Gọi mãi người ơi
Đọc lại Nguyễn Du
Nhất sinh từ phú tri vô ích
Mãn giá cầm thư đồ tự ngu
(Một đời chuyên về từ phú, biết là vô ích
Sách đàn đầy giá, chỉ tự mình làm ngu mình!)
Mạn hứng - Nguyễn Du
Quá khuya. Chợt thấy mình già
Nhìn ra cửa sổ, mưa sa kín trời
Một đời gọi mãi: Người ơi!
Một đời khát vọng, một đời bồng bênh
Mê say là chuyện đã đành
Biết đâu tỉnh lại, nhân tình trắng phau
áo cơm se sắt mái đầu
Thương nhau mà giận, ngó nhau mà buồn!
Rạc dài chút phận văn chương
Cao sang nhòe lẫn tầm thường, ngẩn ngơ...
Mãn giá cầm thư đồ tự ngu
(Một đời chuyên về từ phú, biết là vô ích
Sách đàn đầy giá, chỉ tự mình làm ngu mình!)
Mạn hứng - Nguyễn Du
Quá khuya. Chợt thấy mình già
Nhìn ra cửa sổ, mưa sa kín trời
Một đời gọi mãi: Người ơi!
Một đời khát vọng, một đời bồng bênh
Mê say là chuyện đã đành
Biết đâu tỉnh lại, nhân tình trắng phau
áo cơm se sắt mái đầu
Thương nhau mà giận, ngó nhau mà buồn!
Rạc dài chút phận văn chương
Cao sang nhòe lẫn tầm thường, ngẩn ngơ...
Bằng Việt
Lời bình của Lâm Xuân Vi
Đọc lại Nguyễn Du, là đọc lại những tổng kết về triết lý nhân
sinh qua các tác phẩm văn học lớn của một Đại thi hào - danh nhân văn hóa thế
giới.
Phải là những người như nhà thơ Bằng Việt, có hiểu biết sâu rộng,
thấu lẽ đời, mới có được năng lực cảm thấu những ý tưởng trong tác phẩm bất hủ
của Nguyễn Du. Ví như, cả một kiệt tác 3254 câu lục bát truyện Kiều mà ngay từ
cặp câu mở “Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét
nhau” cũng đã đủ sức khái quát. Cặp câu thơ ấy sẽ còn là nỗi day trở muôn
đời trong mối quan hệ tài, mệnh của con người không dễ lý giải.
Nhà thơ Bằng Việt đã suy ngẫm liên hệ đối chiếu, triết lý
thâm hậu tiếp nhận từ tác phẩm của Đại thi hào Nguyễn Du, mà soi lại cuộc đời Cụ,
soi vào nhân tình thế thái và hình như có cả soi vào chính bản thân mình.
Có một lần gặp và nghe anh tâm sự, đại ý: bài thơ này được
viết sau đại hội Nhà văn 1993. Một đại hội đã để lại những dư âm buồn, nhiều
nhà văn cướp diễn đàn, không tiếc lời bôi nhọ, thoá mạ nhau. Mình ngẫm câu thơ
cụ Nguyễn Du thấy xót mà viết, chứ chả dám “to tát” gì. Nhà thơ Bằng Việt khiêm
tốn nói vậy, còn tôi, vẫn có cách cảm của riêng mình.
Quá khuya. Chợt thấy mình già, Có thể nói ngay, đây là
người đam mê tới chót cùng với sự nghiệp, với mục đích sống thiêng liêng, quên
cả tuổi tác mình. Cũng phải vào thời điểm quá khuya, trằn trọc suy ngẫm về
cuộc đời, về nhân tình thế thái, không sao ngủ được, chỉ còn mình đối diện với
chính mình, mới hồi tưởng nhớ lại các mối liên hệ, quan hệ, những được, mất,
thành, bại, có dấu ấn của thời gian, mới chợt nhớ ra tuổi tác, mới biết mình đã
già. Cái già đến mà như bất chợt, bất ngờ thì cũng thật lạ, chỉ có thể là người
quá tận tụy say mê việc đến quên mình, hay tới khi đọc Nguyễn, ngộ ra, mới thấm
thía hiểu hết được mình. Nhưng rồi sự mải mốt bền bỉ ấy đến khi như sực tỉnh nhìn
ra cửa sổ, mưa sa kín trời. trận mưa như đềm báo không hanh thông, chưa có
thiên thời, địa lợi, hay nói đúng hơn vẫn gặp sự ngăn lối, cản đường, kìm hãm sức
bay bổng, phát triển.
Đại thi hào Nguyễn Du - đỉnh cao thần tượng của thi nhân, thi
sĩ muôn đời. Nhà thơ Bằng Việt, người có trí và thành tựu đầy ấn tượng về nghiệp
văn, nguyện theo cụ cũng là tất yếu, là hợp đạo.
Một đời gọi mãi: Người ơi
Một đời khát vọng, một đời bồng bênh
Có thể nói, suốt đời trong lòng mình, nhà thơ Bằng Việt thờ
phượng Nguyễn Du. Ông khao khát học cụ, “khăn gói” bồng bênh theo nghiệp cụ,
ngoặt hướng khác con đường quyền lực, chính trị đã chọn ông. Dũng cảm quyết định
dời khỏi cái ghế quyền lực mà nhiều người mơ ước, Để rồi: Mê say là chuyện
đã đành/...
Áo cơm se sắt mái đầu/ Thương nhau mà giận, ngó nhau mà buồn. Văn chương là thế, không đam mê hết mình sao được. Đam mê đến mộng mỵ cô đơn, may ra mới góp được cho đời câu thơ, trang viết. Đã đeo đuổi đam mê nghiệp văn sao giàu có được? Phải nghèo khó, lận đận với áo cơm, “Lập thân tối hạ thị văn chương”. Những “ tín đồ” theo đạo văn, thường dễ mủi lòng, động lòng trắc ẩn, thương người, thương thân, và thương nhau. Thương nhau mà bất lực, không thể che chở, sẻ chia bớt nỗi cơ cực, nhường cơm sẻ áo cho nhau, thì hận, thì giận. Hết buồn cho bạn lại giận cho mình. Thi sĩ là những người nhạy cảm hơn ai hết, họ biết trước được nhiều điều. Vì chân thiện mỹ, họ đam mê, chấp nhận mọi thiệt thòi, thậm chí cả khổ đau. Nhưng, cũng chính lòng đam mê, tin yêu con người và cuộc sống, coi đó như những tín điều, nên họ không ngờ tới những phản trắc, ngang trái, những oan khuất… vẫn còn ngang nhiên diễn ra, thậm trí len lỏi vào cả “thánh địa” diễn đàn đại hội nhà văn. Biết đâu tỉnh lại, nhân tình trắng phau. Đó mới là nỗi đau mà thi sỹ không thể chịu đựng chấp nhận được, bởi “văn dĩ tải đạo”. Và có lẽ cũng vì thế mà những bậc hiền triết cao minh xưa như: Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến… từ quan ở ẩn.
Áo cơm se sắt mái đầu/ Thương nhau mà giận, ngó nhau mà buồn. Văn chương là thế, không đam mê hết mình sao được. Đam mê đến mộng mỵ cô đơn, may ra mới góp được cho đời câu thơ, trang viết. Đã đeo đuổi đam mê nghiệp văn sao giàu có được? Phải nghèo khó, lận đận với áo cơm, “Lập thân tối hạ thị văn chương”. Những “ tín đồ” theo đạo văn, thường dễ mủi lòng, động lòng trắc ẩn, thương người, thương thân, và thương nhau. Thương nhau mà bất lực, không thể che chở, sẻ chia bớt nỗi cơ cực, nhường cơm sẻ áo cho nhau, thì hận, thì giận. Hết buồn cho bạn lại giận cho mình. Thi sĩ là những người nhạy cảm hơn ai hết, họ biết trước được nhiều điều. Vì chân thiện mỹ, họ đam mê, chấp nhận mọi thiệt thòi, thậm chí cả khổ đau. Nhưng, cũng chính lòng đam mê, tin yêu con người và cuộc sống, coi đó như những tín điều, nên họ không ngờ tới những phản trắc, ngang trái, những oan khuất… vẫn còn ngang nhiên diễn ra, thậm trí len lỏi vào cả “thánh địa” diễn đàn đại hội nhà văn. Biết đâu tỉnh lại, nhân tình trắng phau. Đó mới là nỗi đau mà thi sỹ không thể chịu đựng chấp nhận được, bởi “văn dĩ tải đạo”. Và có lẽ cũng vì thế mà những bậc hiền triết cao minh xưa như: Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến… từ quan ở ẩn.
Ngay cả người dốc lòng, một đời với chút phận văn chương cũng
chỉ là:
Rạc dài chút phận văn chương
Cao sang nhòe lẫn tầm thường, ngẩn ngơ…
Tôi không dám có lời bình nào về câu kết. Bởi nhà thơ Bằng Việt
mượn lời cụ Nguyễn đề từ đã quá chi tiết rõ ràng. Và có lẽ mọi chuyện vẫn nằm
trong vòng cương tỏa chữ tài, chữ mệnh.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét