Thứ Tư, 14 tháng 9, 2022
Thế là… chị ơiXXXX
Thế là… ông Trời có mắt. Đời chị khổ nhiều rồi, khổ từ năm
lên sáu, giờ ngoài bảy mươi xuân ông Trời mới cho chị thư nhàn an hưởng tuổi già.
Con cái thảy đều thành đạt, bầy cháu nội ngoại xum vầy, đúng là “một cây cù mộc
một sân quế hòe”… Cái căn hộ tồi tàn, ẩm mốc ở phố nhỏ gần nhà ga giờ bán đi nhờ
cơn sốt nhà đất cộng với tiền thằng út bán tranh gửi từ Paris về đủ để chị mua
căn biệt thự trên đại lộ vừa mở, rộng thênh và đẹp nhất khu đô thị mới. Nghe
tin chị chuyển nhà, tôi mừng cho chị sao mẹ tôi lại khóc? Từng giọt cặn lệ ứa
ra từ khoé mắt khô kiệt của mẹ mách bảo tôi rằng, mẹ xót thương đứa cháu ruột mồ
côi bao nhiêu, càng nhớ người chị hồng nhan đoản mệnh. Thân gái dặm trường, mẹ
chị phải theo chồng rời bỏ đô thành đi lánh nạn, ở lẫn với người Thái Đen tận bến
Tà Chan, trên khúc sông Đà heo hút. Ngày ấy, các chí sĩ từng theo cụ Nguyễn
Thái Học làm cuộc bạo động Yên Bái bất thành nếu không bị rơi đầu dưới máy chém
tàn bạo thì cũng bị tù đày hoặc tan tác phiêu bạt sang Ai Lao, sang Xiêm. Chỉ
riêng cha chị và người bạn chí cốt là ông Phán Hậu nảy ra sáng kiến đưa vợ con
đi lánh nạn trên sông Đà. Thuyền ngược dòng đi được hai ngày bị khám xét dữ nên
phải chia đôi, ông Phán Hậu neo lại bến Chợ Bờ, còn cha chị neo lại bến Tà Chan
sinh sống qua ngày và thăm nuôi, tiếp tế cho bạn bè ở nhà tù Sơn La. Cái bến Tà
Chan nhờ thế trở nên sầm uất, dân quanh vùng quen gọi là Bản Phố. Mẹ chị buôn
muối, dầu hoả, vải vóc, kim chỉ… từ dưới xuôi lên và mua hàng lâm sản gửi thuyền
về Hà Nội giao cho các chợ. Nó còn là nơi ẩn cư an toàn của gia đình chị bởi từ
thị trấn Hát Lót đi xe ngựa vào Kiên Lao còn phải đi bộ một ngày đường qua hai
quả núi cao chất ngất mới ra được bến Tà Chan. Song nếu cha chị muốn gửi quà tiếp
tế cho bạn bè ở nhà tù Sơn La lại rất gần và thuận tiện. Có người lính khố xanh
canh gác trại giam nhà ở Hát Lót sẵn lòng giúp ông làm việc nghĩa cử. Hễ có ai
vượt ngục, bất kể thân sơ, không phân biệt tù Quốc dân Đảng hay tù cộng sản đều
được ông hết lòng che chở. Và chị, cô gái dòng dõi trâm anh đất Hà Thành hoa lệ
lại được sinh ra giữa nơi thâm sơn cùng cốc. Tuổi thơ chị gắn với rừng già, bến
sông và những đứa trẻ lấm lem người Thái, người Mường. Thi thoảng chị mới được
theo cha xuôi thuyền về bến Chợ Bờ thăm ông Phán Hậu, được chơi đùa thoả thích
với anh, hồi đó lớn hơn chị dăm tuổi. Nhưng anh cũng sớm phải xa chị về quê Nam
Định ở với ông nội để theo học tiếp bậc Thành Chung rồi Tú Tài. Mối nhân duyên
giữa chị và anh khởi nguồn từ đó chứ phải đâu như sau này người ta kết tội anh
là nhà thơ sa đoạ, gian díu với con phản động đội lốt Công giáo, chống phá cách
mạng.
Thế là… chị ơi! Ông Trời có mắt. Nghe đồn, ngôi mộ xây bằng đá cẩm thạch của Thịnh
híp ở nghĩa trang quốc gia không hiểu vì sao thiên hạ cứ bí mật đến đổ rác, thậm
chí có người còn ỉa đái lên đó hay trát cứt vào bia mộ. Con cháu ông ta đã mang
hài cốt về quê xây mộ khác. Mộ cũ bây giờ bên trong chỉ toàn là cát. Chị xây mộ
cho anh không cầu kỳ, chỉ vỉa vài hàng gạch còn lại để nguyên nấm đất xanh mướt
thảm cỏ, giống cỏ đặc biệt xanh quanh năm ở hoa viên Bảo tàng Mỹ thuật Paris mà
thằng út nhà chị mang về nước gây giống nhân cuộc triển lãm tranh của nó. Chị
muốn anh nằm xuống vẫn giao hoà với trời mây, trăng sao, cây cỏ. Giá hồi anh
còn sống, người yêu thiên nhiên như anh mà theo gương bác Nguyên Hồng đưa vợ
con lên Tà Chan có lẽ tốt hơn chăng? Một lần, trong chuyến đi theo đoàn làm
phim lên Sơn La, mẹ tôi dặn: “Nếu có điều kiện con nhớ ghé thăm bến Tà Chan”.
Xe lên tới Hát Lót, tôi tách đoàn, hỏi thăm đường vào Tà Chan. Dân địa phương
khuyên tôi nên đi xe ôm ra cảng Tà Hộc rồi ngược thuyền lên Tà Chan sẽ đỡ vất vả.
Đi hướng Kiên Lao qua Chiềng Chăn vào Tà Chan họ bảo leo núi cực lắm, sức tôi
không chắc kham nổi. Song nếu đi đường sông, tôi không thể lần theo dấu chân
xưa, cha chị hàng tháng mang đồ tiếp tế ra Hát Lót gửi vào nhà tù Sơn La qua
tay người lính khố xanh. Trời đã quá trưa sang chiều. Gió từ cao nguyên Tà Khoa
hiu hiu thổi vào lòng tôi nỗi buồn man mác. Tôi vào quán, nhân nha ly café toan
tìm nhà trọ ngủ qua đêm, mai sẽ đi tiếp. Chị chủ quán mau chuyện, khoe với tôi
rằng thị trấn này có ông già người Thái sống trên trăm tuổi vẫn minh mẫn khác
thường, biết rõ nhiều chuyện ở đời. Tôi mua ít hoa quả, bánh kẹo vào thăm cụ.
Thật lạ! Đã gần 120 tuổi mà cụ rất minh mẫn, chỉ đôi mắt hơi mờ và tai nghe hơi
kém. Hỏi chuyện, tôi thêm bàng hoàng xúc động bởi cụ chính là người lính khố
xanh coi tù năm xưa. Cụ tả rất rõ dáng người phong lưu, đĩnh đạc, cử chỉ nho
nhã của cha chị. Cụ còn kể vanh vách Thịnh híp chỉ là thằng lưu manh móc túi ở
nhà ga, bến xe dưới Hà Nội. Hắn được một cơ sở cách mạng thuê ăn cắp bộ chữ và
mấy bản kẽm của nhà in Minh Sang cho họ in truyền đơn. Việc bị bại lộ, hắn bị bắt
và nghiễm nhiên thành tù chính trị. Trong nhà giam, anh em tù Quốc dân Đảng rất
khinh bỉ, tẩy chay Thịnh híp. Song không hiểu sao, nhóm anh em tù cộng sản lại
bị hắn mê hoặc, kết nạp vào chi bộ nhà tù, được vài năm thì leo lên cấp lãnh đạo.
Ngày hắn vượt ngục với mấy đồng chí nữa, chính cụ đã chỉ đường cho họ vào Tà
Chan ẩn náu… Đêm ở nhà trọ, tôi không sao ngủ được, mong trời mau sáng. Đường từ
Kiên Lao vào Chiềng Chăn quanh co uốn lượn, vắt qua hai ngọn núi cao sừng sững.
Có lúc tôi đi men mép vực chênh vênh, nhìn xuống dưới mà thấy chóng mặt. Xa thế,
khó thế mà cha chị vẫn kiên trì hết năm này tháng nọ đi tiếp tế cho bạn trong
tù. Thịnh híp vào Tà Chan, được cha chị cưu mang tha hồ ăn no ngủ kỹ, chẳng lo
bị bắt lại. Hồi anh Lâm còn sống kể rằng, Thịnh híp nấn ná ở Tà Chan hàng tháng.
Hắn sai các bạn tù người xuôi thuyền xuống bến Chợ Bờ, người leo tắt đường núi
đi Tà Khoa liên hệ, bắt mối với cơ sở, còn mình nằm khểnh uống rượu, tuyên truyền
cách mạng cho cả nhà, nói như thánh tướng nên cha chị chỉ khinh khỉnh ngồi
nghe, cười mát. Hôm ông Phán Hậu từ Chợ Bờ lên đón hắn về cơ sở cách mạng dưới
Hòa Bình, cha anh ghé tai thì thầm: “Thằng này có tướng phản phúc. Mình cứu nó
thoát nạn, chẳng biết sau này có gặp hoạ vì nó hay không?” Câu chuyện của cụ
già trăm tuổi người Thái, lời kể của anh Lâm văng vẳng bên tôi suốt dọc hành
trình leo núi. Lên đỉnh núi thứ hai, tôi đã nhìn thấy thấp thoáng xa xa dòng
sông Đà và hai bản Chiềng Chăn, Tà Chan nằm men bờ nước như bức tranh thuỷ mạc.
Chị ơi! Nếu anh còn sống, đi cùng tôi lên đỉnh núi này hẳn sẽ không thể rời
chân, quên mọi khổ đau, uẩn ức, ngồi lỳ trên mỏm đá làm thơ và vẽ tranh. Còn
tôi đứng trên đỉnh núi nhìn về Tà Chan lòng cứ miên man ngẫm ngợi. Ở cõi nhân
sinh muôn thuở những kiếp người thì mọi thứ vinh-nhục, sướng-khổ, thiện-ác… vốn
đều có cả. Chẳng cầu mà đến. Muốn tránh cũng phải gặp. Song tất cả rồi sẽ biến
mất trên cõi đời, như Bản Phố chìm xuống lòng sông. Đời người đã là cõi tạm thì
sống ngày nào phải được là chính mình, dù có bao đè nén, oan ức, khổ đau như
anh Lâm, như anh và chị. Thế là… chị ơi! Tôi đã đến được Tà Chan, lội nước dò
tìm dấu tích Bản Phố ngày xưa, cũng là nơi khởi nguồn một mối tình cao sang và
những oan trái đời chị....
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Lục bát thiền trong miền đồng điệu và đồng cảm thi ca
Lục bát thiền trong miền đồng điệu và đồng cảm thi ca Lục bát thiền là nét đặc trưng cơ bản được tác giả Trần Lê Khánh chắt chiu thể hiện ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Vạch tính chất phản động của bài "Nhất định thắng" của Trần Dần Sau tám mươi năm bị địch giày xéo và sau mười lăm năm bị chiến t...
.jpg)
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét