Áng mây trắng xứ Đoài Quang Dũng
Sinh ra để làm một kiếp mây
Không hiểu vào cái năm một ngàn chín trăm tám sáu, khi Quang
Dũng đang nằm trong bệnh viện, nhà thơ Trần Lê Văn giúp Quang Dũng dựng tập Mây
đầu ô, hai ông có kịp bàn bạc gì không về việc đặt tên cho tập thơ?
Nghĩa là cho đến ngày hôm nay, khi mà cả đôi bạn thơ này khuất núi, chúng ta vẫn
không thể biết được tên tập thơ do chính Quang Dũng lựa chọn hay do tự ý Trần
Lê Văn đặt. Nhưng dù ai đặt cho tập thơ cái tên ấy thì quả là "tay cũng
già". Nó mới hợp, mới đúng làm sao con người Quang Dũng, thi nhân Quang
Dũng! "Một lời là một vận vào khó nghe", Mây đầu ô. Vâng, Mây
ở đầu ô mây lang thang, Mây ở đầu ô - Hẹn những chân trời xa lạ, Ta mê xanh thẳm -
Như cánh chim trời… Mây đầu ô, tôi cứ nghĩ đó là một cái tên đích
đáng đến nỗi khó lòng có thể chọn một hình ảnh nào vừa đúng vừa hợp vừa hay vừa
đẹp đến thế dành cho người thơ Quang Dũng. Mây đầu ô là tập thơ riêng
duy nhất của ông ra đời lại đúng vào lúc nhà thơ ngã bệnh (1986). Bài thơ Mây
đầu ô trong tập được chọn làm tên tập thơ được viết năm 1970, lúc mà nhà
thơ đã Vào lớp tuổi năm mươi, tuổi tri thiên mệnh. Thực ra thì không phải
chờ đến lúc ấy mới có mây. Hình ảnh mây đã ám vào số phận
thi ca này như một định mệnh, như một phán quyết của thượng giới vô hình không
thể cưỡng lại được ngay từ hồi mới bước vào nghiệp thơ kia. Nhưng
lúc đó làm sao ông có thể hiểu được tiền vận hậu vận của chính mình. Ông cứ làm
một áng mây trắng xứ Đoài hồn nhiên lang thang từ làng ra phố, hết phố lên rừng,
rồi lại từ rừng về phố. Để cho đến hôm nay, vào tuổi 50, mới ngộ ra cái phận
mình y như một áng mây lang thang không hơn không kém.Vợ và con trai của nhà thơ Quang Dũng Nói Quang Dũng mang phận mây ngay từ đầu là có cơ sở.
Một trong những bài thơ đầu tiên, được coi thành công nhất, tạo dựng ngay lập tức
cái tên Quang Dũng giữa làng thơ Việt Nam hồi kháng chiến là bài Tây Tiến được
viết năm 1948, đã thấy có một cồn mây sừng sững bị cái mũi súng chọc thủng hướng
lên trời (Heo hút cồn mây súng ngửi trời). Ngay sau đó, hễ mỗi khi có thơ về
vùng quê xứ Đoài chôn rau cắt rốn thì thể nào cũng lại có áng mây trắng thi ca
bay vào:
- Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
(Mắt người Sơn Tây - 1949)
- Ba Vì tảng trán xanh
Thức với mây Đoài trắng xóa
(Bất Bạt đêm giao quân - 1968)
- Hãy ngẩng lên nhìn chóp Tản Viên
Mây trắng xưa nay về tụ họp
Mây một phương Đoài về tụ họp
(Ba Vì đón Bác - 1969)
Mà chẳng cứ gì xứ Đoài, những vần thơ viết về mọi miền đất nước
cũng nhiều mây lắm:
- Đi trong đường mây rắc bụi vàng
… Cơn gió bóng mây qua đỉnh Việt
Mà như lau sậy có linh hồn
(Pha Đin)
- Nắng nửa sông xa mờ khí núi
Cánh hồng nhạt nhạt mây phiêu lưu
(Thu - 1950)
Rồi đến khi viết về phận mình, tự nhiên, mây cũng lại quẩn
vào:
- Tóc anh đã thành mây trắng
Mắt em dáng thời gian qua
(Không đề - 1970)
- Mây ở đầu ô mây lang lang
Ôi! chật làm sao
Góc phố phường
(Mây đầu ô - 1970)
Nhìn vào thời gian các bài thơ ra đời ở trên kia, suốt hành
trình thơ Quang Dũng, mây đã trở thành một ám ảnh bền bỉ với nhiều biến hoá. Bản
chất của mây là di chuyển và biến hình, tức là mang tính động. Nó đối lập với sự
đứng yên và hằng định. Không gian tồn tại của nó có thể là vũ trụ vô biên (bầu
trời), hoặc là không gian xã hội- lịch sử hữu hạn (đất nước, quê nhà). Khi đi
vào văn chương, mây là một hình ảnh mang số kiếp lang thang và có khả năng hoá
thân thành nhiều dáng hình khác, hàm chứa nhiều ý tưởng phong phú. Kinh nghiệm
văn hóa phương Đông cho thấy mây đã từng biến hóa thành những vân cẩu (chó
mây - chỉ sự thay đổi nhanh chóng của cuộc đời), phù vân (mây nổi - chỉ
sự coi thường giàu sang), hoặc những vân cù (đường
mây), vân đài (đài mây), vân nghê (mây và cầu vồng), vân
thụ (mây và cây)… và được sử dụng dầy đặc trong những văn cảnh khác nhau với
những nét nghĩa khác nhau của văn chương trung đại. Tuy nhiên, do có
được cảm quan về tính mức độ, và cũng do xuất phát từ một ý hướng tự nhiên - biết
lựa chọn những gì phù hợp nhất với mình - hồn thơ Quang Dũng tập trung biểu đạt
hình ảnh mây chỉ với hai cấp độ nghĩa: quê nhà và cá nhân nhà thơ. Ban đầu mây
là một hình ảnh thực gắn liền với sông núi quê hương. Dần về sau, mây đã chuyển
hóa thành thân phận cá nhân thi sĩ. Khi mây là hình ảnh quê hương, không có gì
là lạ. Cảm thức văn hoá phương Đông đã từng coi mây trắng là hình ảnh quê nhà (1). Nhưng đến khi Quang Dũng ví phận
mình như mây trắng đầu ô với nhiều khao khát được lang thang thì ông đã bứt ra
khỏi từ trường của truyền thống để trở thành một sáng tạo độc đáo. Và nhờ thế,
hình ảnh mây khi bay vào chân trời biểu tượng đã được mở rộng thêm nhiều tầng
nghĩa. Mây hay chính là hồn thơ Quang Dũng trong hình dáng của mây đã lang
thang phiêu du một chặng liền năm mươi năm có lẻ giữa rộng dài đất nước. Một điều
thật nhất quán là: cả con người tiểu sử nhà thơ, cả hành động sáng tạo thơ và cả
thế giới nghệ thuật thơ Quang Dũng đều châu tuần vào mây, hoá thân vào mây và
cũng biến hóa cùng mây.Áng mây trắng mang hình tráng sĩ
Sinh ra giữa thời tao loạn, một trí thức bình thường có quốc
sỉ nào cũng đều không chịu nổi ách nô lệ ngoại bang. Thế là, như bao
bạn bè cùng trang lứa từ Hà Nội, Quang Dũng cũng đã xếp bút nghiên lên đường
đánh giặc. Lúc đó họ đang còn rất trẻ, mới mười tám đôi mươi. Họ nhìn ngắm cuộc
đời hồn nhiên, giản dị lắm, chẳng tính toán gì. Bước vào cuộc kháng chiến, họ
nhìn chiến tranh như nhìn vào một nơi sa trường tràn đầy hùng khí của các cuộc
chiến trinh thời cổ đại. Thì đấy thôi, người lính vào chiến trận với một ý
chí Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, dáng dấp của họ thật oai phong
như một chiến binh lẫm liệt (Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc - Quân xanh màu lá
dữ oai hùm), ngay cả cái chết cũng coi nhẹ tựa lông hồng (Áo bào thay chiếu
anh về đất), nơi đóng quân cũng phảng phất bóng hình đồn trú thuở
nào (Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa - Kìa em xiêm áo tự bao giờ - Khèn lên man
điệu nàng e ấp - Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ)… Cảm thấy như có cái hùng khí của
các cuộc giao tranh thời Chiến quốc vậy.Nhà thơ Quang Dũng thời Tây Tiến - Bút tích của Quang
Dũng Quang Dũng viết không nhiều về chiến tranh, nhưng hễ cứ có
bài nào thì chiến tranh lại hiện ra theo cái cung cách huyền sử như vậy. Cũng
những đêm trăng suông lạnh, những lúc chuyển quân, những đêm sinh hoạt nơi đồn
trú, vừa có cái im ắng đông lại đến ngột thở, lại vừa có cái vui say náo nức, bỡ
ngỡ mở ra đến vô bờ:
- Những làng trung đoàn ta đi qua
Tiếng quát dân quân đầu vọng gác
Vàng vọt trăng non đêm tháng chạp
Nùn rơm - khói thuốc - bạch đầu quân
Tự vệ xách đèn chai lối xóm
Khuya về chân khoả vội cầu ao
Nghe tiếng sung rơi miệng chiến hào
Bờ tre cây rơm thôi tịch mịch
Vỡ lá bàng khô bước du kích
(Những làng đi qua)
- Trống tập trung
Vang vọng bãi Lương Tuyền
Mẹ tiễn qua sông
Bến Mộc gặp trăng lên
(Bất Bạt đêm giao quân - 1968)
Âm hưởng và tư thế đẹp, thơ mộng, hùng tráng là thế!
Tuy nhiên, ai cũng phải thừa nhận rằng chân dung người chiến
sĩ trong thơ Quang Dũng cùng với cái ngang tàng, hùng tâm tráng chí, lắm khi lẫm
liệt, nhưng cũng lại rất mơ mộng, lãng mạn, tài hoa. Nghĩa là có một sự hòa điệu
giữa con người tráng sĩ và con người thi sĩ. Nó như là hai phẩm chất âm dương
hài hòa vậy. Cảm thức đối cực này chi phối rất mạnh trong cách tạo dựng hình ảnh
thơ theo lối vừa mới tận cùng dương đã lại tận cùng âm, khiến người đọc hết sức
bỡ ngỡ và thú vị. Vừa cao tột cùng là thấp tột cùng: Ngàn thước lên cao
ngàn thước xuống; vừa dữ dội tột cùng đã lại mơ mộng tột cùng: Mắt trừng gửi
mộng qua biên giới - Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm, vừa mới động gắt đã lại
tĩnh lặng: Tiếng quát dân quân đầu vọng gác - Nghe tiếng sung rơi miệng chiến
hào; vừa mới khốc liệt dữ dội: Chiều chiều oai linh thác gầm thét/ Đêm
đêm Mường hịch cọp trêu người đã lại tình tứ thanh bình: Nhớ ôi Tây
Tiến cơm lên khói - Mai Châu mùa em thơm nếp xôi… Cảm thức đối cực âm dương còn để
lại dấu ấn khá rõ cả trong cấu trúc thanh âm (trắc - bằng) giữa các dòng
thơ: Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống - Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi, hoặc
trong nội bộ câu thơ: Mai Châu mùa em thơm nếp xôi, Trôi dong nước lũ hoa
đong đưa… Trong thơ Quang Dũng có vô số những cặp đôi âm dương với nhiều kiểu
dáng như vậy. Vừa hào hùng vừa hào hoa (chữ của Chu Văn Sơn), tráng sĩ và thi
sĩ, cứ thế nở hoa thành những câu thơ đứng vào hàng tuyệt bút.
Con người tráng sĩ này một khi đã ra đi là bất chấp gian khổ, bất
chấp cái chết. Y như câu tuồng cổ: Gian nan là nợ, anh hùng phải vay. Thế
nhưng, đi vào chiến trường mà biết đùa với cả bệnh tật, nguy nan, thậm chí cái
chết, thì tất cả những đe dọa ấy có gì là đáng sợ nữa. Cái sợ đã bị hoá giải từ
gốc. Rất lạ, bước vào chiến tranh mà lại cứ như thả bước chân phiêu lãng giang
hồ. Chiến tranh với những gương mặt tử thần rình rập, đâu phải thích hợp cho
cái máu phiêu lưu? Ấy thế mà cứ hăm hở như không vậy:
Thôi nhé miền xuôi! Thôi tạm biệt
Cống chéo - Đồng Xuân thề một chết
Hàng Gai tay bỏng trục "ba càng"
Đất cũ Thăng Long người lẫm liệt.
Đó là những con người yêu nước. Nhưng họ yêu nước theo cái
cung cách của lứa tuổi mười tám đôi mươi nhuốm chất Kinh Kha sang Tần thích
khách thuở nào. Chẳng làm sao. Thế mới là tuổi trẻ. Chẳng có gì thiếu chân thực
ở chỗ này cả. Ngược lại, nó đã thể hiện thật đúng cái tư thế trẻ trung, náo nức,
cái hùng tâm tráng chí lên đường của một thế hệ thanh niên đô thị những năm đầu
kháng Pháp.
Thì ra vẫn là một đám mây mang hình tráng sĩ phiêu bồng vào
trận mạc. Cả một lớp người trí thức đô thị xếp bút nghiên lên đường chinh chiến
sau mùa đông năm bốn sáu ấy trong cái nhìn của nhà thơ đều là những đám mây
mang hình tráng sĩ. Áng mây Quang Dũng hòa lẫn trong đội hình ấy.
Áng mây sà xuống cõi nhân gian.
Trong đời Quang Dũng có một nàng thơ vô cùng đẹp đẽ, đó là
"cô gái vườn ổi" - Em mãi là hai mươi tuổi. Cũng tại do cái máu
xê dịch giang hỗ viễn xứ mà "chàng" đã làm khổ người ta, để suốt đời
ân hận: Bỏ em anh đi - Đường hai mươi năm - Dài bao chia ly… Theo như nhà thơ
Trần Lê Văn cho biết "Quang Dũng có yêu một cô gái vườn ổi vì nhà cô có một
vườn ổi thơm nức mùa hoa mùa quả. Cô thuộc một dòng họ quý tộc nhưng lại tân tiến
như những cô gái tân tiến kiểu mẫu trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thời ấy (…).
Về nhan sắc thì những bức tranh thiếu nữ của Tô Ngọc Vân hiện nay còn để lại có
thể cho ta một hình ảnh của cô: dịu dàng, tươi mát, dễ làm cho người ta lâng
lâng say. Quang Dũng thanh niên xuất hiện ở vườn ổi, gây chấn động trong tâm hồn
cô gái" (2). Cũng nhà thơ Trần Lê Văn cho
biết, có lần gặp lại người xưa, Quang Dũng viết ba bài thơ liền, một bài có tên
là Vườn ổi, hai bài Không đề. Đọc bài Không đề lòng không
khỏi ngậm ngùi:
Sông ơi! Dài sao
Rộng ơi! Biển cả
Thôi em nước mắt
Đừng rơi lã chã
Nhưng đó quả là một mối tình đẹp đến mức thành cổ điển, nghĩa
là muối mặn gừng cay đấy, nhưng vô cùng thanh khiết, cao quý. Thôi thì chẳng có
được nhau trong đời, hãy "Giữ trọn tình người cho đẹp". Đó
là một mối tình thơ, không gợn một chút nào tục luỵ. Đó là áng mây trắng tình
yêu che mát cho hai tâm hồn cách trở. Trong đời hễ ai có được một mối tình như
Quang Dũng, tôi tin họ sẽ sống đẹp lên, tốt lên nhiều lắm. Đôi người ấy, tuy rất
xa nhau, nhưng luôn biết vì nhau mà gìn giữ, sống sao cho đẹp, "Cho đành
lòng kẻ chân mây cuối trời".
Nhưng cõi nhân gian này không phải chỉ có toàn những điều tốt
đẹp. Do thời tiết chính trị một thời, nên những câu thơ đẹp một cách vô tội,
nghĩa là vô cùng hiền lành, tình tứ cũng bị quy cho là tiêu cực. Thí dụ: Đêm
mơ Hà Nội dáng kiều thơm. Hay như bài thơ Lính râu ria cũng chịu
chung số phận. Bài thơ tả anh lính xa nhà, một hôm ra quán hàng gặp chị chủ
quán vừa ôm con nhỏ vừa bán hàng, người lính bế đứa bé giùm, lòng tràn ngập yêu
thương, bỗng chạnh nhớ vợ con mình. Thế rồi người lính mua một chút rượu để giải
sầu:
Chị ơi! Ly rượu nhỏ
Rượu nhỏ một ly thôi
Một ly cho đỏ mặt
Cho lên hương cuộc đời
Còn hình ảnh cô bán quán thì:
Khi anh đã về xa
Chị dọn hàng đi ngủ
Chép miệng trong hơi chăn
Chị buồn chi không rõ.
Thơ Quang Dũng cứ đi vào những tâm hồn tinh tế, thăm thẳm như
thế nên bị cho là phức tạp là phải. Bước vào cuộc kháng chiến cái gì cũng cần mạch
lạc, đơn giản, càng đơn giản càng tốt. Ngày ấy nó thế! Người ta khoanh những
vùng kiêng kỵ như tình yêu, nỗi buồn, cái chết, những khoái thú cá nhân… Thế là,
từ bấy trở đi, suốt đời con người này bị nghi kỵ, được dùng đấy nhưng không bao
giờ được tin, bởi người ta không tin cái người quen hưởng thụ, tiểu tư sản như
vậy! Đã thế lại còn có một thời gian lần mò sang tận Trung Quốc, rồi mang cái dớp
Quốc dân đảng nữa chứ (3). Đến khổ. Thật là tình ngay lý gian. Tai
bay vạ gió. Kêu ai cho thấu? Cũng là tại cái phận mây trắng cả. Chả biết tự vệ
là thế nào. Chỉ biết phiêu du và thả thơ vào giữa mây trời.
Nhà văn Thanh Châu, năm nay cụ đã 94 tuổi ta, cũng là chỗ bạn
thân của Quang Dũng, có lần kể cho tôi nghe một câu chuyện tôi không bao giờ
quên được. Số là ngày ấy các gia đình viên chức đều phải có sổ gạo, tức là sổ cấp
cho từng hộ gia đình để đi mua gạo theo tiêu chuẩn nhà nước hàng tháng. Người
ta gìn giữ sổ gạo cẩn trọng hơn cả giữ vàng.Vì lý do nào đó mà chẳng may mất sổ
gạo thì thật là tai hoạ, rất lâu mới có thể làm lại được bởi tệ giấy tờ, tệ
quan liêu "hành là chính", và như thế có thể phải đi chạy gạo, vay ăn
từng bữa (cái bi kịch này được đúc vào trong một câu tục ngữ mà đến
nay vẫn nhiều người con nhớ: Mặt nghệt như mất sổ gạo). Các gia đình khác cũng
có nhiều nhặn gì đâu, cũng theo sổ gạo, nên dù thương bạn đến mấy cũng chẳng có
mà cho vay mãi. Đành đi mua gạo chui đắt đỏ hơn vàng. Ấy thế mà Quang Dũng do
cái tính đãng trí nên có lần đã đánh mất sổ gạo. Thật là hoạ vô đơn chí. Mất sổ
gạo thì đành ăn ít đi, vay giật tạm rồi tìm cách làm lại sổ. Thôi thì bao nhiêu
gánh nặng áo cơm vốn đã cơ hàn giờ đây lại dồn vào người vợ. Bà phải gồng lên
kiếm tiền nuôi chồng và ba đứa con nay đau mai ốm. Quang Dũng đau khổ, thương vợ
nhưng chả có cách nào giúp vợ. Ngày ấy người ta nhìn thấy ông người cao lênh
khênh, tóc trắng bồng bềnh, đẹp lão không để đâu cho hết, hôm nào cũng vậy,
khoác trên lưng một cái bao tải to từ công viên bước đi trong tư thế chui chúi
lao về phía trước lặng lẽ trên đường trở về nhà lúc chừng sáu giờ sáng. Hoá ra
ông đi bộ dưỡng sinh ngoài công viên, rồi tranh thủ quét lá khô mang về đun, để
đỡ tiền mua chất đốt. Hóa ra ông làm thế như nhằm cái ý chuộc lỗi với vợ con,
như một sự trừng phạt chính mình. Tráng sĩ ơi, tráng sĩ giờ đây đã rụng kiếm
gãy cung, trông như một tiều phu u uất. Thương thay!
Cũng kỳ lạ thay, con người ấy vẫn vô cùng yêu tin và tha thiết
với cuộc đời. Vẫn cứ nhìn ra và động lòng cái cảnh:
Bên kia cửa sổ
Cô gái chưa chồng
Vừa tiễn người yêu
Lại lên giọng hát
"Người yêu say đắm hơn hoa mùa xuân"
Cũng như bao lần
Tiếng hát làm tôi rạo rực
Bâng khuâng thấy nhiều ước mộng
Và thấy đẹp làm sao
Cuộc đời to rộng…
Không một bầm dập nào, một dung tục nào có thể làm suy suyển
lòng yêu, lòng mê say cuộc sống của Quang Dũng. Ông vẫn làm một áng mây ôm ấp
tình yêu, ấp yêu khung cảnh đời thường. Đám mây ấy vẫn là Mây ở đầu ô lang
thang, và vẫn khát vọng Hẹn những chân trời xa lạ. Không gì có thể làm
cho con người thôi khát vọng. Ở người nghệ sĩ lớn như Quang Dũng còn là những
khát vọng đẹp và lớn.
Mây trắng về trời
Rồi thì ai cũng đến lúc phải lìa cõi sống. Đám mây trắng xứ
Đoài chẳng may gặp cơn bạo bệnh. Tráng sĩ nằm trong bệnh viện râu tóc, áo sống
một màu trắng tinh, ngỡ tưởng đám mây trắng sà vào phòng bất chợt. Mấy tháng đầu
ông không nói được. Chỉ nhìn vợ con, bạn bè và khóc. Mấy tháng sau, ông lại chỉ
có cười, cái cười trẻ thơ, hài đồng, tinh khôi vô kể. Rồi đến một lần,
ông đưa đôi mắt dịu dàng nhìn vợ con lần cuối, xong rồi ông dừng lại ở gương mặt
người bạn thơ thân thiết Trần Lê Văn, tự nhiên ông nói được hai tiếng: "ông
Văn!", nói xong liền tắt thở. Ông đã ra đi vĩnh viễn. Hồn thi nhân đã
thành áng mây trắng thoát xác về trời. Điều kỳ lạ là, ánh nhìn cuối cùng không
dừng ở chỗ nào mà lại dừng vào gương mặt bạn thơ, có phải ông đã không quên đem
theo về cõi vĩnh hằng một thế giới thơ ca, một nghiệp chướng thơ ca mà ông
không thể dứt, mà ông đã từng hạnh phúc, khổ đau, hứng chịu nhiều hệ
luỵ vì nó. Ấy là thoạt tiên nghĩ thế, nhưng nghĩ lại cũng chưa chắc. Một con
người có cái đức đãng trí, cũng lại là một người làm thơ chả bao giờ có ý thức
vun quén, tạo dựng cho mình cái gọi là sự nghiệp bao giờ, thế thì khi về cõi
bên kia chắc gì ông đã nhớ ra là mang theo thơ phú đi cùng!… Có thể nói trong nền
thi ca Việt Nam hiện đại, ít có người nghệ sĩ nào làm nghệ thuật một
cách vô tư, siêu thoát, "tiên thi" đến thế. Bao nhiêu thơ
phú, tranh vẽ, bài hát mà ông sáng tác cứ vương vãi tận đẩu đâu, không bao giờ
nhớ, không bao giờ có ý sưu tập lại. Đến nỗi, khi nhà thơ Trần Lê Văn đứng ra
làm cho tập thơ riêng và cái tuyển, ông đi lục tìm, gom nhặt như tìm di cảo của
người đã khuất (Xem Lời giới thiệu trong Tuyển tập Quang Dũng, Sđd).
Cứ lãng đãng mây trời như thế mà lại thành sự nghiệp. Ngược lại, có những người
cứ chăm chắm xây xây đắp đắp, tô son điểm phấn cho mình mà đâu có vị trí gì.
Nhìn bằng con mắt nghề nghiệp, dẫu sao Quang Dũng cũng là người sung sướng.
Không thể nói là đã có một sự nghiệp bề thế, số lượng văn phẩm thì cũng thường
thường, ấy thế mà Quang Dũng cứ có một chỗ đứng chắc nịch trong nền thơ ca hiện
đại. Cái tình thơ và cái tài thơ quyết định tất cả. Chẳng biết những ý nghĩ cuối
cùng của thi nhân là gì, nhưng có lẽ điều này là có thực: ông tiếc cõi sống, tiếc
cõi thơ, tiếc không còn được làm áng mây trắng bay giữa nhân quần cùng đất nước,
tiếc phải vĩnh viễn xa lìa hết thảy. Tôi tin rằng, nếu ở thế giới bên kia được
làm lại từ đầu, Quang Dũng lại chọn làm người thơ, làm nghệ sĩ. Không thể khác.
Thì đã bảo Quang Dũng là người thích đi, say đi, hễ có dịp là
đi, thời gian xa nhà nhiều hơn những lúc ở nhà. Có những trận ốm đau,
ông vẫn còn rời nhà vào tận Lâm Đồng, nơi cô con gái dạy học, mà vào đến hai lần.
Lời bài hát trong nhạc phẩm Ba Vì của Quang Dũng có câu:
Giang hồ ngừng bước nhớ nhung Ba Vì ơi
Nhà thơ Trần Lê Văn còn bảo: "Cái máu giang hồ của nhà thơ
chuyển sang cả "những chiếc ngựa bờm dài":
Hất đầu lắc nhạc
Hí lên từng hồi
Phất đuôi mừng khởi hành"
(Xem Lời giới thiệu trong Tuyển tập Quang Dũng,
Sđd).
Sau này Quang Dũng có viết khá nhiều truyện ký in thành các tập: Nhà
đồi, Làng đồi đánh giặc, Một chặng đường Cao Bắc… trong đó có những áng văn rất
đẹp, đẹp như những bài thơ: Hoa lại vàng tháng Chạp, Quê trung du, Nhà đồi,
Mùa quả cọ... Ở văn xuôi, vẫn hiện lên một Quang Dũng nhất quán: ham đi, đi để
thỏa lòng yêu vô bờ đối với con người và cuộc sống. Toàn những truyện nhớ nhung
ân nghĩa cả. Nổi lên một vùng đồi, nơi đó có những người nông dân chân lấm tay
bùn, nhưng tấm lòng vô cùng đôn hậu, yêu quý bộ đội, yêu quý con người. Nơi đó
có những ngô luộc, lạc luộc, cá kho gừng, cơm nếp, rượu gạo, nương chè, nhà tre
mái rạ, tường đất đá ong, giàn mướp, giếng đồi… và cả cái thổ âm không có thanh
huyền không thể nào lẫn, không thể nào quên được của một vùng Ba
Vì nồng hậu. Đấy, sống ở giữa một nơi Ôi chật làm sao - Góc phố
phường, con người vốn khoáng hoạt ấy không chịu nổi, cứ lại đi về một vùng quê
tuổi thơ bên dòng sông Đáy, nơi ấy có Đôi mắt người Sơn Tây - U ẩn chiều
lưu lạc - Buồn viễn xứ khôn khuây; có Mắt em như giếng nước thôn
làng; nơi những năm bom đạn, Quang Dũng đã cất lên lòng yêu da diết, yêu đến
xót đau:
Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng
Ôi, cái vùng quê thanh bình, óng ả, thơm tho biết bao. Thơ
Quang Dũng có rất nhiều địa danh, bởi hễ cứ đi đến đâu là gắn bó ở đấy, nhớ
nhung về đấy, là quê hương mãi đấy. Tây Tiến, Những làng đi qua là vậy.
Nhưng các địa danh nhiều nhất vẫn là vùng xứ Đoài mây trắng quê hương. Nào là Bất
Bạt, Bương Cấn, Sài Sơn, Phủ Quốc, Ba Vì, sông Đáy, Tích Giang, Vật Lại… Nhà thơ
có tài chuyển hoá những địa danh bình thường, quê kiểng như mọi vùng quê khác
thành những tên thơ. Một không gian xứ Đoài nghèo khó mà nhân hậu qua Quang
Dũng thành một không gian thơ tình tứ, quyến luyến vô cùng. Phải có tâm hồn lớn,
một tài thơ lớn mới có thể nhào nặn những chất liệu thô ráp của đời sống thành
chất liệu thơ ca. Điều vừa nói ở trên không phải nhà thơ nào cũng muốn là được.
Những cái tên vùng, tên đất trong thơ Quang Dũng là những hoá thân từ một tên
chung: Đất Nước.
Lại một lần, "theo gót chân giang hồ", Quang Dũng
có một đêm trên đất Bạch Hạc - Việt Trì. Chẳng biết gặp gỡ những gì, khói sương
Liêu Trai mộng mị thế nào mà ông để lại một bài thơ rất đẹp. Xin chép ra đây để
bạn đọc cùng thưởng lãm, cũng như là thay lời kết cho bài viết này:
ĐÊM BẠCH HẠC (4)
Có những chiếc giường lạ
Nhìn ra mảnh sân nào
Nửa đêm chợt thức giấc
Thấy ta nằm ở đâu
Như cánh chim mỏi cánh
Tạt vào rừng không quen
Không chọn cành ngủ đỗ
Nào mong gì ấm êm
Đêm nay đêm Bạch Hạc
Ta lạc vào nhà ai
Nghe sông Lô cuộn nước
Duềnh lên suốt đêm dài
Sớm mai rồi tiễn biệt
Tóc đẹp nhường bâng khuâng
Một đêm dài để nhớ
Những người xa vô cùng
Mái nhà đêm Bạch Hạc
Có nhớ người đi không
(Việt Bắc, 1967)
Vẫn hiện nguyên hình một bản chất mây: phiêu du tới những
chân trời xa lạ. Đã mang kiếp thi nhân, mỗi lần lang thang chân trời góc bể mà
bắt được một bài thơ đẹp đến nhường này thì khối người thèm muốn mà không có. Lần
này thì áng mây trắng xứ Đoài Quang Dũng bị bắt quả tang: một mái tóc đẹp nào
đấy níu áng mây đậu lại. Chẳng qua cũng một nòi tình. Cái gien tình
xứ Đoài có tính di truyền đã từ Tản Đà chảy mạnh mẽ trong hồn Quang Dũng.
Bây giờ thì áng mây trắng Xứ Đoài Quang Dũng vẫn cứ lãng đãng
ngang trời, phủ một bóng mát lớn xuống nền thơ Việt Nam hiện đại.
Chú thích:
(1) Mây trắng, mây Hàng được hiểu là cha mẹ, quê nhà.
"Theo Đường thư, Địch Nhân Kiệt làm quan ở Tinh Châu, một hôm lên núi Thái
Hàng du ngoạn, ngắm nhìn làn mây trắng ở xa, nói với người đi theo rằng: Nhà
cha mẹ ta ở dưới đám mây trăng đó!" (Đặng Đức Siêu, Ngữ liệu văn học,
Nxb GD, 1999)
(2) Xem Tuyển tập Quang Dũng, Trần Lê Văn sưu tầm,
tuyển chọn, giới thiệu, Nxb Văn học, 2000.
(3) Theo như tài liệu của nhà nghiên cứu phê bình Nguyễn
Đăng Manh, dẫn lời Đỗ Chu cho biết về cái máu giang hồ của Quang Dũng:
"Rồi lại mê cách mạng, thích làm cách mạng. Nhưng không biết cách mạng ở
đâu. Nghe đồn cách mạng ở bên Tàu, bèn lần mò sang. Không may gặp phải đám Quốc
dân đảng đóng trụ sở hẳn hoi. Thế là đi theo. Ở với họ một thời gian, thấy sinh
hoạt chẳng có vẻ cách mạng gì cả lại quay trở về nước. Sau đó theo bộ đội ta
đánh giặc. Chiến đấu cũng dũng cảm lắm. Người ta bèn tính kết nạp vào Đảng. Ông
ấy khai lý lịch là đã ăn ở một thời gian với Quốc dân đảng. Thế là hỏng và cái
lý lịch tai hại ấy cứ theo đuổi ông ấy mãi về sau này…" (Trích từ
bài Quang Dũng người thơ, in trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện
đại- chân dung và phong cách, Nxb TPHCM, 2000).
(4) Bài thơ này chưa có trong bất cứ một tuyển nào của
Quang Dũng. Tôi là người chép lại bài thơ này từ sổ tay tư liệu của nhà thơ
Châu Hồng Thủy vào quãng năm 90 của thế kỷ XX, khi anh đang theo học
ở Trường viết văn Nguyễn Du để chuẩn bị sang học Trường viết văn M.Gorki - Liên
Xô cũ.
Tết mùng Năm tháng Năm Ất Dậu.
(In trong Viết cùng bạn viết, NXB HNV, 2005)
14/10/2010Văn Giá
Vợ và con trai của nhà thơ Quang Dũng
Nhà thơ Quang Dũng thời Tây Tiến - Bút tích của Quang
Dũng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét