CÂU CHUYỆN NGỮ PHÁP (PHẦN I)
“Phong
ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”
“I” và “YOU” nằm
khá cao trong danh sách 100 chữ được dùng thường xuyên nhất trong Anh ngữ. Là đại
từ xưng hô cho ngôi thứ nhất và
ngôi thứ hai số ít trong tiếng Anh, chúng
giản dị bao nhiêu trong cách sử dụng thì hai đại từ xưng hô (personal pronouns)
tương đương trong tiếng Việt phức tạp bấy nhiêu. Nói cách khác, người Việt học
cách dùng “I” và “YOU” dễ như chơi, nhưng
người Anh thì có nhiều vấn đề khi
học cách dùng “TÔI” và “ANH” - đến nỗi có người đã vò đàu bứt tóc mà than lên
rằng “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam!”
Vấn đề này cũng dễ hiểu thôi.
Thực vậy tiếng Anh chỉ có những đại từ xưng hô ngôi thứ nhất và
ngôi thứ hai (cả số ít lẫn số nhiều) căn bản sau đây quá dễ sử dụng, “like a
piece of cake” ấy mà: [Ngôi thứ nhất số ít = I] - [Ngôi
thứ nhất số nhiều = WE] - [Ngôi
thứ hai số ít = YOU] - [Ngôi
thứ hai số nhiều = YOU]. Thế
nghĩa là từ ông vua cho đến một người hành khất đều tự xưng mình là “I,” và từ
ông tổng thống Mỹ cho đến con chó của ngài đều được gọi là “YOU” trong một cơ
hội giao lưu mà chẳng ai phiền lòng ai cả. Bình đẳng đến thế là tuyệt vời trong
xã hội rồi, phải không ạ?
Trong khi đó, có lẽ không một ngôn ngữ nào khác có thể so với Việt
ngữ về bản chất đa dạng, đa năng của đại từ xưng
hô ngôi thứ nhất số ít. Trong khi đa số ngôn ngữ chỉ sử dụng một
dạng cho ngôi này, như JE trong
Pháp ngữ, I trong Anh ngữ, ICH trong
Đức ngữ, và WO (我)
trong Hoa ngữ quan thoại, thì Việt ngữ có cả một kho tàng xưng hô cho
ngôi thứ nhất số ít ngoài đại từ TÔI thông thường, như giải thích dưới đây:
Mỗi dạng khác nhau của đại từ TÔI nói lên được mối
liên hệ đặc biệt giữa người nói và người nghe. Con cái
chẳng bao giờ dám xưng TÔI với cha mẹ, cũng như học trò chẳng hề xưng TÔI với
thầy và cô giáo. TAO và TỚ chỉ có thể thay thế cho TÔI giữa các bạn bè thân
nhất; đại từ TAO cũng xuất hiện đều đều trong các cuộc chửi bới. Các đại từ
xưng hô TÔI, TAO, TỚ có hình dạng số nhiều là CHÚNG TÔI, CHÚNG TAO, CHÚNG TỚ.
Tất cả các danh từ diễn tả mối liên hệ họ hàng như
BỐ, MẸ, CHÚ, BÁC, CÔ, CẬU, ÔNG NỘI, BÀ NGOẠI… đều có thể được dùng làm đại từ
xưng hô ngôi thứ nhất. Và một nét rất đặc thù của tiếng Việt là tên
người đang nói có thể được dùng làm đại từ xưng hô thay
cho TÔI như trong câu nói nũng nịu của một cô Lan xinh đẹp nào đó với người bạn
trai tốt số mới được quen nàng: “LAN muốn rủ anh đi Vũng Tàu tắm biển với LAN cuối tuần này, anh chịu không? Có người mới cho LAN một bộ bikini đẹp lắm!”
Ngày xưa, các hoàng đế tự xưng mình là TRẪM khi tiếp xúc với thần
dân, và thần dân cung kính gọi họ là BỆ HẠ. Ngày nay một số người Việt “tồn cổ”
đôi khi cũng khiêm tốn xưng mình một cách ngộ nghĩnh là TẠI HẠ, BỈ NHÂN, MỖ TÔI
trong văn viết.
Cũng giống như trường hợp ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai của đại từ
xưng hô trong tiếng Việt đa diện, đa năng hơn
hẳn nhiều ngôn ngữ khác. Mỗi dạng của ngôi này nói lên được mối
liên hệ đặc biệt giữa người nói và người nghe. MÀY/ CHÚNG
MÀY chỉ dùng giữa bạn bè hoặc trong các cuộc chửi lộn. Ngoài những đại từ xưng
hô thông thường như ANH/ CÁC ANH, EM/ CÁC EM, ÔNG/ CÁC ÔNG, BÀ/ CÁC BÀ, CỤ/ CÁC CỤ,
những danh từ diễn tả mối liên hệ họ hàng (BÁC,
CHÚ), những tước vị (BÁC SĨ, THIẾU ÚY), cũng
như tên người (LAN, TUẤN) đều có thể
dùng làm đại từ xưng hô ngôi hai.
Nhưng phải nói chức năng tuyệt diệu “độc
nhất vô nhị” của đại từ xưng hô MÌNH -
cho cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai số ít -
có lẽ đã từng làm không ít người nước ngoài vừa hoảng hốt vừa ngạc nhiên. Nó có
thể vừa ỡm ờ vừa tình
tứ hết sức, như trong câu hỏi: “MÌNH ơi, MÌNH có biết là MÌNH nghĩ đến MÌNH cả ngày hôm nay không, hả MÌNH?” và câu trả lời: “MÌNH có
biết MÌNH nghĩ đến MÌNH chứ, vì MÌNH nhảy mũi hoài à! Bao giờ MÌNH lại được gặp
MÌNH đây?”
Áp dụng những quy ước ngôn ngữ xã hội (sociolinguistic
conventions) nêu trên trong Việt ngữ, ta có thể hiểu sự
khác biệt quá lớn trong cách dùng đại từ nhân xưng ngôi
thứ nhất và ngôi thứ hai (số ít) trong tiếng Anh và tiếng Việt như thế nào. Sự
khác biệt này có thể được thấy rõ qua phương trình với “vế Anh ngữ” (rất nhẹ
ký) và “vế Việt ngữ” (rất nặng ký) dưới đây:
You and I = Anh và tôi/ Mày
và tao/ Ông và cháu/ Anh
và em/ Em và anh/ Thầy
và con/ Giáo sư và em/ Thiếu
úy và tôi/ Đại nhân và tại hạ/ Trẫm
và hạ thần/ Mình và mình/ Lan
và Tuấn/ và còn nhiều nhiều nữa.
CÂU CHUYỆN NGỮ PHÁP
(PHẦN II)
“Ngữ
pháp Anh hành hạ tôi quá”
“We will have been running exactly
for an hour by the time we get home” là thí dụ của một câu Anh ngữ khó lòng
chuyển sang Việt ngữ sao cho vừa đúng nghĩa vừa thuận
tai. Chẳng lẽ dịch động từ của nó ở thời future
perfect progressive một cách ngô
nghê thành “Chúng tôi sẽ đã đang chạy (?) được
đúng một tiếng đồng hồ khi về đến nhà”? Vì động từ “chạy” không thể đi với nhóm
phụ từ “sẽ đã đang,” chúng ta phải “biến cú” (paraphrase) cho rõ ý nghĩa câu đó
thành “Tính ra khi chúng tôi (sẽ) về đến nhà thì chúng tôi đã liên tục chạy
được một tiếng đồng hồ rồi.”
Quả thực, so với tiếng Việt thì cách sử dụng động từ tiếng Anh rắc
rối hơn nhiều. Sự khác biệt này là lý do tại sao học viên
người Việt chúng ta thường phạm nhiều lỗi với
cách sử dụng các “tenses” (thời) trong tiếng Anh. Có thể nói trong lãnh vực
này, tiếng Việt giản dị bao nhiêu thì tiếng Anh phức tạp bấy nhiêu. Trong khi
tiếng Việt chỉ cần 3 function particles (tiểu từ chức năng) “đang, đã, sẽ” để
“chia” tất cả các động từ cho ba ý niệm “hiện tại, quá khứ, tương lai” thì
tiếng Anh có 12 tenses với cách dùng khác nhau để “conjugate” các verbs! Chúng
được “chia” căn cứ vào ý niệm “xảy ra khi nào” (present, past, future) và ý
niệm “xảy ra kiểu nào” (simple, progressive, perfect, perfect progressive).
Nếu 3 ý niệm “xảy ra khi nào”
dễ cho người Việt hiểu và sử dụng, thì 4 ý niệm “xảy ra kiểu nào”
thật cầu kỳ, phiền toái, khó dùng, và khó giải thích những chức năng đặc thù
của chúng! Cái tense đòi hỏi sự kết hợp cùng một lúc 3 ý niệm future
+ perfect + progressive - rất ít khi dùng đến - là
một điều kỳ dị khó hiểu của Anh ngữ, như trong thí dụ mở đầu của câu chuyện ngữ
học này.
Những chức năng chính yếu của 12 tenses
trong tiếng Anh được tóm lược dưới đây cùng với các thí dụ liên hệ. Con số 12 này
là kết quả của bài tính nhân giản dị [3 lúc nào
x 4 kiểu nào
= 12 thời của động từ].
Xin lưu ý là sentence được đặt bên trong ký hiệu [
] và clause được đặt bên trong ký
hiệu { }, thí dụ: [{He had a stroke}{when he was playing tennis.}]
01. Present Simple [We study English] dùng
để:
(a) Diễn tả một hành động xảy ra lúc ta đang viết:
[Lisa is here with us now.] [What do you want from
me this time?]
(b) Diễn tả một thói quen:
[They usually spend their
vacation in Paris.] [Our clubmeets every
third Saturday morning of the month.]
(c) Đề cập đến một sự thực hiển nhiên,
lúc nào cũng vậy: [The sun sets in
the west.] [Water boils at 100
degrees Celsius.]
(d) Nhắc lại các hành động quá khứ, cố
tình để cho chúng có thể hiện lên một cáchsống
động: [So, you want to know how Jennifer and I met for the first
time? Well, itis a beautiful Saturday morning
and I am in the library. Suddenly a
pretty girl, with blue eyes and freckles on her cheeks, sits down
next to me, whispering “good morning” with a friendly smile …]
(e) Cho verb trong subordinate clause bắt đầu bằng một
subordinate conjunction như “when, as soon as, if …” khi main clause dùng verb
trong thời future simple: [{Wewill
be ready} {when they arrive.}]
Lưu ý câu sau đây sai cú pháp vì
verb trong subordinate cũng ở thời future simple:
[{We will be ready} {when they willarrive.}]
02. Present Progressive [We are
studying English] dùng
để:
(a) Diễn tả một hành động đang tiếp diễn lúc
ta viết: [They are dancing cheek-to-cheek
now.] [What are you doing at
home alone?]
(b) Xác định một hành động tương lai như
đã định: [Yes, Lisa is playing the
piano at the concert tonight.] [I am
thrilled that my parents are coming for
my graduation next week!]
03. Present Perfect [We have
studied English] dùng
để:
(a) Nhấn mạnh một
hành động đã hoàn tất trong quá khứ: [Yes,
we have visited Paris twice before.]
[Unless you have lived in Vietnam, you do not
know how beautiful it is!]
(b) Diễn tả một hành động đã xảy ra nhưng
còn tiếp tục đến hiện tại: [They have
lived in Dallas for 10 years and have no plan to move
away.] [We have not seen Jimmy
since last Sunday, and we wonder where he is now.]
04. Present Perfect Progressive [We have
been studying English]:
Dùng như Present Perfect,
nhưng nhấn mạnh sự liên tục (continuity)
của hành động quá khứ đến tận lúc ta viết: [The first speaker for the seminar has
been speaking for an hour already, despite his allotted
time of only 30 minutes.] [Robert Jones has been courting Lisa
Smith since last summer.]
05. Past Simple [We studied English] dùng
để:
(a) Diễn tả một hành động quá khứ không còn liên hệ
với hiện tại, thời gian có thể biết hay không biết: [Our
parents went to Japan and had a
very wonderful time there.] [The last time we saw Lisa,
she looked like a million dollars!]
(b) Diễn tả một thói quen trong
quá khứ:
[Jack smoked a
lot while serving in the military.] Lưu ý là thành ngữ used
to cũng dùng cho chức năng này: [Jack used
to smoke a lot while serving in the military.]
06. Past Progressive [We were
studying English] dùng để:
(a) Diễn tả một hành động kéo dài trong
quá khứ: [Thúy was teaching music
for two years in Hanoi before she moved to
Saigon.]
(b) Diễn tả một hành động quá khứ đang tiếp diễn khi
một hành động quá khứ khác xảy ra: [It was
raining when we left home.]
07. Past Perfect [We had
studied English] diễn
tả:
Một hành động quá khứ đã xảy ra trước
một hành động quá khứ khác (ở thời past
simple): [When the we got to
the airport a little late, the plane had taken off
!] [ My cousin wanted to get
back all the money that he had lost in
gambling.]
08. Past Perfect Progressive [We had
been studying English] diễn
tả:
Một hành động quá khứ trong lúc đang tiến hành thì một
hành động quá khứ
khác (ở thời past simple)
xảy ra:
[It had been raining when
we started our trip.]
Lưu ý là cách dùng past perfect progessive tương
tự như past perfect nêu trên,
nhưng nhấn mạnh tính
chất tiếp diễn của hành động đã xảy ra trước:
[The job offer, which Elizabeth had been expecting,
finally came.]
09. Future Simple [We will
study English] diễn
tả:
Một hành động sẽ xảy ra trong
tương lai:
[I will see you tomorrow to
finalize our plan for next year, OK?]
Lưu ý là thời này cũng dùng cho
verb trong main clause của một complex sentence mà subordinate clause bắt đầu
với các subordinate conjunctions “when, before, after, as soon as,” và verb ở
thời present simple:
[{We will be happy}
{when you graduate from college.}]
[{We will take you back
to your office} {if you like.}]
10. Future Progressive [We will
be studying English] diễn tả:
[I will be waiting for
you in the lobby tomorrow morning.]
11. Future Perfect [We will
have studied English] diễn
tả:
Một hành động sẽ hoàn tất trong tương lai.
Khi dùng tense này, ta hướng về tương lai và nhìn lại một hành động khác sẽ
hoàn tất sau đó một thời gian. Thường được dùng với một
“time expression” như “by the time,” “for six days,” vân vân:
[By the time you read this letter, I will
have arrived in Tokyo.]
[We will have been here for exactly
three months on July 2.]
12. Future Perfect Progressive [We will
have been studying English] diễn tả:
Một hành động hoàn tất đang tiến hành
trong tương lai, dùng như future perfect,
nhưng nhấn
mạnh sự liên tục của
hành động:
[By the time you arrive, we will have been preparing for
the party for hours!] (Đây chính là tense được dùng trong câu thí dụ mở đầu
“câu chuyện ngữ học” này).
Đọc tới đây người Việt chúng ta có lẽ đã đủ
ngắc ngư với cách dùng 12 thời (tenses) của động từ trong
cú pháp Anh ngữ để có quyền kêu lên “Ngữ pháp Anh hành hạ
tôi quá!”
5-2019






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét