Nhà thờ Đức Bà Paris 1
I. Gian phòng lớn
Ngày 6 tháng giêng 1482 tất cả các chuông nhà thờ của thành
phố rung hết cỡ, đánh thức dân Paris dậy.
Họ nôn nao, vì hôm nay là ngày các Vua và hội của thằng Điên. Ở Grève có trồng
cây chúc mừng tại nhà thờ Braqne và trình diễn vở kịch tôn giáo tại dinh Tòa
án.
Từ sáng sớm, nam nữ thị dân khắp nơi đổ về ba địa điểm đã định. Các tư gia và cửa
hiệu đều đóng cửa. Phần đông kéo nhau đến Grève, vì thời tiết mùa này hợp hơn,
hoặc đổ về phòng lớn của Tòa án, nơi kịch tôn giáo sẽ được trình diễn. Phòng
này cửa được che kín. Dân hiếu kỳ đồng lòng bỏ mặc cây chúc mừng thưa thớt hoa,
đứng run rẩy cô đơn dưới bầu trời tháng giêng.
Vở kịch chỉ được bắt đầu sau tiếng chuông thứ mười hai của đồng hồ Tòa án. Nó sẽ
được trình diễn trên một cái bục sát tường, phủ nhiễu điều, gọi là bàn đá hoa
cương. Diễn kịch giờ ấy thế là muộn. Công chúng chờ từ sáng, mỗi lúc thêm đông
nghịt. Vướng víu, sốt ruột, họ cãi lộn vì bất cứ lý do gì. Đám đông phải chờ đợi
quá lâu, lại bị nghẹt thở, bị lèn chặt, bị giam kín, bị xô đẩy, bị chèn ép, nên
họ trở nên mệt mỏi.
Trong sự huyên náo của họ có một cái gì đó gắt gao chua chát.
Người ta chỉ nghe thấy tiếng ca thán, những lời nguyền rủa của bọn sứ giả
phơ-la-măng đã tới từ hai hôm trước để thu xếp đám cưới của thái tử và công
nương Marguerite xứ Flandres, những lời phản ứng viên phán quan của các thương
gia, chống lại Hồng y giáo chủ De Bourbon, pháp quan của Tòa án, chống lại các
tên cảnh sát, gậy lăm lăm trong tay, chống lại cái rét, cái nóng, thời tiết xấu,
chống lại giáo hoàng của các thằng Điên, chống lại giám mục của Paris, chống lại
các hàng cột, các pho tượng, cái cửa đóng kín mít, cái cửa sổ mở toang.
Tất cả làm cho bọn học sinh trường dòng, lũ đầy tớ lẩn trong đám đông rất
khoái, chúng pha thêm vào sự bất bình những lời châm chọc, những trò tai quái,
khác nào chích thêm vào tâm trạng bực dọc những mũi kim nhọn..Trong bọn chúng
còn có một lũ tếu đang táo tợn ngồi vắt vẻo trên đỉnh cột. Sau khi đập vỡ kính
một cửa sổ, chúng ném những cái nhìn, những lời trêu chọc vào đám quần chúng
đang chen chúc trong và ngoài phòng. Qua cử chỉ tức cười, tiếng cười hô hố, tiếng
gọi nhau nhạo báng từ đầu đến cuối phòng, không khó gì không nhận ra rằng bọn
giáo đồ này không phải chia sẻ nỗi bực bội, mệt nhọc của những người có mặt.
Chúng biết khai thác cảnh tượng đang diễn ra để có thể kiên nhẫn chờ màn kịch
khác.
Người ta la hét gọi nhau. Người anh của viên thái thú Gilles Lecornu xuất hiện.
Lập tức những lời chế giễu trút vào lão, Gilles Lecornu toát mồ hôi, thở phì
phò, nổi cáu:
- Ghê tởm! Học trò mà ăn nói với các vị trưởng giả thế bao giờ. Thời ta thì bọn
bay sẽ bị quất cho mấy thanh củi rồi đem thiêu sống.
Sự vui nhộn, những lời giễu cợt càng tăng.
Cuối cùng, đồng hồ điểm chính ngọ. Im lặng thay cho huyên náo. Những cái cổ
vươn ra.
Những con mắt hau háu hướng về phía bàn cẩm thạch, nhưng chẳng có gì cả.
Thế này thì quá lắm.
Người ta đợi một, hai, ba phút, mười lăm phút vẫn chẳng thấy gì. Tấm bục vẫn vắng
tanh.
Sàn kịch câm lặng. Sốt ruột rồi nổi giận. Những tiếng cáu kỉnh bật lên:
"Kịch tôn giáo". "Kịch tôn giáo".
Những cái đầu bốc nóng. Một cơn bão phút trước mới chỉ ầm ĩ, đã bay đến trên
đám quần chúng.
- Phá sạch đi! Phá sạch đi! - Tiếng gào tứ phía nổi lên.
Giữa lúc đó, tấm phông trong cùng vén lên.
Một nhân vật tự xưng là sắm vai Jupiter, tuyên bố:
- Chúng ta sẽ bắt đầu khi nào đức Hồng y giáo chủ tối cao đến.
Tiếng anh ta chìm đi trong tiếng la ó như sấm dậy.
- Bắt đầu ngay lập tức! Diễn ngay lập tức!
Sự cuồng nộ của quần chúng sắp nổ ra gấp đôi thì một nhân vật xuất hiện. Chính
là tác giả của vở kịch: Pierre Gringoirẹ Anh kéo Jupiter ra một góc, hạ lệnh:
- Phải bắt đầu ngaỵ.- Hoan hô! Hoan hô! - Đám quần chúng gào lên.
Tiếng vỗ tay đinh tai. Jupiter lui vào sau tấm màn, trong khi tiếng hò reo cơ hồ
làm rung chuyển cả gian phòng.
Lát sau, người ta bắt đầu thưởng thức vở:
"Lời phán xét công minh của đức Mẹ đồng trinh".
Công chúng đang thành kính nghe thì cái cửa dành riêng cho thượng khách của sàn
diễn mở ra. Giọng sang sảng của người tiếp tân thông báo bất ngờ:
- Đức ông Hồng y De Bourbon đến!
Tội nghiệp cho Gringoire!
Điều anh lo sợ đã xảy ra.
Đức ông đến làm điên đảo cả cử tọa. Mọi cái đầu quay về bục diễn. Chẳng còn
nghe thấy gì hết.
- Đức Hồng y! Đức Hồng y!
Đức Hồng y dừng lại một phút trên bục diễn.
Ngài đưa khuôn mặt lạnh lùng lướt nhìn công chúng. Tiếng ồn ào càng rộ lên. Ai
cũng muốn được nhìn Hồng y giáo chủ rõ hơn. Có người dựa đầu lên vai người bên
cạnh.
Ngài bước vào, chào khán giả rồi chậm rãi đi tới chiếc ghế bành bọc nhung đỏ thắm
dành riêng cho ngài. Có vẻ như ngài đang nghĩ tận đâu đâu. Đoàn tùy tùng gồm
các giám mục, các linh mục lục tục theo sau ngài làm tăng thêm tiếng ồn ào và sự
hiếu kỳ.
Sau Hồng y De Bourbon là các vị phái viên của quận công d'Autriche, xếp hàng
đôi.
Không thể nghĩ tới kịch tôn giáo được nữa.
Anh chàng Gringoire tội nghiệp, hoài công không thể nào tập hợp ngay được các
diễn viên và làm cho họ tập trung chú ý vào vở kịch của anh.
Trong số các người mới đến có các trưởng giả ở Gand, những cái đầu phơ-la-măng
vừa đĩnh đạc, vừa trịnh trọng trông giống như các nhân vật trong bức tranh
Ronde de nuit (tuần tra đêm) của Rembrandt vẽ rất tài tình. Trong số này có
Guillaume Rym và Jacques Coppenole.
Ông này là thợ giày bậc thầy, xuất thân bình dân. Ông giành được thành công mỹ
mãn bởi ông đã trò chuyện thân mật với gã ăn mày tên là Clopin Trouillefou đang
vắt vẻo trên sà của bục diễn, chẳng thèm quan tâm đến nghi thức, mồm không ngớt
van xin:.- Xin làm phúc với, các ông, các bà ơi!
Tình hình đã xấu càng tồi tệ, vì trong khi các kịch sĩ tiếp tục diễn và Pierre
Gringoire hy vọng vở kịch của anh có thể được trình diễn chót lọt, thì
Coppenole thình lình đứng lên, hiệu triệu công chúng đang chỉ chờ có thế:
- Thưa các vị trưởng giả, các vị hào phú của Paris, tôi không hiểu chúng ta
đang làm gì ở đây.
Tôi trông thấy ở kia, trên cái mễ, những kẻ như đang muốn choảng nhau. Không biết
đó có phải là cái mà các vị gọi là kịch tôn giáo không, nhưng cái đó chẳng hay
ho chút nào. Chúng đấu nhau bằng lưỡi và chẳng có gì hơn. Tôi chờ đợi cú đánh đầu
tiên đã mười lăm phút rồi. Chẳng có gì cả. Toàn là một lũ hèn nhát chỉ làm sứt
da nhau bằng những lời chửi bới. Phải gọi đến đây những đấu sĩ của Luân- đôn, của
Rotterdam và lập tức các vị sẽ thấy những cú đấm ra đấm. Thế này đâu có phải điều
người ta đã nói với tôi. Họ hứa có lễ hội của các thằng Điên, cuộc bầu giáo
hoàng. Chúng tôi cũng có giáo hoàng của những thằng Điên ở Gand. Về điểm này
chúng tôi không chịu tụt hậu đâu. Chúng tôi làm như thế này. Chúng tôi tụ họp lại
trong sự huyên náo như ở đây. Từng người một lần lượt chui đầu qua một cái lỗ
và chiềng ra một bộ mặt nhăn nhó. Ai có bộ mặt nhăn nhó xấu nhất thì được bầu
là giáo hoàng, theo sự tán thưởng của mọi người. Đấy mới là trò chơi thật thú vị.
Các vị có muốn bầu giáo hoàng của chúng ta theo kiểu xứ tôi không?
Gringoire muốn phản đối nhưng sự kinh ngạc, sự bất bình, sự giận dữ làm anh tắc
họng.
Mặt khác đề nghị của ông thợ giày được các trưởng giả hoan nghênh nhiệt liệt vì
họ được phỉnh là hào phú. Mọi sự chống đối đều vô ích.
Trong nháy mắt, mọi người đã sẵn sàng thực hiện ý kiến của Coppenolẹ Điện thờ
nhỏ trước bàn đá hoa cương được chọn làm sân khấu của trò chơi nhăn mặt. Miếng
kính vỡ ở cái hoa thị phía trên cửa ra vào tạo thành một lỗ tròn nơi bức tường
đá. Những kẻ tranh tài phải chui đầu qua lỗ tròn ấy. Muốn vươn tới đó chỉ cần đứng
trên hai thùng tôn-nô chồng lên nhau, chẳng biết ở đâu ra. Thể lệ là mỗi ứng
viên, bất kể đàn ông hay đàn bà (vì người ta có thể bầu cả nữ giáo hoàng) phải
nấp trong điện thờ, chùm kín mặt cho đến khi xuất hiện, để cho ấn tượng được
tinh khôi và trọn vẹn. Chỉ một loáng, điện thờ đã đầy những ứng viên. Cửa điện
thờ đóng lại..Trò nhăn mặt bắt đầu. Cái mặt đầu tiên ló ra ở lỗ tròn, mí mắt lộn
ngược, đỏ lòm, miệng ngoác ra như cái mõm, trán nhăn như cái bớt ngạo nghễ. Trận
cười nổ ra không gì ngăn được.
Bộ mặt thứ hai, thứ ba tiếp theo, rồi cái nữa, cái nữa. Tiếng cười, tiếng giậm
chân tăng lên.
Bỗng nhiên một tràng sấm hoan hô nổ tung, xen lẫn những tiếng tung hô dị thường.
Giáo hoàng của những thằng Điên đã được bầu.
Tiếng la hét khắp nơi: "Hoan hô! Hoan hô!" Quả thật cái mặt đang nhăn
nhở ở chỗ hoa thị là một bộ mặt kinh dị. Sau tất cả những bộ mặt biến dạng lần
lượt hiện ra ở lỗ cửa sổ thì cái mặt kỳ dị này ăn đứt trong cuộc bầu cử. Nó làm
cho cử tọa choáng váng. Ngay Coppenole cũng vỗ tay hoan nghênh.
Sự tán thưởng là nhất trí. Người ta lao về phía điện thờ lôi giáo hoàng của những
thằng Điên ra. Hắn sung sướng, đắc thắng. Sự ngạc nhiên, ngưỡng mộ lên đến tột
đỉnh. Cái nhăn nhó chính là mặt hắn tạ Có thể nói toàn bộ con người hắn là một
cái nhăn nhó. Cái đầu to tướng lởm chởm tóc hung, giữa hai vai là một cái bướu
lớn dúi hắn về phía trước. Cặp đùi và cẳng chân lệch vẹo một cách kỳ lạ khiến
chúng chỉ có thể chạm nhau ở đầu gối. Những bàn chân kềnh càng. Những bàn tay
to bè, với tất cả những kỳ hình, dị tướng ấy, hắn có một vẻ cường tráng dẻo
dai, hung tợn đáng sợ. Có thể nói đó là một thằng khổng lồ bị gẫy rời ra, rồi
được gắn lại bừa bãi.
Đó là vị giáo hoàng của những thằng Điên vừa đăng quang.
- Đó là Quasimodo, người kéo chuông nhà thờ! Quasimodo thằng chột! Quasimodo thằng
khoèo! Hoan hô! Hoan hô!
Con quỷ tội nghiệp này có thừa biệt danh để lựa chọn.
Giữa cảnh hỗn loạn này, Quasimodo đứng u buồn, nghiêm nghị trước điện thờ cho mọi
người ngắm tứ phía.
Một giáo đồ tên là Robin Poussepain thì phải, cười vào mũi hắn. Chú này đứng gần
hắn quá. Quasimodo tóm lấy thắt lưng chú, lẳng qua đầu đám đông, xa đến mười bộ.
Cả đám ăn mày, đám đầy tớ, bọn rạch túi, cùng lũ học trò ào đến lục tìm trong tủ
hồ sơ lấy ra cái mũ miện bằng giấy bồi, cái áo choàng.tức cười của giáo hoàng,
của những thằng Điên.
Quasimodo đứng yên, mặc cho mọi người mặc áo cho mình, không thèm nhíu mày, với
một sự dễ bảo ngạo nghễ.
Người ta đặt hắn ngồi lên một chiếc cáng sặc sỡ. Mười hai tên anh chị của phường
các thằng Điên nâng cáng lên vai. Một thứ niềm vui chua chát và khinh thị nở
trên bộ mặt rầu rầu của thằng độc nhỡn khi hắn nhìn thấy dưới đôi chân dị hình
của mình những đầu người đẹp đẽ, thằng đứng, hoàn hảo. Đám rước rách rưới, hò
la ấy theo thông lệ, đi quanh hành lang của tòa dinh thự trước khi diễu ra phố
và các ngã tư.
Quần chúng háo hức đi theo.
Giữa lúc đó, có những tiếng kêu rộ lên:
- Esmeralda! Nàng Esmeralda! Nàng Esmeralda kia kìa! Nàng kia kìa!
- Thế là nghĩa lý gì? Nàng Esmeralda?
Pierre Gringoire thở dài. Lúc này anh đã thành khán giả duy nhất của vở kịch của
mình.
Anh vặn vẹo tay, thất vọng.
Trong lúc bầu giáo hoàng, Gringoire đã tưởng vở diễn của anh có thể chót lọt.
Các kịch sĩ bị anh thúc ép, không ngừng đọc lời thoại và anh cũng không ngừng lắng
nghe họ. Anh đã lợi dụng cảnh ồn ào, quyết định cứ diễn đến cùng, hy vọng công
chúng sẽ chú ý trở lại.
Tia hy vọng leo lét ấy nhen lên khi anh thấy giáo hoàng của những thằng Điên và
đám rước ầm ầm kéo ra khỏi phòng. Khốn thay, đám quần chúng ấy lại là công
chúng của anh. Trong nháy mắt, gian phòng lớn trống không.
Đúng là đòn cuối cùng. Gringoire nhận cú đòn một cách nhẫn nại:
- Quỷ tha ma bắt các anh đi! - Anh gào lên với các diễn viên. - Nếu ta phải trả
giá thì các anh cũng sẽ phải trả giá..
II. Nàng Esmeralda
Khi Gringoire đi khỏi Tòa án thì đường phố đã tối sẫm. Anh
thích trời tối để suy ngẫm về thất bại của vở kịch. Ngoài ra anh không dám về
nhà ở phố Grenier-sur-l'Eau. Anh đã trông mong vào món tiền cha bề trên thù lao
cho tác phẩm thơ để trả cho chủ nhà, ông Guillaume Doulx-Sire, sáu tháng tiền
thuê nhà còn nợ. Suy nghĩ một lát anh nhớ ra là tuần trước anh đã thấy trước cửa
nhà một nghị sĩ, ở phố Savaterie, một bậc thềm, anh đã tự nhủ: khi cần thì bậc
đá này sẽ là một cái gối rất tốt cho một gã ăn mày hay một nhà thợ Anh cảm ơn
Thượng đế đã ban cho anh ý nghĩ tốt đẹp ấy.
Anh sắp vượt qua quảng trường của tòa dinh thự để đi vào cái mê lộ khúc khuỷu của
thành phố thì thấy đám rước giáo hoàng của những thằng Điên đi ngang qua đường.
Tiếng la hét ầm ĩ, đuốc sáng rực. Cảnh tượng ấy làm nhói lên những vết xước
trong lòng tự trọng của anh; anh lẩn trốn trong nỗi cay đắng vì bi kịch không
maỵ Tất cả những gì gợi lại lễ hội ban ngày làm cho anh chua xót và làm rỉ máu
vết thương lòng.
Anh muốn đi qua cầu Saint-Michel, một bọn trẻ con chạy lăng xăng, tay cầm pháo
sáng.
Xa hơn, đám đông hò reo, chiêm ngưỡng những lá cờ trên đó họa sĩ Jehan
Fourbault vẽ chân dung đức vua, thái tử và nhiều nhân vật quan trọng khác.
Gringoire thở dài:
- Sung sướng thay họa sĩ Jehan Fourbault! -Anh quay lưng lại những mảnh giẻ.
Một con phố phía trước mặt. Anh thấy nó tối quá, hoang vắng quá. Anh hy vọng ở
đây sẽ thoát khỏi những âm vang của lễ hội. Anh đi sâu vào con phố, ra tận bờ
sông. Men theo bức tường lớn của vườn ngự uyển, bước trên kè không lát đá, bùn
ngập tới mắt cá chân, anh đến đầu phía tây thành phố. Anh đứng ngắm một lát hòn
đảo nhỏ của người hướng dẫn bò. Trong bóng tối, hòn đảo nhỏ trông như một khối
đen sì, bên kia là dòng sông hẹp trắng nhờ. Nhờ ánh sáng leo lét của một ngọn
đèn nhỏ, người ta đoán ra túp lều hình tổ ong, nơi đó người hướng dẫn bò nghỉ
qua đêm..Gringoire nghĩ:
- Sung sướng thay người dẫn bò! Anh ta không hề nghĩ đến hư vinh, chuyện nhà
vua lấy vợ, những nữ quận chúa De Bourgogne thì bận gì đến anh! Anh không thèm
biết đến nàng Marguerites nào khác ngoài bồn cỏ tháng tư của anh, nơi những con
bò đang gậm cỏ! Còn ta, một thi sĩ, ta bị hò la, ta run rẩy và đế giày của ta
thì mòn mỏng, trong veo có thể làm kính cho cái đèn của anh. Cám ơn anh hướng dẫn
bò! Túp lều của anh làm dịu mắt ta và giúp ta quên đi Paris!
Một tiếng pháo đôi thình lình bật ra từ túp lều hạnh phúc, làm anh tỉnh giấc mơ
màng. Đó là người hướng dẫn bò góp phần mình vào lễ hội, đốt một cây pháo hoa.
Tiếng pháo làm Gringoire sởn da gà:
- Lễ hội phải gió! - Anh kêu lên. - Mi theo đuổi ta khắp nơi chăng? Trời ơi! Đến
tận túp lều của gã hướng dẫn bò!
Anh nhìn dòng sông Seine dưới chân. Một ý định kinh khủng xâm chiếm anh:
- Ôi! Nếu nước không buốt giá thế, thì ta sẵn sàng nhảy xuống sông cho chết
quách!
Thế là, một quyết định tuyệt vọng nảy ra:
Nếu đã không thể thoát khỏi giáo hoàng của những thằng Điên, khỏi những mảnh giẻ
của Jehan Fourbault, khỏi những quả pháo, thì sao ta không mạnh dạn xông thẳng
vào giữa lễ hội, đi đến quảng trường Grève.
- ít ra, biết đâu ta chẳng vớ được một thanh củi của đống lửa liên hoan để sưởi,
và còn có thể có gì để ăn tối nữa. Người ta đã dựng lên ba cái gia huy lớn bằng
đường... Biết đâu mình chẳng có dịp kiếm được vài mẩu vụn... ?
Khi Pierre Gringoire đến quảng trường Grève thì anh rét run. Anh đã đi qua cầu
Pont-aux-Meuniers để tránh cái huyên náo của Pont-au-Change và những lá cờ, giẻ
rách của Jehan Fourbault, nhưng các bánh xe cối xay của đức giám mục đã té bùn
vào anh khi đi ngang. Chiếc áo choàng của anh ướt sũng. Bởi thế anh vội vàng đến
gần đống lửa liên hoan đang cháy rực giữa quảng trường. Nhưng một đám rất đông
đã vây quanh ngọn lửa. Nhìn gần hơn, anh thấy vòng người đông quá, không thể
tính chuyện sưởi nhờ lửa nhà vua được. Khán giả kéo đến càng lúc càng đông. Họ
không chỉ bị thu hút bởi những thanh củi cháy.
Trên một khoảng rộng giữa quần chúng và đống lửa, một cô gái đang nhảy..Cô
không cao lớn, nhưng trông dường như cao lớn, do thân hình mảnh mai cao dong dỏng
vươn thẳng của cộ Nước da cô bánh mật. Có thể đoán rằng ban ngày nước da ấy có
ánh vàng của người †ng- đa-lu và người La Mã. Bàn chân nhỏ nhắn cũng rất †ng-
đa-lu vì trông chúng gọn gàng, thoải mái trong đôi giày xinh xinh. Cô nhảy, cô
lượn vòng, cô xoay tít trên tấm thảm Ba Tư cũ, trải cẩu thả dưới chân cộ Mỗi
khi lượn trước khán giả, cô phóng vào họ tia chớp của cặp mắt to đen láy.
Xung quanh cô, mọi cặp mắt đều chăm chú, mọi cái miệng hé mở, trong lúc cô nhảy
theo nhịp trống rộn ràng. Đôi tay nâng cao trên đầu, mảnh mai, mềm mại, sống động
như một con ong bầu. Bộ đồ lót óng ánh vàng. Cái váy sặc sỡ phồng lên. Mái tóc
huyền. Cặp mắt bừng lửa:
Cô là một tạo vật siêu nhiên! Gringoire nghĩ: - Đ úng là một nàng tiên!
Giữa lúc đó, một bím tóc của nàng tiên xổ ra. Một đồng xu đồng vàng chóe đính
vào tóc cô lăn xuống đất.
- ‰, không được. Đây là một đứa con gái bô-hê-miêng.
Mọi ảo tưởng tan biến.
Cô lại nhảy. Đúng là một cô gái bô-hê-miêng.
Giữa những bộ mặt đỏ lửa, có một người nhìn cô vũ nữ chăm chú hơn cả. Quần áo
anh bị đám quần chúng vây quanh che khuất. Có vẻ như anh chưa quá ba mươi lăm
tuổi, nhưng đã hói. Vài túm tóc lưa thưa, xám, lơ thơ trên thái dương. Vầng
trán cao rộng hằn những nếp nhăn.
Con mắt sâu ánh lên những nét trẻ trung lạ thường. Anh không ngừng dán mắt vào
cô gái, trong lúc cô nhảy nhót điên dại, bay lượn trong niềm hân hoan của mọi người.
Giấc mơ màng của anh chàng dường như mỗi lúc một u tối.
Người con gái độ mười sáu tuổi, mệt thở dốc ra. Nàng ngừng lại, quần chúng hoan
hô nhiệt liệt.
- Djali! - Cô gái bô-hê-miêng gọi.
Gringoire thấy một con dê nhỏ, lông trắng tiến ra, nhanh nhẹn, linh hoạt, bóng
láng. Nó có cặp sừng vàng. Cẳng chân vàng. Vòng cổ vàng.
- Đến lượt mi, Djalị - Cô gái nói.
Cô ngồi xuống duyên dáng đưa cho con dê cái trống. Cô tiếp lời:
- Tháng này là tháng mấy trong năm?.Con dê nhấc cẳng đánh một tiếng trên mặt trống.
Đúng, tháng này là tháng giêng, quần chúng hoan hô.
Cô gái lại nói:
- Djali, hôm nay là ngày bao nhiêu trong tháng?
Djali nâng cẳng chân vàng đánh mười lần trên mặt trống.
Cô gái tiếp tục trò đánh trống.
- Djali, bây giờ là mấy giờ?
Djali đánh bảy tiếng. Đúng lúc đó, đồng hồ của nhà thờ Maison-aux-Piliers điểm
bảy giờ.
Quần chúng kinh ngạc, thán phục.
Một tiếng nói ảm đạm từ đám đông cất lên:
- Đây là trò phù thủy.
Đó là tiếng nói của người đàn ông hói đầu, từ nãy không rời mắt khỏi cô gái bô-hê-miêng.
Cô giật thót người, ngoái lại.
- Trò phạm thánh! Trò ngoại đạo! - Tiếng nói kia lại cất lên.
Cô gái ngoái lại một lần nữa.
- A, lại con người xấu xa! - Cô bĩu môi, xoay mình trên gót chân, nâng cái trống
đi thu lượm tiền thưởng của khán giả.
Thình lình cô đi ngang Gringoirẹ Gringoire choáng người, thò tay vào túi. Cô
gái dừng lại.
Thi sĩ kêu lên: Quái quỷ! Anh tìm thấy trong đáy túi cái sự thật: túi rỗng
không.
Nhưng cô gái xinh đẹp vẫn đứng đó, chờ đợi, mắt mở to, chìa cái trống về phía anh.
Gringoire toát mồ hôi hột. May thay, một sự cố bất ngờ đã cứu anh.
Một giọng nói gay gắt cất lên từ góc tối nhất của quảng trường.
- Mi có xéo đi không, con châu chấu Ai Cập kia?
Cô gái quay lại hốt hoảng. Không phải là tiếng đàn ông mà là tiếng đàn bà. Tiếng
quát ấy làm cho bọn trẻ lảng vảng quanh đó, khoái chí.
- Đó là mụ ẩn cư ở tháp Tour-Roland. -Bọn trẻ cười ré. - Không biết mụ ăn tối
chưa?
Thừa lúc cô gái bối rối, Gringoire chuồn thẳng. Tiếng hò la của lũ trẻ, nhắc
anh: Cả anh nữa cũng chưa ăn tối. Đi ngủ mà bụng rỗng thì phiền thật, càng chẳng
vui tẹo nào khi vừa không ăn tối, vừa không biết ngủ đâu.
Gringoire đang trong tình cảnh như thế.
Không có bánh mì, không nơi trú ngu... Anh đang ngẫm nghĩ về tình cảnh đáng buồn
của mình thì một giọng hát lạ lùng, rất dịu dàng dứt anh ra khỏi nỗi buồn ủ ệ
Cô gái trẻ Ai Cập đang hát.
Trong giọng hát, trong vũ điệu, trong vẻ đẹp của cô có cái gì thật quyến rũ đến
mê hoặc: trong sáng, thanh thoát, nhẹ lâng.
Lời hát của cô gái thuộc ngôn ngữ gì, Gringoire không biết. Anh nghe say sưa. Từ
nhiều giờ nay, đây là những giây phút đầu tiên anh không thấy đau khổ. Giây
phút thật ngắn ngủi.
Vẫn cái giọng đàn bà đã làm gián đoạn điệu nhảy, cắt đứt tiếng hát của cô gái:
- Mày có câm đi không, con ve sầu của địa ngục kia!
"Con ve sầu" tội nghiệp ngừng bặt.
- Ôi, cái cưa mẻ kia đã làm rối loạn tiếng hát êm dịu! - Nhiều khán giả khác chửi
rủa.
- Quỷ tha ma bắt mụ già đi!
Mụ ta có thể sẽ phải hối hận vì đã chống lại cô gái, nếu lúc đó quần chúng
không bị sao lãng bởi đám rước giáo hoàng của những thằng Điên, đuốc bật hồng,
đổ vào quảng trường Grève, sau khi đã diễu qua vô số phố và ngã tư.
Đám rước xuất phát từ Tòa án, dọc đường mộ thêm những kẻ lang thang, những tên
ăn cướp, những tên ma-cà-bông vô công rồi nghề, trông thật kỳ lạ.
Giữa đám rước, những tên anh chị của phường những thằng Điên khiêng một cái
cáng cắm đầy nến. Trên cáng chễm chệ vị giáo hoàng mới của những thằng Điên, gã
kéo chuông của nhà thờ Đức Bà, thằng gù Quasimodo, lấm bê bết, đầu đội mũ lễ, khoác
áo choàng.
Khó mà diễn tả nổi bộ mặt xấu gớm ghiếc của Quasimodo đang nở nang, kiêu hãnh
như thế nào. Lần đầu tiên trong đời hắn được hưởng cảm giác tự trọng. Cho đến
nay hắn toàn bị thiên hạ xem thường vì thân phận của hắn, ghê tởm vì người ngợm
của hắn. Bởi vậy dù điếc đặc hắn vẫn thưởng thức tiếng hoan hô của đám quần
chúng hắn thù ghét. Dù thần dân của hắn có là một lũ bát nháo những thằng điên,
những kẻ cắp, những tên ăn mày thì đã sao. Chúng vẫn cứ là thần dân và hắn là
chúa tể. Hắn coi là nghiêm chỉnh những tiếng hoan hô chế giễu, những sự cung
kính vô giá trị, pha chút sợ hãi đối với tên gù khỏe như vâm..Người ta kinh ngạc,
sợ hãi thấy từ đám đông vọt ra một người, giận dữ kéo tay hắn, giằng lấy cây gậy
gỗ thiếp vàng, biểu tượng quyền lực giáo hoàng điên rồ của hắn.
Người ấy chính là nhân vật hói trán. Ông ta mặc quần áo thầy tụ Khi ông mới từ
đám đông nhảy ra, thoạt đầu người ta không chú ý nhưng rồi mọi người nhận ra.
- Kìa! Đó là thầy Dom Claude Frollo, phó giám mục. Ông định làm gì thằng chột
thế này?
Nó sẽ xé xác ông ra.
Tiếng kêu kinh hoàng dội lên. Tên Quasimodo ghê gớm nhảy từ trên cáng xuống.
Các bà quay mặt đi để khỏi trông thấy cảnh hắn xé xác phó giám mục. Hắn nhảy bổ
đến chỗ linh mục quỳ gối xuống. Linh mục giật cái áo choàng của hắn ra, bẻ gẫy
cây gậy, xé tan cái áo của hắn.
Quasimodo vẫn quỳ gối, cúi đầu, chắp tay.
Giữa hai người diễn ra một cuộc đối thoại kỳ lạ bằng dấu hiệu và điệu bộ vì chẳng
ai nói năng gì. Linh mục đứng thẳng, giận dữ, vẻ dọa nạt. Quasimodo quỳ mọp
khúm núm, vẻ van xin.
Thế mà chỉ bằng một ngón tay trỏ là hắn có thể bóp bẹp ông linh mục.
Cuối cùng, phó giám mục lay mạnh đôi vai lực lưỡng của Quasimodo, ra hiệu cho hắn
đứng lên, đi theo ông.
Cơn bàng hoàng ban đầu qua đi. Lũ điên định bảo vệ vị giáo hoàng thình lình bị
truất ngôi của chúng.
Quasimodo đứng trước linh mục, nghiến răng kèn kẹt, gườm gườm nhìn đám đông vây
quanh, như một con hổ giận dữ.
Linh mục lấy lại vẻ oai nghiêm, ra hiệu cho Quasimodo, và lặng lẽ lui gót.
Quasimodo đi trước ông, gạt đám đông dãn ra.
Sau khi hai người vượt qua quảng trường, bọn hiếu kỳ vô công rồi nghề định đi
theo.
Quasimodo liền đi đoạn hậu, đi giật lùi theo phó giám mục. Trông hắn béo mập,
hung hăng, sừng sộ, gầm ghè như một con thú dữ. Mọi người để cho họ đi sâu vào
một con phố hẹp, tối om.
Không ai dám liều theo.
Gringoire lẩm bẩm:
- Thật là đáng khâm phục... Nhưng ta tìm đâu ra chỗ ăn tối bây giờ?.
III. Cái hũ vỡ
Gringoire mò mẫm theo cô gái bô-hê-miêng.
Anh đã thấy nàng và con dê đi vào phố Coutelleriẹ Anh cũng đi vào phố
Coutellerie.
Anh đi sau cô gái, vừa đi vừa suy nghĩ. Cô gái rảo bước thêm khi thấy các thị
dân về nhà, cái quán rượu duy nhất mở cửa hôm nay đã đóng cửa. Phố xá mỗi lúc một
tối đen và vắng vẻ.
Lệnh tắt lửa đã ban ra từ lâu, chỉ còn một vài bộ hành hiếm hoi. Gringoire đi
theo cô gái Ai Cập vào cái mớ rối rắm gồm các phố nhỏ, các ngã tư, các ngõ cụt
vây quanh nghĩa trang cũ Saints-Innocents.
Anh đã làm cho cô gái để ý từ nãy. Nhiều lần cô quay lại nhìn anh, băn khoăn. Một
lần cô đứng dừng lại, nhìn anh chằm chằm qua ánh sáng hắt ra từ một hiệu bánh
hé mở. Gringoire thấy cô bĩu môi.
Anh theo cô xa xạ Đến khúc ngoặt của con phố, cô mất hút. Anh bỗng nghe tiếng
cô kêu chói lói.
Anh bước gấp.
Phố đầy bóng tối. Một chiếc đèn dầu con ở góc phố giúp anh nhận ra cô gái đang
giãy giụa trong tay hai gã đang tìm cách bịt miệng cộ Con dê khiếp hãi, kêu be
be.
Gringoire la lên:
- Cứu chúng tôi với, các ông đội tuần tra ơi!
Anh can đảm tiến lên.
Một trong hai người tóm giữ cô gái quay lại:
đó là bộ mặt gớm guốc của Quasimodo.
Gringoire không chạy trốn nhưng cũng không tiến thêm bước nào. Quasimodo bước lại
phía anh. Bằng một cái hất tay trái hắn làm anh ngã chổng vó trên mặt đường, rồi
hắn lẩn vào bóng tối, mang theo cô gái sõng sượt trên cánh tay hắn như một mảnh
khăn choàng. Gã đồng bọn theo hắn, con dê tội nghiệp chạy theo miệng kêu thảm
thiết.
- Họ giết người! Họ giết người! - Cô gái kêu.
- Đứng lại! Quân khốn nạn! Thả người phụ nữ ra!.Giọng nói của một kỵ sĩ vang
lên. Người này, thình lình vọt tới từ một ngã tư bên cạnh.
Đó là đại úy của quân cung thủ thuộc đội bảo vệ nhà vua, vũ trang từ đầu đến
chân, kiếm lăm lăm trong tay.
Ông giằng cô gái bô-hê-miêng từ tay Quasimodo, đặt ngang trên yên ngựa. Khi thằng
gù dữ tợn qua được cơn sửng sốt lao theo ông ta để giật lại miếng mồi của gã
thì mười lăm hay mười sáu cung thủ, theo sát đại úy của mình, xuất hiện, vũ khí
trong tay.
Quasimodo bị bắt, bị trói gô lại. Hắn gầm lên, sùi bọt mép. Hắn cắn. Nếu là ban
ngày ban mặt thì chỉ bộ mặt hắn thôi, bộ mặt càng thêm dữ tợn vì giận dữ, cũng
đủ làm cho tốp lính phải bỏ chạy. Đêm đen đã tước mất cái vũ khí đáng sợ nhất:
vẻ xấu xí của hắn.
Thừa lúc đánh nhau, tên đồng bọn chuồn mất.
Cô gái bô-hê-miêng duyên dáng vươn thẳng trên yên của người sĩ quan. Cô chăm
chú nhìn ông mấy giây, dường như thích thú vì vẻ điển trai của ông, và vì ông vừa
kịp thời cứu cộ Rồi phá tan sự im lặng cô nói với ông, giọng hết sức dịu dàng:
- Xin ông cho biết quý danh, thưa ông cảnh vệ?
Viên sĩ quan cũng nhỏm lên, trả lời:
- Đại úy Phoebus de Châteaupers, thưa cô.
Đại úy Phoebus vuốt ria kiểu dân Buốc-gông.
Cô gái tụt xuống ngựa chạy trốn. Một tia chớp cũng không nhanh bằng.
Gringoire bị choáng vì cái ngã, đứng trơ ra trên mặt đường. Dần dần cảm quan của
anh hồi phục rất nhanh. Anh cảm thấy rét cóng. Anh vừa ngã vào vũng nước.
Anh làu bàu trong miệng:
- Thằng quỷ gù!
Anh đứng dậy, bước tiếp. Được một lát, anh thấy một ánh lửa đỏ quạch trong cùng
một con phố hẹp, dài hun hút.
- Cảm ơn Chúa! Kia là ngọn lửa ấm ta đang cần để sưởi và sấy khô quần áo.
Con phố dài, thoai thoải, không được lát.
Mỗi lúc thêm lầy lội. Anh vừa đi được mấy bước thì nhận thấy một cái gì rất lạ.
Phố không vắng vẻ.
Trên suốt chiều dài của nó, đó đây có những đám.lờ mờ, không rõ hình dạng đang
tiến đến ánh lửa đầu phố.
Gringoire tiến lên tiếp, chẳng mấy chốc anh đã theo kịp những con ma, con nọ đi
theo con kia. Càng đến gần chàng càng thấy rõ một tên què cụt khốn khổ đang nhảy
chồm chồm bằng bàn taỵ Anh đi qua, bắt kịp một trong những cái bóng di động và
ngắm kỹ. Đó là một tên bại liệt, vừa què, vừa cụt; què cụt đến nỗi bộ dạng phức
tạp của hắn trông như một dàn giáo biết đi.
Anh muốn bước rảo, nhưng lần thứ ba, có cái gì đó ngáng đường. Cái gì đó, đúng
hơn là ai đó, là một gã mù, một gã mù bé nhỏ đang bơi xung quanh hắn bằng một
cái gậy, kéo theo một con chó to tướng.
Gringoire đi tiếp. Gã mù cũng rảo bước theo anh. Rồi tên bại liệt, tên què cụt
cũng hấp tấp bám theo anh, tiếng thìa, tiếng nạng khua ầm ĩ trên đường phố.
Gringoire chạy. Lũ chúng cũng chạy. Anh vừa dấn vào phố thì những tên què, cụt,
mù, thọt đã nhung nhúc vây quanh. Có những thằng cụt tay, chột mắt, những thằng
hủi máu mủ đầy mình, từ những phố kề bên, những tầng hầm, những hầm nhà, loạc
choạc bước thấp bước cao đổ về phía ánh sáng, miệng rú lên, rống lên, kêu the
thé, dầm trong bùn như những con sên sau mưa.
Gringoire hoảng hốt đi giữa đám ấy, luôn luôn có ba tên hành hung kèm sát. Anh
muốn lộn lại. Trễ quá rồi, vòng vây khép kín và ba tên ăn mày giữ chặt lấy anh.
Đành phải đi tiếp, bị làn sóng không thể cưỡng lại kia đun đẩy. Sự sợ hãi và
cơn chóng mặt khiến anh có cảm tưởng như đang trải qua một giấc mê kinh khủng.
Cuối cùng, anh đến đầu phố. Con phố này đổ ra một quảng trường rộng mênh mông. Ở
đây rải rác có hàng ngàn ngọn lửa chập chờn trong đêm. Gringoire lao vào quảng
trường, hy vọng thoát thân, nhờ vào tốc độ của đôi chân so với ba bóng ma tật
nguyền bám theo anh. Thình lình tên bại liệt ném đôi nạng đi, chạy bén gót anh,
như chưa bao giờ gã in dấu nạng trên đường phố Paris. Tên què cụt đứng thẳng
trên đôi chân. Tên mù chiếu thẳng vào mắt anh cặp mắt nảy lửa.
- Tôi ở đâu thế này? - Nhà thơ kinh hoảng hỏi.
Bóng ma thứ tư đeo sát anh trả lời:
- Ở tòa án của những kỳ quặc..Gringoire nhìn quanh. Đúng, anh đang ở cái Tòa án
của những kỳ quặc, đáng sợ. Nơi, vào giờ này, không một sĩ quan, một quân cảnh
nào lạc vào đây mà không bị nghiền nát.
Đó là một quảng trường rộng, mấp mô, lát cẩu thả như tất cả các quảng trường
Paris thời đó.
Những ngọn lửa lập lòe đó đây. Xung quanh lúc nhúc những hình thù kỳ quái. Tất
cả đi đi, lại lại, hò lạ Có những tiếng cười lanh lảnh, tiếng khóc trẻ con, tiếng
đàn bà.
Gringoire bị ba tên ăn mày nắm chặt như ba gọng kìm, càng lúc càng sợ. Anh bị
đinh tai nhức óc vì cái đám đông đang sủa quanh anh. Anh tự hỏi: Mình rơi xuống
địa ngục chăng?
Giữa lúc đó, một tiếng la nổi lên:
- Dẫn nó đến đức vua! Dẫn nó đến đức vua!
Gringoire lẩm bẩm:
- Đức Mẹ Ơi! Có vua ở đây à? Chắc phải là một con quỷ.
- Dẫn đến đức vua! Dẫn đến đức vua! - Quần chúng đồng thanh. Chúng lôi anh đi,
như có ai cắm ngập móng vào mình.
Ba tên ăn mày không chịu buông ra, giằng lại anh từ tay những tên khác:
- Nó thuộc về chúng tao.
Cái áo chẽn đã mủn của nhà thơ thế là đi đời trong cuộc giành giật.
Đi được mấy bước anh dần dần ý thức được tình hình thực tế nơi đó. Nhìn nhận sự
vật một cách can đảm hơn, anh tĩnh trí lại. Tòa án của những kỳ quặc chỉ là một
tiệm cao lâu, tiệm cao lâu của những kẻ cướp.
Xung quanh một đống lửa lớn cháy đùng đùng, trên một bệ tròn, là những cái bàn
kê rải rác, lung tung. Trên bàn là những vại rượu vang tràn trề. Xung quanh những
vại rượu là những bộ mặt đỏ gay vì lửa và vì rượu vang. Tiếng cười hô hố khắp
nơi. Những cuộc cãi lộn nổ ra.
Một chiếc thùng tôn-nô kê sát đống lửa. Một tên ăn mày chễm chệ trên thùng. Đó
là nhà vua đang ngự trị trên ngai vàng.
Ba tên ăn mày dẫn Gringoire đến trước cái thùng ton-nọ Từ trên bệ cao nhà vua
phán truyền.
Gringoire giật nảy người. Giọng nói này gợi anh nhớ tới một giọng nói khác anh
mới nghe ban sáng: "Xin làm phúc, các ông, bà ơi!" Gringoire ngẩng đầu
trông lên. Đúng là Clopin Trouillefou.
Clopin Trouillefou, với những huy hiệu quân vương của hắn, vẫn mặc bộ quần áo
giẻ rách, không thêm, không bớt. Hắn cầm một ngọn roi có dây da trắng. Hắn đội
một cái mũ đánh đai lấy trán và buộc túm phía trên.
Không hiểu sao Gringoire lại thấy nhen nhóm một chút hy vọng khi nhận ra đức
vua của Tòa án của những kỳ quặc là tên ăn mày của gian phòng lớn.
Anh lắp bắp:
- Thưa thầy, thưa đức ông... Thưa bệ ha...
Không biết tôi phải gọi ngài thế nào đây?
- Đức ông, hoàng thượng hay bạn, ngươi muốn gọi thế nào thì gọi. Nhưng nhanh
lên. Mi có nói gì để tự bào chữa không?
- Tự bào chữa ư? Tôi không thích thế. -Gringoire nói.
Anh lắp bắp nói tiếp:
- Tôi là người sáng nay...
Clopin ngắt lời:
- Chúng ta là quan tòa của ngươi. Ngươi đã xâm nhập vào vương quốc của chúng tạ
Ngươi đã vi phạm những đặc quyền của đô thị chúng tạ Ngươi phải bị trừng trị,
trừ phi mi là ăn cắp, ăn mày hay ma cà bông. Mi có phải như thế không? Chứng
minh đi. Trình bày những giá trị của mi.
- Tôi là tác gia...
Trouillefou không cho anh nói nốt:
- Đủ rồi. Ngươi sẽ bị treo cổ.
- Xin đức ông tha thứ, xin ngài hãy nghe tôi nói. Xin đừng kết tội tôi mà không
nghe tôi trình bày...
Trouillefou xoa cái cằm vẹo của y, nói:
- Nghe đây. Ta không thấy vì sao ngươi lại không bị treo cổ. Ngươi ghét thế à?
Dù sao chúng ta cũng không muốn điều xấu cho mị Đây là cách để mi thoát nạn:
ngươi có muốn nhập bọn với chúng ta không?
Có thể đánh giá tác dụng của đề nghị ấy với Gringoire, khi anh thấy sự sống sắp
rời bỏ mình.
Anh kiên quyết bám lấy sự sống.
- Tôi muốn... muốn quá đi chứ.
- Ngươi bằng lòng nhập bọn với chúng ta à?
- Clopin tiếp lời. - Ta cho ngươi biết rằng vì lẽ đó sau này ngươi cũng sẽ bị
treo cổ thôi nhưng.với nhiều nghi thức hơn, do thành phố Paris chịu phí tổn,
trên một giá treo cổ bằng đá, treo cổ bởi những người trung thực. Cũng là một
điều an ủi. Ngươi có muốn là người của bọn ta không?
- Chắc chắn thế rồi. - Gringoire trả lời.
- Không phải cứ muốn là được. - Clopin nói tiếp. - Thiện chí không thêm được củ
hành nào vào nồi xúp. Ngươi phải chứng tỏ ngươi có thể làm được cái gì chứ. Vậy
ngươi phải móc túi cái ma-nơ-canh.
- Tôi xin nói hay làm bất cứ gì ngài muốn.
Clopin ra hiệu. Bộ hạ của hắn khiêng ra một cái giá treo cổ.
Gringoire lo ngại tự hỏi: Chúng định làm gì thế này?
Tiếng chuông leng keng chấm dứt nỗi lo ngại của anh. Đó là một ma-nơ-canh mà bọn
vô lại treo cổ bằng một sợi dây thừng, một thứ bù nhìn đuổi chim, treo đầy lục
lạc và chuông nhỏ.
Clopin chỉ cho Gringoire một chiếc ghế đẩu cũ, khập khễnh, đặt dưới ma-nơ-canh.
- Mi trèo lên.
- Tôi sẽ ngã gẫy cẳng mất. Ghế đẩu của ông gẫy chân.
- Trèo lên.
Gringoire trèo lên ghế đẩu, đầu và tay chao đảo, nhưng rồi cũng lấy được thăng
bằng.
Nhà vua tiếp tục hạ lệnh:
- Bây giờ xoay chân phải của ngươi quanh chân trái và kiễng trên ngón chân
trái.
Gringoire nói:
- Bẩm đức ông, ngài nhất định bắt tôi phải gẫy cẳng sao?
- Nghe đây, anh bạn. Ngươi nhiều lời quá.
Nói vắn tắt là: Ngươi đứng trên đầu ngón chân, với tới túi con bù nhìn, thò tay
khoắng túi, lấy ra cái ví tiền trong đó. Nhớ không được để cho chuông kêu. Làm
tốt, ngươi sẽ được coi là ăn mày. Chúng ta chỉ còn phải đánh mi trong tám ngày
thôi.
- Tôi sẽ thận trọng. Nhưng nếu tôi làm cho chuông reo thì sao?
- Thế thì ngươi sẽ bị treo cổ. Ngươi hiểu không?.- Tôi chẳng hiểu gì cả. Thế
thì tôi được lợi ở chỗ nào? Một đằng thì bị treo cổ. Một đằng thì bị đánh...
- Nào, nhanh lên. - Nhà vua giậm chân. Cái thùng tôn-nô kêu lên như một cái két
lớn...
Khoắng túi con bù nhìn và thế là xong. Ta báo cho ngươi lần cuối cùng: Hễ ta
nghe một tiếng lục lạc thì ngươi sẽ thế chỗ cho cái ma-nơ-canh.
Gringoire thử cố một lần cuối cùng.
- Nếu bất thình lình có một cơn gió thì sao?
- Thì ngươi cũng sẽ bị treo cổ.
Thấy không thể thoái thác được, Gringoire đành liều. Anh đứng trên đầu ngón
chân, vươn tay ra. Nhưng vừa chạm vào cái ma-nơ-canh thì chiếc ghế đẩu chao đảo,
Gringoire máy móc dựa vào cái ma-nơ-canh, anh mất thăng bằng, ngã lăn xuống đất,
giữa hàng ngàn tiếng chuông nhỏ.
- Tai họa rồi! - Anh kêu lên khi ngã. Anh nằm sấp mặt xuống đất như chết.
Anh đứng dậy. Họ đã tháo ma-nơ-canh ra để nhường chỗ cho anh. Họ dựng anh lên
ghế đẩu. Clopin tiến lại, quàng sợi dây thừng quanh cổ anh, vỗ vai anh:
- Vĩnh biệt anh bạn. Bây giờ ngươi không thể thoát được nữa.
Nhưng hắn ngừng lời như có một ý nghĩ bất chợt:
- Dừng lại một chút. Ta quên. Tục lệ Ở đây là chúng ta không treo cổ một người
nếu không hỏi xem có người đàn bà nào muốn lấy hắn không. Đó là luật
bô-hê-miêng. Chúng ta phải tôn trọng luật ấy.
Không một ai hiến thân, Trouillefou sắp hạ lệnh tối hậu: treo cổ nhà thơ thì có
tiếng nhao nhao:
- Nàng Esmeralda! Nàng Esmeralda!
Gringoire giật mình ngoái nhìn. Đám đông dãn ra, nhường chỗ cho một khuôn mặt
thanh khiết, ngời ngời.
Đó là cô gái bô-hê-miêng.
- Nàng Esmeraldạ - Gringoire nói trong sự xúc động. Tiếng nói ảo thuật ấy đã chắp
nối những kỷ niệm ban ngày.
Cô bước nhẹ nhàng đến gần. Con dê Djali theo sau. Gringoire dở sống, dở chết.
Nàng lặng lẽ ngắm anh..Nàng nghiêm trang hỏi Clopin:
- Ông sắp treo cổ người này à?
- Phải, cô em ạ, trừ phi cô lấy hắn làm chồng.
- Tôi lấy anh tạ - Nàng bĩu cái môi xinh.
Đến đây Gringoire tin chắc rằng mình đã nằm mơ từ sáng và đây là sự tiếp nối của
giấc mơ ấy.
Người ta tháo dây thòng lọng ra, đỡ anh khỏi ghế đẩu. Gringoire phải ngồi xuống
vì quá xúc động.
Chẳng nói một lời, ai đó đem ra một cái hũ sành. Cô gái bô-hê-miêng đưa hũ cho
Gringoire.
- Anh ném hũ xuống đất. - Cô nói.
- Thế thì cái hũ sẽ vỡ làm bốn mảnh.
- Người anh em, - nhà vua đặt tay lên trán.
- Cô ấy là vợ anh. Cô em, anh ta là chồng cô.
Trong bốn năm. Thế nhé!
IV. Những tâm hồn đẹp đẽ
Chuyện này xảy ra đã mười sáu năm vào một ngày chủ nhật sau lễ
giáng sinh, sau lễ chầu tại nhà thờ Đức Bà, một sinh linh còn sống được đặt
trên chiếc giường gỗ, cột chặt trước sân nhà thờ. Theo thời gian, người ta thường
đặt những đứa trẻ bị bỏ rơi trên chiếc giường gỗ ấy. Ai muốn lấy đứa nào thì lấy.
Trước giường là một chiếc chậu đồng để bỏ của bố thí.
Sinh vật kia nằm đấy, một buổi sáng năm 1467. Có vẻ nó kích thích cao độ trí tò
mò của đám đông tụ tập quanh đó. Đám đông gồm phần lớn là các bà già. Trên hàng
đầu, người ta nhận thấy bốn cái áo choàng thuộc về một cộng đồng tu hành nào
đó. Các nữ tu này vi phạm không sợ hãi lời nguyền im lặng. Một bà nói:.- Cái
này là cái gì thưa xở - Bà ngắm nhìn sinh linh đang kêu khóc như mèo hen, oằn oại
trên chiếc giường gỗ.
Bà khác trả lời:
- Tôi không nhận ra là đứa trẻ nữa. Nhưng nhìn nó là phạm tội đó.
- Đứa trẻ bị bỏ rơi này là một con quỷ ghê tởm.
- Xơ có thấy rằng con quỷ bé bỏng này ít ra là bốn tuổi không?
Quả thật, đứa trẻ con này không phải là một đứa bé sơ sinh. Đó là một đống ngọ
nguậy không ngừng, bị nhốt trong một cái túi, đầu thò ra ngoài. Cái đầu ấy khá
dị dạng. Chỉ thấy một đám tóc hung, một con mắt, cái mồm và những cái răng. Mắt
ướt nhoèn nước mắt. Mồm kêu gào.
Răng thì như muốn cắn ai. Cả đống giãy giụa trong cái túi trước sự kinh ngạc của
đám đông cứ mỗi lúc một đông thêm và thay đổi liên tục.
Một linh mục trẻ, từ nãy, lắng nghe những lời đàm tiếu của quần chúng. Ông có vẻ
mặt nghiêm nghị, cái trán rộng, cái nhìn thâm trầm.
Ông gạt đám đông ra, lặng lẽ ngắm đứa trẻ, vươn tay trên người nó:
- Tôi nuôi đứa trẻ này.
Ông ủ nó vào vạt áo thầy tu của ông và mang đi.
Đám đông theo dõi cảnh tượng ấy bằng con mắt sợ hãi.
Lát sau, linh mục đã mất dạng qua Cổng đỏ dẫn từ nhà thờ đến tu viện.
Sự sửng sốt ban đầu qua đi, một bà già nói:
- Các bà chị Ơi, tôi đã bảo linh mục trẻ Claude Frollo này là một tay phù thủy
mà.
Claude Frollo không phải là một kẻ tầm thường. Ông thuộc dòng dõi quý tộc bậc
thấp.
Từ tuổi thơ, bố mẹ đã dành ông cho dòng tu.
Đó là một đứa trẻ rầu rĩ, khắc khổ, nghiêm nghị, rất ham học và học nhanh. Ông
đã học thần học, y học, các nghệ thuật tự dọ Ông thông thạo cách chữa bệnh sốt
và dập gãy xương.
Mười tám tuổi, dường như chàng trẻ tuổi này chỉ có một cái đích duy nhất: hiểu
biết.
Mùa hè 1466, xảy ra đại dịch dịch hạch, giết chết bốn mươi nghìn người trong
lãnh địa hầu tước ở Paris. Tiếng ồn khu vực bị nặng nhất là phố Tirechappẹ Bố mẹ
Frollo ở đây. Cậu giáo đồ trẻ hốt hoảng chạy về nhà bố mẹ. Về đến.nhà thì bố mẹ
anh đã chết. Đứa em nhỏ của anh bị bỏ rơi trong nôi, nhưng vẫn còn sống và đang
kêu gào. Toàn bộ gia đình của Claude chỉ còn có thế. Chàng trai ôm đứa nhỏ ra
khỏi nhà, suy tư.
Tai họa này là một cuộc khủng hoảng trong cuộc đời của Claudẹ Mười chín tuổi,
anh thành mồ côi, thành anh cả, thành chị trong gia đình.
Đầy lòng thương cảm, anh đâm say mê, tận tụy với đứa em.
Đứa nhỏ từ trên trời rơi xuống tay mình, anh quyết định biến nó thành con người
mới. Cái sinh linh tội nghiệp này làm anh xúc động tận đáy lòng. Là một nhà suy
tưởng nghiêm cẩn anh nghĩ về Jehan với tấm lòng nhân hậu vô hạn. Anh quan tâm
chăm sóc nó như chăm chút một cái gì rất mỏng manh. Anh đối với đứa nhỏ hơn là
một người anh. Anh là mẹ nó.
Claude giao nó cho một bà thợ xay gần đại chủng viện chăm nuôi. Từ đó anh thấy
cuộc đời rất nghiêm túc, ý nghĩ về đứa em nhỏ trở thành mục đích học tập của
anh. Anh càng gắn bó thiết tha hơn bao giờ hết với thiên hướng tu hành của
mình.
Ngày Quasimodo (lễ hội sau Phục sinh -ND), sau khi đi lễ chầu về, anh chú ý đến
đám đông các bà già đang quàng quạc quanh giường của những trẻ bị bỏ rơi. Anh đến
gần cái sinh linh khốn khổ. Cái bất hạnh, cái dị dạng, tình trạng bị bỏ rơi của
đứa nhỏ khiến anh nghĩ đến em mình. Một sự thương cảm sâu sắc khiến anh xúc động.
Và anh đã quyết định mang đứa trẻ đi.
Khi lôi đứa bé từ trong bị ra, anh thấy nó quả là dị dạng. Đứa bé có một mụn
cóc phía dưới trán, đầu rụt dưới vai, xương sống cong vẹo, xương óc nhô ra,
chân khoèo. Nhưng nó có vẻ khỏe mạnh. Hình dạng xấu xí của nó làm cho Claude
thêm thương cảm. Anh nguyện nuôi nấng đứa trẻ này vì tình thương với em mình.
Anh nhận nó làm con nuôi và đặt tên là Quasimodo.
Thực tế, Quasimodo chột, khoèo, gù, chỉ là một cái gì gần giống như người.
Năm 1482, Quasimodo đã lớn. Gã trở thành người kéo chuông của nhà thờ Đức Bà nhờ
cha nuôi. Claude Frollo trở thành phó giám mục.
Với thời gian đã hình thành một quan hệ thân thiết giữa người đánh chuông và
nhà thờ.
Quasimodo coi nhà thờ là tổ ấm của mình, nhà mình, vũ trụ của mình. Không có xó
xỉnh sâu.hun hút nào gã không mò vào. Không có tầm cao nào gã không leo tới.
Nhiều lần gã trèo lên mặt tiền của nhà thờ, rõ cao, chỉ duy nhất nhờ vào những
chỗ lồi lõm của các pho tượng. Vì nhảy nhót, leo trèo vùng vẫy giữa những vực
sâu của nhà thờ khổng lồ mà gã trở thành dường như con khỉ, con lạc đà.
Claude Frollo phải vất vả và kiên nhẫn lắm mới dạy cho gã nói được. Nhưng một định
mệnh đã xảy ra. Kéo chuông từ mười bốn tuổi nên gã bị điếc đặc. Tâm hồn gã rơi
vào đêm đen thăm thẳm. Điếc làm cho gã câm. Vì không muốn làm trò cười cho
thiên hạ gã kiên quyết giữ im lặng.
Gã chỉ phá vỡ sự im lặng khi chỉ có một mình.
Gã trở nên độc ác. Độc ác vì hoang dã. Hoang dã vì xấu quá. Sức khỏe phát triển
lạ lùng cũng là nguyên nhân nữa của tính độc ác của gã.
Từ bước đầu đến với con người gã đã cảm thấy và thực sự thấy bị xua đuổi. Lớn
lên, gã toàn chỉ thấy sự hằn học xung quanh gã. Rốt cuộc gã quay lưng lại mọi
người dù không phải không nuối tiếc. Nhà thờ Đức Bà là đủ cho gã rồi.
Sự có mặt của con người kỳ quặc này đem lại cho nhà thờ một cái gì như sức sống,
chỉ cần biết là gã đang ở đây là người ta tưởng như hàng ngàn pho tượng ở các
hành lang sống dậy, cử động được.
Duy nhất chỉ có một người là Quasimodo không dành cho những trò tinh quái, sự hằn
học của gã, có lẽ gã còn yêu hơn cả yêu nhà thờ Đức Bà. Đó là Claude Frollọ Điều
đó thật đơn giản, Claude Frollo đã nhận gã làm con nuôi, đã nuôi nấng, dạy dỗ,
che chở cho gã, đã làm cho gã thành người kéo chuông. Vì thế lòng biết ơn của
Quasimodo rất sâu sắc, say mê vô hạn, dù bộ mặt của cha nuôi lúc nào cũng u uất,
cứng đanh, khắc nghiệt. Lòng biết ơn ấy không hề suy giảm.
Phó giám mục chỉ có Quasimodo là kẻ nô lệ phục tùng duy nhất. Từ khi Quasimodo
bị điếc đã hình thành giữa ông và gã một thứ ngôn ngữ bằng dấu hiệu bí hiểm, chỉ
có hai người hiểu được. Bằng cách ấy, phó giám mục là người duy nhất có quan hệ
giao tiếp với Quasimodọ Trong đời này gã chỉ có quan hệ với hai thứ: nhà thờ Đức
Bà và Claude Frollo.
Năm 1482, Quasimodo đã chừng hai mươi tuổi. Claude Frollo thì khoảng ba mươi
sáu. Một người thì lớn lên, một người thì già đị.Claude Frollo không sao nhãng
việc giáo dục em mình.
Với thời gian, một chút chua chát đã len vào cái công việc dịu dàng ấy. Chú bé
Jehan Frollo, biệt danh là Cối xay gió, nơi chú được nuôi dạy, không phát triển
theo hướng mà Claude muốn. Ông anh trông mong em trở thành một đứa trẻ sùng đạo,
dễ bảo, danh giá.
Chú em thì lười biếng, dốt nát, trụy lạc, thực sự là một con quỷ rất lệch lạc.
Nhiều phen làm cho Claude phải cau mày. Nhưng chú lại rất ngộ nghĩnh, rất tế nhị.
Điều đó làm cho ông anh nở nụ cười.
Chán nản trong tình yêu con người, ông càng hăm hở lao vào khoa học. Dần dần
ông trở nên thông thái, đồng thời ngày càng cứng rắn trong tư cách là linh mục,
ngày càng buồn với tư cách là con người.
Ông say mê lạ lùng nhà thờ Đức Bà. Ông ngắm hàng giờ những bức tượng nơi cửa.
Ông giam mình trong căn phòng hẹp, trong một cái tháp trông ra quảng trường
Grève, kề bên phòng treo chuông. Không ai vào phòng ông. Đêm đêm qua một cửa sổ
nhỏ người ta trông thấy ánh lửa đỏ quạch nhấp nháy. Trong bóng tối, từ tầm cao ấy,
cái đó gây ra một tác động thật lạ.
Bởi vậy, mặc dù sống kham khổ, ông không được cảm tình của dân chúng. Người ta
không ngần ngại lên án ông là phù thủy.
Từ ít lâu nay, người ta thấy ông càng kinh tởm bọn ma-cà-bông. Ông đã xin giám
mục ban bố một chỉ dụ cấm những cô gái bô-hê-miêng không được vào nhảy trong quảng
trường nhà thờ.
Phó giám mục và gã kéo chuông đều không được trẻ con và người lớn quanh nhà thờ
yêu mến.
Mỗi khi Claude và Quasimodo cùng nhau đi ra ngoài (điều này đã nhiều lần xảy
ra), khi người ta thấy thầy trò sóng bước bên nhau, trò đi sau thầy trên những
đường phố hẹp, mát và tối om của tòa nhà thờ Đức Bà thì không ít lời phỉ báng,
giễu cợt, lăng mạ khi họ đi ngang. Bất chấp mạng sống của mình, bọn trẻ con
tinh quái cắm kim vào cái bướu của Quasimodo để cười thả cửa.
Đôi khi có những bà già, ngồi trong bóng râm của cổng nhà thờ, lầu bầu thành tiếng,
lời chào đón mang tính chất "khích lệ": "Đây là một con.người
mang tâm hồn y như hình thù mà nó mang", hoặc một đám học trò chào họ bằng
những lời hò hét.
Nhưng thường thường thì lời lăng mạ bị linh mục và gã kéo chuông bỏ quạ
Quasimodo thì điếc lòi, còn Claude thì quá mơ màng không để lọt tai những lời
êm ái đó.
V. Viện công tố
Bây giờ chúng tôi phải giới thiệu với quý độc giả ngài
Estouteville - thái thú Paris, con người sung sướng được lãnh trách nhiệm xử kiện.
Sáng hôm ấy, 7 tháng giêng 1482, ông thức dậy, tâm trạng rất khó chịu, hằm hằm.
Vì sao có tâm trạng ấy? Chính ông cũng không rõ. Đó là sau ngày hội, ngày ai
cũng thấy phiền muộn, nhất là đối với vị công tố phải dự phiên tòa ở GranđChâtelet.
Chúng ta biết rằng các vị quan tòa thường thu xếp thế nào để ngày xử án của các
vị phải là ngày các vị mang tâm trạng vui vẻ.
Thế mà phiên tòa đã bắt đầu không có ông.
Theo tập quán, các phụ tá của ông đã làm nhiệm vụ của ông.
Từ tám giờ sáng, mấy chục thị dân nam, nữ đã ngồi chen chúc trong một xó tối của
phòng xử án, có rào chắn bằng gỗ sồi, và bức tường vây.quanh. Họ theo dõi một
cách thoải mái cảnh tượng phong phú và thích thú của phiên tòa do luật gia
Florian Bardebienne, phụ tá của ngài thái thú, chủ trì.
Xin độc giả hãy hình dung, nơi bàn thái thú là luật gia Florian Bardebienne,
viên chức hành chính của tòa án Châtelet, ngồi giữa hai chồng hồ sơ, tay chống
cằm, chân xéo vào vạt áo dạ nâu, mặt đỏ gay, quàu quạu, lút vào cái cổ lông cừu
trắng, mắt hấp háy, má phị mỡ sệ xuống cằm.
Vị viên chức tòa án lại điếc. Đó là một khiếm khuyết nhỏ, luật gia Florian chẳng
cho là bất khả.
Các bị cáo lần lượt ra hầu tòa. Tất cả đều bị phạt tiền vì những lỗi không quan
trọng.
Bỗng phía các cảnh sát có sự rậm rịch lớn.
- Cảnh sát kìa. Họ dẫn ai vào đấy?
- Chắc chắn là con mồi săn lớn... con lợn lòi chẳng hạn.
- Này! Này! Đấy là hoàng tử hôm qua, đức giáo hoàng của những thằng Điên, gã
kéo chuông Quasimodo!
Đúng là Quasimodo, bị trói như bó giò.
Cảnh sát vây quanh. Tiểu đội lính được chính viên kỵ sĩ của cuộc vây bổ hỗ trợ.
Về phía Quasimodo chẳng có gì để biện minh cho sự biểu dương lực lượng ấy.
Trông hắn buồn bã, lặng thinh và bình thản. Con mắt độc nhất của hắn thỉnh thoảng
liếc nhìn dây trói, cái nhìn xảo trá.
Hắn cũng liếc nhìn xung quanh, con mắt tắt nguội, lờ đờ như ngái ngủ, khiến các
bà chỉ trỏ cười.
Luật gia Florian chăm chú lật giở hồ sơ của phạm nhân, do viên mõ tòa trình
lên. Ông hình như trầm ngâm một lát. Nhờ sự cẩn thận thường có trước mỗi cuộc hỏi
cung, ông đã biết trước tên họ, tính cách, tội trạng của can phạm, dự kiến trước
những lời phản bác các câu trả lời trong những lắt léo của cuộc lấy cung, khiến
không ai đoán được bệnh điếc của ông.
Sau khi đã nghiền ngẫm kỹ vụ Quasimodo, ông ngả đầu ra sau lim dim mắt để tăng
thêm vẻ oai vệ và công minh của mình, khiến lúc đó ông trở thành vừa điếc, vừa
mù.
- Tên anh là gì?.Một ca không dự kiến trước đã xảy ra: một người điếc thẩm vấn
một người điếc. Chẳng có dấu hiệu gì báo cho Quasimodo biết câu hỏi dành cho hắn.
Gã tiếp tục nhìn quan tòa chằm chặp, chẳng trả lời gì cả. Quan tòa điếc cũng chẳng
thấy có gì báo cho biết tật điếc của can phạm nên ông ta ngờ là hắn đã trả lời
như các can phạm thường vậy. Ông tiếp tục hỏi:
- Tốt. Anh bao nhiêu tuổi?
Quasimodo chẳng trả lời gì hơn. Quan tòa tưởng đã được thỏa mãn, hỏi tiếp:
- Hiện nay tình trạng của anh thế nào?
Vẫn im lặng. Cử tọa bắt đầu xì xào:
- Đủ rồi.
Người viên chức tòa án tưởng rằng can phạm đã trả lời lần thứ ba.
- Anh bị kết tội: một là gây rối loạn ban đêm, hai là làm tổn thương một phụ nữ,
ba là chống lại các cung thủ của nhà vuạ Anh biện bạch thế nào về những điểm ấy?
Lục sự, ông đã ghi tất cả các câu trả lời của can phạm chưa?
Nghe câu hỏi trái khoáy ấy, từ lục sự đến cử tọa đều cười rộ lên. Cười to và
lây lan đến nỗi cả hai người điếc đều nhận thấy.
Quasimodo ngoái lại, nhún cái bướu một cách khinh thị. Luật gia Florian cũng ngạc
nhiên, nhưng ông giả định rằng cử tọa cười vì câu đối đáp bất kính nào đó của
can phạm. Ông nói rất bất bình:
- Tên ngố kia, câu đối đáp của mi đáng để mi ra giá treo cổ. Mi có biết mi đang
nói với ai không?
Không có lý do gì để cuộc đối thoại giữa hai gã điếc dừng lại. Luật gia Florian
sắp trổ tài hùng biện thì cánh cửa tầng dưới mở ra. Quan thái thú bước vào.
Thấy ông vào, luật gia Florian vẫn không ngừng lời:
- Thưa đức ông, tôi tuyên phạt bị cáo này về tội vi phạm nghiêm trọng pháp luật.
Chắc ngài hài lòng?
Ngài Estouteville ngồi xuống, thở như kéo bễ, lau những giọt mồ hôi như hạt ngô
trên trán, rơi cả xuống giấy tờ bầy ra trước mặt ông như những giọt nước mắt.
Ông cau mày, ném về phía Quasimodo một cử chỉ gay gắt đầy ý nghĩa khiến cho gã
điếc cũng phải hiểu rạ.a.ng nghiêm khắc nói:
- Mi đã làm gì, tên ăn cắp?
Tên quỷ tội nghiệp tưởng thái thú hỏi tên tuổi, liền trả lời, giọng cổ khàn
khàn:
- Quasimodo.
Câu trả lời chẳng ăn khớp tẹo nào với câu hỏi làm cho tràng cười nổi lên như
điên và ngài Robert thì giận đỏ mặt, gào lên:
- Mi nhạo báng cả ta à?
- Kéo chuông ở nhà thờ Đức Bà. - Quasimodo trả lời vì tưởng rằng phải cắt nghĩa
với quan tòa hắn là ai.
- Kéo chuông! - Thái thú sáng nay dậy đã mang tâm trạng bực dọc nên không cần đến
những câu trả lời kỳ quặc đến thế, cơn giận của ngài đã bùng lên.
- Kéo chuông à! Ta sẽ cho treo trên lưng mi một đồng hồ chuông gồm những cú gậy.
Mi nghe rõ không?
- Nếu ông muốn biết tuổi tôi thì đến lễ Saint-Martin này tôi hai mươi tuổi. -
Quasimodo nói.
Thế này thì quá quắt. Thái thú không thể chịu được nữa.
- Mi coi thường thái thú à? Tên khốn nạn.
Lính đâu, các ông giải tên này ra giá treo cổ ở Grèvẹ Nện cho nó trong một tiếng
đồng hồ. Nó phải trả giá cho tạ Lục sự thảo quyết nghị án.
Lúc luật gia Florian Bardebienne đọc nghị án để ký thì viên lục sự mủi lòng
thương tên tội phạm khốn khổ, lại gần ghé sát tai viên chức tòa án, chỉ
Quasimodo nói:
- Tên này bị điếc.
Ông hy vọng có thể xin giảm tội phần nào cho phạm nhân.
Ông hy vọng cái đồng bệnh tương lân có thể khơi dậy lòng thương của luật gia
Florian, có lợi cho can phạm. Nhưng như chúng ta đã biết, luật gia Florian
không quan tâm đến việc người ta biết bệnh điếc của ông. Vả chăng ông cũng chẳng
nghe thấy viên lục sự nói gì. Song lại làm ra vẻ có nghe thấy, ông trả lời:
- A! Thế thì lại khác. Tôi không biết như thế.
Vậy thì thêm một giờ hình phạt nữa ở giá treo cổ.
Và ông ký vào bản án đã được sửa đổi như thế.
VI. Cái lỗ chuột
Quảng trường Grève, vào mười giờ sáng.
Cảnh tượng khá thú vị, phảng phất không khí ngày hội.
Mặt đường đầy rác rưởi, ruy băng, giẻ rách, lông mũ, những giọt si của đuốc, những
đồ thừa của những cuộc chè chén. Những người bán rượu, chanh và bia vần thùng
rượu. Một số bộ hành mải miết đi lại. Các nhà buôn nói chuyện, gọi nhau trước cửa
hàng. Lễ hội, các sứ giả, giáo hoàng của những thằng Điên là chuyện cửa miệng của
mọi người. Nói lắm, cười nhiều. Bốn thầy đội cưỡi ngựa đến đứng bốn góc của cột
bêu tội nhân. Sự chú ý của mọi người tập trung vào họ.
Nếu độc giả đưa mắt nhìn về phía tháp Tour-Roland, ở góc bến cảng, bạn sẽ thấy
một ngôi nhà cũ, góc mặt trước có một cửa sổ hẹp chắn bằng hai song sắt, hình
chữ thập, cái cửa mở duy nhất để lọt vào xà-lim nhỏ không cửa, khoét vào bề dày
của tường, một chút không khí và ánh sáng.
Cái xà-lim này nổi tiếng khắp Paris từ ba thế kỷ naỵ Nó được phu nhân ở
Tour-Roland cho đục vào tường nhà bà để vĩnh viễn giam mình trong đó. Bà đang
chịu tang ông bố chết trong cuộc thập tự trinh. Toàn bộ dinh cơ, bà chỉ giữ lại
cho mình chốn nương náu này, còn lại bà hiến tất cho người nghèo và Chúa. Cửa
tháp thì cho xây bịt lại, chỉ trổ ra một lỗ cửa sổ nhỏ, hè cũng như đông.
Trong nấm mồ ấy người đàn bà đợi cái chết suốt hai mươi năm, đêm ngày cầu nguyện
cho vong hồn ông thân sinh, không có một viên đá làm gối, mặc độc một cái bao tải
đen, sống nhờ vào của bố thí của người qua đường đặt trên gờ cửa sổ, khi chết
bà để lại cái xà-lim này cho người phụ nữ nào muốn tự chôn sống trong một nỗi
đau lớn hay một niềm sám hối.
Tháp Tour-Roland không bao giờ thiếu người ẩn cự Nhiều phụ nữ đã đến ở đây cho
đến khi chết. Dân chúng Paris thường gọi nó là "cái lỗ chuột".
Vào thời xảy ra chuyện này xà lim Tour-Roland đang có người ở. Nếu độc giả muốn
biết đó là.ai, thì xin lắng nghe câu chuyện của ba mụ lắm lời đang đi về phía
Cái Lỗ chuột, ngược Châtelet, về phía quảng trường Grève, dọc theo bờ sông.
Hai người ăn mặc kiểu vú em ở Paris, người kia thì có dáng dấp tỉnh lẻ, chị ta
dắt một đứa trẻ lớn. Thằng bé cầm một chiếc bánh. Nó để cho người lớn lôi đi,
chốc chốc lại chệnh choạng.
Rõ là nó chú ý đến cái bánh hơn mặt đường.
Nó ngắm cái bánh rất âu yếm mà không dám ăn.
Ba phụ nữ tên là Mahiette, Oudarde và Gervaise, gần như đồng thanh:
- Nhanh lên, cô Mahiettẹ - Cô lớn nhất, dáng tỉnh lẻ giục. - Tôi sợ chúng ta đến
muộn mất. Người ta nói hắn sẽ bị dẫn từ Châtelet đến thẳng cột bêu tội nhân.
- Cô nói gì thế Oudardẻ Hắn bị bêu ở cột bêu tội nhân một tiếng cơ mà. Còn kịp
chán.
- Nhìn đám đông tụ tập ở đầu cầu kia kìa.
Họ nhìn cái gì đó. - Mahiette nói.
Gervaise nói:
- Tôi nghe thấy tiếng trống. Tôi nghĩ là cô Esmeralda cùng con dê, đang xin làm
phúc.
Nhanh lên Mahiette! Rảo cẳng lên. Lôi thằng nhỏ của cô đi. Cô đến đây để xem những
cảnh lạ của Paris. Hôm qua cô đã thấy người Flamand.
Hôm nay cô phải xem cô gái Ai Cập.
- Cô gái Ai Cập à? - Mahiette thất thần quay ngoắt lại, nắm chặt tay đứa con. -
Chúa xá tội cho tôi. Cô ta ăn cắp thằng nhỏ của tôi mất. Đi, Eustache.
Cô chạy ra cảng về phía quảng trường Grève cho đến khi cây cầu ở mãi phía sau.
Đứa bé bị tha lôi, ngã khuỵu xuống. Cô dừng lại thở, Oudarde và Gervaise đuổi kịp.
- Cô gái Ai Cập kia đánh cắp con cô à? Cô nghĩ gì ngộ vậy? - Gervaise nói.
Mahiette nhún vai, dáng nghĩ ngợi.
Oudarde nhận xét:
- Kỳ lạ là người đàn bà ẩn cư cũng nghĩ về những mụ Ai Cập như vậy.
- Người đàn bà ở ẩn là ai? - Mahiette hỏi.
- ‰, đó là mụ Gudule, mụ già ở Cái Lỗ chuột.
- Sao! - Mahiette hỏi. - Người đàn bà tội nghiệp chúng ta đem bánh đến cho ấy
à?
Oudarde gật đầu:.- Đúng đấy. Lát nữa cô sẽ thấy bà ta qua lỗ cửa sổ trông ra
Grèvẹ Bà ta cũng nghĩ như cô về những người Ai Cập lang thang, đánh trống và
bói toán. Chẳng hiểu vì đâu mà bà khiếp sợ những người đàn bà Ai Cập đến thế.
Mahiette à, tại sao trông thấy họ cô lại chạy trốn như thế?
Mahiette nắm đầu đứa trẻ:
- Tôi không muốn lại xảy ra chuyện như đã xảy ra với Paquette la Chantefleurie.
Gervaise nắm cánh tay Mahiette:
- A, cô kể lại chuyện đó đi.
- Tôi vui lòng. - Mahiette trả lời.
Chị kể câu chuyện về một người mẹ tội nghiệp tên là Chantefleurie bị bọn Ai Cập
đánh cắp mất đứa con gái nhỏ xinh xắn. Người ta đã thấy chúng lởn vởn quanh
nhà. Đứa nào cũng rám nắng, tóc xoăn tít, tai đeo khuyên bạc. Mặt bọn đàn bà
còn đen hơn, tóc buộc túm như đuôi ngựa. Chúng từ Ai Cập đến, đi qua Ba Lan.
Chantefleurie đã chỉ cho chúng con gái mình và nhờ chúng bói hộ.
Một mụ Ai Cập nói:
- Nó sẽ là hoàng hậu.
Chantefleurie quay về nhà, rất hãnh diện vì đã mang về nhà một nữ hoàng tương
lai.
Hôm sau, nhân lúc đứa bé đang ngủ, chị ta sang khoe với hàng xóm: con Agnès của
chị sẽ được dùng ngự thiện với đức vuạ Về nhà chị thấy cửa mở toang. Chị vào
nhà, chạy đến bên giường. Đứa trẻ không còn đấy, chỗ nó nằm trống trơn. Chẳng
thấy đứa bé đâu, chỉ thấy đôi giày tí xíu của nó. Chị lao ra khỏi phòng, nhảy
xuống cầu thang, đập đầu vào tường, kêu gào:
- Con tôi! Con tôi đâu? Ai đã lấy mất con tôi?
Chị lang thang khắp thành phố, chạy hết chỗ này đến chỗ khác suốt ngày, điên dại,
thất thần, dò xét hết cửa sổ này đến cửa sổ khác như một con thú hoang mất con.
Chị thở hồng hộc, tóc rũ xuống trông rất sợ. Chị giữ người qua đường lại, kêu
khóc: "Con gái tôi! Con gái xinh đẹp của tôi! Ai trả con gái cho tôi, tôi
xin làm con hầu cho người ấy!".
Buổi chiều chị về nhà. Trong lúc chị vắng nhà, một bà hàng xóm đã trông thấy
hai mụ đàn bà Ai Cập lén lút lên gác, có một cái bọc trong tay rồi vội vàng đi
xuống, lẩn mất. Sau khi hai.mụ đi, người ta có nghe thấy tiếng gì như tiếng trẻ
con. Người mẹ cười khanh khách, chạy bay lên gác như có cánh. Bà vào phòng. Một
điều kinh khủng, Oudarde ạ: Thay vì đứa con gái Agnès xinh đẹp của bà, một tặng
phẩm của Chúa lòng lành, bà chỉ thấy một con quỷ nhỏ, xấu đến kinh người, thọt
chân, chột mắt, dị dạng, bò lồm cồm trên sàn, miệng kêu như mèo. Bà mẹ bưng mặt,
khiếp đảm:
- Ôi! Phải chăng là phù thủy đã biến con ta thành con vật đáng hãi này?
Người ta vội vàng mang đứa bé đi. Bà mẹ tưởng phát điên. Đó là đứa con quái dị
của một mụ Ai Cập nào đó. Đứa bé khoảng chừng bốn tuổi, nói một thứ tiếng gì
không phải tiếng người.
Chantefleurie vồ lấy chiếc giày nhỏ, tất cả những gì còn lại của đứa con yêu của
chị. Chị đứng phắt dậy, vừa chạy vừa gào:
- Đến trại của bọn Ai Cập! Đến trại của bọn Ai Cập!
Nhưng bọn Ai Cập đã nhổ trại đi rồi. Trời tối đen như mực. Không thể đuổi theo
chúng được. Hôm sau, cách đó chừng hai dặm, trong một bãi rậm, người ta thấy
tro tàn của một đống lửa lớn và một vài đoạn ruy-băng của đứa trẻ.
Khi Chantefleurie được tin hãi hùng đó, chị không khóc, chỉ mấp máy môi như muốn
nói mà không nói được. Hôm sau tóc chị đổi màu xám.
Hôm sau nữa, chị biến mất.
- Thật là một chuyện kinh khủng. - Oudarde nói. - Tôi không ngạc nhiên khi thấy
chị sợ bọn Ai Cập đến thế.
Mahiette bước đi, im lặng.
Gervaise hỏi:
- Có ai biết Chantefleurie sau này ra sao không?
- Không ai biết.
Ngừng một lát, chị nói thêm:
- Tuy nhiên, có người nói trông thấy chị ta trên đường ở Paris. Chị ta đi chân
không trên đá sỏi. Người khác thì khẳng định: chị ấy đã chết đuối.
Gervaise hỏi:
- Thế còn chiếc giày nhỏ?
- Biến mất cùng với bà mẹ. - Mahiette trả lời..- Còn con quỷ nhỏ thì sao? -
Oudarde bỗng nhiên hỏi.
- Đức giám mục đã ban phước cho nó, giằng nó ra khỏi tay quỷ dữ, gửi về Paris,
đặt trên chiếc giường của những đứa trẻ bị bỏ rơi trước nhà thờ Đức Bà.
- Thế rồi, ở Paris, người ta đã làm gì nó, Mahiette?
- Tôi không rõ. - Mahiette trả lời.
Nói đến đây, ba người đi đến quảng trường Grèvẹ Mải nói chuyện, họ đi vượt qua
tháp Tour-Roland mà không dừng bước. Họ máy móc đi đến cột bêu tội nhân, quần
chúng xúm xít xung quanh, mỗi lúc một đông thêm. ắt hẳn họ đã quên phắt Cái Lỗ
chuột, nếu như Eustache không nhắc:
- Mẹ Ơi, con có thể ăn cái bánh này không?
Câu hỏi gợi lại sự chú ý của Mahiette:
- Chà, chúng ta quên bà ẩn cư mất rồi! Chỉ cho tôi Cái Lỗ chuột, tôi sẽ mang
bánh đến cho bà ta.
Oudarde nói:
- Có ngay lập tức. Đây là một việc thiện.
Ba người đàn bà lộn lại, đến gần Tour-Roland, Oudarde nói:
- Tôi sẽ ghé nhìn qua lỗ cửa sổ. Bà ta hơi quen tôi. Tôi sẽ báo khi nào các chị
có thể tới.
Một mình chị ta lại gần cửa sổ. Vừa ghé mắt vào thì mặt chị lộ vẻ xót thương
sâu sắc. Lát sau, chị làm hiệu cho Mahiette đến gần. Mahiette bước đến cảm động,
lặng lẽ. Rồi cả ba người đàn bà cùng nhòm qua lỗ cửa sổ. Đầu họ che lấp mất ánh
sáng yếu ớt của xà-lim, nhưng con người khốn khổ vẫn không chú ý đến họ.
Oudarde nói:
- Đừng quấy rầy bà tạ Bà ấy đang cầu nguyện.
Mahiette ngắm cái đầu hốc hác, héo hon, lởm chởm tóc, với một niềm xúc động mỗi
lúc một tăng, nước mắt đầm đìa.
Chị lẩm bẩm:
- Thật là lạ lùng! Các chị gọi người đàn bà này là gì?
Oudarde trả lời:
- Chúng tôi gọi bà ấy là bà chị Gudule.
Mahiette tiếp lời:.- Còn tôi thì tôi gọi bà ấy là Paquette la Chantefleuriẹ Nói
đoạn chị ta đặt một ngón tay lên miệng, ra hiệu cho Oudarde đang ngạc nhiên,
chui đầu qua lỗ cửa sổ mà nhìn.
Oudarde nhìn theo hướng nhìn của bà ẩn cư, thấy một chiếc giày nhỏ bằng satanh
hồng thêu chỉ vàng và bạc.
Gervaise nhìn sau Oudarde và cả ba người đàn bà cùng khóc.
Cái nhìn và những giọt nước mắt của họ không làm cho bà ẩn cư phân tâm. Bàn tay
bà ta chắp lại. Môi câm lặng. Mắt nhìn đăm đăm.
Ai biết chuyện bà ta và chiếc giày nhỏ kia, thấy thế, tất phải nát tan lòng.
Ba người đàn bà không thốt được một lời, dù nói nhỏ cũng không.
Cuối cùng Gervaise cô gái tò mò nhất, thử làm cho bà ẩn cư nói:
- Bà chị! Bà chị Gudule!
Cô gọi lại, mỗi lúc một cao giọng hơn. Bà ta vẫn không động đậy. Không một tiếng
nói, không một cái nhìn, không một tiếng thở dài.
Đến lượt mình Oudarde gọi bà, giọng dịu dàng hơn.
Vẫn sự im lặng ấy. Vẫn sự bất động ấy.
Oudarde thở dài, nói:
- Có lẽ bà ta điếc.
Gervaise thêm:
- Có lẽ bà ta mù.
Mahiette:
- Có thể bà ta đã chết.
Eustache lên tiếng:
- Mẹ, con muốn nhìn thấy.
Tiếng nói trẻ con, trong trẻo, tươi mát làm cho bà già bừng tỉnh. Bà rùng mình
toàn thân, răng đánh lập cập. Bà nhổm dậy, nắm hai bàn chân như để sưởi ấm nó:
- Ôi, lạnh quá!
Oudarde nói, rất thông cảm:
- Tội nghiệp bà. Bà có muốn một chút lửa không?
Bà lắc đầu từ chối, nhìn trân trân vào Oudarde, nói:
- Nước.
Oudarde nài:
- Không, bà chị ạ. Đó không phải là đồ uống của tháng giêng. Bà ăn chiếc bánh
này, chúng tôi nướng cho bà đấy..Bà già đẩy cái bánh ra, nói:
- Bánh mì đen.
Bỗng nhiên chân tay bà già run lên, giọng nói rung lên, mắt sáng lên. Bà quỳ gối,
vươn bàn tay trắng, gầy guộc về phía đứa trẻ, nhìn nó sửng sốt:
- Mang đứa bé này đi! Đứa con gái Ai Cập sắp qua đây! Trời chu đất diệt mị Ta
nguyền rủa mi, đứa con gái Ai Cập kia!
Bà ngã vật ra, mặt úp xuống đất, trán đập vào sàn nhà, như tiếng một hòn đá rơi
xuống đá.
Ba người tưởng bà chết. Nhưng lát sau bà lại động đậy, lết trên đầu gối và khuỷu
tay, bò đến góc phòng có chiếc giày nhỏ. Mấy người đàn bà không dám nhìn và
cũng không thấy bà đâu nữa, chỉ nghe tiếng hàng nghìn cái hôn, hàng nghìn tiếng
thở dài lẫn những tiếng kêu xé ruột.
VII. Một giọt nước mắt đổi lấy một giọt nước
Những lời nói trên của bà ẩn cư có thể nói là điểm giao tiếp
của hai cảnh tượng diễn ra song song cùng một lúc, ở hai nơi, một là ở Lỗ Chuột
như chúng ta vừa đọc, một nữa ở cột bêu tội nhân. Cảnh thứ nhất chỉ có ba người
đàn bà chứng kiến. Cảnh thứ hai, khán giả là đông đảo quần chúng xúm xít trên
quảng trường Grève, vây quanh cột bêu tội nhân và giá treo cổ.
Dân chúng không tỏ vẻ sốt ruột lắm. Họ giải trí bằng cách ngắm nghía cái cột
bêu tội nhân, một thứ công trình rất đơn giản gồm một hình hộp vuông xây bằng gạch,
cao mười bộ, rỗng ở giữa. Một tam cấp làm thang dẫn đến mặt bằng tầng trên, có
một bánh xe gỗ sồi đặt nằm ngang. Người ta buộc tội nhân vào bánh xe ấy, quỳ gối,
tay bẻ quặt ra sau, mặt lần lượt.chiềng ra mọi phía. Người ta gọi thế là
"quay" tội phạm.
Phạm nhân đến, bị buộc chặt vào xe bò. Hắn leo lên mặt bằng. Trông thấy hắn,
người ta nhận ngay ra là Quasimodọ Tiếng hò la inh ỏi. Tiếng cười, tiếng hò hét
vang dậy.
Đúng là hắn. Một cuộc trở lại kỳ lạ: Hôm qua hắn còn được chào đón, được xưng tụng
là giáo hoàng, là ông hoàng của những thằng Điên.
Hôm nay thì hắn bị buộc vào cột bêu người.
Michel Noiret, người thét loa của nhà vua, yêu cầu mọi người yên lặng, gào lên
bản án theo lệnh và sự chỉ huy của ngài thái thú. Sau đó hắn lui về phía sau xe
bò, đứng cùng với người của hắn.
Quasimodo, mắt phớt lạnh, không nhíu mày.
Mọi sự chống cự đều bất khả vì y bị trói chặt bằng xích sắt và dây dạ Hắn để mặc
cho lính dẫn đi, lôi đi, kéo lên, trói lại. Trên mặt hắn chỉ là một sự ngạc
nhiên hoang dã, đần độn.
Người ta bắt hắn quỳ trên bánh xe, lột áo hắn ra, mình trần đến thắt lưng, trói
hắn bằng dây da mới. Hắn để mặc cho muốn làm gì thì làm. Thỉnh thoảng hắn thở
phì phò ầm ĩ. Quần chúng cười như điên khi thấy cái bướu trần và bộ ngực lạc đà
của Quasimodo.
Giữa tiếng cười, một người mặc chế phục của tòa thị chính, người ngắn ngủn, mặt
câng câng, đến đứng gần tội nhân. Đó là Pierrat Torterue, tên hành tội của
Châtelet.
Thoạt tiên hắn đặt một cái bình đen đựng cát ở góc đài bên người, cởi bỏ áo
ngoài, tay phải lăm lăm một ngọn roi mảnh, đầu có dây da trắng, thắt nút, bọc
kim khí. Tay trái, hắn lơ đãng vén tay áo sơ mi lên đến nách. Rồi hắn giậm
chân. Bánh xe quaỵ Quasimodo nghiêng ngả dưới dây trói. Sự kinh ngạc bỗng hiện
trên khuôn mặt dị dạng của hắn, khiến quần chúng cười rộ lên.
Thình lình, khi bánh xe phơi lưng Quasimodo ra trước Pierrat thì hắn vung tay
lên. Những sợi dây da rít trong không khí và trút xuống vai kẻ khốn nạn.
Quasimodo nảy người lên như bất giác sực tỉnh.
Hắn bắt đầu hiểu. Hắn vặn người trong dây trói.
Cú đánh thứ hai theo sau cú thứ nhất, rồi cú thứ ba, cú nữa và cú nữa... tiếp
mãi. Bánh xẹkhông ngừng quay, cũng như những cú đánh không ngừng mưa xuống.
Quasimodo, ít ra là bề ngoài, lấy lại cái vẻ phớt tỉnh ban đầu. Lúc đầu hắn còn
định giật đứt dây trói. Mắt hắn nảy lửa. Bắp thịt hắn căng ra, tứ chi hắn gồng
lên. Những sợi dây da và dây xích căng ra.
Sức cố gắng là mãnh liệt, ghê gớm, tuyệt vọng. Quasimodo mệt lả lại xẹp xuống,
sự sửng sốt thay bằng một thứ tình cảm cay đắng, chán nản sâu sắc. Hắn nhắm con
mắt độc nhất lại, gục đầu xuống ngực, giả chết. Từ đó hắn không động cựa nữa,
không gì có thể làm cho hắn cử động.
Cuối cùng, viên lục sự của Châtelet, mặc đồ đen, cưỡi ngựa đen, từ đầu cuộc gia
hình vẫn đứng cạnh thang, giơ chiếc đũa mun về phía bình cát. Quasimodo từ từ mở
mắt. Cuộc đánh roi kết thúc.
Hai tên phụ việc của lão gia hình rửa vai cho tội nhân, xoa một thứ thuốc mỡ gì
đó làm cho những vết thương nứt toác của tội nhân khép miệng, ném lên lưng hắn
một cái khố vàng như kiểu áo choàng.
Đối với Quasimodo, chưa phải là đã hết nợ.
Hắn còn phải chịu buộc một giờ nữa ở cột bêu người, hình phạt mà luật gia
Florian Bardebienne đã thêm vào bản án của ngài Estouteville.
Người ta dốc bình cát ra. Tên gù bị cột vào ván để cho công lý được thực thi đến
cùng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét