Thật rủi ro cho dân tộc nào khi sinh ra những anh hùng lại
quên sáng tạo nên các nghệ sĩ lớn. Nếu không có những nghệ sĩ tài hoa, người đời
chẳng có dịp hình dung rõ nét bộ mặt của ông cha, tổ tiên mình! Mấy mươi năm trước, trên đất Đồng Nai văn vật, nhiều chàng
trai sinh ra thời tao loạn đã vươn mình đứng lên thành những anh hùng. Và thật
may mắn, trong số đó, có người đã là nhà văn, nhà thơ nổi tiếng. Lý Văn Sâm là
trường hợp rất tiêu biểu cho cơ duyên ấy. Ông sinh ngày 17.2.1921, đã dành cho
văn chương cách mạng trên 50 năm, coi như gần trọn cuộc đời. Vậy mà, những hiểu
biết khám phá của người đời, nhất là những ai làm văn học sử, mới ít ỏi làm
sao! Nhà văn Lý Văn Sâm Tôi không muốn nhắc lại điều này – gần suốt cuộc đời, từ khi
còn ở tuổi thanh niên, Lý Văn Sâm đã cống hiến hết mình cho cuộc đấu tranh vì tự
do, độc lập của nhân dân. Ông là người đầu tiên đảm nhận vai trò Tổng thư ký Hội
Văn nghệ giải phóng toàn miền Nam (hồi kháng chiến chống Mỹ), là Thư ký tòa soạn
báo Văn nghệ Giải phóng, rồi Phó tổng thư ký Hội Liên hiệp Văn học – Nghệ thuật
Việt Nam… và nhiều năm nữa. Song, trước hết, Lý Văn Sâm vẫn là một nghệ sĩ, ở
đâu và bao giờ, ông vẫn nguyên cốt cách, tâm hồn đa cảm, phóng khoáng và giàu
lòng nhân ái. Lý Văn Sâm đã để lại những dấu ấn không thể phai mờ trên văn đàn
Việt Nam và tồn tại dài lâu trong lòng người, vẫn những dấu ấn ấy! Tôi muốn nói
về ông, với tư cách nhà văn, một người gần gũi với cuộc đời qua những những
trang văn hay và đẹp, có sức lay động những gì sâu xa nhất trong hồn người… Lý Văn Sâm xuất hiện trên văn đàn Việt Nam từ những năm 1940,
Khi đó, ông trên dưới 20 tuổi. Song, bằng những truyện ngắn mà thời xưa, và cho
đến hiện giờ, người ta vẫn gọi là truyện đường rừng, Lý Văn Sâm có chỗ đứng
riêng của mình. Lúc ấy, trên các loại báo chí, sách, người đọc biết nhiều truyện
đường rừng của các cây bút nổi tiếng: Thế Lữ, Lan Khai… Sáng tác của Lý Văn Sâm
xếp chung loại này, vì bối cảnh, con người hầu như thuộc về miền núi, một trong
những tiêu chí khá quan trọng. Do đâu một thanh niên trai trẻ bắt đầu sự nghiệp
sáng tác của mình bằng những câu chuyện đôi khi nửa hư nửa thực này? Quê hương
nhà văn, làng Bình Long bé nhỏ nằm ven sông Đồng Nai, song rất tiêu biểu cho xứ
“mã thượng giang hồ”. Trai làng quanh năm cày sâu cuốc bẫm mà hết đỗi phóng
khoáng, giỏi võ nghệ và cương trực… Dẫu sao, trong tâm hồn nhà văn đã phảng phất
hương vị đậm đà cùa quê bưởi Tân Triều và bao lần xao động bởi sóng nước Đồng
Nai bốn mùa căng đầy phù sa. Lớn lên, sau những tháng ngày nếm trải cuộc sống ở
chốn kinh kỳ (đi học ở Huế), sẵn máu “tài tử”, văn chương, Lý Văn Sâm có dịp cọ
xát đến tường tận cuộc sống đồng bào miền thượng nguồn. Chính mảnh đất mà ông
hay gọi “Mã Đà sơn cước, anh hùng tận” đã nảy nở và phát triển tâm hồn phóng
khoáng, khao khát tự do của Lý Văn Sâm bấy giờ. Nhà văn hồi tưởng lại những năm tháng đó, từng kể rắng mình
có ước ao lập nên gánh hát để phục vụ các nơi với mục đích từ thiện. Đấy là những
ước mơ đậm màu sắc lãng mạn, Với hoàn cảnh bấy giờ, có thể là viển vông. Nhưng
trên hết và trước hết, ý tưởng kia đã hướng về phía nhân quần, những người lao
động bình thường và nghèo khổ. Bởi vậy, truyện đường rừng của Lý Văn Sâm mang bộ
mặt và âm điệu khác hẳn so với các cây bút đương thời. Ở đó, không có những chi
tiết, cảnh tượng rùng rợn, ma quái, kích thích đầu óc phiêu lưu, mạo hiểm,
nhưng hãy còn mù mờ, non choẹt và lắm ngờ nghệch của thiếu niên thị thành để đến
lúc va chạm với đời thực thì hoảng sợ và thất vọng. Truyện đường rừng của Lý Văn Sâm (sau này tập hợp chủ yếu
trong tập Kòn Trô, xuất bản năm 1949, Mười lăm năm hận sử, năm 1947…) với những
người “mã thượng giang hồ” thường bị đẩy đến bước đường cùng, sống ở miệt sơn
cước nhưng tâm hồn đẹp đẽ, sáng trong, dũng cảm, bạo liệt mà cũng hết sức chân
chất, thật thà để có lúc phải chết vì nó. Nhà văn tìm cách gửi gắm vào những
sáng tác ấy khát vọng tự do, công bằng – những điều kiện mà xã hội thời đó
không thể nào có được. Khung cảnh thiên nhiên bàng bạc chất thơ như ánh trăng hằng
đêm vẫn tỏa sáng trên các nẻo đường thôn dã. Còn dãy núi rừng, vẫn uy nghi,
hùng vĩ mà khôngxa lạ, và khác hơn, lại ấp ủ tâm linh người đời : “…Núi Bạch Hổ
đứng sững trong cõi mịt mù của núi ngàn xanh xám. Một miếng mây trắng quấn qua
đầu đỉnh non xa như một bức khăn tang. Hình ảnh trái núi kia trải bao năm cách
biệt, vẫn nguyên vẹn như tấm lòng của một người tri kỷ” (Kòn Trô, 1941). Đấy là
thiên nhiên nhân chứng của người đời cả niềm hạnh phúc lẫn buồn đau ! Có thể
nói, truyện đường rừng của Lý Văn Sâm là sự bắt đầu từ tinh thần lãnh mạn đầy ý
nghĩa nhân sinh đến với lý tưởng đấu tranh vì độc lập, tự do, dân tộc theo ánh
sáng Cách mạng của nhà văn sau này. Đến khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ, Lý Văn Sâm tham gia từ
những ngày đầu. Từ năm 1947-1954 là giai đoạn sáng tác sung sức, quan trọng nhất
của nhà văn. Hầu hết thời gian dó, ông hoạt động báo chí và văn nghệ cách mạng
công khai ở Sài Gòn. Qúa trình sáng tác Lý Văn Sâm cũng là hành trình của một
trí thức tìm đến và hoạt động cách mạng. Đóng góp tiêu biểu, xuất sắc nhất của
nhà văn là việc khắc họa chân dung người trí thức Việt Nam trên những nẻo đường
kháng chiến, đặc biệt là người trí thức mỏi mòn, quẩn quanh khao khát “thèm một
ánh đèn” khi phải sống trong chế độ tù hãm. Bản thân nhà văn (một trí thức theo
Cách mạng), và địa bàn hoạt động đặc biệt (công khai trong vùng địch tạm chiếm)
đã giúp Lý Văn Sâm có được hiểu biết sâu sắc, phong phú và nhiều mặt. Những sáng tác của ông thời kỳ này đã để lại dấu ấn sâu đậm
trong tầng lớp thiếu niên, thanh niên miền Nam. Và cũng chính là nguyên nhân đã
khiến chế độ tay sai bắt giam nhà văn nhiều lần. Ở những sáng tác của mình, Lý
Văn Sâm một mặt phơi bày cuộc sống quẩn quanh, tủi cực của đồng bào trong vòng
kìm tỏa, luôn khao khát tìm về “quê nhau rún”, mặt khác phản ánh sức vươn dậy của
quần chúng vùng kháng chiến. Giọng văn Lý Văn Sâm bao giờ cũng là lời tâm tình,
thiết tha, nồng nàm về quê hương, đất nước, về lẽ sống còn của dân tộc. Với người
chiến sĩ hàng đêm lặn lội dưới ánh trăng, đó là lời ngợi ca trìu mến. Với ai
đang sống mỏi mòn trong vùng tạm chiếm, văn Lý Văn Sâm là lời thiết tha gọi mời,
thúc giục của cuộc đời tháo cũi sổ lồng, tự do ca hát, là tiếng quê hương đậm
đà tình nghĩa… Người trí thức bao giờ cũng ở vào vị trí trung tâm của một dân
tộc, đất nước. Đó là cái “phong vũ biểu” đánh giá phần nào trung thực nhất tâm
hồn, trí tuệ của một quốc gia. Cho dù họ bị ruồng bỏ để hát “bản du cu cuối
cùng của loài người không còn đất sống” như trong văn chương của E. M.
Remarque, nhưng ai dám bảo không tìm thấy ở đấy những tâm hồn đẹp nhất, trí tuệ
tài hoa nhất ? Ở xứ ta, mấy chục năm liền, trừ vài hình ảnh những trí thức “sống
mòn” của Nam Cao trước năm 1945, trong văn chương, đấy vẫn là hình tượng mờ nhạt,
nhiều khi không rõ chân dung. Hoàn cảnh sáng tác đặc biệt, vừa để phục vụ yêu cầu
cách mạng, vừa để có thể hoạt động lâu dài trong lòng địch, cộng thêm ý thức và
bản lĩnh rõ ràng, Lý Văn Sâm trở thành một trong những cây bút hiếm hoi khắc họa
nhiều gương mặt trí thức một cách chân thực và sinh động. Ông vạch ra cuộc sống
quẩn quanh, vô vọng, vô vị của họ trong lòng chế độ cũ mà vẫn nhìn thấy đấy là
những người đêm đêm “thèm một ánh đèn”[1] rồi kích họ “thoát ly” để “trở về”
với “quê nhau rún”. Cũng do hoàn cảnh đặc biệt, nhiều trói buộc của cuộc đời
người trí thức vùng tạm chiếm trong văn chương Lý Văn Sâm được khúc xạ thành
chuyện “vợ bìu con ríu” cầm chân khách nam nhi. Có thể, đó là hình ảnh một người
lầm lạc đến nỗi “tàn một mùa thơ”[2], sự quẩn quanh và níu kéo của gia đình, những
phút giây thương thân, sợ chết khi “ngoài mưa lạnh”[3]… Nhưng đọng lại ở mỗi
sáng tác Lý Văn Sâm thời đó là cảm giác chua xót vì ngột ngạt, hèn kém, niềm ân
hận, nuối tiếc mòn mỏi tuổi xuân và cuối cùng cũng là khao khát được “chim bằng
tung cánh”, được cống hiến cho độc lập, tự do. Bằng sáng tác của mình, nhà văn
đã nhen nhóm nhiệt tình yêu nước của thanh niên, đồng bào trong vùng kìm hãm để
đến khi gặp bão lớn chúng bùng cháy thành biển lửa! Viết về người trí thức, Lý
Văn Sâm thể hiện sự hiểu biết tường tận, trung thực, cả khát khao, hoài bão lẫn
phút giây hèn yếu của họ. Song, bao giờ nhà văn cũng tỏ ra sâu sắc và tinh tế của
người trong cuộc, phân trần, tự vấn như chính bản thân mình. Với những đóng góp
xuất sắc bằng cả tài năng, trí tuệ, và lòng nhân ái, Lý Văn Sâm đã được chính
những người làm lịch sử văn chương thời đó đánh giá là “Một trong hai cây bút
xuất sắc nhất ở miền Nam” những năm 1945-1954. Thời kỳ chống Mỹ và giai đoạn sau này, Lý Văn Sâm viết ít
hơn. Ông phải dành nhiều thời gian cho những hoạt động khác, theo yêu cầu của
Cách mạng. Nhưng Lý Văn Sâm cũng đã để lại được những “bức chân dung”[4]đặc sắc.
Đó là hồi ức về những người thân thuộc trên đường kháng chiến, những trí thức –
chiến sĩ cách mạng đã dũng cảm không ngại hy sinh cho Tổ quốc: Dương Tử Giang,
Trần Hữu Trang, Vũ Tùng, Huỳnh Văn Nghệ… Phải chăng, những “bức chân dung” này
đã bổ sung vào hình tượng những thanh niên trí thức trong cuộc cọ quậy tìm về
dân tộc mà nhà văn đã viết trước đây, trong lòng chế độ cũ? Hành trình văn chương Lý Văn Sâm nằm trọn trên những nẻo đường
kháng chiến của dân tộc. Ông gắn bó suốt đời với nhân dân và yêu thiết tha quê
hương, nơi ông thường gọi bằng cái tên hết sức dân dã mà có sức lay động lòng
người: “quê nhau rún”! Suốt đời ông cống hiến cho sự nghiệp của nhân dân. Còn
với thiên chức người cầm bút, Lý Văn Sâm là người nghệ sĩ đã khắc ghi chân thật
bộ mặt quê hương, đất nước, biết ca khúc khải hoàn cho những chiến thắng và bài
hát tang lễ trước nỗi đau buồn, mất mác của nhân dân. Người trí thức nghệ sĩ chân chính bao giờ cũng phải biết ơn nơi mình sinh ra. Còn người đời và
quê hương của anh ta? Hãy tự hào về người con ruột và tài hoa của mình [5]. Chú thích: [1] Tên một truyện ngắn của Lý Văn Sâm. [2] Tên một truyện ngắn của Lý Văn Sâm. [3] Tên một truyện ngắn của Lý Văn Sâm. [4] Tên tập truyện và ký của Lý Văn Sâm (các chú thích
trong sách không ghi xuất xứ là của nhà văn Lý Văn Sâm; các chú thích khác của
người biên soạn – B.Q.H.) [5] Tựa bài viết do Ban tổ chức hội thảo về nhà văn Lý
Văn Sâm ở Đồng Nai đặt. 23/12/2022 Bùi Quang Huy Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét