Những ngày cuối tháng 10, có dịp cùng các đại biểu Đoàn
Thanh niên Đoàn Khối Các cơ quan tỉnh tham dự Liên hoan Thanh niên tiên tiến
Đoàn khối các cơ quan tỉnh, thành phố phía Bắc lần thứ X, năm 2015 tại Sơn La.
Với hành trình gần 2.000 km qua các tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện
Biên, Lào Cai.., chúng tôi đi qua những cung đường đèo hun hút, ngỡ như lên
tận cổng trời, những bản làng giữa thung lũng mờ sương, những dãy núi hoang sơ,
hùng vỹ, những cánh đồng rực rỡ sắc vàng ôm ngang sườn núi. Mỗi vùng đất đều gắn
với lịch sử của những chiến công huyền thoại, mỗi dân tộc có những phong tục tập
quán, trang phục và sắc màu văn hóa độc đáo.
Các đại biểu thanh niên tiên tiến 23 tỉnh,
thành phố phía Bắc nghe hướng dẫn viên Bảo tàng
tỉnh Sơn La giới thiệu về lịch sử nhà tù Sơn La.
Từ thủy điện Hòa Bình đến Thủy điện Sơn La
Sau lộ trình một ngày với hơn 600 km, chúng tôi đến thăm Thủy
điện Hòa Bình trong những giờ khắc cuối ngày khi những vạt nắng đã tắt, hoàng
hôn buông xuống, nhìn dòng sông Đà với hai bên bờ là những vạt rừng với những mảng
màu sáng tối thật hấp dẫn, tiếng gió xào xạc trong rừng cây tạo nên bản nhạc đa
âm của đại ngàn làm mê hoặc lòng người. Mùa này sông Đà nước trong xanh, êm ả
như một dải lụa ôm lấy thành phố. Có lẽ duy nhất ở nước ta, có một nhà máy thủy
điện nằm trọn trong lòng thành phố. Công trình khởi công xây dựng tháng
11/1979, khánh
thành vào tháng 12/1994 với
các hạng mục: Đập đất đá, tràn xả lũ, hồ chứa nước, nhà máy thủy điện, âu thuyền
và trạm phân phối điện ngoài trời. Đứng trên đập tràn nhìn về thành phố Hòa
Bình khi thành phố đang lên đèn, những ánh đèn sáng nhìn xa lấp lánh như những
ánh sao đêm.
Chúng tôi thăm tượng đài Bác Hồ trên đồi Ông Tượng bên bờ phải
sông Đà. Ngay trên bệ đứng dưới chân tượng Bác được ghi 4 câu thơ của Người:“Không
có việc gì khó/Chỉ sợ lòng không bền/Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm
nên”. Phần dưới bài thơ là các hoa văn cách điệu tượng trưng cho sóng nước sông
Đà. Phía sau Bác là hình tượng những đám mây bồng bềnh hòa quyện làm cho hình
tượng Bác Hồ nổi lên hoành tráng, nên thơ giữa một vùng thiên nhiên, không gian
sông nước, mây trời hùng vĩ. Đứng dưới tượng Bác, mỗi người trong đoàn của quê
hương cách mạng Cao Bằng dâng lên cảm xúc bồi hồi xúc động.
Tại sân Nhà truyền thống Thủy điện Hòa Bình, dừng lại bên khối
bê tông hình thang, trên đó có tấm biển thép khắc chìm dòng chữ: “Nơi lưu giữ bức
thư của những người xây dựng Thủy điện Hòa Bình gửi thế hệ mai sau. Thư được mở
vào ngày 1/1/2100”. Theo thời gian được khắc trên tấm biển, thư sẽ được mở
trong giờ phút đất nước bước vào thế kỷ XXII. Những thế hệ trẻ quê hương cách mạng
chúng tôi hôm nay chắc chắn sẽ không phải “thế hệ mai sau” - những người may mắn
được chứng kiến khi bức thư được mở ra, được đọc những lời nhắn nhủ của các thế
hệ cha anh. Nhưng ngay giây phút này và mãi mãi về sau công trình Thủy điện
Hòa Bình luôn là niềm tự hào về các thế hệ đã làm nên những kỳ tích dường
như chỉ có trong huyền thoại, được tạo dựng bằng trí óc, công sức, mồ hôi và cả
máu của bao người. Thành quả, sự hy sinh, sự lao động miệt mài của cán bộ, chiến
sỹ, chuyên gia trong nước và nước bạn để xây dựng nên Thủy điện Hòa Bình trở
thành biểu trưng cho sức mạnh, trí tuệ Việt Nam và tình hữu nghị Việt - Xô bền
vững.
Tạm biệt thành phố Hòa Bình ngược dòng sông Đà ngang qua Cầu
cứng Mường La, đoàn đại biểu 23 tỉnh, thành phố phía Bắc tham dự Liên hoan
đến với xã Ít Ong, huyện Mường La để tham quan công trình Thuỷ điện Sơn La. Tại
đây, Thủy điện Sơn La đã để lại cho chúng tôi nhiều ấn tượng mạnh: Nhà máy thủy
điện lớn nhất Việt Nam với công suất 2.400 MW nhưng được xây dựng vượt tiến độ
hơn 3 năm - một kỳ tích của ngành xây dựng thuỷ điện Việt Nam khi tháng
12/2005, công trình Thủy điện Sơn La được khởi công xây dựng đến tháng 12/2012
đã được khánh thành; lòng hồ thủy điện trải dài với nước, núi và mây hòa quyện
trong ánh nắng mở ra không gian bát ngát với chiều dài hơn 224 km bao quanh 3 tỉnh:
Sơn La, Điện Biên, Lai Châu trở thành một điểm du lịch hấp dẫn và tiềm năng;
nhà máy được vận hành bởi những người kỹ sư, công nhân trẻ 8X, 9X tràn đầy nhiệt
huyết, dám nghĩ, dám làm...
Riêng đối với đoàn đại biểu Cao Bằng, tại Thủy điện
Sơn La còn có ấn tượng riêng khi gặp gỡ với người con của Cao Bằng duy nhất hiện
nay đang công tác tại Thủy điện Sơn La tại bộ phận vận hành. Đó là kỹ sư trẻ Vi
Thành An, dân tộc Nùng, sinh năm 1985 tại thành phố Cao Bằng. An gắn bó với Thủy
điện Sơn La khi vừa tốt nghiệp Đại học Bách khoa năm 2008 cũng là từ những ngày
đầu công trình mới khởi công. Hôm nay, trước mắt chúng tôi đã là người kỹ
sư rắn rỏi, Trưởng kíp vận hành với đôi mắt ánh lên sự tự tin, sáng tạo.
Chia tay Thuỷ điện Sơn La để lại sau lưng dòng sông Đà nước
trong xanh, thật thơ mộng, chúng tôi trở lại thành phố Sơn La để chuẩn bị cho
sáng hôm sau đến tham quan Di tích Quốc gia đặc biệt nhà tù Sơn La -
nơi giam cầm những chiến sĩ cách mạng với những chiến công đã trở thành huyền
thoại.
Chạm tay vào dấu tích hùng khí cha anh
Thành phố Sơn La đang chuyển mình trong sự bộn bề các công
trình xây dựng. Cảm giác về Sơn La thay da đổi thịt nhanh chóng khiến chúng tôi
dù được thông báo trước nhưng không khỏi ngỡ ngàng. Sáng sớm, 23 đoàn đại biểu
đến đặt vòng hoa kính viếng hương hồn các anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang bảo
tàng nhà tù Sơn La. Nghĩa trang hôm nay dường như đông hơn trong sắc xanh
của màu áo Thanh niên Việt Nam. Tất cả đều chung một lòng tri ân các Anh
hùng liệt sĩ đã đem lại độc lập, tự do cho Tổ quốc hôm nay.
Đến thăm Di tích Quốc gia đặc biệt nhà tù Sơn La, tận mắt
nhìn thấy chòi canh, phòng phạt giam, kho xép nơi đồng chí Tô Hiệu hy sinh, khu
trại 3 gian, xà lim ngầm, trại giam lớn…, với những chứng tích về cảnh giam cầm
hà khắc, hoàn cảnh sống cơ cực của tù nhân mới cảm nhận rõ vì sao nơi đây được
được mệnh danh là “địa ngục trần gian” chỉ xếp thứ hai sau Nhà tù Côn Đảo và
càng thêm cảm phục ý chí kiên cường, sức chịu đựng của những chiến sỹ cộng sản
trong chốn lao tù của thực dân, đế quốc. Chính nơi tăm tối này, khí tiết của những
người chiến sỹ cộng sản đã tỏa sáng và thắp lên ngọn lửa đấu tranh cách mạng.
Nơi đây, đã trở thành trường học cách mạng vĩ đại, rèn luyện và bổ sung cho Đảng,
cho cách mạng Việt Nam những chiến sỹ cộng sản xuất sắc, như: Tô Hiệu, Lê Duẩn,
Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ, Xuân
Thủy... và bao đồng chí kiên trung khác. Nhà tù Sơn La đã giam giữ tổng cộng
1.007 lượt tù nhân cộng sản, trong đó nhiều đồng chí là Thành ủy, Xứ ủy, Ủy
viên Trung ương.
Trong niềm xúc động khi đang được chạm tay vào những dấu tích
hùng khí của cha anh, chúng tôi đã may mắn được cựu tù nhân nhà tù Sơn La,
nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch)
Bùi Ngọc Xuyên (bí danh Mai Vy), Phó Ban Liên lạc chiến sỹ bị địch bắt, tù đày
của nhà tù Sơn La, sinh năm 1922, nay đã 95 tuổi nhưng rất minh mẫn kể lại câu
chuyện vượt ngục của 2 tù nhân người Cao Bằng. Trong lịch sử nhà tù Sơn La có
hai cuộc vượt ngục duy nhất vào năm 1940 và 1943. Trong đó, cuộc vượt ngục đầu
tiên năm 1940 là của 2 tù nhân người Cao Bằng: Đàm Văn Lý, bí danh Quý Quân
(1915 - 1940), quê ở xóm Nà Nghiềng, xã Sóc Hà (Hà Quảng), Châu ủy viên Châu Hà
Quảng (1936 - 1938), Phó Bí thư Châu ủy Hà Quảng (1939 - 1940) và Đàm Văn Sàng,
bí danh Đàm Ngọc Tường, Kiên Thành (1913 - 1940), quê ở Hòa An. Một buổi chiều
năm 1940, có tin báo có hai đồng chí xin phép vào rừng đại tiện rồi trốn luôn.
Mọi người xác định được ngay, đó là đồng chí Lý và Tường, quê ở Cao Bằng. Ngay
đêm đầu hai anh đã lợi dụng lúc kẻ thù còn chưa kịp tổ chức săn đuổi để cố đi
được càng xa càng tốt, nhưng vì đêm tối xuyên rừng, không dám đi đường
cái, sau khi đi được khoảng 5 - 6 km, hai anh xuống suối lấy nước vào
ban đêm bị lính dõng phục kích bắn. Đồng chí Tường chạy thoát và trốn xuống một
cái hang tối, bọn lính được lệnh khuân đá tảng lấp kín cửa hang và canh giữ. Đồng
chí chết ở đâu cũng không rõ. Buổi chiều, hết giờ lao động, từng tốp chúng
tôi quay về nhà ngục. Cảnh tượng trước mắt thật đau lòng: Trên một chiếc ghế đẩu,
một đầu lâu người đặt bên một hòm gỗ vuông. Chúng bêu đầu đồng chí Lý 3 ngày 3
đêm để làm gương răn đe các tù nhân. Nhưng việc hai đồng chí Tường và Lý trốn
tù thất bại không những không làm Chi ủy nao núng mà với chúng tôi đó là tấm
gương những người cộng sản anh dũng, kiên cường.
Câu chuyện được chính cựu tù nhân trong nhà tù kể về 2 người
đồng đội với ký ức vẹn nguyên trong niềm xót xa khôn nguôi khiến cho tôi - người
con quê hương của 2 liệt sỹ thật xúc động xen lẫn tự hào và cảm nhận sâu sắc
giá trị của hòa bình, độc lập, tự do mà biết bao thế hệ cha anh chúng ta đã chiến
đấu hy sinh mới giành được, trong đó có các cựu tù chính trị, bị địch bắt, tù
đày tại Nhà tù Sơn Là và hơn 30 nhà tù của địch trên toàn quốc.
Sắc màu văn hóa Tây Bắc
Chúng tôi đến với Bản Lác, xã Chiềng Châu, huyện Mai Châu
(Hòa Bình). Bà Hà Thị Tâm, đã 65 tuổi, dân tộc Thái là người sinh ra lớn lên và
ở bản từ nhỏ đến nay cho chúng tôi biết: Bản Lác là một địa chỉ du lịch văn hóa
nổi tiếng đã có tuổi đời trên 700 năm, dân chủ yếu là người Thái đen. Từ những
năm 60 - 70 của thế kỷ XX, bản đã hình thành hình thức du lịch cộng đồng nhưng
chưa phát triển. Từ năm 1990 bản bắt đầu tập trung phát triển du lịch cộng đồng,
các hộ dân đầu tư xây dựng nhà sàn cao ráo, rộng rãi và sạch sẽ nhưng vẫn giữ
được lối kiến trúc cổ. Hiện có 56/170 nhà làm dịch vụ du lịch homestay tại bản.
Hằng năm, bản đón hàng nghìn lượt du khách.
Đi dạo một vòng trong bản, trước cửa nhà bày bán các mặt
hàng, như: Khăn quàng cổ, váy xòe Thái, váy Mông, cung, nỏ, sáo trúc, mõ trâu,
chiêng, tù và…, có thể lấy để thử, chụp ảnh mà không sợ bị để ý hay than phiền,
kể cả không mua cũng không có cảnh chèo kéo và chủ hàng buồn lòng. Trong bữa
cơm bên ché rượu cần ngây ngất, chúng tôi được thưởng thức những món ngon riêng
có của núi rừng, như: gà đồi, cá suối hấp, măng đắng, nếp nương...
Tạm biệt Bản Lác với điệu múa xòe say đắm lòng người, chúng
tôi tiếp tục hành trình khám phá Tây Bắc qua các địa danh: Mộc Châu, Yên Châu,
thành phố Sơn La (Sơn La); tỉnh Lai Châu, Điện Biên đến Sa Pa (Lào Cai)... Dọc
đường đi như đến “thiên đường” của ruộng bậc thang vào mùa lúa chín, những
nương, ruộng một màu óng ả, nhẹ nhàng vắt lên những ngọn núi cao như những tấm
thảm thiên nhiên kỳ thú. Thấp thoáng giữa những bậc ruộng ngút ngàn, chợt bắt gặp
những nếp nhà đơn sơ ẩn hiện giữa những dãy xoài, rặng chuối. Nhà sàn Thái có
cái mái đầu hồi khum khum hình mai rùa, trên đỉnh đầu hồi ấy có hai vật trang
trí, người Thái gọi là "Sừng cuộn" (Khau cút) vì đầu phía trên của nó
thường được thao tác thành một vòng tròn xoáy trôn ốc, giống như ngọn rau dớn
(phjắc cút), một thứ rau rừng. Dưới chân ruộng bậc thang, men theo những vách
đá khúc khuỷu và quanh co là những dòng sông mang lại nguồn nước tưới xanh cho
những cánh đồng.
Tò mò và háo hức với hình thức du lịch cộng đồng đã giúp người
dân vùng Tây Bắc không những bảo tồn mà còn phát huy bản sắc văn hóa truyền thống,
chúng tôi đến Bản Mòng, xã Hua La, thành phố Sơn La (Sơn La), cách trung tâm
thành phố khoảng 5 km để tìm hiểu. Gọi là bản nhưng chẳng khác gì những khu phố
sầm uất ở thành phố Sơn La. Cuộc sống Bản Mòng đổi thay nhờ nguồn giếng nước được
thiên nhiên ban tặng. Theo các nhà nghiên cứu, nhiệt độ nước khoáng nóng lộ
thiên ở Bản Mòng trung bình là 38ºC. Nước trong suốt, không màu, không mùi và
có các đặc tính lý hóa, thành phần khoáng chất tự nhiên phù hợp chữa trị một số
bệnh ngoài da, thấp khớp, thần kinh, tim mạch... Cổng vào bản, đường làng, ngõ
xóm luôn sạch đẹp. Dân bản còn dựng một nhà sàn văn hóa cho các sinh hoạt cộng
đồng, thành lập đội văn nghệ chuyên biểu diễn các tiết mục dân gian Thái phục vụ
du khách… Đáng chú ý, bên trong những ngôi nhà sàn mang kiến trúc truyền thống
đều có phòng tắm, nhà vệ sinh được thiết kế hợp lý, đủ tiêu chuẩn. Sau khi ngâm
mình thỏa thích trong dòng nước nóng tự nhiên du khách còn được thưởng thức món
thịt hun khói, lòng khô, lòng nướng, món rau rừng đồ, hoa ban xào măng chua,
măng lay, canh bon... đậm đà được ướp từ các loại gia vị đặc trưng của người
Thái đặc mùi mắc khén rừng. Với hướng đi này, Bản Mòng luôn là điểm đến yên
bình để du khách tạm quên đi những ồn ào, náo nhiệt nơi phố thị.
Chia tay Tây Bắc với các chàng trai Thái chân thành cứng
cáp như cây lim rừng bên các cô gái Thái mềm như tay múa xòe, miệng cười tươi
hát vang câu ca “Rừng là rừng hoa, tiếng chim ca vui tưng bừng…”. Nét văn hoá ấy,
tấm lòng nồng hậu, mến khách ấy đã làm nên một sức hút kỳ lạ mà mỗi ai đến với
vùng đất Tây Bắc đều cảm thận thấy, để rồi trong tâm khảm mỗi người sẽ còn đọng
mãi những dấu ấn tốt đẹp về vùng đất này với lời hẹn gặp lại.
Thúy Hằng






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét