Người kéo vĩ cầm trên da thịt
Những năm trung học tôi tập tễnh làm thơ gửi đăng báo,
thơ gửi đi thì nhiều nhưng được chọn đang chẳng bao nhiêu, mười bài may
ra được đăng một, hai. Chỉ đọc thư tòa soạn thấy tên mình cũng đủ là
niềm vui. Ngày nào có thơ đăng trên báo ngày ấy trở thành ngày hạnh
phúc, bạn bè trong lớp bàn tán khâm phục, các bạn gái cùng lớp
thỉnh thoảng liếc nhìn trộm làm tôi sung sướng choáng ngợp trong niềm
vui. Thuở ấy còn đang ngồi ghế nhà trường đã có thơ đăng báo là ghê
gớm lắm, thi sĩ còn hiếm hoi chứ không ta đường gặp thi sĩ như bây
giờ. Trong lớp tôi có một học sinh cũng thích làm thơ nhưng chưa bao
giờ thơ được chọn đăng báo, để được bạn học chú ý, cậu ta lấy những
bài thơ đăng báo của tôi họa lại thế là cả lớp ai cũng trầm trồ.
Cậu ta còn tiến xa hơn nữa bằng cách giới thiệu với tôi một anh
chàng có vẻ con nhà lành nhưng gương mặt lúc nào cũng buồn buồn,
hình như người bạn mới của tôi mang nỗi buồn từ thế kỷ trước đến
kiếp này vẫn chưa nguôi.
Quen nhau một thời gian tôi mới biết mình may mắn, số
phận đã trao tặng cho tôi một người bạn đỏ mắt tìm chưa chắc đã
gặp, cậu ta tên Lê Duy Đạo, rất yêu thơ, thỉnh thoảng cũng làm thơ ký
tên là Minh Hoài. Thoạt đầu tôi không chú ý lắm đến thơ Minh Hoài,
vẫn là những khổ thất ngôn muôn thuở tuy về cấu từ, ý thơ đang có
những dấu hiệu vong thân, để đến bờ bến nào chưa thể nói trước
được. Minh Hoài đúng là người bạn hiếm có, từ khi quen tôi anh như
tìm thấy được chính cái phần thiếu sót của mình, anh thường tỏ ra
khao khát được sống phóng khoáng như tôi, là con em trong một gia đình
toàn những nhà mô phạm, tất cả các người anh đều là giảng sư đại
học, giáo sư trung học, bản thân anh cũng bị sức ép gia đình phải bỏ
túi hai bằng tú tài ngay từ lần thi đầu tiên. Với các anh trai của
Minh Hoài thì không có thơ thẩn gì cả, học để trở thành nhà giáo
đó là nhiệm vụ thiêng liêng của những người đàn ông dòng họ Lê. Đến
đây, tôi hiểu phần nào vì sao Minh Hoài luôn ở trong tâm trạng ảm đạm,
tâm hồn bạn tôi như cơn gió bị nhốt trong tủ kính gia phong, vì được
giáo dục quá chu đáo bạn tôi không thể phá cái vòng kiềm tỏa để bay
đến những chân trời chỉ có trong mơ mới đặt được chân đến. Thế ra
cuộc sống dân dã như tôi, thiếu thốn đủ mọi thứ lại là cuộc sống một
số người khao khát hay sao?
Từ khi kết bạn với tôi hầu như ngày nào Minh Hoài
cũng cỡi xe Gobel đến tìm tôi ở thảo trang Tân Sơn Nhất, ngày thường
anh đến trước hoặc sau giờ tan học, rủ tôi đến quán cà phê ở Tân
Định vừa nhâm nhi cà phên vừa nghe Dalida hát Bambino.
Ở Sài Gòn những năm cuối thập niên 50 Dalida là ca sĩ
được suy tôn như thần tượng, nơi nào có âm nhạc nơi đó có tiếng hát
đầy ma lực của Dalida vang lên. Hình như khi nghe Dalida hát tâm hồn Minh
Hoài được giải phóng. Vào ngày chủ nhật hoặc ngày lễ, Minh Hoài hay
rủ tôi đi chia verbe Bona hoặc Catina, có khi chúi đầu vào hiệu sách
Khai Trí hay Tự Lực đọc thơ cọp của các tiền bối. Biết tôi rất mê sách
nhưng vì hoàn cảnh tôi không thể mua tất cả những tác phẩm yêu thích,
Minh Hoài thường mua tặng tôi một cách khéo léo bằng những cuộc tranh
luận để buộc tôi phải nhận sách “khảo cứu” đề tài Minh Hoài rút ra
từ sách khiêu khích tôi tranh luận. Chúng tôi tranh luận với nhau bất
cứ đề tài gì chợt nhớ, bất kể đó là vấn đề… triết học, về hư vô,
về chủ nghĩa hiện sinh đang thịnh hành, nhất là Sài Gòn đang lưu
hành một loạt tiểu thuyết tiêu biểu cho lối sống hiện sinh của thanh
niên Pháp của nhà văn nữ Françoise Sagan. Những bộ phim dựa theo tiểu
thuyết của Sagan như: Buồi ơi chào mi!, Mường tượng một nụ cười, Em
có thích nhạc Brahms không? Được thanh niên nối đuôi nhau vào xem trong
đó có tôi và Minh Hoài. Thuở ấy loại phim này thường chiếu ở rạp
Vĩnh Lợi (đường Lê Lợi) học sinh, sinh viên có thẻ được giảm giá vé
một nửa nên rạp này gần như là rạp của học sinh.
Điều lạ lùng là cả Minh Hoài và tôi có những sở
thích khá giống nhau, chúng tôi cùng thích hội họa, thích mua sơn dầu
về trây trét lên khung vải, lại thêm một dịp Minh Hoài mua sách về
hội họa tặng tôi, nhất là sách viết về Van Gogh. Với âm nhạc, tôi
thích móc cổ điển với cây ghita thì Minh Hoài réo rắt với cây sáo
trúc và rồi thì giây phút định mệnh đến. Học cùng trường nhưng dưới
tôi hai lớp có một cô nữ sinh trên Hoàng Vân, cô bé rất xinh, nước da
trắng hồng, gương mặt và cả kiểu tóc thoảng nét của Gina Lobobrigida,
cô bé biết tôi có thơ thẩn đăng báo nên nhờ một cô gái khác làm quen
với tôi, chỉ là tình bạn thuở học trò nên tôi sung sướng đón nhận cô
bạn mới xinh đẹp. Chẳng hiểu bằng cách nào, không học cùng lớp nên
chẳng cùng trường, nhà thì kẻ ở Sài Gòn người Phú Thọ thế mà anh
chàng buồn muôn thuở Minh Hoài cũng quen với Hoàng Vân, thế là từ đó
có một tình bạn tay ba. Qua Hoàng Vân tôi được biết Minh Hoài làm rất
nhiều thơ nguồn cảm hứng chính là cô bé trong khi Hoàng Vân không hề
gây cho tôi một chút xúc động nào để có thể bật ra thơ. Sự đời là
cái vòng luẩn quẩn, cứ như trò chơi đi trốn đi tìm, tôi tỏ ra thờ ơ
thì cô bé trách móc chung quanh tôi vây phủ bởi cái bóng tự phụ
chẳng chia sẻ cảm xúc của người khác, ngược lại Minh Hoài luôn mong
ngóng, lúc nào cũng cảm thấy “cách tường hoa ảnh động” mà bóng
người vẫn bằn bặt. Tình bạn của chúng tôi với sự xuất hiện của
bóng hồng đang đi vào khúc mắc. Thế rồi Minh Hoài bỏ lên Đà Lạt du
lịch nhưng mới được mấy ngày đã viết thư về cho tôi than buồn toáng
lên, dĩ nhiên trong cái buồn có cái nhớ cô bạn nhỏ Hoàng Vân của
chúng tôi. Tôi mơ hồ cảm thấy mình là một phần nguyên nhân nỗi buồn
của bạn nhưng do lúc ấy chúng tôi đang tuổi thanh niên, lòng hiếu
thắng cao hơn đức khiêm tốn, lòng trắc ẩn.
Do đó giữa tôi và Minh Hoài ngầm có một cuộc tranh
đua chinh phục trái tim cô bạn nhỏ. Tôi tự hứa sẽ ganh đua sòng phẳng
không dùng bất cứ một thủ đoạn ma mãnh nào vượt qua đối thủ. Tôi
rất tự tin vào ưu thế có thơ đăng báo của mình, Minh Hoài cũng hiểu
rõ điều đó, cho nên cu cậu buồn tình mò lên Đà Lạt để tìm nguôi
ngoai giữa thiên nhiên. Nhưng lòng kiêu hãnh của tôi không đem đến điều
gì thích thú ngoài niềm ân hận, khi thấy người bạn thân trở về từ
Đà Lạt với nỗi buồn còn mênh mang hơn cả khi đi. Tôi đến thăm Minh
Hoài và ở lại suốt đêm nghe Hoài tâm sự, tuy không thú nhận mình đã
yêu Hoàng Vân nhưng chỉ qua câu chuyện tôi hiểu cái gì đang nung nấu
trái tim bạn mình. Chúng tôi gác chân lên nhau trút bầu tâm sự. Hoài
khoe với tôi Hoàng Vân đã đến đây, anh còn khoe cả đôi guốc cô bé để
lại cho Hoài làm kỷ niệm. Cậu ta không mơ ước mình sẽ trở thành thi
sĩ nổi tiếng mà chỉ mong học thành tài ra nước ngoài bay nhảy. Tôi
hơi ngạc nhiên về sự thay đổi của bạn mình, từ chỗ muốn giải thoát
tâm hồn bằng thi ca chuyển sang mong ước thành đạt trên con đường khoa
bảng. Tôi tự hỏi phải chăng sự xuất hiện của Hoàng Vân đã làm Minh
Hoài thay đổi và nếu Minh Hoài thực hiện được ước muốn của mình tôi
tin Hoài sẽ chinh phục được Hoàng Vân. Xét cho cùng, khi phải lựa
chọn, người phụ nữ luôn tính toán sáng suốt hơn bọn con trai. Nếu
hiện tại phần nào cô bé ngã về phía tôi chẳng qua cô đang mơ mộng mà
thôi. Nhìn vào lòng mình tôi cảm thấy hình như mình đang đùa với
tình cảm, một trò đùa ang ác với một người bạn quá đỗi thật thà,
nhất là sau khi đọc bài thơ Hoài làm tặng riêng tôi trong đó thú nhận
tình yêu tha thiết với Hoàng Vân:
Biết rõ cách tường hoa ảnh động
Nhưng đâu thấy được ngọc nhân lai?
Buồn rồi thực tế trôi vào mộng
Giấc mộng kinh hoàng ai đó? - Ai?
Có ai đi ghép thơ bằng mắt,
Đi vẽ tranh chiều trên đóa môi
Đi kéo vĩ cầm trên da thịt
Buồn lắm Cầm ơi và Vân ơi!
Hiểu rõ tâm trạng của bạn, tôi biết mình phải là
gì. Cuộc thách đố thầm lặng thật ra chỉ do tôi suy diễn, trên thực
tế Minh Hoài đã gần như bỏ cuộc, anh đã quen tặng cho tôi những gì
tôi yêu thích, đành rằng người phụ nữ và con búp bê khác nhau; tuy
nhiên, do yếm thế Hoài đã tự nhận mình là kẻ chiến bại, nếu nàng
thơ thuộc về một trong hai chúng tôi vẫn đẹp hơn là thuộc về một
chàng công tử, một cậu ấm con nhà giàu nào đó. Thế là vù lên Đà
Lạt đi trốn “Minh Hoài đã tặng mình quá nhiều, phải công bằng với
cậu ấy, mình chỉ là kẻ tự ái hão, Hoàng Vân không phải là nàng thơ
của mình, trong tim mình hình bóng cô bé vẫn mờ nhạt, không thể có
tình yêu”. Tôi tự nhủ với mình như thế. Kể từ đó tôi cắt đứt mọi
liên lạc với Hoàng Vân, cũng không tìm gặp Minh Hoài để tránh gây xúc
động. Lần này có lẽ như đến lượt tôi trốn tránh. Chỉ có Minh Hoài
với giấc mộng khoa bảng, gia đình bề thế mới là chỗ dựa vững chắc
cho Hoàng Vân, chim hoàng anh phải ở trong lầu son tiếng hót mới sang
cả, thánh thót. Cái kiếp “gió trăng có sẵn làm sao ăn” “thương ai chỉ
làm khổ cho người ấy”. Tôi tự ru mình như vậy và tuy không đau đớn
bỗng dưng thấy lòng mình quạnh hiu…
Và rồi một buổi chiều, Hùng - bạn của chúng tôi
dáng điệu bơ phờ đến báo tin Minh Hoài không còn nữa. Tôi đứng chết
lặng. Những gì tôi tính toán đã không xảy ra, nó chỉ xảy ra điều
tồi tệ nhất tôi không hề nghĩ đến. Ngay lúc ấy tôi gần như tê liệt.
Hùng thuật lại tai nạn đem lại cái chết của Minh Hoài. Tối hôm ấy
tôi đến nhà xác canh cho bạn an nghỉ lần cuối cùng. Tôi gần như người
câm, ngồi trong góc tối, nước mắt âm thầm lăn xuống. Sáng hôm sau tôi
theo Minh Hoài về nghĩa trang Bắc Việt. Đây phải chăng là lần cuối
cùng đi với Minh Hoài, chẳng phải để xuống phố chúi mũi vào hiệu
sách đọc thơ cọp, cũng chẳng phải để đến quán cà phê nghe Dalida hát
Bambino, chúng tôi đến vùng vĩnh biệt. Dưới rặng thôn, sâu trong mộ
huyệt. Minh Hoài của tôi nằm lại nơi đó. Và rồi thì bao nhiêu ương
ngạnh, cứng cỏi, khí phách của một gã con trai bỗng nhiên tiêu tan,
tôi bật lên khóc như một đứa trẻ thơ.
38 năm rồi tôi vẫn không ngừng suy nghĩ về cái chết
của Minh Hoài, về câu thơ mang tính tiên tri:
Ai kéo vĩ cầm trên da thịt?
Tên tài xế lái xe bồn chính là kẻ kéo vĩ cầm,
chiếc xe bồn chính là cây vĩ cầm, còn chiếc bánh xe chính là chiếc
“ắc xê” đã kéo lê trên người Minh Hoài biến cơ thể Hoài thành một thi
thể không nguyện vẹn!!!.
38 năm rồi Minh Hoài ơi! 38 năm tình bạn mình dành cho
cậu vẫn chẳng hề phai.
Sài Gòn 1999 Trần Áng Sơn
Sài Gòn 1999


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét