Đi sẽ đến, tìm sẽ gặp
Có một dòng sông Hương chảy bên ngoài Tổ quốc: ý tưởng ấy
thôi thúc tôi đi đến, tìm gặp “dòng sông tâm thức” này. Và rồi tôi đã có dịp đến
với Những ngày văn hóa Việt Nam tại Đức vào cuối năm 2002. Đã đi thì
sẽ đến.
Từ sân bay Tân Sơn Nhất, quá cảnh Bangkok, sau đó bay đến
Frankfurt, rồi chuyển sang máy bay khác tiếp tục đến Muenchen (Đức). Một chuyến
bay xa xôi và lạ lẫm. Hầu như con người và cảnh vật nơi xứ người đều rất trật tự
và bắt mắt. Ấn tượng đầu tiên là sân bay quốc tế Frankfurt, cứ một phút là
có một chiếc máy bay cất cánh hoặc đáp xuống đường băng. Ấn tượng tiếp sau là
con đường dẫn từ sân bay Muenchen về phố Franendorfertragte, hai bên đường trồng
nhiều loại cây leo và loại hoa rực rỡ sắc màu. Những ngày văn hóa Việt Nam tại
Muenchen (Đức) đã diễn ra với nhiều loại hình hoạt động nghệ thuật như biểu diễn
tuồng Đông Lộ Địch, Chương trình ẩm thực văn hóa Huế, giao lưu văn nghệ giữa
đoàn và bà con đồng hương… đã thành công ngoài dự kiến. Những tập sách đã thay
tôi nói được rất nhiều điều về Huế đẹp. Khi đi, tôi có mang theo một số tập
sách Nhớ Huế và các tác phẩm của riêng mình…
Với người Huế xưa thì miếng trầu làm đầu câu chuyện, còn với
tôi chính là những tập sách Huế thơ, về hương sen, chùa, làng, trường học…, về
áo dài, món ăn Huế, về tình đồng hương, về mùa xuân, mùa thu, giọt mưa Huế… nơi
quê nhà. Dường như con đường “đi và đến” không có cản ngại nào, mà trái lại thật
tự nhiên, cởi mở và thân tình. Dưới bầu trời xám, mưa lất phất và lành lạnh
trên những con đường xao xác lá vàng, hay trong khán phòng, hội trường hoặc ở
ngoài hành lang, trên phố đi bộ, một số người Việt mà tôi chưa hề quen biết, đã
tìm gặp tôi và vài người trong đoàn. Và rồi những tập Nhớ Huế là món quà mà bà
con xa quê rất yêu thích. Họ mỗi người có một hoàn cảnh sống. Ái Vân là nghệ sĩ
múa ba lê, đang sinh sống tại Muenchen bằng nghề múa của mình, chị Thanh Tùng
làm công nhân của hãng, anh Đ. làm ở một công ty điện tử, anh chị L. thì mở cửa
hàng bán buôn. Có người lấy vợ Đức, chồng Tây… Họ sống bươn bả và tất bật. Các
thành phố Muenchen, Frankfurt, Saarbruicken, Berlin… mà tôi đã đến
thì số người Huế xa xứ thường sống rải rác, ít có cơ hội gặp nhau. Hầu hết là
“dân” đi Tây Đức du học trước năm 1975, số còn lại là “dân” đi hợp tác lao động
ở Đông Đức sau năm 1975.
Gặp lại đồng hương thì họ cởi mở và thân thiện. Nghệ sĩ múa
ba-lê Ái Vân sau một buổi chiều đọc Nhớ Huế, hôm sau gặp lại đã nhận xét: “Em đọc
và có cảm giác như đang uống từng ngụm nước sông Hương” và gợi ý: “Em có thể
múa trên nền giọng đọc thơ của anh và tiếng đàn bầu vào hôm giao lưu văn nghệ
giữa đoàn và bà con đồng hương!”. Tôi đồng ý. Và tôi đã đọc bài thơ Một ngày cuối
đông với câu mở đầu: “Nơi xa ấy, sông vẫn chảy một đời trong. Khi em còn là hạt
bụi” làm nền cho Ái Vân múa rất uyển chuyển, điêu luyện và đầy ngẫu hứng, tài
hoa. Cuối buổi giao lưu, chị H. tìm gặp tôi để tặng một món quà lưu niệm mang dấu
ấn của Muenchen, rồi nói: “Anh biết không, em đọc say sưa quên cả giấc ngủ. Xin
được hỏi anh, làm răng mà các anh chị bên nớ viết hay rứa?”. Tôi nói với chị H.
cũng như đã từng trao đổi với các cộng tác viên khác ở Huế, rằng: “Các anh các
chị bên nhà đã viết với tất cả tấm lòng, còn người đọc thì đón nhận cũng hết
lòng. Nhớ Huế đã đi từ trái tim đến trái tim!”. Tôi sẽ còn giữ lại hình ảnh của
người phụ nữ lưu lạc, đôi mắt rưng rưng nhớ Huế đến nao lòng.
Từ nước Thụy Sĩ lân cận, anh Vĩnh Quân là một bác sĩ tự lái ô
tô sang Muenchen để xem tuồng, nghe ca Huế. Anh là cháu gọi nhà thơ Tôn Nữ Hỷ
Khương bằng cô ruột. Anh gắn bó với đoàn suốt thời gian gặp gỡ giao lưu. Anh đọc
các tập Nhớ Huế tại nhà nghỉ. Và câu nói của anh làm cho anh chị em trong đoàn
rất vui: “Tôi đọc tập Hương vị Huế, biết thêm các món ăn cung đình và dân dã.
Phong phú và hấp dẫn quá chừng! Từ nay, tôi có thể nói trạng về món ăn Huế ở
bên Tây mà chưa chắc có ai qua mặt được tôi”.
Một người phụ nữ rất Huế ở Muenchen, không ai khác là Thái
Kim Lan, chị du học và định cư tại Đức trước năm 1975. Chị là một người Huế có
học vị tiến sĩ, đang là giáo sư triết học tại các trường đại học ở Muenchen. Chị
đón đoàn sang giao lưu và biểu diễn. GS-TS Trần Văn Khê bay từ Pháp sang
Muenchen tham dự nói với mọi người: “Ở bên Tây, chỉ có một mình Thái Kim Lan là
làm được như vậy. Một mình làm được nhiều thứ hơn cả một tổ chức hẳn hoi. Từ
văn bản, các thủ tục nhập cảnh để đón đoàn sang, rồi bố trí nhà nghỉ, nơi ăn ở,
tổ chức giao lưu biểu diễn và còn làm M.C phiên dịch (từ tiếng Việt sang tiếng
Đức và từ tiếng Đức sang tiếng Việt) thật “bảnh” và linh hoạt”. Nhà của anh chị
Tài - Kim Lan ở phố Franendorferta 64 (Muenchen). Nó như cái nhà Huế tại Đức vậy.
Từ cách bài trí đồ đạc đều mang dấu ấn Huế, đặc biệt là khu vườn có cổng tre la
ngà, sân vườn trồng các loại tre trúc, các hoa cúc, hồng, hải đường. Bức tượng
đặt hướng về quê cũ… và Thái Kim Lan đã viết văn từ ngôi nhà này. Chị đã gắn bó
với Nhớ Huế và trở thành một cây bút chủ lực với nhiều bút ký thật tài hoa và ấn
tượng. Với những ngày văn hóa Việt Nam tại Muenchen, chị đã thiết kế
các chương trình giao lưu biểu diễn mang đậm sắc thái Huế. Chị là một người Nhớ
Huế thành đạt và tài hoa nơi xứ người.
Sau những ngày gặp gỡ giao lưu ở Đức, tôi tiếp tục đi đến một
vài nước khác. Tôi đã ghé qua nước Áo chỉ vài giờ để tận mắt ngắm nhìn dòng
sông Danube, tận tai nghe và thấy điệu valse bất hủ của nhà nhạc sĩ thiên
tài J. Strauss viết về dòng sông này. Ở Áo, tôi đã không may mắn gặp một người
Huế nào cả.
Hai ngày sau, tôi tiếp tục đến với những người Huế ở Paris
(Pháp). Nơi ấy có những người Huế sống và nổi tiếng trước năm 1975. Trong sổ
tay của tôi có địa chỉ của những người Huế và yêu Huế mà tôi từng biết đến như
GS-TS Trần Văn Khê và nhà quay phim “tài tử” Huỳnh Văn Tươi thì tôi đã được gặp
ở Muenchen, còn có nhiều vị rất nổi tiếng mà tôi chưa được gặp. TS Võ Quang Yến,
GS Cao Huy Thuần, Họa sĩ Lê Bá Đảng, Nhạc sĩ Thanh Hải, TS Thu Trang, TS Diệm
My (cựu hoa khôi trường Đồng Khánh đầu thập niên 60), bác Lê Văn Lâu, Đại đức
Thích Thiện Niệm (chùa Khuông Việt), nhạc sĩ Tôn Thất Tiết, anh Lê Huy Cận…
Suốt một buổi chiều và cả ngày hôm sau, tôi “tranh thủ” đi
thăm thú các danh lam, thắng tích tại Paris như Bảo tàng Louvre, Lâu đài
Versailles, đại lộ Champs Elysées, tháp Eiffel, đi du thuyền trên sông Seine, đến
nhà thờ Notre Dame de Paris… Buổi tối, anh Tươi cùng tôi lên Monmartre, để nhìn
ngắm toàn cảnh Paris về đêm, dạo vòng quanh đường đồi để xem những họa
sĩ vẽ “dạo” chân dung người vãng lai. Monmartre về đêm rét ngọt. Phố nhà lô xô.
Nhà thờ Sacré Coeur cao nghệu. Nam nữ đi dạo dập dìu. Bất chợt câu
thơ ùa đến: “Sài Gòn bây chừ chiều hay tối. Trời còn mưa hay đã vào thu?”. Và
dường như sông Hương vẫn thầm thì bên tôi. Cái rét như vừa đủ nhớ quê nhà.
Trời Paris có rất nhiều mây tím. Phố đã xao xác lá phong
vàng. Và tôi đến thăm anh Võ Quang Yến trong một ngày Paris có mây
tím và xao xác lá phong vàng rơi trên vỉa hè. Nhà anh ở Sceaux (như anh vẫn thường
ghi ở cuối bài viết của anh là Xô Thành). Nói là đến thăm nhưng chính xác là đến
gặp. Tôi đã từng biết đến bút danh (cũng là họ và tên anh) trên báo Phổ Thông
(xuất bản ở Sài Gòn trước 1975). Anh Yến đã có gửi bài về đăng trên Nhớ Huế
nhưng anh và tôi thì chưa hề gặp mặt nhau. Anh Yến hơi bị “bất ngờ” khi chúng
tôi đến nhà anh. Nhưng sau đó, câu chuyện Nhớ Huế đã làm cho chúng tôi dễ thân
thiện và gần gũi như đã gặp, đã quen thân từ trước. Tôi gửi tặng anh mấy tập Nhớ
Huế, tập thơ Sài Gòn Nhớ Huế và tập truyện Xa xứ (là hai phụ bản của Nhớ Huế).
Trong câu chuyện, anh vẫn còn trách cứ bên nhà, than phiền về nhũng nhiễu ở cửa
khẩu sân bay Tân Sơn Nhất, rằng sự làm khó dễ và theo dõi Việt kiều về nước như
thế là không cần thiết. Anh buồn lòng lắm, nhưng không thể không trở về thăm
quê hương. Anh nhắc đến Hội người yêu Huế mà nhiều năm trước anh đã từng làm chủ
tịch hội này. Anh giới thiệu chùa Khuông Việt, nơi gặp gỡ cuối tuần của nhiều
người Huế tha phương. Anh hứa sẽ trở thành một cộng tác viên thường xuyên của
Nhớ Huế. Và rất nhiệt tình, anh gửi cho tôi một bài viết mới cho Nhớ Huế. Đấy
là bài Vua Duy Tân ở đảo La Réunion (sau này được chọn in trong tập bút ký Tượng
đài Sông Hương - 20040. Tôi tự nhủ “Mình đến thăm anh chỉ có tấm lòng, và thật
cảm động là tôi đã được anh đáp trả lại bằng chính tấm lòng yêu Huế”. Anh còn
nói vui: “Anh Lục đã qua bên ni, tìm gặp tôi như một “sứ giả” của Huế, thật là
vất vả và quý hóa”. Chia tay anh chị Yến - Liliane, “được lời như cởi tấm
lòng”, chúng tôi tiếp tục chuyến thăm GS Cao Huy Thuần. Nhà anh ở quận
13 Paris. Anh Cao Huy Thuần trước năm 1975 là giảng viên Trường Đại học Huế,
từng làm Tổng thư ký báo Lập Trường (tờ báo đấu tranh nổi tiếng tại Huế). Anh
Thuần đã có các chuyến đi - về với Huế, rất rõ chuyện Huế, chuyện thời tiết khí
hậu chính trị bên nhà. Anh hỏi tôi về những tình tiết của đám tang cố nhạc sĩ
Trịnh Công Sơn mà báo chí trong nước chưa nói đến. Anh cho biết các anh bên này
đã làm lễ truy điệu bằng một chương trình văn nghệ rất đặc sắc và chính anh đã
có một bài nói chuyện rất ấn tượng về âm nhạc Trịnh Công Sơn tại chương trình
này. Tôi đã nhắc lại một hình ảnh cảm động hiếm thấy tại nhà anh Sơn. Cả đoàn
Thiền sư áo vàng trên 60 người, sau khi hành lễ trước quan tài, đã cùng đồng ca
bài “Một cõi đi về” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Một tình tiết có một không hai
của đám tang nhạc sĩ tài hoa này. Trước đó, anh Thuần đã gửi về bài Hai trăm
năm ấy để in trên Nhớ Huế - tập 2), sau này được chọn in trong tập bút ký Tượng
đài sông Hương (phụ bản của Nhớ Huế - ấn hành 2004). Những chuyện khá đau lòng
của người ra đi sau 1975 cùng những câu chuyện còn bất cập trong việc đãi ngộ
trí thức tại chỗ và cả những HuHuế kiều là trí thức và có tấm lòng muốn đóng
góp, xây dựng cho quê hương… dường như làm cho anh giảm bớt hứng thú và mong đợi.
Tôi nói với anh là khi tôi đến Paris thì người đầu tiên mà tôi mong muốn gửi gắm
và hy vọng là anh, rằng bên nhà các anh Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân… từng
giới thiệu anh với tôi như một người rất nhớ Huế. Anh hứa rồi sẽ gửi tiếp bài về
cho Nhớ Huế, nhưng còn bây giờ thì đang quá bận với công tác giảng dạy tại Trường
ĐH Paris 7.
Những cuộc gặp gỡ như thế thường để lại những dư âm. Và dư âm
thì vô hình và lan tỏa… Tôi không muốn làm “sứ giả”, cũng không ưa có các chuyến
thăm để từ đó nổ ra tranh luận, mà tôi chỉ muốn được như ngụm nước sông Hương
làm mát lòng người xa xứ. Chỉ cần gõ vào cánh cửa của Huế thì Huế sẽ mở lòng
ra. Chỉ cần trao tặng nhau một cuốn Nhớ Huế thì cộng đồng sẽ xích lại gần hơn…
Cuộc đi tìm còn ở phía trước. Và bất chợt tôi nhớ TS Trần Kiêm Đoàn ở bên kia bờ
Đại Tây Dương. Một cú phôn đường dài nối chúng tôi lại chỉ trong giây lát. Đoàn
rất vui khi biết tôi đã có mặt ở Đức và nay đang ở Pháp. Đoàn cho biết tháng
trước anh đã sang Pháp. Đoàn nói “Ở đâu cũng thế, tại Mỹ hay Pháp, Đức, cộng đồng
người Huế không chỉ là một, tuy nhiên nếu cứ đi tìm thì sẽ gặp”. Tôi báo cho
Đoàn biết về diễn biến và hiệu quả của Những ngày văn hóa Việt Nam tại
Muenchen, nhắc đến một “sứ giả” Nhớ Huế thứ thiệt là GS-TS Thái Kim Lan.
Đôi khi trong cuộc sống, có người không tìm mà vẫn thấy, chưa
đi mà đã đến, đã gặp. Tôi đã gặp trong tình cảnh như thế với Hoàng Hy (Mỹ),
Nguyễn Hữu Vinh (Đài Loan), Bùi Minh Đức (Mỹ), Hồng Lê Thọ (Nhật Bản), Võ Tá
Hân (Singapore), Nguyễn Tường Bách (Đức), Phong Vũ (Canada). Sau khi trở về nước
Nhớ Huế vẫn tiếp tục làm “cầu nối” với rất nhiều tấm lòng. Cùng với năm tháng
tôi đã may mắn được nhận nhiều tấm lòng xa xứ. Dường như những người đang ở bên
ngoài Tổ quốc đã tìm thấy được tín hiệu “từ trái tim đến trái tim” của Nhớ Huế.
21/10/2006 Trần Hữu Lục
21/10/2006


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét