến trường học tiếng Pháp theo quy cách nghiêm cẩn
của nhà trường thuộc địa. Và tuy không ai giao phó nhưng thật ra họ vẫn nhận lấy
trách nhiệm của người trí thức phát ngôn cho những ý tưởng mà lớp thượng lưu muốn
nói với xã hội.
Nhưng trong toàn bộ cái nền rộng lớn của văn hoá văn minh
phương Tây được du nhập vào xứ sở này nửa đầu thế kỷ XX, còn có một hạt nhân
quan trọng là tinh thần dân chủ. Cùng với sự giàu có lên của toàn thể xã hội, lớp
người nghèo khó có sự trưởng thành vượt bậc về mặt ý thức, và từ trong hàng ngũ
của họ, bắt đầu có những người dám cầm lấy cây bút. Những nhà văn loại này -
như Vũ Trọng Phụng, như Nguyên Hồng, như Nam Cao - không tính tới chuyện cao
sang, thoạt đầu, họ chỉ viết vì bức bách, vì thấy sự đời quá nhiều nông nỗi đau
xót, và cũng có thể đơn giản là vì tìm thấy trong sự viết lách một cái kế để
sinh nhai. Song trong quá trình kiếm sống, sự thực là họ đã nói lên tiếng nói của
lớp dân lao động nghèo khổ. Không thể đòi hỏi họ quá nhiều. Khối người trong họ,
trong đó có những cây bút rất có năng khiếu, đã như giống cây, ngày một cằn cỗi,
vì thiếu kiến thức và không bao giờ vươn lên để trở thành một trí thức thực thụ.
Nhưng làm nhà văn chép được sự đời, thương cảm với những đau đớn ngang trái,
làm nhà văn để nói hết cái cuộc sống vừa đẹp đẽ, vừa rất buồn này, thì nhiều
người trong họ làm được, nhất là ở những người biết tự học và thường xuyên làm
giàu kiến thức thêm cho mình. Tô Hoài chính là một mẫu nhà văn thuộc về nhân
dân lao động, nhà văn kết quả của quá trình dân chủ hoá mà xã hội Việt Nam hiện
đại đã đẻ ra và nuôi dưỡng. Vượt lên trên những anh Hời, anh Cuông - chỉ lẩy Kiều,
chỉ sáng tác thơ để chép vào sổ gửi các cô gái hoặc truyền tụng trong làng,
sáng tác của Tô Hoài nay có dịp phổ biến rộng rãi hơn; như con cá từ ngòi đã ra
đại dương, song nhìn kỹ, những dấu vết của ngày hôm qua, của cái khu vực xuất
thân, không phải không còn thấp thoáng.
Tuy nhiên, dù là chỉ nghiên cứu Tô Hoài trong nghề cầm bút,
người ta không thể không ghi nhận một sự thực:
Ngay từ 1940, khi bắt tay làm quen với giới sáng tác đương thời,
thì đồng thời tác giả Dế mèn cũng bước vào hoạt động cách mạng. Lúc đầu
ở thời kỳ Mặt trận bình dân, ông hoạt động trong cơ sở Hội ái hữu thợ dệt
Hà Đông. Sau đó ông lại được tổ chức Đảng ở Hà Nội bắt liên lạc để hình thành
nên lực lượng Văn hóa cứu quốc.
Tiếp đó, từ sau 1945, những hoạt động xã hội của nhà văn ngày
một đa dạng. Triển khai ra theo chiều rộng, có lúc ông trở thành anh cán bộ địa
phương, có thời gian đi cải cách ruộng đất, đi học trường Đảng nhiều năm làm đối
ngoại nhân dân, đồng thời vẫn giữ chân trưởng ban đại biểu dân phố (1965-1972) ở
cơ quan văn nghệ trên Trung ương hay ở Hà Nội, hầu như từ 1946 tới nay, khoá
nào ông cũng được bầu làm bí thư chi bộ, đảng bộ.
Mặt khác, ngay trong giới cầm bút, ông cũng luôn luôn có hoạt
động xã hội của mình, khi là Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn, khi chủ tịch Hội văn
nghệ Hà Nội, từ đó đẻ ra cơ man nào là đầu việc, là họp hành, mà người ta gọi
chung là công tác.
Hơn 50 năm trời liên tục như thế, lẽ tự nhiên là ở Tô Hoài,
hình thành nên cả một nếp sống lạ lùng. ở ông, cùng lúc tồn tại nhiều con người
khác nhau: nhà văn lam lũ ham đi ham viết và anh cán bộ tháo vát, chẳng việc gì
có quyền từ nan; người lãng tử lang thang trong đời vui đâu chầu đấy và ông chủ
văn chương nhạy cảm, giàu kinh nghiệm, biết đối phó với mọi biến chuyển ở khu vực
mà mình phụ trách; người học trò chân thành và người thầy lâu năm phải nói như
sách giáo khoa quy định. Nhờ những con người này chung sống một cách hoà thuận,
Tô Hoài cùng lúc làm được bao nhiêu việc khác nhau. Nhưng trong sự nhập vai thuần
thục đó, tinh ý một chút sẽ nhận ra một sự phân ly nho nhỏ. Bên cạnh con người
dễ dàng từ tốn, sống hoà hợp với mọi người là một cá nhân đơn độc với những tâm
sự riêng. Có những lúc ngồi giữa bạn bè, bên chén rượu, con người đó vẫn cảm thấy
bơ vơ một thân một mình như đang phiêu diêu đến chân trời xa lạ.
Trong một bài viết về Nguyên Hồng (in trong tập Những
gương mặt, tr. 103), Tô Hoài tự nhận “Tính riêng tôi vốn ưa thầm lặng, vùi mình
vào một xó”.
Đến phần hồi ức về Vũ Ngọc Phan, nhân lời trách của nhà phê
bình đàn anh là sao không đến chơi, Tô Hoài nhìn lại mình như nhìn một ai khác:
“Người ta cứ mỗi tuổi lại cứ thành nếp những tính nết kỳ quặc, riêng biệt, về
sau tôi đâm ra lười nhác giao thiệp, ưa lủi thủi”.
Nhưng rồi cũng chỉ được phép đơn độc đến thế! Rồi cuộc đời chủ yếu
lại là công việc, là những buổi họp, là những chuyến du ngoạn, là hội thảo nọ,
hội thảo kia, là các loại báo cáo dài dòng, và những thầm thì hội ý kín đáo,
nói chung là những màn diễn, mà có khi mình lên sân khấu, có khi mình là người
khán giả đứng xem. Và trong mọi việc lại thấy hiện ra một Tô Hoài lõi đời, sành
sỏi, con ruồi bay qua không lọt khỏi mắt! Những chuyến giang hồ vặt không một đồng
xu dính túi; cái miên man cuốn hút khi dông dài giữa đám cầm bút nhà nghề, những
chuyến viễn du, mãi tận Huế, tận Sài Gòn, Dầu Tiếng, cái tự nhiên không dễ có
khi một mình về công tác tại một bản Mèo thấp thoáng giữa triền núi cao... bao nhiêu
từng trải, như còn in dấu vào cách sống, cách chuyện trò của Tô Hoài hôm nay,
bên cạnh cái nhũn nhặn lảng tránh, con người ấy thật cũng đã nhiều phen phải
dàn mặt, phải chịu trận, nói chung là phải đối chọi với đời và nếu như có lúc
phải đầu hàng thì đó cũng là bước đường cùng, rồi, nín nhịn chẳng qua để tồn
tại, và sau hết, để được viết.
Trong đời làm báo, nhà phê bình Nguyễn Thị Ngọc Trai phát hiện
cho mình một kinh nghiệm: khi nào có vấn đề gì báo buộc phải lên tiếng, và
không ai muốn viết, vì sợ mang tiếng xấu, thì hãy đến nhờ Tô Hoài. Thế nào ông
cũng có bài nộp báo đúng kỳ đúng hẹn, ký tên Tô Hoài hẳn hoi, nghĩa là đăng được,
mà tác giả vẫn chẳng làm sao, bởi đọc qua người ta cũng biết ngay là người viết
và tờ báo buộc phải làm vậy, chứ trong bụng nghĩ khác. Đại khái, có thể hình
dung như cái cảnh đứa trẻ bị buộc phải quỳ, thì cũng quỳ đấy, song mắt vẫn liếc
về phía mọi người đùa bỡn “Xá gì chuyện này, quỳ cho xong nợ, tí nữa lại tha hồ
tung tẩy”.
Tô Hoài không ngại viết thế này thế kia làm hỏng ngòi bút, bởi
ông tin chắc rằng ngòi bút ông thế nào, người ta đã hiểu cả rồi.
Chỉ có những biển lớn mới chứa được những dòng sông bẩn, cái
nhận xét của ai đó, đặt vào trường hợp Tô Hoài thấy không có gì gượng gạo.
Có một thoáng gì đó, như là một chút hư vô trong con người thực
dụng Tô Hoài chăng? Một nhận xét như thế là đầy mâu thuẫn, nhưng biết sao được,
con người mỗi chúng ta trong những năm này bị bao sức mạnh xâu xé, kể sao cho
xiết! Một chút khinh bạc có từ rất sớm (bản thân Vũ Ngọc Phan vốn rất hiền từ
cũng phải nhận ra và lên tiếng cảnh cáo, khi đọc Quê người, O chuột...),
cái khinh bạc đó hẳn không bao giờ mất hẳn. Cộng thêm vào đó là bao nhiêu ngọt
bùi cay đắng đã đến trong cuộc đời một người viết văn, một người cán bộ, những
phút bốc đồng và những lần tỉnh mộng, những lầm lỡ và man trá xen lẫn vào giữa
những chân thành ngây thơ, cuộc bể dâu diễn ra ngay trước mặt. Khi đã trải tất
cả những sự đó rồi, cái hư vô sẽ như một thứ ánh sáng mờ mờ giúp cho người ta sống
nhẹ nhõm hơn và tự do hành động hơn. Lúc này, hư vô đã trở thành một điều kiện
bắt buộc để sống, hư vô là một thứ thuốc an thần cho những kẻ ham hành động,
nhưng lại hoàn toàn tỉnh táo, để hiểu rằng hành động của mình cũng rất có thể
chỉ là vô nghĩa.
Không chỉ một lần, hình ảnh phù du như một ám ảnh trở về
trong một số trang văn hồi ký, nó là những trang mang nặng tâm sự Tô Hoài. Những
khi có việc đụng chạm đến toàn bộ cuộc đời viết văn của mình, ông phải nhớ tới
nó. Là phù du, những năm tháng dong nhan chơi bời viết lách trước cách mạng. Là
phù du những chuyến viễn du mãi tận phương trời xa thẳm. Mà cũng là phù du, những
khi cố gắng viết nốt những trang cuối cùng của một quyển sách tầm tầm. Tưởng dã
qua hẳn rồi, nhưng không phải, làm sao quên được sự phù du khi hàng mớ năm
tháng quàng lên vai, càng sống càng thấy nhiều điều ngang trái. Có cần nhìn đi
đâu xa, hãy nhìn cuộc đời những đồng nghiệp gọi là thành đạt sống ngay bên cạnh:
Nguyễn Tuân được tiếng ngang ngạnh, rồi cũng là một Nguyễn Tuân phải khéo xoay
sở để tạo ra cảm giác không bị ai quên, và nhất là một Nguyễn Tuân buông xuôi bất
lực, muốn đi mà không đi được, muốn nói khác mà không nói được, khối cái đã
tính nát ra định viết lại thôi. Xuân Diệu loay hoay giữa những bài thơ thù tạc
và những bài nói chuyện đi theo lối mòn, Xuân Diệu nhuộm tóc cố làm ra trẻ, ham
ăn ham uống, lúc chết mỡ quấn vào tim. Một Nam Cao tâm huyết lại mất sớm,
coi như đã xong. Nhưng bao kẻ sống sót sau những cơn giông tố, mấy người sống
được đúng tầm người của mình, hay lại chui lủi trốn tránh, hoặc lá mặt lá trái,
dối dá qua ngày? Sự khinh bạc muốn gạt đi, nó cứ tìm đường quay trở lại. Rồi
chính mình cũng đánh mất mình và nhìn đi nhìn lại, chỉ có thời gian là chiến thắng,
là không thể đảo ngược. Cái phương châm sống cuối đời rút lại là ở hai điểm:
Một là làm thật nhiều muốn viết gì thì viết, không định
bụng thế này thế kia, mà cũng không sợ mang tiếng khi viết.
Hai là không coi mình là quan trọng, chấp nhận hết thảy.
Giữ được từng phút cảm động ngạc nhiên nho nhỏ, nhưng không còn gì ngạc nhiên
trên những cái lớn
Thực hiện điểm thứ nhất thật không gì dễ hơn, nhất là khi người
ta đã có trên 150 đầu sách như Tô Hoài.
Còn điểm thứ hai? Bảo là biết điều, là khiêm tốn có lẽ không
phải. Ai đâu còn trẻ con thế! Sống cho nhẹ nhõm là cách tốt nhất để bảo toàn
mình. Lại nhớ những câu Kiều mà thuở mới lớn, đã cùng với nhiều bạn
thợ cửi, ngâm đi ngâm lại không biết chán:
Nàng rằng thực dạy quá lời
Thân này còn dám coi ai làm thường!
Loanh quanh một hồi hoá ra chưa thoát khỏi chỗ xuất phát ban
đầu? Nhưng với Tô Hoài lúc này, mọi sự khen chê không còn ý nghĩa. Trong cái thế
kỷ đa đoan chúng ta đang sống, dẫu sao ông cũng đã luôn luôn dập dềnh trên mặt
sóng. Tháng bảy và tám 1997, ông đến Đà Lạt ngồi viết xong một tập hồi ức, có
tên là Chiều chiều. Chắc chẳng ai không hiểu đấy là chủ tâm “chiều chiều
cuộc đời”, nhưng ông vẫn không quên ghi thêm hai câu ca dao cổ: “Chiều chiều lại
nhớ chiều chiều. Nhớ người đãy gấm khăn điều vắt vai” cho tơ liễu và lửng lơ
đôi chút. Âu lại cũng vẫn những cái tạng Tô Hoài.
1996
Vương Trí Nhàn
Vương Trí Nhàn
















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét