Âm nhạc dân tộc Việt Nam
Âm nhạc Việt Nam có một truyền thống khá lâu đời. Ngay từ thời
cổ cư dân ở Việt Nam đã rất say mê âm nhạc. Đối với họ âm nhạc là một nhu cầu
không thể thiếu.
Bởi vậy trong quá trình phát triển lịch
sử cư dân ở đây đã sáng tạo nên rất nhiều loại nhạc khí và thể loại ca nhạc để
bộc lộ tâm tư tình cảm, để có thêm sự phấn chấn và sức mạnh trong lao động,
trong chiến đấu, để giáo dục cho con cháu truyền thống của ông cha, đạo lý làm
người, để giao tiếp với thế giới thần linh trong tâm tưởng và để bay lên với những
ước mơ về một cuộc sống tươi đẹp, hạnh phúc trong hiện tại và trong tương
lai...
Trải qua bao biến thiên, ngày nay tại Việt Nam còn lưu giữ một kho nhạc khí đủ loại từ những dạng đơn sơ nhất cho tới những dạng có sự phát triển khá cao với những kỹ thuật diễn tấu tinh tế.
Tại đây ta có thể nghe những điệu hát ru, những bài đồng dao của trẻ nhỏ, những thể loại ca nhạc trong các nghi thức cúng lễ hoặc dùng trong việc giao tiếp giữa các thành viên cộng đồng, trong lao động, trong vui chơi giải trí với những thể hát đố, hát đối đáp thi tài của trai gái, những điệu hát khi chơi bài hoặc khi kể những áng trường ca, những câu ca tiếng đàn của những người hát rong, của các ban "tài tử" cùng những thể loại ca kịch truyền thống...
Âm nhạc cổ truyền Việt Nam phong phú bởi sự tích đọng những thể loại thuộc nhiều thời đại khác nhau và bởi cả tính đa sắc tộc. Cùng một thể loại ca nhạc song ở mỗi sắc tộc lại có phương thức biểu hiện, diễn tấu và âm điệu riêng. Điệu hát ru Việt khác ru Mường, ru Thái, ru Tây Nguyên... Có tộc dùng lời ca tiếng hát để đưa trẻ vào giấc ngủ. Có tộc lại ru con bằng tiếng đàn, tiếng sáo êm ái.
Xưa kia âm nhạc cổ truyền đã từng đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của người Việt Nam. Ngày nay nó vẫn giữ một vị trí đáng kể trong xã hội. Một số thể loại ca nhạc vẫn tồn tại trong cuộc sống dân dã. Một số khác đã bước lên sân khấu, tiếp tục làm đẹp cho đời và phát huy tác dụng trong cuộc sống mới.
Trải qua bao biến thiên, ngày nay tại Việt Nam còn lưu giữ một kho nhạc khí đủ loại từ những dạng đơn sơ nhất cho tới những dạng có sự phát triển khá cao với những kỹ thuật diễn tấu tinh tế.
Tại đây ta có thể nghe những điệu hát ru, những bài đồng dao của trẻ nhỏ, những thể loại ca nhạc trong các nghi thức cúng lễ hoặc dùng trong việc giao tiếp giữa các thành viên cộng đồng, trong lao động, trong vui chơi giải trí với những thể hát đố, hát đối đáp thi tài của trai gái, những điệu hát khi chơi bài hoặc khi kể những áng trường ca, những câu ca tiếng đàn của những người hát rong, của các ban "tài tử" cùng những thể loại ca kịch truyền thống...
Âm nhạc cổ truyền Việt Nam phong phú bởi sự tích đọng những thể loại thuộc nhiều thời đại khác nhau và bởi cả tính đa sắc tộc. Cùng một thể loại ca nhạc song ở mỗi sắc tộc lại có phương thức biểu hiện, diễn tấu và âm điệu riêng. Điệu hát ru Việt khác ru Mường, ru Thái, ru Tây Nguyên... Có tộc dùng lời ca tiếng hát để đưa trẻ vào giấc ngủ. Có tộc lại ru con bằng tiếng đàn, tiếng sáo êm ái.
Xưa kia âm nhạc cổ truyền đã từng đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của người Việt Nam. Ngày nay nó vẫn giữ một vị trí đáng kể trong xã hội. Một số thể loại ca nhạc vẫn tồn tại trong cuộc sống dân dã. Một số khác đã bước lên sân khấu, tiếp tục làm đẹp cho đời và phát huy tác dụng trong cuộc sống mới.
Nguồn: dulichvietnam.com.vn/
1. Khái niệm về dân ca
Để
có một khái niệm chuẩn về dân ca thật không đơn giản. Người Đức gọi dân ca là
volkslied (tạm dịch là: bài ca của nhân dân), người Pháp gọi là chanson
populaire (tạm dịch là: bài ca phổ cập trong quần chúng), người Anh gọi dân ca
là folk song (tạm dịch là bài ca mang tính dân tộc). Ngay cả trong các tài liệu
Việt Nam về dân ca hay công trình Nghiên cứu của Gs. TS Vũ Ngọc Khánh “Tiếp cận
kho tàng folklore Việt Nam” cũng không có khái niệm cụ thể hay một định nghĩa
công thức về dân ca như các định nghĩa về những phạm trù khác.
Dân
ca Việt Nam là một thể loại âm nhạc cổ truyền, qua việc truyền khẩu, truyền
ngón các bài dân ca, mỗi người diễn xướng có quyền ứng tác tự do, góp phần sáng
tạo của mình vào tác phẩm trong quá trình biểu diễn. Do vậy họ gần như là “đồng
tác giả” với những người sáng tác mà người sáng tác ban đầu không rõ là ai. Một
bài dân ca thường tồn tại với một bản coi như bản gốc, gọi là lòng bản và nhiều
bản được ứng tấu thêm hay sửa đổi gọi là dị bản. Những bài dân ca được nhiều
người yêu thích sẽ được truyền bá đi khắp nơi. Hiện nay các nhạc sĩ đã sáng tác
thêm những lời ca mới dựa trên các làn điệu đã có tạo nên sự đa dạng và phong
phú cho dân ca . Các dịp biểu diễn thường là lễ hội, hát làng nghề ngoài ra thường
ngày cũng được hát lên trong lao động để động viên nhau, hay trong tình yêu đôi
lứa, trong tình cảm giữa người và người. Tuy nhiên mỗi tỉnh thành, dân ca
Việt Nam lại có phát âm, giọng nói và các từ khác nhau nên cũng có thể phân
theo tỉnh cho dễ gọi vì nó cũng có tính chung của miền Bắc, miền Trung và miền
Nam. Ngày nay, khi khảo sát một bài dân ca được phổ biến ở một vùng nào đó, muốn
biết được xuất xứ của chúng, người ta thường dựa vào một vài đặc điểm có trong
đó ví dụ như tiếng địa phương, những địa danh. Đây là cách dễ nhận biết nhất để
nhận ra xuất xứ của một bài dân ca. Nói chung trong các bài dân ca miền Bắc thường
có những từ đệm như: “rằng, thì, chứ...” và các dấu giọng như: sắc, huyền, hỏi,
ngã, nặng được dệt bới những nốt nhạc sao cho việc phát âm được rõ nét. Một số
phụ âm được phát âm một cách đặc thù như: “r, d, gi” hay “s và x” phát âm giống
nhau, không phân biệt nặng nhẹ. Dân ca miền Trung thì thường có chữ “ ni, nớ,
răng, rứa...” dấu sắc được đọc thành dấu hỏi (so với giọng người Bắc), dấu hỏi
và ngã đều được đọc giống nhau và trầm hơn chữ không dấu. Những bài dân ca miền
Nam thì thường có chữ “má (mẹ), bậu (em), đặng (được)...” chữ “ê” đọc thành chữ
“ơ”, dấu ngã đọc thành dấu hỏi,... Nhưng nhìn chung thì vẫn là thoát thai từ
lòng dân với đậm tính chất mộc mạc giản dị của họ.
Ảnh: Liên hoan “Dân ca Ví,
Dặm xứ Nghệ” (Nguồn: st)
Dặm xứ Nghệ” (Nguồn: st)
Theo
GS.TS Trần Quang Hải làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học về Sơ
lược về dân ca Việt Nam: “Dân ca là những bài hát, khúc ca được sáng tác
và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào. Đầu tiên
bài hát có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua nhiều người từ đời này
qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc… Các bài dân ca được gọt
giũa, sàng lọc qua nhiều năm tháng bền vững với thời gian”.
Để
tiện cho việc nghiên cứu, ta có thể hiểu khái niệm về dân ca tạm thời như
sau: Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác được lưu truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác.
2. Sự đa dạng và phong phú của dân ca Việt Nam
Từ
bao đời nay dân ca luôn gắn liền với đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc
trên khắp đất nước Việt Nam. Ngoài những làn điệu thuộc các loại dân ca khác
nhau còn những loại hát có nhạc đệm theo như: Chầu văn, ca Trù, ca Huế… nhạc
tài tử Miền Nam và những hình thức ca kịch độc đáo như Tuồng, Chèo, Cải lương…
Hát Chầu văn là hình thức hát nhạc thờ cúng, có tính chất tôn giáo linh thiêng,
các thầy cúng chuyên nghiệp đánh đàn nguyệt, có giọng hát điêu luyện phụ theo,
thuộc nhiều điệu hát và pha vào là tiếng trống vỗ. Ngoài ra Quan họ Bắc Ninh
cũng là một lối hát phong phú và độc đáo về âm nhạc.Việt Nam là một quốc gia đa sắc tộc với nền văn hóa lâu đời,
do vậy dân ca Việt Nam bao gồm nhiều vùng miền, nhiều thể loại vô cùng phong
phú: dân ca Quan họ Bắc Ninh, hát Ví, hát Dặm (Nghệ An), hát Xoan (Phú Thọ),
hát Trống quân ở nhiều làng quê Bắc Bộ, hát Dô (Hà Tây), hò Huế, lý Huế ở
Trung Bộ, Nam Bộ có các điệu Lý, điệu Hò… dân ca của các dân tộc miền
núi phía Bắc, đồng bào Thái, H’mông, Mường, dân ca các dân tộc Tây nguyên… đều
có những nét riêng, mang bản sắc riêng. Những âm điệu tiết tấu, đặc trưng
của dân ca phần lớn bắt nguồn từ những câu ca dao thâm thúy khúc chiết, loại
thơ vần như lục bát hay những câu đồng dao đơn giản được bổ sung qua nhiều giai
đoạn rồi trở nên những thể loại hát dân gian khác nhau của từng địa
phương, từng vùng đất nước.
Dân
ca Việt Nam rất phong phú và đa dạng, đi liền với tiếng hát ru, đồng dao, trò
chơi trẻ em, rồi đến các điệu hò, điệu lý. Các điệu hát trong khi làm việc,
trong những lễ hội tạo điều kiện cho nhiều thế hệ gặp nhau qua các loại hát
giao duyên. Mức sáng tác lời mới nhiều hơn các thể loại nhạc cung đình, nhạc
bác học, nhạc thính phòng và đưa vào trong văn chương bình dân những đóng góp
đáng kể (hát quan họ). Phần nhiều chỉ có tuỳ hứng lời trên một điệu nhạc (hát
Trống quân, Cò lả…). Chỉ có hát Quan họ là vừa sáng tác lời lẫn nhạc. Riêng
Quan họ theo thống kê mới nhất hiện nay có tới trên 700 làn điệu khác nhau
trong truyền thống hát Quan họ. Còn theo TS Nghiên cứu âm nhạc Hà Thị Hoa thì
hiện nay có khoảng 250 làn điệu Chèo…
Dân
ca lại mang màu sắc địa phương rất đặc biệt, tuỳ theo phong tục ngôn ngữ, giọng
nói và âm nhạc của từng vùng mà khác đi đôi chút. Từ những bài hát ru được nghe
khi còn nằm trong nôi mà các mẹ (bà ,chị) hát ru trẻ ngủ. Loại này được gọi là
hát ru (miền Bắc), ru con (miền Trung), hay gọi là hát đưa em, ầu ơ ví dầu (miền
Nam).
GS. TS Trần Quang Hải nói về Dân ca Việt Nam:
Dân ca Việt Nam được trình bày theo trình tự một đời người, nghĩa
là bắt đầu bằng các bài hát ru khi em bé bắt đầu chào đời, đến khi đứa bé lớn
lên, trưởng thành và chết đi sẽ có những bài hát liên hệ đến từng giai đoạn của
một đời người.
Ngay
từ thuở lọt lòng, dân ca đã dành cho trẻ những bài hát đơn sơ, mộc
mạc nhưng du dương, ngọt ngào để đưa trẻ vào giấc ngủ êm đềm. Chuyển sang tuổi ấu
thơ các em lại được hát lên những bài dân ca, đồng dao để vui chơi giải trí,
luyện cho trẻ quen tiếng nói tiếp cận với thiên nhiên, tìm hiểu những vấn đề xã
hội nảy sinh trong đời sống hàng ngày. Khi trưởng thành trai gái lại tụ họp
nhau thi hát đố, hát giao duyên và các bài hát vui chơi trong đời sống.
Trong
mỗi chúng ta ai cũng có một miền quê, quê hương là cánh đồng lúa thơm ngát, lũy
tre xanh trải dọc bờ đê, là những hình ảnh thân thương nhất đối với cuộc sống mỗi
con người. Hai tiếng quê hương qua những giai điệu ngọt ngào của dân ca như gần
gũi hơn, lung linh hơn nhờ những ca từ đầy hình ảnh.
Chính
vì vậy, khi hiểu được những giai điệu quê hương chúng ta sẽ mang lại niềm
tự hào cho chính mình. Cũng từ đó mà có sự hãnh diện trong lòng khi thấy dân tộc
mình có một nền âm nhạc dân gian phong phú.
Nguồn: spnttw.edu.vn



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét