Hình tượng thần thánh
Trong luôn ba tháng, từ
16.10.2013 đến 13.01.2014, kéo dài đến 27.01.2014, viện Bảo tàng Quốc gia Á
Đông Guimet ở Paris triển lãm "Angkor, nơi sinh nở một huyền thoại - Louis
Delaporte và Cam Pu Chia". Được nhiều hội đoàn như Sony, Total,
Nomura,...hổ trợ, cùng thực hiện với các báo Beaux-Arts (Nghệ thuật), Le Monde
(Thế giới), Le Monde des Religions (Thế giới các Tôn giáo), Télérama,... cuộc
triển lãm ngày nay trình bày thế nào cuộc di sản Khơ me đã được khám phá ra lại
và thế nào công chúng ở Pháp đã được thưởng thức vẻ đẹp Angkor qua các cuộc triển
lãm lộng lẫy quốc tế hay thuộc địa đầu thế kỷ XX. Một bộ 250 di tích vô cùng
phong phú trưng bày những tác phẩm điêu khắc Khơ me các thế kỷ X-XIII, những tượng
đúc khuôn bằng thạch cao (thực hiện giữa 1870 và 1925), những tranh ảnh, những
tài liệu đô thị thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX (những bức vẻ mực, tranh màu nước,
bản in) hầu như để báo cáo lại những cuộc gặp gỡ đầu tiên của người Pháp với
nghệ thuật Cam Pu Chia xưa qua tay một nhân vật biểu trưng Louis Delaporte
(1842-1925). Là một nhà thám hiểm, ông đeo đuổi mục đích "đưa nghệ thuật
Khơ me vào trong viện bảo tàng". Những di vật nầy lúc ban đầu được trình
bày ở viện Bảo tàng Trocadéro (từ 1878 đến 1925), sau mới được chuyển qua
viện Bảo tàng Guimet đồng thời được phục chế. Nhờ cuộc triển lãm, nhiều di vật
trở thành nổi tiếng, từ đấy đưa ra ánh sáng một gia sản đến nay ít được chăm
sóc hay bị bỏ quên.
Ở viện Bảo tàng Guimet ngày nay,
cuộc triển lãm di vật Khơ me tại Angkor chiếm toàn bộ phòng "triển lãm tạm
thời" và các phòng Khơ me "triển lãm thường trực". Viện Bảo tàng
nhân đây phục chế nhiều di vật trong phòng Khơ me như tháp các khuôn mặt đền
Bayon. Để bổ túc, nhiều viện bảo tàng Pháp cũng như quốc tế như viện Bảo tàng
Rodin, Trung tâm Georges Pompidou, viện Bảo tàng những năm Ba mươi, chịu cho mượn
những di vật của họ. Ngay cả những viện Bảo tàng Quốc gia Phnom Penh, Bảo
tàng Quốc gia Angkor cũng hào phóng đặc biệt chịu gởi qua những tác phẩm điêu
khắc trọng đại nhất của gia sản văn hóa Khơ me. Ông Pierre Baptiste, Quản đốc
viện Bảo tàng Guimet và cũng là Ủy viên điều khiển cuộc triển lãm cùng với
Thierry Zéphir, giải thích lý do là vì không những hàng triệu khách du lịch hằng
năm lại viếng viện bảo tàng mà còn vì viện có sẵn một bộ sưu tập nghệ thuật Khơ
me đẹp nhất ngoài biên giới đất Cam Pu Chia bấy lâu bị bỏ quên. Duyên do từ đầu
là nhà hình họa Louis Delaporte, nguyên trung úy hải quân, quê quán thành
Loches vùng Touraine, được ghi tên vào một phái đoàn thám hiểm sông Mê Kông năm
1866 dưới quyền chỉ huy của Ernest Doudart de Lagrée (1823-1868) và Francis
Garnier (1839-1873), trong mục đích tìm một đường giao thông qua Trung
Hoa. Nếu kết quả là chứng minh sông không thể sử dụng được, đoàn nhân tiện ghé
qua Angkor đã được Henri Mouhot "khám phá" năm 1860. Say mê nghệ thuật
Khơ me, nhiều lần ông trở lại thực hiện hằng trăm ký họa và đổ khuôn những tác
phẩm ngày nay một phần bị hư hỏng hay đã mất đi. Theo bà Sophie Makariou, Giám
đốc viện Bảo tàng Guimet, đưa ra ánh sáng những tài liệu quý hóa này là bước đầu
của sự đổi mới viện Bảo tàng, một viện nghệ thuật Á châu lớn nhất ngoài đất
châu Á. Để cho xứng danh "điện Louvre Á đông", viện đã mời được hãng
Total giúp 800.000 euros ; bộ Văn hóa cũng đóng vào 250.000 euros, đặc biệt
vào công việc trùng tu những tượng đúc khuôn bảo quản trong một tình trạng thảm
hại tại nhiều nơi ở ngoại ô Paris, tầng hầm điện Tokyo, tu viện Saint-Riquier,
trước khi được đưa về kho tạm giữ ở Essonne mùa thu 2012 để phục chế.Một bước dài đã được thực hiện từ
ngày Louis Delaporte lần đầu tiên đứng trước một Angkor điêu tàn năm 1866: khối lòi gốc, đá ngổn ngan, sắc phai màu, bia phá vỡ, bãi sụt hỏng, tường sụp
đỗ, thềm xiêu vẹo,... Sau nhiều thế kỷ chịu đựng mưa gió, các nóc tháp phân hủy
thành mảnh gãy nhỏ rơi xuống đất. Trên mặt đất, lẫn lộn trong lá rừng một vài đầu
răn bằng đá. Cảnh tượng hư ảo giống như trong truyện hoang tưởng mô tả lâu đài
huyền diệu che dấu dưới các cành cây uốn éo phủ lá sum sê. Delaporte đã khám
phá điện đài cổ đại Yasodharapura, một kinh đô thần thoại các vua Khơ me đã mất,
nay còn lại đó để quấn chặt, bóp ngạt, che giấu hay che chở Angkor. Khi gởi
Delaporte đi theo đoàn thám hiểm sông Mê Kông, bộ tham mưu Sài Gòn mơ tưởng
những kết quả lừng lẫy tương tự thành tích phái đoàn Bonaparte qua Ai Cập. Bì
bõm trong bùn lầy, giữa một địa ngục nóng như lửa đốt, đầy dẫy rắn rít, một
nhóm binh lính, hải quân, bác sĩ, kỹ sư, những nhà địa lý học, thực vật học, địa
lý thủy văn phát giác những dấu vết một nền văn minh huy hoàng. Riêng Delaporte
kinh ngạc trước vẻ uy nghi, phong phú đồng thời bùi ngùi trước cảnh đổ nát của
đền đài, những mương hào, những mặt đường người khổng lồ trên những đường đê
cũng sụp đổ tan tành. Trong những điều kiện vô cùng khó khăn, họ ra sức họa vẽ,
rập khuôn, tháo gỡ những kho tàng mà họ muốn tiết lộ cho thế giới. Để biểu thị
vẻ đẹp lộng lẫy đền Bayon của vua Jayavarman VII ở trung tâm điện Angkor Thom gồm
có 64 tháp 4 mặt, Delaporte đổ khuôn ở đây một bộ mặt, đằng kia lấy dấu ấn một
hàng hiên, xa hơn dấu ấn một hình khắc nổi thấp,... rút cuộc ông lập nên một
ngôi tháp lý tưởng! Được thành tích kích thích, ông còn kiếm cách điều
khiển sau này hai phái đoàn 1873 và 1881-1882 qua Angkor. Những lần sau nầy ông
đem theo vài nghệ sĩ đổ khuôn giỏi như Joseph Ghilardi, Sylvain Raffegeaud
thích dùng keo động vật gelatin rập khuôn rồi sang qua thạch cao, kết quà khả
quan hơn. Sau đó còn có những phái đoàn khác: Lucien Fournereau 1888-1889, Sylvain Raffegeaud (1890), Urbain Basset
(1896-1897), Henri Dufour và Charles Carpesux (1904).
Ở Paris, trái với dân chúng hoàn
toàn được thuyết phục, những vị khoa cử không biết hay không muốn đánh giá sắc
thái một kho tàng quý báu như vậy. Sau biết bao vận dụng di chuyển tế nhị trong
một hành trình đường biển khó khăn, kiệt sức, Delaporte thành công đưa về được
trên bờ sông Seine, ngay trước điện Louvre, 102 thùng di vật! Nhưng viện
Bảo tàng Louvre không chịu nhận kho tàng biết bao công phu để rút ra khỏi được
chốn rừng sâu xa xăm, Delaporte phải thương lượng để đưa về tạm giữ ở phòng
canh gác lâu đài Compiègne. May thay, bốn tháng sau, những người tổ chức Hội chợ
Quốc tế 1878 thiết lập viện Bảo tàng Đông Dương ở điện Trocadéro. Măc dầu những
nhà quản đốc bảo tàng cũng như các nhà khoa học nếu không khinh miệt thì cũng dửng
dưng trước môn nghệ thuật dân gian ấy, nhờ được công chúng nhiệt liệt ủng hộ,
Delaporte thành công đưa cao nghệ thuật Khơ me ra mắt thế giới và chính ông
cũng dành cả đời mình để phục vụ nghệ thuật ấy. Trở nên khá giả nhờ cưới một bà
vợ đẹp, hưởng gia tài lớn, ông được bổ nhiệm Quản đốc có nhiệm vụ trùng
tu và làm cho sinh động (không lương) viện Bảo tàng Trocadéro tứ 1880 đến 1925.
Tỏ lòng biết ơn ông Delaporte, EFEO (Trường Viễn đông Bác cổ) đã nâng cao một
trang sử nước Pháp trong lúc những nhà khảo cổ học phanh phui quá khứ thế giới,
từ Xiêm La qua Ai Cập. Nối gót Pháp, nhiều nước khác cùng nhau lại sửa chữa 200
công trình nghệ thuật, 500 vị trí địa hình Angkor : sau khi những
mìn Khơ me đỏ đã được dọn sạch, những người Ý âm thầm làm công việc củng cố được
cho là đẹp mà ít ai biết; người Nhật trùng tu với những kỹ thuật
xưa; người Ấn Độ đổ nhựa lên các hình khắc nổi thấp để tránh thấm nước
nhưng lớp sành bị nén nên vỡ ra khi nước len vào dưới đá, người Đức bỏ
công sửa chữa những tai hại nầy; ngoài ra một số người Hàn, người
Úc,... đua nhau phụ tay phá bụi, đào bới, phục chế. Một bước thêm của những
góp sức này là cuộc triển lãm Angkor, biểu lộ lòng cảm phục trong luyến tiếc một
ý niệm nào đó về nước Pháp vạn năng.
Delaporte là một người của thời
đại ông. Những khám phá của ông đã theo đúng những phương pháp tiến hành khoa học: thực hiện tuần tự những bản kê khảo cổ học, những hình rập, những khuôn rập
các công trình nguyên thủy Angkor. Rủi các công trình này đã đổ nát lấp vùi
trong cây cỏ nên rất khó thấy, khó lường. Vì vậy, khi Delaporte muốn xây dựng lại
một công trình lý tưởng gần giống bản nguyên thủy, lắm khi ông nhượng bộ một
vài chi tiết so với xác thực khoa học. Khi một bộ phận mất thiếu, ông đưa ra giả
thuyết chính xác để xây dựng, dựa lên những mảnh gãy lượm lặt bên cạnh, không
ngoài mục đích hoàn lại phẩm cách cho công trình. Sự kiện này bị chỉ trích
nhưng Delaporte luôn tin ở thể dạng khoa học của mình rất thịnh hành hồi ấy,
tương tự Viollet-le-Duc khi phục chế các nhà thờ. Cho đến những năm 1920, khi
EFEO được thành lập, những kiến thức về Angkor trở thành chính xác hơn, gây tổn
thương cho thanh danh của Delaporte, ngay trước khi ông từ trần năm 1925. Ông
có để lại một tập tường trình đăng dần từng kỳ "Hành trình khám phá Đông
Dương" trong tạp chí Le Tour du Monde (Vòng quanh Thế giới), năm 1873, nhà
xuất bản Hachette. Qua cuộc triển lãm và cuốn catalô mang cùng tên
"Angkor, nơi sinh nở một huyền thoại - Louis Delaporte và Cam Pu
Chia" (được giải CatalPa 2013 Mention Spéciale) những nhà chức trách mong
khôi phục danh dự cho Delaporte. Họ muốn chứng minh phương pháp tiến hành của
ông có thể đánh giá là khoa học, cách thức mô tả các công trình dựa lên những bằng
chứng cụ thể nghệ thuật và lịch sử thực sự. Để nhập đề cuộc triển lãm, cùng được
trưng bày những tài liệu, những tác phẩm các hậu duệ của ông còn giữ, những bản
báo cáo nổi tiếng các phái đoàn, những ảnh bản gốc của Emile Gsell (1838-1879)
và những hình vẽ các công trình Angkor do chính Delaporte tự tay thực hiện.Trong
đạo Hindu, Trimurti, ba thể dạng devanagari, theo tiếng phạn, là
phần hiện hình của thiên tính tối cao để chủ trì những trạng thái của vũ
trụ : Brahma, Vichnu, Shiva tượng trưng sáng tạo, bảo quản và hủy diệt.
Ba vị nầy có thể được trình bày riêng biệt hay tập hợp trên một thân. Nếu họ
biểu thị vật chất, quán tính, thường họ được ghép thêm một phụ nữ biểu thị năng
lực, cử động. Ví dụ Lakshmi (thịnh vượng) cặp đôi với Vishnu, Shakti (hình
dạng) với Shiva, Sarasvati (kiến thức) với Brahma. Mỗi vị có một hay
nhiều hóa thân hay avatara, tiếng Phạn có nghĩa
"xuống" hiểu là "từ trời xuống", hiện thân của một vị thần
trên thế gian để đáp ứng một nhu cầu của nhân loại. Nhưng tất cả các hiện thân
không phải là hóa thân, mỗi một lúc có nhiệm vụ khôi phục đạo lý dharma bằng
cách thiết lập những nguyên lý nhận thức thời đại mình hiện ra. Trong nhiệm vụ
bảo quản, Vishnu phải chăm nom làm sao cho sáng tạo luôn được giữ thăng bằng
với những phương tiện con người, thần thánh nếu cần. Trong truyện Ramayana, ông
giúp Rama đánh thắng bọn quỷ sứ để lấy lại Sita. Thấy vua voi Gajendra gặp khó
khăn với con cá sấu, ông cũng ra tay cứu giúp. Trong số mười hoá thân của
Vishnu, Krishna, có nghĩa là đen, xẩm, thật ra có da xanh, được xem là hóa thân
đầy đủ punavatara với tư cách là nguyên lý cuối cùng. Krisna
là con của ông Hoàng Vasudeva và bà công chúa Devali, sinh ra ở Mathura. Theo
truyền thuyết thì Krishna là từ một sợi tóc của Vishnu mà ra!.
|
Vishnu
cứu vua voi Gajendra Thommanon Louis Delaporte (1881-1882)
|
Vishnu
thắng bọn quỷ sứ Rakshassas Angkor Vat Louis Delaporte (1881-1882)
|
Krishna có một tuổi trẻ dữ đội nhưng có đủ mánh lới để tránh được những đòn của ông chú, vua Kamsa, luôn tin tưởng đứa con thứ tám của Devali sẽ tai hại cho ngôi ông ta. Còn nhỏ, chàng ở với bà mẹ nuôi, Yashoda, lúc chưa hết bú mẹ, cho nên chàng thường được trình bày trong cánh tay Yashoda. Những hình ảnh thường được thấy nữa là chàng đang bò gọi là Navanitakrishna, hay nằm ngửa, bú ngón chân, mang tên Santanagopala đuợc các bà mẹ tôn thờ để bảo vệ con mình. Ở Angkor còn có một cảnh tượng nói lên vũ lực của chàng (Bhagavati Purana) là lúc bị Yashoda phạt cột vào một cái cối vì đã ăn trộm bơ và sửa trong trại bên cạnh. Muốn xê dịch, chàng phải mang cối theo, khi đi qua giữa hai cây cổ thụ, cối kéo ngã hai cây cho hiện lại nguyên hình hai đứa con của Kubera bị Narada ếm cho đến khi Krishna đến cứu. Trai trẻ, Krishna sành thổi sáo để quyến rũ bất cứ phụ nữ nào, có chồng hay chưa chồng. Ông cũng rất nghịch ngợm với họ: chuyện được kể nhiều nhất là khi thấy một đám con gái cởi áo quần xuống sông tắm, ông lại lấy hết rồi trèo lên cây ngồi trốn và chỉ chịu trả cho cô nào lại gần cầu xin! Thần thánh đã từng cảnh cáo Krishna phải rời bỏ Dvaraka với tất cả dân cư không thì dòng dõi sẽ tàn lụi. Thấy họ uống rượu và đánh nhau, Krishna cố gắng khuyên răn nhưng không thành công, ông vào rừng trầm từ để thử tìm giải pháp thì rủi có người thợ săn bắn vào gót chân là điểm yếu cơ thể. Trước lúc từ giả cõi trần, ông không quên dỗ dành anh thở săn đã vô ý bắn ông tử thương.
|
Krishna
ở Lễ nước Dvaraka/Devarati Angkor Vat Louis Delaporte
(1881-1882) |
Krishna
bị cột vào cối làm đổ hai cây Angkor Vat Sylvain Raffegeaud
(1890-1891) |
Trong
các nước Đông Nam Á thuộc đạo Hindu, truyện thánh được nói đến nhiều nhất cùng
với truyện Mahabharata là Ramayana. Được viết
thành sách bằng chữ Phạn giữa thế kỷ III trước và thế kỷ III sau CN, sách kể
chuyện sự lọt lòng và nuôi nấng hoàng tử Rama, hóa thân thứ bảy của Vishnu,
cuộc chinh phục Sita và đám cưới với nàng. Sau đó Rama bị vua cha đày đi
Ayodhya, theo gót có Sita và em là Lakshmana. Ở đây, vua quỷ Ravana cướp Sita
đem về Lanka (thường được cho là đảo Sri Lanka). Sau khi tìm kiếm, Rama tìm ra
Sita và cứu ra khỏi tay quỷ sứ nhờ sự giúp sức của Hanuman, đại tướng bầy khỉ.
Rama giết Ravana, về nước lên ngôi và trở nên một ông vua khôn ngoan, đạo đức.
Trong một phần phụ còn có chuyện nghi oan Sita ngoại tình trong thời gian bị
bắt cóc, Sita buồn giận bỏ chồng đem con lại ở nhà Valmiki nhưng vài năm sau
oan được giải và Sita trở về lại với Rama. Trong chiến trận Lanka đánh Ravana,
Rama đứng trên Hanuman, đàng sau có người em Lakshmana, xung quanh là đoàn binh
khỉ đồng minh. Ravana là ông vua-quỷ 10 đầu, 20 tay, rất hung dữ và tàn bạo,
lên ngôi sau khi giết anh vừa là vua hợp pháp Kuvera xứ Lanka và chiếm lâu đài
bay Pushpaka, được thành bất tử nhờ cầu khấn Brahma 10.000 năm, không sợ bất cứ
thần thánh nào, nhưng kiêu ngạo trước con người thì không xin được che chở. Đam
mê phụ nữ, chỉ vì ham bắt Sita mà Ravana bị tai hại. Đây ông muốn lay chuyển
núi Kailasa, nơi Siva ngự trị. Giúp sức cho Ravana có con quỷ Marica
(Marricha), để Ravana dễ bắt Sita, tự biến thành con nai lại quyến rũ Rama ra
xa và bị Rama bắn tử thương. Phía dưới, thần ái tình Kuma dương cung bắn Siva.
Thần dục tình Rati, vợ Kuma, khóc chồng bị Siva biến thành tro.
|
Chiến
trận Lanka: Rama đứng trên Hanuman
Angkor Vat Louis Delaporte (1873) |
Vua-quỷ
Ravana muốn lay chuyển núl Kailasa
AngkorVat Joseph Ghilardi (1881-1882) |
|
Rama
bắn chết quỷ Marica hiện hình con nai Angkor Vat Sylvain Raffegeaud (1890-1891)
|
Kuma
bắn Siva - Rati khóc chồng Kuma biến thành tro
Sylvain Raffegeaud (1890-1891) |
Một trong những cảnh tượng giữ một chân đứng ưu việt trong thần thoại hindu là "Cảnh nhào trộn biển Sửa" amritamanthana do những thần deva và những quỷ asura khởi công trong mục đích chế tạo mật bất tử amrita. Thuở khai thiên lập địa, thần thánh cũng như quỷ sứ đánh nhau để làm chúa tể thế giới. Thần thánh đuối sức, chịu thua, bèn lại cầu cứu Vishnu. Vishnu đề nghị chúng hợp lực với quỷ sứ mới hòng chế tạo được amrita để giải quyết. Cách thức là phải bỏ nhiều cây thuốc xuống biển, lật đổ núi Mandara để đặt lên trên chóp mai con rùa Akupara, một hóa thân của Vishnu, và lần lượt mỗi phe kéo con rắn Vasuki, vua các loài naga, để quay núi. Sau 1000 năm công sức, một số vật và nhân vật huyền diệu đã được cấu thành: Kalakuta hay Hala-Hala là một chất độc vô cùng mảnh liệt mà Siva uống trước khi rải khắp và tiêu diệt hoàn cầu, vài giọt tràn ra ngoài, rắn rít và bò cạp liếm vào nên chúng có nọc độc; Surabhi là con bò đầy sữa; Varuni là thần rượu; Parijata là cây thơm; Chandra là mặt trăng; Uchaishravas là con ngựa trắng tổ tiên loài ngựa với tóc xoăn bảy màu làm thành cầu vồng; Airavata là con voi trắng làm vật cưỡi cho Indra; Apsara là những nữ thần hạ đẳng; Lakshimi là thần nhan sắc ngồi trên hoa sen; Kaustubha là ý thức không khuyết điểm, châu báu trên ngực Vishnu và Krihna; và Dhanvantari thầy thuốc của những deva, tay cầm bình kumbha chứa đựng mật amrita. Lập tức, lanh chân hơn các deva, những asura cướp bình amrita nhưng Vishnu dưới dạng Mohini, người đàn bà đẹp nhất hoàn cầu, lấy lại và trao cho các deva. Từ nay bất tử các deva đẩy những asura xuống âm phủ. Vài giọt amrita rơi xuống Ấn Độ ngày nay thành nơi hành hương: Godavari ở Nasik, Shipra ỏ Ujjain, ở Haridwar và ở Prayag hay Allahabad trên sông Hằng Hà.
|
"Cảnh nhào trộn biển Sữa"
Thế kỷ XII Phái đoàn Etienne Aymonier (1882-1883) |
Asura lớn nhiều đầu nhiều tay nắm đầu hay thân con rắn Vasuka |
Angkor Vat Phái đoàn Louis Delaporte (1881-1882) Đổ khuôn Joseph Ghilardi |
Angkor Thom Phái đoàn
Lucien Fournereau
(1888-1889) Đổ khuôn Joseph Ghilardi
Ở Angkor Vat, cạnh những thần thánh, thường thấy có những nữ thần
gác cổng hay gác đền gọi là devata. Rất đẹp, cặp vú nổi trội,
mang nhiều đồ trang sức, quần sarong dài trang trí bông hoa,
mỗi bà khăn mũ khác, điệu bộ khác, y phục khác, luôn ngậm miệng cười như phong
cách Khơ me thời đó (nghe nói chỉ có một bà cho thấy hàm răng), họ đếm tất cả
là 1780 bà. Những bà dựng ở tầm tay có vú bóng nhoáng vì được khách sờ nhiều,
tin tưởng hưởng được hạnh phúc. Chữ deva, hay đầy đủ hơn devanagari, lấy
gốc từ tiếng Phạn div có nghĩa chói lọi, phát xuất từ chữ
Au-Ấn deiwos cùng nghĩa sáng rực, lóng lánh. Đạo Vệ đà xưa
dùng chữ deva để gọi lên những thế lực hoạt động trong những
hiện tượng thiên nhiên hay tinh thần. Qua đạo Hindu, deva trở
thành một chữ để chỉ những thần thánh nói chung. Nữ thần được gọi là devi.
Người ta thường lầm devi với apsara là những nữ
thiên thần nhảy múa xuất thân từ "Cảnh nhào trộn biển Sữa". Ở
Angkor, apsara được hình dung thành những nữ thần bay từng
đoàn, mang nhiều đồ trang sức và nữ trang, tượng trưng thần thánh cho niềm vui, thú vui xác thịt và tinh thần. Người ta bảo các bà biết 64 phương cách để
kích thích tình dục vì vậy khi một nhà tu khổ hạnh đạt được nhiều quyền lực,
thần Indra phái lại vài apsara, không chóng thì chầy ông sẽ sa lưới
và mất hết quyền lực. Tục truyền các apsara từ nước vượt lên
để cám dỗ người trấn: ai gạt nó đi sẽ thành điên, ai chấp nhận nó làm
nhân tình hay làm vợ sẽ thành bất tử.
Devata
Aspara
Angkor Vat Louis
Delaporte (1873)
Angkor Vat, đền Khơ me đẹp nhất, được xây dựng dưới thời
Suryavarman II (1113-1145) một ông vua chinh phục vừa là một nhà xây dựng lớn.
Vào đầu thế kỷ XII, tuy đạo Hindu còn thống trị, những biểu tượng Phật giáo
tăng gia, biểu lộ tính quan trọng của tôn giáo này, cho đến cuối thế kỷ thì trở
thành tôn giáo quốc gia. Những tượng Phật ngồi thế thiền định samadhi trên
con rắn naga Mucilinda, một giai đoạn trong đời sống đức Thích
ca Mâu ni, đáp ứng những đặc tính phong cách Angkor Vat thế kỷ X. Tục truyền
đức Thích ca khi đang mải miết trầm ngâm trong cuộc thiền định, suýt bị nước hồ
cuốn đi thì được con rắn naga Mucilinda cư trú ở đấy, dang
rộng những đầu quanh Ngài để che chở. Ngồi trên lưng con rắn cuộn lại, Ngài
trông như chễm chệ trên ngôi. Hình ảnh nầy là một mẫu gốc đức Phật vì sau nầy
rất thông dụng trong nghệ thuật Angkor. Còn quan trọng hơn khi nhiều vua tin
tưởng hoàng gia là hậu duệ một hôn nhân giữa một Bà la môn Ấn Độ và một nagini nửa
người, nửa rắn. Trong Phật giáo, bên cạnh đức Phật và đức A Di Đà, nhân vật
quan trọng bậc nhất là đức bồ tát Amoghapasa Lokesvara hay Lokesvara, hiện hình
của Avalokitesvara, nam hay nữ, tức là đức Quan Âm hay Quán Thế Âm bên ta. Theo
tiếng Phạn, tên của đức bồ tát có nghĩa "chúa tể thế giới" lokesvara mang
một dây buộc chắc chắn có hiệu nghiệm amoghapasa, luôn nắm trong
tay là một quyền lực cứu vớt những sinh mạng lạc lối. Đức Quan Âm cũng có định
nghĩa cùng hướng: hiện thân của lòng trắc ẩn, tính thận trọng, những đức
tính chính của đức bồ tát. Ngài có ngàn mắt để thấy tất cả, ngàn tay để giúp
mọi chúng sinh. Trong "phòng triển lãm trường thực" còn có hình
tượng một phụ nữ rất đẹp gọi là Prajnaparamita hay Tara (?) xem như là
hình dung của Jayarajadevi, bà vợ thứ nhất của vua Jayavarman VII, một người
giàu lòng từ thiện luôn cứu dân độ thế. Để so sánh với tượng đẹp cở này chỉ có
thể đưa ra tượng Chăm tìm ra được ở Hương Quế, thế kỷ X.
Đức Phật trên con rắn naga Phong cách
Angkor Vat. Thế kỷ XII Preah Khan ở Kompong
Svay Louis Delaporte (1873)
Lokeshvara Bayon Angkor Thom
Phong cách Bayon.Thế
kỷ XII-XIII.
Louis Delaporte (1873)
|
Jayarajadevi-Prajnaparamita ¨Phong cách Bayon Cuối thế kỷ XII-XIII, Angkor, Preah Khan
|
Hương
Quế (*) Thế kỷ X, Quảng Nam
|
Có mấy đời vua Jayavarman sau cùng, tuy không phải thần thánh, cũng
đáng được đề cao trong lịch sử Angkor. Ngoài Jayavarman II (802-?) thành lập
Hariharalaya là thành cổ Angkor, có thành tích đánh đuổi quân đô hộ Java, hai
vị để lại tên tuỗi là Jayavarman IV và Jayavarman VII. Jayavarman IV (928-941)
lên ngôi ở kinh đô Koh Ker còn gọi Chok Gargyar (Đảo Vinh Quang) được xây dựng
thành công sự 1200 m2 trong một diện tích 35 km2 với nhiếu đền đài to lớn như
phức hệ Prasat Thom tháp chóp bảy tầng cao 30m. Một bảng khắc trên linga đặt
trên chóp bằng chữ Khơ me xưa kamrate? jagat ta Rajya chỉ rõ
"thần là đức vua". Nhiếu tác phẩm nghệ thuật đã được thực hiện như
hình tượng Garuda nay dựng trước viện Bảo tàng Quốc gia Cam Pu Chia. Kok Ker bị
bỏ quên một ngàn năm cho đến lúc Louis Delaporte và Étienne Aymonier phát hiện.
Jayavarman VII (1181-1201 hay 1218) là một Phật tử, nhà vua lớn cuối cùng đế
quốc Khơ me. Khi quân Chăm sát hại vua Yacovarman II và kẻ chiếm đoạt
Tribhuvanaditvavarman, ông chạy trốn và chỉ trở về lại để đánh đuổi quân Chăm
và vua Indravarma IV ở một địa điểm sau nầy ông cho cất đền Preah Khan. Ông lên
ngôi "Hoàng đế vạn năng" và khôi phục uy quyền Khơ me "thành
công trả thù quân địch sau 18 năm dị hóa kiên trì" theo một văn bản Trung
Quốc. Sau đó, khoảng 1190, ông qua thôn tính Champa, bắt bỏ tù vua Chăm, năm
1230 biến Champa thành một tỉnh Khơ me, đồng thời mở rộng bờ cõi Cam Phu Chia
qua Lào, Thái Lan. Ông xây dựng đền quốc gia Bayon ở trung tâm kinh đô Angkor
Thom, các đến Banteay Kdei phía đông, Preah Khan phía bắc. Ông đưa lại đạo Phật
đại thừa lên làm quốc giáo và những hình tượng đức Phật tươi cười bắt đầu
chớm nỡ khắp các đền miếu. Hình tượng chính ông cũng là một mẫu Phật phúc hậu,
dịu dàng gắn liền với vẻ thẩm mỹ một thời nâng cao lý tưởng thanh thản của đạo
Phật. Là một ông vua có công giải phóng đất nước, vừa là một vị suốt đời xây
dựng, Jayavarman VII đánh dấu thời đại ông và nhờ ông mà ta mục kích được ngày
nay một Angkor dù điêu tàn vẫn đồ sộ và vô cùng huyền diệu. Khó hiểu là những
hình tượng của ông đều bị đập vỡ... Delaporte có công phục hồi hình tượng ông
tìm ra được thành hai mảnh (đầu năm 1958, thân năm 2000, thiếu tay, thiếu chân)
ngày nay được xem là một kiệt tác tuyệt đối của nghệ thuật toàn năng. Một bức
đổ khuôn tuyệt vời nữa là trán tường cửa giả chính phòng "Vũ nữ" Ta
Prohm, hình dung một giai đoạn đời sống jataka đức Phật, còn
đẹp hơn nguyên bản đang bị hư hỏng, hiện được giao cho Archaeological Survey Ấn
Độ trùng tu: có lẽ đây là một đền Jayavarman VII xây dựng để thờ bà mẹ đã mất
và để cung hiến cho đức Bát Nhã Ba la Mật Đa Prajbaparamita (Hoàn thiện Đạo
lý).
|
Jayavarman
IV (?) Prasat Thom Kok Ker Tk. X
|
Jayavarman
VII (?) Phong cách Bayon, Preah Khan Kompong Svay Tk. XII-XIII
|
Louis Delaporte (1873)
(*) Ảnh chụp ở Cuộc triển lãm Những
kho tàng nghệ thuật Việt Nam - Điêu khắc Champa tại viện bảo tàng Á
Đông Guimet, Paris 2005-2006. Tượng hiện trưng bày ở Viện Lịch sử TP.HCM.
Angkor Trán tường cửa
giả chính phía bắc phòng
"Vũ nữ"
Ta Prohm Lucien Fournereau
Sylvain Raffegeaud (1888-1889).
Thành Xô mùa xuân Giáp Ngọ 2014
Võ Quang Yến
.jpg)






































.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét