Lời giới thiệu: Thảo Nguyên là tác giả quyển
sách “Đọc và dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Du” (NXB Hội Nhà Văn 2007),
với bài viết dưới đây, tôi hân hạnh giới thiệu, tác giả thêm họ Phạm vào bút hiệu
để tránh lầm lẫn với những bút hiệu khác cùng tên.
Tác giả nguyên là giáo sư dạy toán, tự học chữ Hán để dịch
thơ Nguyễn Du mà chị say mê. Trước chị, nhiều người đã dịch thơ Nguyễn Du,
nhưng chưa ai có một cảm nhận như chị và cũng chưa ai bình chú thơ với một tâm
hồn nhạy cảm tinh tế như thế, nhạy cảm đến mức đồng cảm với thi hào, thấy cả những
ẩn nghĩa xôn xao trong thế giới lung linh thầm lặng của thơ.
Hai bài thơ dịch dưới đây, và những lời bình chú về hoàng
hôn, thể hiện phong cách dịch thơ và hiểu thơ của chị. Chưa ai giúp cho người đọc
thưởng thức được hết vẻ đẹp huyền hoặc của nắng cuối lên cao trong thơ Nguyễn
Du hay của bóng trúc dài ra cùng với mặt trời lặn trong thơ Hoàng hôn trong thơ
cổ Việt Nam. Chỉ một tâm hồn thấm nhuần chất đạo và chất thơ mới cảm nhận được
như thế ý thiền trong cảnh và trong mắt thi nhân. Hoàng hôn vốn gợi buồn, ai
cũng biết, nhưng mấy ai, như chị, thấy được xót thương của nhà Phật trong buổi
chiều tà hay sự mầu nhiệm không nói được khi mặt trời vụt tắt, trong thơ Hoàng
hôn trong thơ cổ Việt Nam, trong thơ Nguyễn Du?.
Cao Huy Thuần
Chúng ta ai cũng biết là hoàng hôn đẹp, đã từng ngơ ngẩn ngắm
một vài lần trong đời. Nhưng các bạn đã ngắm hết một buổi hoàng hôn trong rừng
hay ngoài đồng trống mà mây thật cao mà trời thật tỏ chưa? Ngắm từ khi bóng nắng
bắt đầu xế, mặt trời từ từ lặn xuống dưới chân trời, đến khi đất trời hoàn toàn
tối không còn một chút ánh sáng nào trên không? Hình như, vì quá gần gụi, quá tầm
thường, ai cũng biết, ngày nào có nắng mà chả có hoàng hôn, thế nên ít người để
ý tìm hiểu rõ, vì vậy tôi xin mạn phép viết lại diễn tiến của một buổi chiều
vàng, sau đó đọc lại thơ cổ, có lẽ sẽ thấy nhiều cái hay.
Nói một cách vắn tắt, hoàng hôn hay chiều vàng (dịch từ chữ
Hán: “hoàng” là vàng; “hôn” là mờ tối, bóng tối, lúc sẩm tối, là chiều, là
cái mờ tối vàng), là khoảng thời gian cuối ngày, từ lúc nắng đã dịu đi, mặt trời
đỏ rực từ trên không lặn dần xuống dưới chân trời, đến khi nắng tắt, ngày trở
thành đêm.
Cảnh hoàng hôn thường rất đẹp với mặt trời đang hạ xuống dần,
chiếu ánh nắng vàng xuyên qua khí quyển tới mặt đất, dưới những góc độ nhỏ dần,
tạo nên những hiện tượng khúc xạ, tán quang, nắng quái… đầy màu sắc. Cảnh sắc
huy hoàng thay đổi tùy theo độ ẩm của khí quyển, hình dáng của những đám mây
phù du thiên hình vạn trạng. Đồng thời vạn vật từ sông núi tới vòm cây ngọn cỏ…
được chiếu bởi thứ ánh nắng dọi ngang đặc biệt vàng óng, rực rỡ sáng như đang
toả ra hết vẻ đẹp nội tại đầy huyễn hoặc. Bóng của chúng ngả dài về hướng đông,
mỗi lúc mỗi dài thêm… Tới đúng lúc mặt trời lặn hết dướí chân trời, “bóng cỏ
hoa” bỗng như có hồn, vươn dài ra, chạy vụt tới vô tận, phủ kín hết mặt đất. Đó
là lúc “giao thoa của trời đất”, giây phút kỳ diệu của buổi hoàng hôn.
Thế nhưng, buổi chiều vàng vẫn chưa thật hết. Bóng tối tuy đã
tràn đầy mặt đất, nhưng trên không trung vẫn còn nhòa nhạt sang, nhá nhem tối,
còn nhọ mặt người, nửa có nửa không. Ông mặt trời đã chìm hẳn xuống chân trời
phía tây nhưng vẫn tiếp tục chiếu ra những tia nắng cuối bay la đà
trong không gian. Chúng nghếch đầu, ngóc dần lên, nghiêng nghiêng lướt qua bụi
cỏ, ngọn cây, cao dần cao mãi tới mây, tới trời…. chúng nhuộm hồng những đám
mây đang cố phô sắc trên không gian bao la, mang theo sự mong manh kỳ diệu của
vẻ đẹp sắp mất…. những đám mây hồng lặng lẽ như đang đứng yên tiếc nuối, như muốn
dài thêm hạn giây phút cuối trước lúc chia xa… Thế rồi, thật từ từ, tất cả lặn
đi, chìm khuất vào bầu trời bao la đang xẫm dần một màu xanh thăm thẳm, lấm tấm
những vì sao mới mọc. Chỉ lúc đó, bóng tối mới chiếm ngự được đất trời, có mới
thành không, ngày mới thành đêm, hoàng hôn mới chịu hết. Tiếng chuông “thu
không” trầm hùng mà ấm áp của ngôi chùa cổ nào đó trong quá khứ, ngân lên thong
thả từng tiếng một…
Về nhà, mang thơ Đường ra đọc để tìm về buổi chiều vàng, người
đọc gặp bài Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng của Thôi Hiệu. Nhưng, vừa đọc “Nhật mộ” (Mặt
trời lặn) thì liền có “hương quan hà xứ thị” (quê ơi, quê đâu rồi?)! Thì ra, buổi
chiều huy hoàng đầy diễn biến của trời đất, thi sĩ chỉ gợi ra để nói về nỗi nhớ
nhà, chứ không hề nói tới những xúc động bởi chính buổi chiều thực. Hoàng hôn
trong thơ văn Việt Nam cũng vậy, đa số thi nhân thường cũng chỉ viết về cảnh sắc
chung quanh, về tâm sự riêng, cảm súc riêng của họ như trong một câu hát cũ:
Chiều vàng lại đem nhớ tiếc thương…
Muốn đọc cảnh hoàng hôn thực trong thơ cổ, có lẽ ta nên tìm về
các thi sĩ thiền gia, những người thực hành giáo pháp “như thị, như thực”, xem
các vị quan sát thấy gì. Tôi xin chọn viết ra đây thơ của hai vị rất được yêu
kính của văn học cổ đại Việt Nam:
Người thứ nhất là thi hào Nguyễn Du (1756; 1820), một thiền
sĩ rất thâm sâu. Trong chuyến đi sứ sang Trung Hoa (1813; 1814), vào một buổi xế
chiều, sứ đoàn đi qua khu rừng phong hiu quạnh của dẫy núi Tổ Sơn phía bắc
Hoàng Châu, Triết Giang, ông viết bài thơ sau:
祖
山 道
中
楓
樹 林
中 葉
亂 飛
驚 沙 作 雨 上 征 衣
蕭 蕭 枯 草 路 一 線
寂 寂 斜 陽 山 四 圍
去 日 兩 河 曾 習 戰
紆 途 千 里 正 思 歸
皤 皤 白 髮 紅 塵 路
日 暮 登 高 悲 莫 悲
驚 沙 作 雨 上 征 衣
蕭 蕭 枯 草 路 一 線
寂 寂 斜 陽 山 四 圍
去 日 兩 河 曾 習 戰
紆 途 千 里 正 思 歸
皤 皤 白 髮 紅 塵 路
日 暮 登 高 悲 莫 悲
Âm Hán Việt:
Tổ Sơn Đạo Trung
Phong thụ lâm trung diệp loạn phi
Kinh sa tác vũ thướng chinh y
Tiêu tiêu khô thảo lộ nhất tuyến
Tịch tịch tà dương sơn tứ vi
Khứ nhật Lưỡng Hà tằng tập chiến
Vu đồ thiên lý chính tư quy*
Ba ba bạch phát hồng trần lộ
Nhật mộ đăng cao bi mạc bi**
Kinh sa tác vũ thướng chinh y
Tiêu tiêu khô thảo lộ nhất tuyến
Tịch tịch tà dương sơn tứ vi
Khứ nhật Lưỡng Hà tằng tập chiến
Vu đồ thiên lý chính tư quy*
Ba ba bạch phát hồng trần lộ
Nhật mộ đăng cao bi mạc bi**
Thơ dịch:
Đường Tổ Sơn
Đi giữa rừng phong lá rối tuôn
Bụi rơi áo khách tựa mưa dồn
Cỏ khô xơ xác đầy trên lối
Chiều xuống quạnh hiu bốn phía non
Hôm trước Lưỡng Hà từng chiến trận
Vòng xa ngàn dậm muốn về hơn
Phau phau tóc trắng đường trần đỏ
Nắng cuối lên cao, thương ngập thương.
Bụi rơi áo khách tựa mưa dồn
Cỏ khô xơ xác đầy trên lối
Chiều xuống quạnh hiu bốn phía non
Hôm trước Lưỡng Hà từng chiến trận
Vòng xa ngàn dậm muốn về hơn
Phau phau tóc trắng đường trần đỏ
Nắng cuối lên cao, thương ngập thương.
Bốn câu đầu của bài thơ, thi hào tả cảnh rừng núi Tổ Sơn. Hai
câu 5,6 nói về việc sứ đoàn nhận được lệnh đổi đường về, phải đi vòng xa để
tránh chiến tranh đang diễn ra ở một số tỉnh nước Tàu lúc đó. Đến hai câu cuối bài
Nguyễn Du mới nói đến mình, đến mái tóc bạc phất phơ bay… và nói đến buổi chiều.
Câu cuối: Nhật mộ đăng cao, đăng cao là một thuật
ngữ để chỉ “đang ở trên cao” và luôn luôn có cảm giác buồn. Nhưng, cái gì đăng
cao? Có phải là sứ đoàn của Nguyễn Du đang từ chỗ “bốn phía non” (sơn tứ vi)
leo lên tới núi cao? Không thể được, sứ đoàn không thể leo lên núi cao giữa rừng
sâu vào lúc sẩm tối thế này (không có điện, và chưa ăn tối!). Như vậy chỉ có thể
là nắng chiều khi mặt trời đã lặn xuống dưới chân trời chiếu ngược lên trên
cao. Đó chính là “nhật mộ ngự trên cao”, Một nhận xét về cảnh vật thật chính
xác, Nguyễn Du không tả cảnh đại khái. Tôi dịch theo ý là “Nắng cuối lên cao”.
Như vậy, lúc đó mặt đất đã chìm vào bóng tối, nhưng ánh sáng
đầy mầu sắc còn bát ngát ở trên không, tô hồng những đám mây lờ lững. Khi đó,
cái rực rỡ của vẻ đẹp sắp tàn phai, của ngày sắp hết, cái vô thường của những
áng phù vân lộng lẫy, cái vô nghĩa của cuộc đời, cái nhỏ bé của con người trước
thiên nhiên, nỗi cô đơn… bao phủ lấy ta, nhất là trong chốn thâm sơn cùng cốc.
Nguyễn Du vốn là con người sầu mộng và vô cùng tinh tế, thi
hào từng viết:
Bất thị sầu nhân bất hứa tri.
(Chẳng phải người sầu, chẳng thể hay).
(Chẳng phải người sầu, chẳng thể hay).
Ông xúc động sâu xa trước những phút giây như thế, nên đã hạ
bút viết ba chữ cuối bài thơ: “bi mạc bi”, có nghĩa là buồn thương,
không gì buồn hơn, thiên về thương xót, cảm thương (chữ bi này, chữ
phi viết trên bộ tâm, là chữ từ bi của nhà Phật). Người thơ nhìn cảnh mênh mông
bao la của buổi chiều hôm trong núi, tự nhiên thấy dâng lên trong lòng một cảm
giác thê lương không duyên cớ, mênh mang thương xót, chứ không vì một nguyên
nhân nào khác. Nỗi buồn thương ấy tạo ra từ tâm hồn thi sĩ trước cảnh chiều,
nên nó rất thơ, và thật hiếm có trong văn chương cổ điển:
Nhật mộ đăng cao bi mạc bi.
(Nắng cuối lên cao, thương ngập thương).
(Nắng cuối lên cao, thương ngập thương).
Người thứ hai mà tôi muốn nói ở đây là Hoàng hôn trong thơ cổ
Việt Nam (1380; 1442), một quân sư chính trị gia sáng chói của lịch sử Việt Nam
thế kỷ 15, trong cuộc chiến thắng giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ nhà Minh,
Trung Quốc. Đồng thời, ông là một thiền gia thi sĩ, nên có cái nhìn về thế giới
hiện tượng không sai một mảy may, sự chiêm nghiệm về đạo thật sâu sắc.
Dưới đây là bài thơ Du Sơn Tự của ông. Bài thơ không cho chúng
ta biết tên ngôi chùa, và khi nào Hoàng hôn trong thơ cổ Việt Nam chèo thuyền tới
mong gập Phật. Ta chỉ biết rằng lần lên chùa vào cuối ngày hôm ấy, thi sĩ đã được
sống một buổi chiều vàng vô cùng đặc biệt và đầy đủ nhất:
遊山寺
短
棹 繫
斜 陽,
匆 匆 謁 上 方。
雲 歸 禪 榻 冷,
花 落 澗 流 香。
日 暮 猿 聲 急,
山 空 竹 影 長。
箇 中 真 有 意,
欲 語 忽 還 忘。
匆 匆 謁 上 方。
雲 歸 禪 榻 冷,
花 落 澗 流 香。
日 暮 猿 聲 急,
山 空 竹 影 長。
箇 中 真 有 意,
欲 語 忽 還 忘。
Âm Hán Việt:
Du Sơn Tự
Đoản trạo hệ tà dương
Thông thông yết thượng phương
Vân quy thiền tháp lãnh
Hoa lạc giản lưu hương
Nhật mộ viên thanh cấp
Sơn không trúc ảnh trường
Cá trung chân hữu ý
Dục ngữ hốt hoàn vương (vong)
Thông thông yết thượng phương
Vân quy thiền tháp lãnh
Hoa lạc giản lưu hương
Nhật mộ viên thanh cấp
Sơn không trúc ảnh trường
Cá trung chân hữu ý
Dục ngữ hốt hoàn vương (vong)
Thơ dịch:
Lên chùa trên núi
Buộc chèo vào hoàng hôn
Lên lễ Phật bước dồn
Mây về giường thiền lạnh
Hoa rụng suối đưa hương
Trời lặn, tiếng vượn gấp
Núi không, bóng trúc trườn
Trong cảnh thật có ý
Định nói, bỗng quên luôn.
Buộc chèo vào hoàng hôn
Lên lễ Phật bước dồn
Mây về giường thiền lạnh
Hoa rụng suối đưa hương
Trời lặn, tiếng vượn gấp
Núi không, bóng trúc trườn
Trong cảnh thật có ý
Định nói, bỗng quên luôn.
Bài thơ được viết theo lối cổ thi, loại bỏ tất cả các liên tự,
hư tự, các chữ “nước”. Câu thứ nhất Đoạn trảo hệ tà dương thường được
hiểu theo nghĩa: Ngừng mái chèo (neo thuyền) vào lúc hoàng hôn”.
“Nhưng nếu ta chỉ để ý những chữ trong câu thơ, nghĩa đổi khác, đó là: “Mái
chèo ngắn buộc bóng hoàng hôn lại. Nếu hiểu như vậy thì đây là một câu thơ siêu
thực hiện đại” (Du Sơn Tự, Bình chú của Tế Hanh*). Nhưng hiểu theo nghĩa
này xong, không làm sao tiếp tục ý thơ được nữa, nên tôi không thể dùng được.
Tuy nhiên, có một cách hiểu khác cũng rất siêu thực hiện đại,
chắc không xa bao nhiêu ý của tác giả, lại rất gần Phật, theo được sát ý nội tại
của bài thơ, đó là: “Buộc chèo (vào) với hoàng hôn“. Mái chèo là cái ta đang hoạt
động, hoàng hôn là thời gian lúc này, vậy đó chính là: Buộc ta vào với
hiện tại, ta đi theo sát cùng sự vận hành tự nhiên của thời gian, buộc vào nó
mà không giữ nó lại. Nhưng, “buộc vào” để làm gì? Để có toàn tâm toàn ý, để sống
trọn vẹn tỉnh thức buổi chiều nay, nơi đây, chùa này. Trọng tâm của bài thơ
là hoàng hôn, đề tài để Hoàng hôn trong thơ cổ Việt Nam nhìn sâu, quán chiếu,
hoà mình vào với cảnh được quan sát. Ông buộc tâm mình vào thời gian để không bỏ
lỡ một giây phút nào.
Việc đầu tiên Hoàng hôn trong thơ cổ Việt Nam lên chùa là “Yết
thượng phương”, nghĩa là đi gặp Phật, là thanh lọc mình để Phật ngự vào tâm
mình đã. Sau đó, ngồi lên giường thiền, hành giả quan sát chung quanh “như nó
là”, bằng tất cả cái thấy-giác-quan của thân mình, không thêm không bớt, không
yêu không ghét: Những cảm giác từ từ tới, hành giả mở lòng ra để cái thấy tự
nhiên đi vào, chứ không đi tìm. Ông cảm thấy lạnh, ngửi thấy thơm
mùi hoa rụng. Rồi mặt trời bắt đầu lặn, ông nghe thấy tiếng vượn kêu gấp, nhìn thấy
núi trống không, vắng lặng, chứa cảnh, và ô kìa! “trúc ảnh trường“!. Hãy quan
sát kỹ bóng một khóm trúc:
Trường là dài, mà dài so sánh với cái gì? So sánh với
chính nó. Bóng trúc đang dài ra, nó đang chuyển động. Trường cũng là “trưởng”
cùng một chữ Hán, là tăng trưởng, lớn lên, dài ra. Vậy “trúc ảnh trường“chính
là bóng trúc trườn, bóng đang bò dài ra trên núi.
Như vậy trong hai câu 5, 6, giữa cái tĩnh của núi không, mọi
vật đang động trong cái rất tự nhiên của chúng: mặt trời lặn dần dần xuống, tiếng
vượn kêu gấp, bóng trúc cứ dài ra… theo bóng chiều. Hoàng hôn đã tới phút biến
động nhất. Mặt trời rơi xuống dưới chân trời:
Bỗng vụt một cái, cảnh thiên nhiên sống động diễn ra trước mắt:.
Chỉ “vụt một cái” bóng mọi vật đồng loạt cùng chạy về vô tận phía đông, bóng tối
phủ kín hết mặt đất. Chỉ “vụt một cái” mở tung ra phút giao thoa của đất trời,
của thiên nhiên, của thế giới mầu nhiệm xưa nay bí mật. Chỉ vụt một cái,
cái thấy ùa tới hành giả, thiền gia của chúng ta đã ngộ ra Ý của hiện
tượng, của thiên nhiên. Câu thơ của Hoàng hôn trong thơ cổ Việt Nam thật rõ
ràng:
“Trong cảnh thật sự có ý” (Cá trung chân hữu ý).
và ông thoát nhận một cách rất thiền “mọi ngôn từ đều trở về
quên ” (hoàn vong), vì không cần nữa, vì chân lý vô ngôn.
Cái “ngộ” tới bất ngờ quá, nó chiếm hết mọi suy nghĩ, cho nên
hết cần giải thích. Và thêm nữa, hành giả lại không viết cho chúng ta biết ông
ngộ được gì! Hình như ông không muốn nói nữa thì đúng hơn. Chúng ta hãy thử
phân tích xem sao:
Lên chùa, Nguyễn Trãi đã sửa soạn tâm để quán chiếu cảnh, là
một trí thức vượt qua tầm của thời đại, sau khi đã đọc thấu kinh sách Phật, cái
Nghi của ông rất lớn. Ông thực hiện lời dạy của kinh Kim Cương “Ưng tác như thị
quán” (hãy như thế mà quan sát mọi sự vật quanh ta, như nó là). Điều đó chẳng
khác gì ngày nay: “Một nhà khoa học hiện đại quan sát bầu trời bằng những
phương tiện khoa học tân tiến nhất, đang học hỏi xem thiên nhiên cho mình bài học
gì” (Giáo sư vật lý thiên văn Trịnh Xuân Thuận).
Những sau khi bỗng hiểu được Ý của trời đất, thì điều ngộ được
chính là điều hiển nhiên vô cùng to lớn. Nó nằm sâu thẳm từ muôn đời trong mọi
sự việc của đời sống, nhưng đồng thời nó rất cá biệt, “chỉ người uống mới biết
được vị của nước”. Nó cần một sự chiêm nghiêm rất riêng của từng người, nó
ngoài ngôn từ. Chân lý bừng nở trong lòng thiền giả: Lẽ dĩ nhiên chúng là thế,
như như thế… và như thế, ta vượt qua mọi khổ nạn của cuộc đời, không cần nói
gì, thuyết gì nữa.
Chú thích:
*Du Sơn Tự, bình chú của Tế Hanh trong cuốn Hoàng hôn trong
thơ cổ Việt Nam, Tác Phẩm Và Lời Bình, Tuấn Thành - Vũ Nguyễn tuyển chọn. Trung
Tâm nghiên cứu Quốc Học, NXB Văn Học 2007.







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét