Thứ Ba, 29 tháng 10, 2024

Truyện ngắn của hội viên mới Phan Đức Nam

Truyện ngắn của
hội viên mới Phan Đức Nam

Phan Đức Nam quê ở Tiền Hải, Thái Bình hiện sống và làm việc tại Bình Dương, TPHCM, Vĩnh Long. Ngoài viết văn anh còn là họa sĩ vẽ tranh và thiết kế bìa sách.
Nhà văn Phan Đức Nam đã xuất bản các tập truyện ngắn Những bức họa của quỷ (1994), Mối tình đầu (1995), Trong đầm thuồng luồng (2002), Đất lành (2004), Gió lạ (2008), Người đẹp xứ hữu nhân (2007), Chim phí còn bay (2008), Hoa lửa (2009), Đốm lửa (2009), Valentine mù sương (2010), Trời rộng sông dài (2011), Sâu thẳm mắt người (2012), Ma chữ (2017), Tím một đời sim (2021) và các tiểu thuyết, truyện dài: Hoa phù dung (1991), Chuyện tình hoa hậu (1992), Sói biển (truyện dài thiếu nhi 1995), Sư tử bạt (tiểu thuyết dã sử dân gian – tái bản lần 5 – 1995), Bóng dáng hạnh phúc (2004), Nơi trái tim ở lại (2006), Tuổi thơ dũng sĩ (2011), Bông hoa trên tuyến lửa (2013), Điệp viên đất thủ (2014), Ngọc rắn (2015), Bóng ma covid (2022).
Năm 1991-1992, anh đạt Giải thưởng Truyện ngắn hay Hội Nhà văn TP.HCM và Tạp chí Văn cho truyện Cỗ ngai, Giải thưởng Văn học thiếu nhi (1993-1995) Hội Nhà văn Việt Nam và NXB Kim Đồng truyện vừa Sói biển, Giải thưởng Truyện ngắn hay báo Tuổi trẻ (1999) với Xóm đêm, Tặng thưởng truyện ngắn hay báo Văn Nghệ (2001) với Đất lành, Giải thưởng Truyện ngắn hay viết về Chiến khu Đ (2001) với Ông ba móng, Giải thưởng Bút ký văn học Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội (2002-2004) với truyện ký Chuyện nhỏ của ông bảy moọc chê, Tặng thưởng văn học 10 năm – lần hai (1995-2005) Bộ Công An và Hội Nhà văn Việt Nam tiểu thuyết Bóng dáng hạnh phúc và nhiều giải thưởng khác của các hội VHNT địa phương…
Nhà văn Phan Đức Nam được kếp nạp Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2023.
ÔNG TÔI
Kính ông Phan Chính Đán
Ông tôi rất mê thơ, đặc biệt thích Đường thi. Tôi nhớ mỗi sáng mùng một Tết, con cháu đến chúc tuổi ông, ông đều bắt mỗi người có chút văn chương làm một vài bài thơ khai bút – mà phải là Đường thi. Ai làm hay được ông thưởng, kém thì phạt ly rượu. Vì thế con cháu nhiều người phải chuẩn bị trước, có người nhờ làm thơ hộ rồi học thuộc lòng. Ông tôi còn cho cả điểm ngâm.
Ông tôi thường xuyên nhắc nhở: “Nhất tam ngũ bất luận. Nhị tứ lục phân minh. Hai câu Thực đối, hai câu Luận đối. Nhất thiết phải như thế”.
Tôi lớn lên, nhiều lần thấy ông xem thơ trong các báo rồi ném xuống giường: “Vậy mà cũng in được?”.
Ông nói với tôi: “Làm thơ như thế tao chỉ vẫy bút. Thơ phải có vần điệu, luật lệ bằng trắc đàng hoàng. Hỏng! Hỏng hết!” Ông vuốt râu: “Các cụ xưa mực thước tài hoa thâm thúy biết bao! Làm thơ niêm luật chặt chẽ mà hay mới là giỏi. Giờ nhiều nhố nhăng nên thơ cũng loạn”.
Thú thật thỉnh thoảng tôi cũng tập tành viết văn làm thơ, nhưng không dám khoe ông, cũng chẳng dám ý kiến, chỉ khoanh tay vâng dạ.
Sau bài giảng thế nào ông cũng xuất khẩu thành thơ. Xưa ông đỗ Tú tài, ứng đối giỏi và làm thơ Đường nhanh lắm. Uống xong tuần trà ông đã xong tám câu. Riêng tôi thấy… cổ quá, mà không dám nói, sợ ăn vài cái xe điếu.
Trong đám cháu, ông có vẻ thích tôi nhất. Ông làm được bài thơ nào cũng đọc cho tôi nghe, rồi hỏi: “Hay không?”. Dĩ nhiên tôi phải: “Thưa ông, hay lắm ạ”. Ông đắc chí gật gù, ngâm đi ngâm lại, bảo tôi chép thành nhiều bản (chứ không được photo) rồi lệnh: “Cháu làm báo, gửi hộ ông”.
Tôi cũng quen vài ông biên tập nhưng chưa dám đưa, vì biết đưa cũng khó được in. Lý do chính là báo ít đăng thơ Đường, nhất là viết theo lối cổ. Mà “sửa” thơ ông thì không dám.
Ông cứ hỏi mãi, tôi đành mượn oai ông biên tập nhỏ nhẹ thưa: “Biên tập đề nghị ông… thay chữ này…”. Thế là ông quát: “Không đăng thì thôi. Hừ! Dốt mà làm thầy!”
Sau đó ông nằng nặc đòi lại bản thảo, tự tay nắn nót chép lại – cũng có sửa chữa, rồi đích thân bỏ phong bì gửi báo khác.
Không nói ra nhưng tôi cũng muốn thử xem? Để ông… nhìn lại thơ mình…
Quả nhiên chẳng có báo nào in thơ ông cả.
Ông tôi buồn lắm! Xuống tinh thần hẳn. Lẩm bẩm mắng: “Bọn phải gió… múa gậy vườn hoang…” Ông chẳng thèm nói chuyện thơ văn với thằng cháu nhãi ranh như tôi nữa, mà thường lại nhà mấy ông bạn cố tri.
Chiều chiều, ông tôi tắm rửa, ăn vận sạch sẽ – trong túi có vài bài thơ mới làm, rồi thả bộ lại quán thơ nhạc (do một ông bạn yêu thơ làm chủ) để xướng đọc với nhau. Nhiều lần ông nhờ tôi chở đến, bảo: “Mày thích thì ngồi lại mà nghe”. Dĩ nhiên tôi phải ngồi lại. Ông không nói ra nhưng ngụ ý bảo thơ là phải như thế.
Ở quán thơ nhạc đó ông tôi như trẻ ra, sung sướng khi được người ta gọi là nhà thơ, là thi sĩ…
Ông tôi là nhà giáo nghèo về hưu, không có tiền in thơ như nhiều người khác, nên mỗi lần được bạn tặng tập thơ mới, ông cứ ngắm nghía vuốt ve, vẻ tư lự buồn buồn…
Nếu có tiền tôi sẽ lo in thơ ông. Tôi biết chỉ cần vài trăm bản, mỏng thôi, xin giấy phép ở nhà xuất bản danh tiếng cho oai, tốn tổng cộng vài triệu, là ông tôi sẽ thành… nhà thơ, không phải thua kém bạn bè.
Dĩ nhiên thơ không phải để bán mà chỉ dành tặng, giá trị hơn cardvisit nhiều.
Tôi nói để ông vui: “Cháu nghĩ thơ được chọn đăng mới hay ông ạ. Nhất là đăng ở các báo lớn…” Ông gật gù, than: “Nhưng nó có in thơ tao đâu!?” – Rồi trầm tư, bảo tôi – “Nghe này: Có thể cháu nghĩ là ông háo danh. Thật ra chỉ đôi chút. Cái chính là ông muốn lưu và khơi lại tinh thần hoài cổ.”
Một hôm, không hiểu ai mách mà ông gọi tôi lại, đưa tờ báo có đăng bài thơ của tôi, nói như trách: “Mày có thơ đăng đấy. Thế mà giấu? Hay nhỉ?” Tôi lúng túng… gãi đầu: “Thưa ông, con cũng không ngờ… lại may như thế…” – “Thôi đi! Mày làm ở tòa báo, tham gia Hội Văn nghệ, quen biết nên mới được ưu tiên. Thế mà nói không có quyền?” – “Thưa đây không phải báo con làm ạ……” – “Đúng. Thơ đăng ở báo mình thì cũng thường thôi. Nhưng chúng mày quen nhau, bốc nhau. Tao lạ gì nữa? Nó đăng thơ mày, mày đăng thơ nó – Một giuộc cả!”
Biết ông đang giận, tôi kiếm cớ chuồn.
Sau trận đó, tôi sợ và tránh gặp ông.
Nhưng chỉ vài hôm sau, ông gọi tôi lại, nói: “Tao ngẫm thấy mày làm thơ cũng được đấy. Dẫu sao cũng con nhà tông. Còn bài nào được in thì đưa ông xem?”
Sau, tôi được biết ông đem khoe với bạn rằng có thằng cháu làm thơ được in báo.
Gần Tết năm đó, ông tôi đột nhiên ốm nặng. Ông cho gọi tôi lại, chỉ vào tủ, thều thào: “Thơ ông… trong đó… Nếu đăng được… thì đăng… Còn không… sau này có tiền… nhớ in cho ông…”.
Tôi hứa, rồi ôm bản thảo thơ ông mà khóc.
Ôi phải chi tôi có phép, có tiền, hay có quyền, để kịp in thơ ông trước khi ông mất.
Tôi chạy lại anh bạn – có phần hùn làm một tờ báo hơi… lá cải. Tôi kể chuyện ông rồi năn nỉ: “Ông tớ không cần nhuận bút… Tốn bao nhiêu tớ chịu…” Ông bạn nhăn mặt ậm ờ.
May sao tôi xin được cái quảng cáo cho báo anh, đề nghị không hưởng phần trăm, anh mới chịu đăng, còn nói: “Phải gác bài của tớ lại đấy”.
Tôi phóng ngay về báo tin cho ông. Ông tôi đang mê man, đổ sâm cũng không tỉnh. Thế mà khi tôi vừa khóc vừa lay, kề tai ông nói: “ Ông ơi, ông tỉnh lại đi. Thơ ông sắp đăng rồi! Sắp đăng rồi!” Thì lạ thay ông mở bừng mắt, đôi môi khô ấp úng: “Thật… không?…” Tôi nắm chặt tay ông, gật mạnh: “Họ đang ra nhũ” Ông mỉm cười: “Giỏi!… Giỏi!…” Rồi nhắm mắt lại, hai giọt lệ tràn ra khóe mắt. “Báo sắp ra rồi ông ạ” – Tôi quả quyết. Ông thều thào: “Thế à?… Hôm… nào ra?…” – “Chỉ vài hôm nữa thôi. Con sẽ thúc họ in nhanh” Rồi cầm nón đứng lên: “Ông ăn hết bát cháo. Để con chạy đi lấy bản in thử về ông xem…”
Khi tôi cầm bản in thử có bài thơ của ông về, thì thấy ông đã kê gối gượng dậy chờ. Tôi vội trình trước mặt ông, đọc to cho ông nghe. Ông run run đòi đeo kính, mở to mắt nhìn trân trân những hàng chữ… Rồi ôm chặt bài thơ của mình vào ngực, nhòa lệ nhìn tôi: “Cảm ơn cháu… Cho ông uống nước…”
Như có phép lạ, Tết ấy ông qua khỏi và sống thêm được ba xuân nữa. Ông bảo đã thoát qua năm hạn.
Trong quãng thời gian này, ông tôi rất chịu khó học hỏi và say mê làm thơ. Ông biết tôi không đủ điều kiện mua nhiều sách báo, nên tự cắt bớt lương hưu mình đăng ký mua một lô báo văn chương, như báo Văn nghệ, Văn nghệ thành phố, Văn nghệ quân đội. Sông Hương, Văn…
“Những bài báo này hay và đứng đắn. Đọc được.” – Ông bảo, rồi trách tôi: “Sao trước đây mày không nói để ông biết?”
Cứ đến ngày báo gửi đến, ông ra hiên ngồi thấp thỏm… Khi mở báo ra ông xem thơ đầu tiên, rồi gật gù, lắc đầu, suy nghĩ…
Trong quãng thời gian này báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh mở mục thơ Đường. Ông tôi làm thơ có hay hơn, hăng hái gửi, và được đăng vài bài. Ôi, khi thơ của ông được đăng thì hay lắm! Vui lắm! Ông gần như reo lên, cả nhà hôm ấy thế nào cũng được ông khao. Ông nhịn ăn mua cả chục tờ báo tặng bạn bè. Ông cao hứng làm cả thơ mới, giờ đã khen: “Tụi trẻ hay thật! Hay thật!”.
Lần cuối, ông nói với tôi: “Ông đã có vài bài thơ để lại cho con cháu. Thế là vui rồi. Giờ ông chẳng cần in cả tập thơ đâu cháu ạ. Cháu dành tiền mà nuôi con.”
Tôi biết thơ đang nuôi dưỡng nhiều người, nhất là mặt tâm hồn. Có thể nhiều người đánh giá thơ ông tôi không được hay lắm, nhưng với tôi nó vô cùng kỳ diệu! Kỳ diệu nhất là thơ đã chảy, đã thổi vào thân thể đang buông xuôi khô kéo một dòng nhựa hồi sinh tươi mới, lòng ham sống, thiết tha với cuộc đời, giúp ông tôi sống vui sống đẹp.
Ông tôi mất đã gần nửa năm rồi mà những tờ báo và tạp chí ông yêu vẫn tiếp tục gửi đến. Tôi ôm những tờ báo ấy vào lòng, nhớ ông mà rưng rưng nước mắt.
BÓNG BAY
Nguyên bơm một loạt bong bóng, chàng chấm màu và thoăn thoắt vẽ, những nét cọ càng nhanh càng tự nhiên, màu sắc pha kim nhũ lóng lánh đẹp không ngờ.
Nguyên nhớ lại cách đây ba tháng, trên đường về ký túc xá, anh gặp hai ông cháu bán bong bóng bay. Cô gái có khuôn mặt đẹp và phúc hậu như Đức Bà Maria, nhưng sao đôi mắt cô buồn quá? Là họa sĩ, thích những nét đặc biệt, anh kín đáo ngắm cô.
Ông cháu họ có vẻ ế, chùm bong bóng bay còn đầy, nhiều trái bắt đầu xuống hơi bay là đà. Nguyên nhớ túi mình còn mười ngàn, anh mua hai trái bóng bốn ngàn, coi như nhịn suất cơm bình dân.
“Chắc họ nghĩ mình mua cho ai…” – Nguyên mỉm cười nghĩ, rồi cầm dây bóng bước đi. Linh cảm cô gái nhìn theo, anh chợt quay lại, quả nhiên bắt gặp, cô lúng túng đỏ mặt… Nguyên mỉm cười cố nhớ một nét môi.
Bước vào phòng mình, Nguyên pha màu và bắt đầu vẽ bóng.
Một lúc sau, anh đem hai quả bóng chưa ráo màu ra đường. Hai ông cháu vẫn còn đó, họ ngạc nhiên nhìn anh cùng những quả bóng vẽ.
Nguyên cười: “Bác bơm lên… bán thử ?…”
Ông lão mở to mắt nhìn anh, xuýt xoa: “Ồ đẹp quá! Cảm ơn cậu… Thế… bán bao nhiêu đây?” – “Tùy bác. Màu chẳng tốn mấy đâu.” – “Nhưng còn công?” – “Chẳng đáng bao nhiêu…”
Cô gái sau phút ngượng ngập đã lấy lại tự nhiên, có vẻ phục tài chàng trai. Nguyên ý tứ đứng chếch phía sau để có thể ngắm được sóng mũi cao thanh của cô gái.
Hai trái bóng Nguyên vẽ nổi bật giữa chùm bóng bay. Vài người dừng lại. Nguyên hút chưa xong điếu thuốc thì hai trái bóng vẽ đã bán hết, giá gấp bốn lần bóng chưa vẽ. Nguyên ngẫm thấy lời lắm.
Anh tiến lại phía xe, đề nghị: “Bác đưa bóng để cháu vẽ tiếp. Nhanh thôi.”
Ông già mừng rỡ gật đầu. Cô gái nhanh tay bơm thêm bóng.
Thế là họ quen nhau, hình thành một tổ làm ăn tốt đẹp.
Ông già nói: “Cậu cứ ở nhà vẽ, ông cháu tôi đi bán cho, lời chia đôi. Cậu có chịu thế thì  ông cháu tôi mới dám.” – “Ồ không, bột màu có đáng gì đâu…” – “Công mới giá trị chứ. Cậu giúp ông cháu tôi, nhưng…”
Cuối cùng họ thỏa thuận chia ba.
“Như thế mới hợp lý – Nguyên nói – mình ba người cơ mà.”
Từ đó, rảnh rỗi là Nguyên dùng ống bơm xe đạp thổi bóng lên, rồi vẽ, chờ khô màu mới xì hơi ra. Sáng mai không ông An thì Mỵ đến lấy, chỉ việc bơm khí Nitơ lỏng vào là bán. Ông An chọn mua bóng tốt để độ dai bền lâu.
Thu nhập họ khá hẳn lên. Nguyên vẽ ngày càng nhanh và sắc sảo, anh thích thú nghĩ: “Mình vừa luyện nghề vừa có tiền. Thích thật!”.
Ông An cao hứng bắt chước Nguyên vẽ vài kiểu “ruột”. Ông nói với anh: “Để lúc thiếu bóng, tôi vẽ thêm.”
Nguyên khen: “Bác có hoa tay đấy.” – “Ồ! Chỉ múa rìu qua mắt thợ.” – “Trăm hay không bằng tay quen bác ơi.”
Có tiếng gõ cửa, giọng Mỵ như hát: “Anh Nguyên ơi!…”
Nguyên mừng rỡ quay ra: “Mỵ đó à? Cứ đẩy cửa vào đi.”
Mỵ ào vào, hớn hở: “Có một ông đặt đôi bóng lớn vẽ hình người đẹp, giá hai mươi ngàn đồng một cặp. Nội em không vẽ được, em phải hẹn đến mai.” – “Tưởng gì? Dễ thôi!”
Nguyên hăng hái vẽ ngay. Mỵ ngồi sát bên chăm chú xem, hơi thở ấm phả bên má anh, đôi mi dài chơm chớp…
Gương mặt trái xoan phúc hậu Đức Bà Maria… Đôi mắt buồn…
Mỵ giật mình: “Ồ! Sao giống em thế?”
Nguyên làm bộ: “Vậy sao?”
Mỵ xấu hổ chơm chớp đôi mắt, sung sướng cầm dây bóng bước đi.
Chiều hôm sau Mỵ về, lại khoe: “Ông khách thích quá, đặt thêm mười quả bóng nữa để tặng bạn bè. Nội em nói vẽ lâu lắm. Ông ta hứa tăng năm ngàn đồng một bóng.”
Nguyên gật đầu: “Thế thì vẽ.”
Nguyên nắn nót cho xứng với giá tiền. Anh nghĩ đây là một khách xộp yêu nghệ thuật, biết đâu ông ta sẽ giới thiệu những người khác.
Nguyên dặn Mỵ không nên lấy giá cao hơn.
Cho đến một trưa, Nguyên đang nấu cơm thì thấy ông An thất thểu dắt xe đạp treo đầy bóng đi vào. Ông lắc đầu lẳng chiếc xe vào tường:
– Cậu Nguyên ơi, Mỵ đi theo ông khách đó rồi! Khổ thật! Con bé dại quá!…
Những trái bóng tuột dây bay bổng lên trời. Nguyên ngơ ngẩn nhìn theo…
Hai người bổ đi tìm Mỵ nhưng nàng vẫn bặt tăm, như  trái bóng tuột dây bay lẫn vào trời mây…
Ông An thương cháu bỏ cả ăn uống và bán bóng, suốt ngày cứ lang thang khắp các ngõ phố tìm Mỵ.
Thời gian ấy Nguyên không học được, không vẽ được.
Sau đó một tuần, ông An ốm nặng, Nguyên tận tình thang thuốc nhưng ông cứ kiệt dần. Ông cầm tay Nguyên ứa nước mắt: “Cậu Nguyên… ráng kiếm nó…”
Hôm sau ông qua đời. Nguyên càng bơ vơ hụt hẫng.
Anh đối diện với chính mình, cảm thấy hổ thẹn với cái sĩ diện hão: “Mình… nhát quá! Còn xấu hổ không dám đi bán bóng! Mất nàng là phải”.
Sáng hôm sau Nguyên quyết định tự mình xách xe đi bán bóng, mục đích chính là tìm Mỵ dù biết rất ít hy vọng.
Giờ đây, nét cọ anh không còn linh hoạt tươi vui nữa, màu sắc cũng buồn úa như lòng anh. Nguyên cũng không muốn vẽ những cô gái đẹp.
Mỵ thất thểu bước, nàng mệt nhọc ngồi xuống một băng ghế đá rồi nhìn xuống dòng sông. Sông cuộn chảy, những hồi ức đau xót cuộn chảy. Lục bình trôi, lang thang, vô định…
Gương mặt gã giàu có sở khanh nhếch môi cười khi nghe nàng hân hoan báo tin vừa mang thai…
“Thế à? Anh sẽ đưa em đến bác sĩ quen để thăm thai”.
Vị bác sĩ quen ấy chích cho nàng mũi thuốc. Trong lúc nửa mê nửa tỉnh nàng nghe tiếng người tình nói với bác sĩ “Phá đi”. Nàng gượng dậy: “Sao anh?” Hắn lườm mắt: “Lấy gì nuôi?” Rồi lạnh lùng bước ra cửa.
Lúc ấy Mỵ chỉ muốn chết.
Sau đó, bác sĩ khuyên nàng: “Cô cứ nằm đây nghỉ. Chốc nữa anh ấy sẽ đến đón”. Mỵ lắc đầu: “Cảm ơn bác sĩ, tôi tự về được”. Bác sĩ ái ngại đưa nàng ra cửa, ông khuyên: “Ai cũng ít nhiều vấp ngã, sau đó hãy vững vàng đứng lên”.
Trên taxi, nàng nghĩ: Mình chỉ là đồ chơi của hắn! Khốn nạn thật! Nội ơi! Anh Nguyên ơi!
Mỵ chẳng biết về đâu? Mỵ nhìn dòng sông đục ngầu, dòng sông đời nàng, sông trôi làm sao quay trở lại? Sông ơi! Cuốn tôi đi…
Chính giây phút Mỵ định trầm mình thì bỗng một trái bóng đỏ lăn đến sát chân nàng. Rồi một bé trai  khoảng ba tuổi mủm mỉm chạy theo chụp bóng, nó sà luôn vào lòng nàng…
Ôi bong bóng!… Trẻ thơ!… Niềm vui sống!…
Mỵ khát khao muốn nhìn lại ông nội, muốn nhìn lại Nguyên, trước lúc nàng từ giã cõi đời… Nước mắt Mỵ ứa ra, nàng đứng lên, gọi xe đến ký túc xá quen thuộc. Mỵ nghĩ chiều chiều ông nội sẽ ghé qua chỗ Nguyên, nàng nấp sau một gốc me và mong thấy mặt cả hai người thân yêu.
Nhưng rồi Mỵ chỉ thấy mỗi Nguyên dắt chiếc xe đạp của nội về, trên xe còn ba quả bóng, Nguyên gầy và buồn.
Mỵ cắn răng, gục mặt vào thân cây khóc tức tưởi: “Anh Nguyên ơi, tha lỗi cho em!…”
“Nội đâu rồi? Có đau bệnh gì không? Hay?”… Nàng ôm ngực lo lắng, nhưng không dám chạy đến hỏi Nguyên.
Nàng xấu hổ không dám quay về xóm cũ. Cuối cùng, Mỵ nghĩ hôm sau sẽ dõi theo Nguyên lần nữa, lúc ấy sẽ tính…
Thằng bé bán báo nói với Nguyên: “Anh bán cho em quả bóng.”
Nguyên hỏi: “Em thích bóng nào?”
Thằng bé ngửa cổ ngắm: “Có bóng vẽ hình cô gái không anh?”
Nguyên cười lắc đầu: “Không. Em thích à?” – “Vâng. Anh vẽ được chứ?” – “Được.” – “Anh vẽ cho em đi. Rồi em mua cả bóng con thỏ này nữa.”
Nguyên vẽ. Lại gương mặt Đức Bà, đôi mắt buồn…
Hôm ấy Nguyên bán được nhiều bóng, lạ là toàn trẻ con đến mua. Lúc thằng bé đánh giày, lúc em bán vé số, bán báo, lúc cậu bán kem. Những người trước đây chẳng bao giờ mua.
Đến khi con bé bán lạc rang mua một hơi mười bóng. Sinh nghi Nguyên buột miệng hỏi: “Em mua cho ai vậy?”
Con bé bí mật: “Cho em.” – “Thật không? Có bao giờ em mua đâu?”
Con bé cười, xách chùm bóng bước đi.
Nguyên bỏ đại xe đó, bí mật bám theo chùm bóng bay…
Cuối cùng Nguyên cũng tìm thấy Mỵ đang ngồi trên một ghế đá khuất sau hàng thược dược, quanh nàng dập dìu những trái bóng đủ màu… Hai tay Mỵ đang mân mê quả bóng anh vừa vẽ…
Mỵ cũng vừa kịp trông thấy Nguyên, nàng định  trốn nhưng Nguyên đã chạy đến, hổn hển nắm chặt tay Mỵ: “Sao em…? – Nguyên nhìn sâu vào gương mặt đẹp.  – Em xanh và gầy quá!”
Mỵ gục đầu vào ngực Nguyên rồi òa khóc.
Anh đưa Mỵ về ký túc xá, sau đó Nguyên còn thấy trong túi xách của nàng có những vỏ bóng đủ màu mà anh đã bán.
“Mỵ ngủ một giấc cho khỏe đi – Nguyên ân cần bảo – Uống viên an thần này nhé? Anh đến lớp rồi về ngay.”
Vừa nói Nguyên vừa trao ly nước cho nàng. Mỵ ngoan ngoãn vâng lời, giờ nàng mới dám nhìn chàng lâu.
Khi Mỵ tỉnh dậy, nàng thấy những quả bóng đủ màu treo lung tung khắp phòng. Có một quả to nhất, màu đỏ, vẽ hình đôi uyên ương quỳ trước hang đá. À… sắp Noӫl rồi! Chỉ còn hơn tháng nữa là Tết… Cô gái trên quả bóng Nguyên vẽ có gương mặt Đức Bà, đôi mắt ánh nét hạnh phúc. Còn chàng trai bên cạnh có gương mặt gầy giống Nguyên.
Mỵ sung sướng ngồi dậy, thấy Nguyên đang cặm cụi vẽ bóng. Nàng rón rén ôm quả bóng to vào lòng rồi tiến lại phía sau anh. Nguyên giật mình quay lại, mỉm cười: “Mỵ dậy rồi à?” – “Vâng – Mỵ gật, rồi chìa bóng cho anh – Anh bơm gas quả bóng đẹp này đi.”
Nguyên lắc nhẹ đầu, đùa: “Anh sợ nó bay mất.”
Nàng cười, trao bóng cho anh: “Không đâu. Anh giữ đi.”
Trời bỗng sáng rực! Và gió ùa vào, âu yếm mơn man đùa với chùm bong bóng bay.
Bỗng một trái bóng nổ làm hai người giật mình! Tim Mỵ đau nhói! Nàng thẩn thờ nhìn xác bóng tơi tả dưới bánh xe xẹp lốp của ông nội. “Nội ơi! Tha tội cho con!…”. Mỵ hình dung nội trước khi chết và òa khóc.
Nguyên buông cọ đứng lên, nhẹ nhàng đến bên nàng, vỗ về: “Thôi Mỵ à… quên đi. Mình sẽ…”
Mỵ gục đầu vào ngực Nguyên và nức nở khóc. Nàng muốn nói: “Anh yêu! Anh cao thượng quá! Em đâu còn xứng với anh”. Nhưng nàng không nói được, mà chỉ nói: “Em sẽ cố quên…”
Họ im lặng một chút, Mỵ gạt nước mắt, khẽ quay đi: “Thôi giờ em đi chợ nhé?”
Nguyên âu yếm nhìn sâu vào đôi mắt đẹp: “Hay mình cùng đi ăn?”
Mỵ lắc nhẹ đầu, cố tránh nhìn vào mắt Nguyên: “Hôm nay… em muốn nấu cho anh ăn.”
Nguyên cười gật đầu, âu yếm nhìn Mỵ chậm rãi xách giỏ bước ra cửa.
Mỵ chợt quay lại nhìn Nguyên thật sâu, ánh mắt anh yên tâm trong sáng quá! Mà sao nàng sợ mình không thể trở về?…
15/1/2024
Phan Đức Nam
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Trần Bảo Định, cây bút đặc sắc trong dòng văn học sinh thái Không tính 6 tập thơ “thù tạc” bày tỏ ân nghĩa với quê hương, ba...