1. Vài nét tiểu sử:
Xuân Diệu, họ Ngô (1916-1985), thời tiền chiến từng là một trong những thành viên của Tự Lực văn đoàn. Tác phẩm chính: Thơ thơ (1938), Phấn thông vàng (1939), Gửi hương cho gió (1945) Riêng chung (1960), Tôi giàu đôi mắt (1970) v.v...
Người biết mài sắt nên kim
Tâm lý con vợ lẽ
Trong một tiểu luận mang tên Những bước đường tư tưởng của tôi (1958), Xuân Diệu kể: ông là con một tú tài nho nghèo, dạy học, từ nông thôn chuyển dần ra thành phố. Một chi tiết có ý nghĩa quan trọng hơn: ông là con vợ bé. Điều oái oăm ở đây là lúc này, má ông vẫn ở với bà ngoại, còn Xuân Diệu cũng như người em trai là Tịnh Hà thì ở với đại gia đình, tức bố (mà ông gọi là thầy) và vợ cả của bố (mà ông gọi là mẹ). Bên ngoại cách bên nội độ vài cây số; lâu lâu, bà má tội nghiệp mới được phép đến thăm hai cậu con trai, mà cũng chỉ đứng ngoài cửa, chứ không vào nhà; rồi lại lâu lâu, hai cậu con trai lại trốn về thăm má, thăm ngoại, cho đỡ nhớ thương.
Như các nhà tâm lý học từng quả quyết, tính cách một con người được hình thành chủ yếu lúc ấu thơ, khoảng trước 5 tuổi, và ở đấy, những dữ kiện trong đời sống gia đình có ý nghĩa bao trùm. Tình thế "con vợ bé" nói trên đã nhào nặn nên một khuôn mặt tâm lý đặc biệt ở Xuân Diệu: ông dễ thương người, trong ông thường có những nỗi buồn vô cớ, hậu quả của một tình thế trớ trêu, lúc nào cũng cảm thấy nhưng không sao thay đổi nổi. Đấy cũng là một yếu tố tạo nên sự nhạy cảm thấy có ở hầu hết các nghệ sĩ. Nhưng nét trội nhất trong tâm lý con vợ lẽ ảnh hưởng nhiều đến cách xử thế của Xuân Diệu là sự nhẫn nhục. "Qua sông nên phải lụy đò - Tối trời nên phải lụy cô bán dầu". Vì tôi ở vào tình cảnh như thế, nên tôi phải chịu nước lép, chứ thực ra trong bụng, tôi thừa biết là tôi chẳng kém gì đời. Chữ lụy ấy, Xuân Diệu rất hiểu. Hồi ký Tuổi trẻ Xuân Diệu (do Tịnh Hà ghi) và cuốn sách Đi hoang của Tịnh Hà (cả hai chỉ được xuất bản với một số lượng ít ỏi) cho biết: trong khi Tịnh Hà uất ức, phẫn nộ, đã phải bỏ cái đại gia đình kia để sống kiếp lang thang thì Xuân Diệu chọn con đường cắn răng cam chịu, ngoan ngoãn sống với thầy mẹ, dồn tất cả tâm sức vào học, vì biết rằng chỉ có học giỏi mình mới nên người, đền đáp xứng đáng công ơn má là người đã rứt ruột đẻ ra mình. Rồi ra sự nhẫn nhục này sẽ theo ông trên suốt đường đời. ở một xã hội mà quan niệm xướng ca vô loài còn nặng, trong một đất nước luôn luôn có bao nhiêu việc cần hơn là "mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây", tâm lý nhẫn nhục ấy giống như một thứ xu-páp bảo hiểm, nó rất cần thiết cho những người lấy sáng tác làm nghề nghiệp. Chả thế mà khoảng 1940, Xuân Diệu đã có gan bỏ thi đàn để đi làm tham tá nhà đoan ở Mỹ Tho. Dẫu rất yêu sáng tác, con người này vẫn hiểu rằng có một cái còn quan trọng hơn sáng tác, đó là đời sống, là tồn tại. Ngoài một lần "nhượng bộ lớn" đó, trong cuộc đời một người cầm bút, Xuân Diệu còn có nhiều phen nhẫn nhịn rất đáng thông cảm.
Ý chí lập nghiệp
Ta hãy hình dung lại tình hình đất nước khi Xuân Diệu lớn lên và ra học để thi tú tài ở Hà Nội. Sau những thể nghiệm trong những năm đầu thế kỷ, nay là lúc xã hội Việt Nam chuyển hẳn sang mẫu hình hiện đại. Người ta đua nhau mở hiệu buôn, làm đại lý cho các hãng buôn tận bên Tây, rồi đóng tàu chạy đường biển; rồi khai mỏ, mở nhà in... Tất cả gặp nhau trong một ý nghĩ: cái gì mà người phương Tây đã làm, đang làm, thì mình cũng phải làm được và sẽ làm đến nơi đến chốn. Trong lĩnh vực đời sống tinh thần cũng có tình trạng như vậy. Một lớp người mới bước vào nghề: Nhất Linh, Khái Hưng, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư v.v... So với thế hệ Tản Đà hoặc Phạm Duy Tốn, họ có chỗ khác: Tây học thấm vào họ từ khi còn ngồi trên ghế tiểu học. Sách báo phương Tây là cái mẫu hình mà họ thấy không có cách nào khác hơn là phải noi theo. Với những bài thơ táo bạo in trong Thơ thơ, Xuân Diệu còn như là muốn chứng tỏ: lối nói, lối xúc cảm của những Rimbaud, Verlaine... không có gì xa lạ với người mình. Trong phạm vi ngôn ngữ dân tộc cho phép, người làm thơ vẫn có thể trình bày hết những ý tưởng đã đến trong tâm trí con người Việt Nam hiện đại.
Nếu sự nhạy cảm và nói chung là toàn bộ năng khiếu đã đưa Xuân Diệu đến với sáng tác văn học thì ý chí lập nghiệp sẽ là yếu tố bảo đảm cho ông thành công. Đã mang tiếng ở trong trời đất - Phải có danh gì với núi sông - Mấy câu thơ ấy của Nguyễn Công Trứ luôn vang bên tai ông như lời tự nhủ. Trong khi những người khác coi văn chương là một việc tài tử, vui làm, chán bỏ được chăng hay chớ, thì Xuân Diệu sẵn sàng đánh vật với công việc bởi ông hiểu rằng đây là cuộc sống thật sự của mình. Báo Ngày nay và nhóm Tự lực đang nổi lên như cồn, gần như làm chủ văn đàn ư? Thì ông sẽ tìm được cách để được coi như một thành viên trong nhóm! Làm thơ không sống nổi, thơ là thứ không thể lấp đầy một tờ báo, phải biết viết tin, viết truyện ngắn ư? Thì Xuân Diệu sẽ học để làm được tất cả những cái đó. Văn xuôi của ông trong Phấn thông vàng là một thứ văn xuôi độc đáo không giống bất cứ ai khác. Tóm lại có thể bảo trong số các nhà văn tiền chiến, Xuân Diệu là một trong những ngòi bút mang chất nhà nghề rõ rệt nhất. Chất nhà nghề đó bộc lộ ở thói quen chịu thương chịu khó "nhận tất cả mọi việc về nghề văn", nhận đủ các loại com-măng, rồi việc to cũng như việc nhỏ đều làm hết lòng, làm ở trình độ hiện đại, vừa bám sát yêu cầu của khách hàng, vừa mang rõ dấu ấn riêng, để có thể đề vào đó mấy chữ "made in Xuân Diệu" mà không sợ mang tiếng gì hết.
Cốt cách của người lao động
Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, Xuân Diệu 29 tuổi. ở thời ấy, đấy là cái tuổi đã trưởng thành. Chẳng những thế, trong xã hội, Xuân Diệu đã có vai trò rất vẻ vang, vai một văn nghệ sĩ nổi tiếng.
Cách mạng rất hiểu điều đó, và liên tục dành cho Xuân Diệu sự ưu ái cần thiết.
Về phần mình cái vai ấy cũng được Xuân Diệu đảm nhận một cách đầy đủ. Vừa có ý thức, vừa tự nhiên khéo léo, gần như là vô tình, vô ý thức, ông tạo cho mình cái cốt cách mà người nghệ sĩ lúc này cần có: cốt cách một người lao động. Nhìn lại hơn 40 năm cuối đời của Xuân Diệu, người ta thấy ông đã lao động không mệt mỏi. Khi làm đài phát thanh, khi làm báo, khi bình thơ, khi viết tiểu luận, luôn luôn ông tìm thấy việc để làm và giá có được phân công làm gì thì cũng mang vào đấy cả sự tính toán kỹ càng vốn có. Thơ giờ đây được ông xem như một ngành sản xuất, với tiến độ, nhịp độ mức tiêu thụ nguyên liệu và mức ra sản phẩm... rành rọt. Để biện hộ cho các bài thơ phục vụ kịp thời, ông nêu lý luận về loại thơ thực tế, xem đó là cả một hướng tìm tòi nghiêm chỉnh. Nhưng chỗ mạnh của mình là thơ tình thì ông vẫn nhớ! Biết rằng trước sau xã hội sẽ cần loại thơ ấy, ông khai thác những vui buồn trong cuộc đời riêng một cách triệt để, làm sẵn thơ tình rồi công bố dần. Ông lại có ý thức tổ chức sao cho các bài thơ đó bổ sung nhau, nối tiếp nhau, tiến tới làm ra một thứ mà ông ước tính nên gọi là từ điển tình yêu, những cặp trai gái khi cần sẽ có cái để tra cứu từ A đến Z. Nhưng không ở đâu cái khao khát "làm mọi thứ cho ra tấm ra món" của Xuân Diệu bộc lộ rõ như khi ông viết tiểu luận. Sau những thành công trong việc đột phá vào sáng tác của Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, ông sớm hiểu rằng đây là khu vực làm nên sự nghiệp cuối đời của mình. Công cuộc khai thác được ông lên kế hoạch đâu vào đấy, ở đó, không có chuyện thú hay không thú, hợp gu hay không hợp gu, ở đó là sự đào cùng tát cạn, là xúc từng mảng, từng mảng... Số lượng trang viết trở thành nỗi ám ảnh thường xuyên trong đầu óc Xuân Diệu. Ông hể hả nhìn lại số đầu sách đã ra, số trang đã viết, cũng như hể hả ghi vào sổ tay số lượng những cuộc bình thơ, nói chuyện thơ, số lần được mời làm chủ khảo chấm thơ - cái tâm lý rất trần tục ấy là một trong những dấu hiệu chứng tỏ cách cảm cách nghĩ của người lao động đã thấm hẳn vào Xuân Diệu. Như một người đàn bà suốt đời lam lũ lo liệu gây dựng cơ đồ, lúc về già, ông không thấy phải ý tứ gì nữa. Ông tham lam đòi bằng được những gì mà ông coi là quyền lợi riêng của mình, là mình phải được - để rồi sau đó, lại mang đi ban phát cho người khác và cảm thấy thế là sung sướng. Ông thích người ta phải luôn luôn nhắc đến vai trò, vị trí của ông trong đời sống văn học. Ông nói khéo với người này, quát mắng người kia, cốt sao được việc, cốt sao trong những trang văn học sử do những người ấy viết, hình ảnh ông hiện ra sáng sủa nhất, dễ coi nhất. Trong lời tựa Thơ thơ ngày nào, Thế Lữ từng sớm chỉ ra rằng Xuân Diệu rất quyến luyến cõi đời, tấm lòng trần gian của ông rất nặng. Nay, trong cốt cách của người lao động, nhà thơ mới bộc lộ hết mình, tấm lòng trần gian ấy mới thật hiện ra với cái vẻ trần trụi và thông tục của nó. Dẫu sao, Xuân Diệu cũng đã đạt được cái điều mà ông mong muốn!
Chưa ai thông cảm hết sự cô độc của tôi
Thật ra cách tìm xuống âm phủ để hỏi chuyện "các bậc tài hoa" đã chết như thế này từng được nhà văn Phạm Thị Hoài đầu tiên với việc phỏng vấn Hồ Xuân Hương in ở Lao động chủ nhật số 2 ra ngày 10-12-1989; người viết bài này chỉ học đòi mà phỏng theo. Chỗ khác nhau giữa chúng tôi là: Phạm Thị Hoài mượn hình thức hỏi chuyện để trình ra một số ý nghĩ của mình về cuộc cách mạng tình dục; bài phỏng vấn đó thực chất là một tiểu luận. Còn bài viết của tôi là bài phỏng vấn... thiệt! Rất mong các bạn đọc xa gần, nhất là những người có quen biết với Xuân Diệu hồi ông còn sống, xác minh hộ xem người đối thoại với tôi hôm nay có phải là Xuân Diệu thật không, hay là một hồn ma nào khác.
Với thói bo bo bỏm bỏm chi li nhặt nhạnh những gì đã viết, hẳn ông vui sướng khi thấy Toàn tập 6 cuốn của mình đã được in?
Nhưng nó cũng chỉ mới in một lần, mà tôi thì muốn in đi in lại nhiều lần. Một phần tâm huyết là các bản dịch các bài giới thiệu văn học nước ngoài của tôi còn chưa được sưu tầm và in lại đầy đủ.
Vả chăng, nay là lúc đến các nhà văn nhà thơ hạng nhì hạng ba cũng làm tuyển tập...
Ông không muốn lẫn đi giữa họ?
Ai mà chẳng thế, có riêng gì tôi.
Còn nhớ hồi làm Tuyển tập tập 1, ông cố ý cho in cả những bài thơ dở?
Thơ hay tự bạn đọc biết tìm cho họ rồi. Nhiệm vụ của nhà thơ lúc làm tuyển tập cuối đời là đưa thêm cho họ thật nhiều, để họ đãi lại, may ra có được gì thêm. Chỗ mạnh chính trong con người ông?
Làm việc cật lực, làm việc không ngẩng đầu lên được nữa.
Thế còn chỗ yếu?
Cũng là làm việc cật lực, làm việc đến mức không có thì giờ xem xét lại, đánh giá lại công việc của mình. Người ta thích nhắc nhau câu của Goethe: Khởi nguyên là hành động. Nhưng nên nhớ Goethe còn nói: Sự hành động làm tê liệt tư tưởng.
Ông có nghĩ rằng trong giới văn nghệ sĩ nước ta, không thấy có những trí thức cỡ lớn như R.Rolland, A.France?
Thì dân tộc cũng chỉ rặn được ra lũ chúng tôi.
Kinh nghiệm tồn tại của ông trong văn học?
Lúc làm thơ, phải thật trong sáng. Nhưng lúc in thơ lại phải thật cơ hội (cười). Cậu xem, trừ Tô Hoài, còn ai lắm đầu sách như mình nào! Mà quá nửa sách của Tô Hoài là sách viết cho thiếu nhi.
Phương châm sống của ông?
Vắt kiệt mình cho đời. Viết hết những điều mà mình muốn viết và có thể viết. Một người như Nguyễn Tuân biết nhiều mà viết quá ít.
Vì cụ còn muốn sống cho đẹp?
Có lẽ thế. Còn mình mình nghĩ phần tinh hoa của người nghệ sĩ mà cũng là phần sống đời của họ là ở tác phẩm. Theo mốt hiện đại, không ai đếm xỉa đến cuộc sống riêng của anh lắm đâu, mà anh phải quá chăm chút đến mất thì giờ vì nó. Tôi sống chỉ cốt để phục vụ cái tôi viết.
Nhiều người cũng muốn như ông, mà không xoay xỏa nổi.
Phải. Vì họ còn vợ đẹp con khôn, có người còn quyền cao chức trọng đủ thứ. Phần tôi, không có gia đình, tôi chỉ lấy viết làm vui. Sinh thời, tôi đã tập cho mình thói quen của mấy bà già nông thôn. Cậu có để ý thấy các bà ấy lúc nào cũng phải có việc gì đó để làm, rời tay cấy hái là lại lăn vào chuyện nhà cửa bếp núc nếu không thì cũng khâu vá hết ngày...
Lúc sống, có điều gì mà ông cảm thấy chưa được thông cảm? Sự cô độc và những cách thức của con người để sống chung với sự cô độc, mà cũng là để chiến thắng sự cô độc ấy.
Tại sao những năm cuối đời, ông không tính chuyện viết hồi ký?
Mình không muốn công nhận là mình đã già. Mình mải việc... Vả chăng, hồi ấy viết hồi ký có cái phiền của nó. Ví dụ chuyện mình có mấy bài thơ tặng Nhất Linh, Hoàng Đạo, rồi chuyện mình chính thức có chân trong nhóm Tự Lực văn đoàn, hồi ấy mình đã phải dẹp mãi, các sách văn học sử nó mới lờ đi cho. Ai hơi đâu mà lạy ông tôi ở bụi này? Còn như, giá được sống đến bây giờ trong hoàn cảnh Tự Lực văn đoàn được đánh giá lại, mình sẽ trình bày chuyện ấy thật đàng hoàng.
Giờ đây, ở dưới suối vàng, ông nghĩ thế nào về đời mình?
Mãn nguyện. Có thể coi là mãn nguyện được.
Nếu mai đây, các nhà văn học sử đánh giá lại về ông thì sao?
Đấy là việc của họ. Nhưng vượt được bọn mình, đâu có phải chuyện dễ!.
Xuân Diệu, họ Ngô (1916-1985), thời tiền chiến từng là một trong những thành viên của Tự Lực văn đoàn. Tác phẩm chính: Thơ thơ (1938), Phấn thông vàng (1939), Gửi hương cho gió (1945) Riêng chung (1960), Tôi giàu đôi mắt (1970) v.v...
Người biết mài sắt nên kim
Tâm lý con vợ lẽ
Trong một tiểu luận mang tên Những bước đường tư tưởng của tôi (1958), Xuân Diệu kể: ông là con một tú tài nho nghèo, dạy học, từ nông thôn chuyển dần ra thành phố. Một chi tiết có ý nghĩa quan trọng hơn: ông là con vợ bé. Điều oái oăm ở đây là lúc này, má ông vẫn ở với bà ngoại, còn Xuân Diệu cũng như người em trai là Tịnh Hà thì ở với đại gia đình, tức bố (mà ông gọi là thầy) và vợ cả của bố (mà ông gọi là mẹ). Bên ngoại cách bên nội độ vài cây số; lâu lâu, bà má tội nghiệp mới được phép đến thăm hai cậu con trai, mà cũng chỉ đứng ngoài cửa, chứ không vào nhà; rồi lại lâu lâu, hai cậu con trai lại trốn về thăm má, thăm ngoại, cho đỡ nhớ thương.
Như các nhà tâm lý học từng quả quyết, tính cách một con người được hình thành chủ yếu lúc ấu thơ, khoảng trước 5 tuổi, và ở đấy, những dữ kiện trong đời sống gia đình có ý nghĩa bao trùm. Tình thế "con vợ bé" nói trên đã nhào nặn nên một khuôn mặt tâm lý đặc biệt ở Xuân Diệu: ông dễ thương người, trong ông thường có những nỗi buồn vô cớ, hậu quả của một tình thế trớ trêu, lúc nào cũng cảm thấy nhưng không sao thay đổi nổi. Đấy cũng là một yếu tố tạo nên sự nhạy cảm thấy có ở hầu hết các nghệ sĩ. Nhưng nét trội nhất trong tâm lý con vợ lẽ ảnh hưởng nhiều đến cách xử thế của Xuân Diệu là sự nhẫn nhục. "Qua sông nên phải lụy đò - Tối trời nên phải lụy cô bán dầu". Vì tôi ở vào tình cảnh như thế, nên tôi phải chịu nước lép, chứ thực ra trong bụng, tôi thừa biết là tôi chẳng kém gì đời. Chữ lụy ấy, Xuân Diệu rất hiểu. Hồi ký Tuổi trẻ Xuân Diệu (do Tịnh Hà ghi) và cuốn sách Đi hoang của Tịnh Hà (cả hai chỉ được xuất bản với một số lượng ít ỏi) cho biết: trong khi Tịnh Hà uất ức, phẫn nộ, đã phải bỏ cái đại gia đình kia để sống kiếp lang thang thì Xuân Diệu chọn con đường cắn răng cam chịu, ngoan ngoãn sống với thầy mẹ, dồn tất cả tâm sức vào học, vì biết rằng chỉ có học giỏi mình mới nên người, đền đáp xứng đáng công ơn má là người đã rứt ruột đẻ ra mình. Rồi ra sự nhẫn nhục này sẽ theo ông trên suốt đường đời. ở một xã hội mà quan niệm xướng ca vô loài còn nặng, trong một đất nước luôn luôn có bao nhiêu việc cần hơn là "mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây", tâm lý nhẫn nhục ấy giống như một thứ xu-páp bảo hiểm, nó rất cần thiết cho những người lấy sáng tác làm nghề nghiệp. Chả thế mà khoảng 1940, Xuân Diệu đã có gan bỏ thi đàn để đi làm tham tá nhà đoan ở Mỹ Tho. Dẫu rất yêu sáng tác, con người này vẫn hiểu rằng có một cái còn quan trọng hơn sáng tác, đó là đời sống, là tồn tại. Ngoài một lần "nhượng bộ lớn" đó, trong cuộc đời một người cầm bút, Xuân Diệu còn có nhiều phen nhẫn nhịn rất đáng thông cảm.
Ý chí lập nghiệp
Ta hãy hình dung lại tình hình đất nước khi Xuân Diệu lớn lên và ra học để thi tú tài ở Hà Nội. Sau những thể nghiệm trong những năm đầu thế kỷ, nay là lúc xã hội Việt Nam chuyển hẳn sang mẫu hình hiện đại. Người ta đua nhau mở hiệu buôn, làm đại lý cho các hãng buôn tận bên Tây, rồi đóng tàu chạy đường biển; rồi khai mỏ, mở nhà in... Tất cả gặp nhau trong một ý nghĩ: cái gì mà người phương Tây đã làm, đang làm, thì mình cũng phải làm được và sẽ làm đến nơi đến chốn. Trong lĩnh vực đời sống tinh thần cũng có tình trạng như vậy. Một lớp người mới bước vào nghề: Nhất Linh, Khái Hưng, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư v.v... So với thế hệ Tản Đà hoặc Phạm Duy Tốn, họ có chỗ khác: Tây học thấm vào họ từ khi còn ngồi trên ghế tiểu học. Sách báo phương Tây là cái mẫu hình mà họ thấy không có cách nào khác hơn là phải noi theo. Với những bài thơ táo bạo in trong Thơ thơ, Xuân Diệu còn như là muốn chứng tỏ: lối nói, lối xúc cảm của những Rimbaud, Verlaine... không có gì xa lạ với người mình. Trong phạm vi ngôn ngữ dân tộc cho phép, người làm thơ vẫn có thể trình bày hết những ý tưởng đã đến trong tâm trí con người Việt Nam hiện đại.
Nếu sự nhạy cảm và nói chung là toàn bộ năng khiếu đã đưa Xuân Diệu đến với sáng tác văn học thì ý chí lập nghiệp sẽ là yếu tố bảo đảm cho ông thành công. Đã mang tiếng ở trong trời đất - Phải có danh gì với núi sông - Mấy câu thơ ấy của Nguyễn Công Trứ luôn vang bên tai ông như lời tự nhủ. Trong khi những người khác coi văn chương là một việc tài tử, vui làm, chán bỏ được chăng hay chớ, thì Xuân Diệu sẵn sàng đánh vật với công việc bởi ông hiểu rằng đây là cuộc sống thật sự của mình. Báo Ngày nay và nhóm Tự lực đang nổi lên như cồn, gần như làm chủ văn đàn ư? Thì ông sẽ tìm được cách để được coi như một thành viên trong nhóm! Làm thơ không sống nổi, thơ là thứ không thể lấp đầy một tờ báo, phải biết viết tin, viết truyện ngắn ư? Thì Xuân Diệu sẽ học để làm được tất cả những cái đó. Văn xuôi của ông trong Phấn thông vàng là một thứ văn xuôi độc đáo không giống bất cứ ai khác. Tóm lại có thể bảo trong số các nhà văn tiền chiến, Xuân Diệu là một trong những ngòi bút mang chất nhà nghề rõ rệt nhất. Chất nhà nghề đó bộc lộ ở thói quen chịu thương chịu khó "nhận tất cả mọi việc về nghề văn", nhận đủ các loại com-măng, rồi việc to cũng như việc nhỏ đều làm hết lòng, làm ở trình độ hiện đại, vừa bám sát yêu cầu của khách hàng, vừa mang rõ dấu ấn riêng, để có thể đề vào đó mấy chữ "made in Xuân Diệu" mà không sợ mang tiếng gì hết.
Cốt cách của người lao động
Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, Xuân Diệu 29 tuổi. ở thời ấy, đấy là cái tuổi đã trưởng thành. Chẳng những thế, trong xã hội, Xuân Diệu đã có vai trò rất vẻ vang, vai một văn nghệ sĩ nổi tiếng.
Cách mạng rất hiểu điều đó, và liên tục dành cho Xuân Diệu sự ưu ái cần thiết.
Về phần mình cái vai ấy cũng được Xuân Diệu đảm nhận một cách đầy đủ. Vừa có ý thức, vừa tự nhiên khéo léo, gần như là vô tình, vô ý thức, ông tạo cho mình cái cốt cách mà người nghệ sĩ lúc này cần có: cốt cách một người lao động. Nhìn lại hơn 40 năm cuối đời của Xuân Diệu, người ta thấy ông đã lao động không mệt mỏi. Khi làm đài phát thanh, khi làm báo, khi bình thơ, khi viết tiểu luận, luôn luôn ông tìm thấy việc để làm và giá có được phân công làm gì thì cũng mang vào đấy cả sự tính toán kỹ càng vốn có. Thơ giờ đây được ông xem như một ngành sản xuất, với tiến độ, nhịp độ mức tiêu thụ nguyên liệu và mức ra sản phẩm... rành rọt. Để biện hộ cho các bài thơ phục vụ kịp thời, ông nêu lý luận về loại thơ thực tế, xem đó là cả một hướng tìm tòi nghiêm chỉnh. Nhưng chỗ mạnh của mình là thơ tình thì ông vẫn nhớ! Biết rằng trước sau xã hội sẽ cần loại thơ ấy, ông khai thác những vui buồn trong cuộc đời riêng một cách triệt để, làm sẵn thơ tình rồi công bố dần. Ông lại có ý thức tổ chức sao cho các bài thơ đó bổ sung nhau, nối tiếp nhau, tiến tới làm ra một thứ mà ông ước tính nên gọi là từ điển tình yêu, những cặp trai gái khi cần sẽ có cái để tra cứu từ A đến Z. Nhưng không ở đâu cái khao khát "làm mọi thứ cho ra tấm ra món" của Xuân Diệu bộc lộ rõ như khi ông viết tiểu luận. Sau những thành công trong việc đột phá vào sáng tác của Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, ông sớm hiểu rằng đây là khu vực làm nên sự nghiệp cuối đời của mình. Công cuộc khai thác được ông lên kế hoạch đâu vào đấy, ở đó, không có chuyện thú hay không thú, hợp gu hay không hợp gu, ở đó là sự đào cùng tát cạn, là xúc từng mảng, từng mảng... Số lượng trang viết trở thành nỗi ám ảnh thường xuyên trong đầu óc Xuân Diệu. Ông hể hả nhìn lại số đầu sách đã ra, số trang đã viết, cũng như hể hả ghi vào sổ tay số lượng những cuộc bình thơ, nói chuyện thơ, số lần được mời làm chủ khảo chấm thơ - cái tâm lý rất trần tục ấy là một trong những dấu hiệu chứng tỏ cách cảm cách nghĩ của người lao động đã thấm hẳn vào Xuân Diệu. Như một người đàn bà suốt đời lam lũ lo liệu gây dựng cơ đồ, lúc về già, ông không thấy phải ý tứ gì nữa. Ông tham lam đòi bằng được những gì mà ông coi là quyền lợi riêng của mình, là mình phải được - để rồi sau đó, lại mang đi ban phát cho người khác và cảm thấy thế là sung sướng. Ông thích người ta phải luôn luôn nhắc đến vai trò, vị trí của ông trong đời sống văn học. Ông nói khéo với người này, quát mắng người kia, cốt sao được việc, cốt sao trong những trang văn học sử do những người ấy viết, hình ảnh ông hiện ra sáng sủa nhất, dễ coi nhất. Trong lời tựa Thơ thơ ngày nào, Thế Lữ từng sớm chỉ ra rằng Xuân Diệu rất quyến luyến cõi đời, tấm lòng trần gian của ông rất nặng. Nay, trong cốt cách của người lao động, nhà thơ mới bộc lộ hết mình, tấm lòng trần gian ấy mới thật hiện ra với cái vẻ trần trụi và thông tục của nó. Dẫu sao, Xuân Diệu cũng đã đạt được cái điều mà ông mong muốn!
Chưa ai thông cảm hết sự cô độc của tôi
Thật ra cách tìm xuống âm phủ để hỏi chuyện "các bậc tài hoa" đã chết như thế này từng được nhà văn Phạm Thị Hoài đầu tiên với việc phỏng vấn Hồ Xuân Hương in ở Lao động chủ nhật số 2 ra ngày 10-12-1989; người viết bài này chỉ học đòi mà phỏng theo. Chỗ khác nhau giữa chúng tôi là: Phạm Thị Hoài mượn hình thức hỏi chuyện để trình ra một số ý nghĩ của mình về cuộc cách mạng tình dục; bài phỏng vấn đó thực chất là một tiểu luận. Còn bài viết của tôi là bài phỏng vấn... thiệt! Rất mong các bạn đọc xa gần, nhất là những người có quen biết với Xuân Diệu hồi ông còn sống, xác minh hộ xem người đối thoại với tôi hôm nay có phải là Xuân Diệu thật không, hay là một hồn ma nào khác.
Với thói bo bo bỏm bỏm chi li nhặt nhạnh những gì đã viết, hẳn ông vui sướng khi thấy Toàn tập 6 cuốn của mình đã được in?
Nhưng nó cũng chỉ mới in một lần, mà tôi thì muốn in đi in lại nhiều lần. Một phần tâm huyết là các bản dịch các bài giới thiệu văn học nước ngoài của tôi còn chưa được sưu tầm và in lại đầy đủ.
Vả chăng, nay là lúc đến các nhà văn nhà thơ hạng nhì hạng ba cũng làm tuyển tập...
Ông không muốn lẫn đi giữa họ?
Ai mà chẳng thế, có riêng gì tôi.
Còn nhớ hồi làm Tuyển tập tập 1, ông cố ý cho in cả những bài thơ dở?
Thơ hay tự bạn đọc biết tìm cho họ rồi. Nhiệm vụ của nhà thơ lúc làm tuyển tập cuối đời là đưa thêm cho họ thật nhiều, để họ đãi lại, may ra có được gì thêm. Chỗ mạnh chính trong con người ông?
Làm việc cật lực, làm việc không ngẩng đầu lên được nữa.
Thế còn chỗ yếu?
Cũng là làm việc cật lực, làm việc đến mức không có thì giờ xem xét lại, đánh giá lại công việc của mình. Người ta thích nhắc nhau câu của Goethe: Khởi nguyên là hành động. Nhưng nên nhớ Goethe còn nói: Sự hành động làm tê liệt tư tưởng.
Ông có nghĩ rằng trong giới văn nghệ sĩ nước ta, không thấy có những trí thức cỡ lớn như R.Rolland, A.France?
Thì dân tộc cũng chỉ rặn được ra lũ chúng tôi.
Kinh nghiệm tồn tại của ông trong văn học?
Lúc làm thơ, phải thật trong sáng. Nhưng lúc in thơ lại phải thật cơ hội (cười). Cậu xem, trừ Tô Hoài, còn ai lắm đầu sách như mình nào! Mà quá nửa sách của Tô Hoài là sách viết cho thiếu nhi.
Phương châm sống của ông?
Vắt kiệt mình cho đời. Viết hết những điều mà mình muốn viết và có thể viết. Một người như Nguyễn Tuân biết nhiều mà viết quá ít.
Vì cụ còn muốn sống cho đẹp?
Có lẽ thế. Còn mình mình nghĩ phần tinh hoa của người nghệ sĩ mà cũng là phần sống đời của họ là ở tác phẩm. Theo mốt hiện đại, không ai đếm xỉa đến cuộc sống riêng của anh lắm đâu, mà anh phải quá chăm chút đến mất thì giờ vì nó. Tôi sống chỉ cốt để phục vụ cái tôi viết.
Nhiều người cũng muốn như ông, mà không xoay xỏa nổi.
Phải. Vì họ còn vợ đẹp con khôn, có người còn quyền cao chức trọng đủ thứ. Phần tôi, không có gia đình, tôi chỉ lấy viết làm vui. Sinh thời, tôi đã tập cho mình thói quen của mấy bà già nông thôn. Cậu có để ý thấy các bà ấy lúc nào cũng phải có việc gì đó để làm, rời tay cấy hái là lại lăn vào chuyện nhà cửa bếp núc nếu không thì cũng khâu vá hết ngày...
Lúc sống, có điều gì mà ông cảm thấy chưa được thông cảm? Sự cô độc và những cách thức của con người để sống chung với sự cô độc, mà cũng là để chiến thắng sự cô độc ấy.
Tại sao những năm cuối đời, ông không tính chuyện viết hồi ký?
Mình không muốn công nhận là mình đã già. Mình mải việc... Vả chăng, hồi ấy viết hồi ký có cái phiền của nó. Ví dụ chuyện mình có mấy bài thơ tặng Nhất Linh, Hoàng Đạo, rồi chuyện mình chính thức có chân trong nhóm Tự Lực văn đoàn, hồi ấy mình đã phải dẹp mãi, các sách văn học sử nó mới lờ đi cho. Ai hơi đâu mà lạy ông tôi ở bụi này? Còn như, giá được sống đến bây giờ trong hoàn cảnh Tự Lực văn đoàn được đánh giá lại, mình sẽ trình bày chuyện ấy thật đàng hoàng.
Giờ đây, ở dưới suối vàng, ông nghĩ thế nào về đời mình?
Mãn nguyện. Có thể coi là mãn nguyện được.
Nếu mai đây, các nhà văn học sử đánh giá lại về ông thì sao?
Đấy là việc của họ. Nhưng vượt được bọn mình, đâu có phải chuyện dễ!.
2. Xuân Diệu và một quan niệm cởi mở về tính dân tộc
Là một thành viên chính thức của Tự lực Văn đoàn vào những năm
1940, đối với mấy tờ báo là cơ quan chủ chốt của Văn đoàn này như Phong Hoá,
Ngày Nay, Xuân Diệu có sự cộng tác thường xuyên. ở đó, chẳng những ông cho đăng
thơ mà còn cho in truyện ngắn và tiểu luận.
Tuyển tập Xuân Diệu tập II (in ra 1987) được xác định là dành riêng cho truyện ngắn, bút ký, song đã lấy vào một bài tiểu luận ngắn của tác giả Gửi hương cho gió. Đó là bài Thơ của người in trên Ngày Nay số ra ngày 7-8-1938.
Lần này, chúng tôi xin giới thiệu một tiểu luận ngắn khác của Xuân Diệu in trên Ngày Nay năm 1939 liên quan đến một vấn đề mà nhiều người hằng quan tâm, và giữa tháng 4-1994, đã trở thành chủ điểm của một cuộc hội thảo rộng rãi, đó là vấn đề tính dân tộc trong thơ.
Chúng ta sẽ gặp ở đây một cách hiểu khá rộng rãi của Xuân Diệu:
Ông không chỉ nghĩ tính cách dân tộc là một cái gì nhất thành bất biến. ngược lại, từ kinh nghiệm của riêng một người đang làm việc, ông bảo chúng ta phải mở cửa, phải biết tiếp nhận. Có những cách nói lần đầu khó nghe rồi dần dần sẽ quen. Chừng nào còn là người Việt, những cái chúng ta viết ra sẽ là văn chương Việt Nam. Không phải chỉ có một lối “giản dị” “chân quê” mới là dân tộc, như có người đã nghĩ!
Về mặt giọng điệu, Xuân Diệu năm 1939 cũng là Xuân Diệu những năm về sau, tự nhiên, nhẹ nhàng mà không kém phần duyên dáng. Văn ông không sa vào biền ngẫu song lại luôn luôn tạo được âm hưởng riêng. Câu văn như lời trò chuyện dung dị, thỉnh thoảng lại có cái đột ngột của một thứ đối thoại tâm tình. Đọc những bài viết viết ra từ 1939 này, người ta vẫn nhận ra nét bút riêng của con người sau này sẽ viết nên Tiếng thơ, Dao có mài mới sắc, Và cây đời mãi mãi xanh tươi v.v...
Để lưu ý rằng bài viết ra đời đã hơn nửa thế kỷ và cũng là để tôn trọng một cây bút đã quá cố, chúng tôi cố ý giữ nguyên một số từ ngữ được Xuân Diệu sử dụng từ hồi ấy, từ cách gọi Việt Nam là An nam, Trung Hoa và Tàu... cho đến cách chép tên đầy đủ người nước ngoài mà không phiên âm, và thỉnh thoảng lại chú thích nguyên văn tiếng Pháp của một, hai danh từ mới nhập vào Việt nam.
Tính cách “An Nam” trong văn chương
Có lẽ ý tôi sẽ ngược với rất nhiều người, song tôi cũng mong được có cái tự do tư tưởng, nói những điều tôi thành thực tin, dù bị công kích cũng đành.
Văng vẳng ở đâu đây, tôi được nghe người ta bảo: Văn chương An-nam phải có tính cách An Nam.
Thực là chí lý: thực là một điều dĩ nhiên quá: chẳng những viết văn An-nam lại hóa ra viết văn Tây. Nhưng cái thuyết “tính cách An-nam” là một thuyết dễ làm cho ta nhầm; chỉ một chút cố chấp, một chút hủ lậu cũng đủ biến cái thuyết đẹp đẽ kia thành ra một thuyết chật hẹp, nông nổi.
Người An-nam là người An-nam, chứ người tây sao được? Dù có Âu hoá đi nữa, cái đặc biệt của nòi giống vẫn còn ở trong máu, trong từng thớ thịt, từng miếng da. Văn chương Việt Nam cũng vậy. Cái ngô nghê phải chết, cái lố lăng phải mất, sự nô lệ trong văn chương không thể nào tạo nên được những tác phẩm lâu bền. Phải, văn mỗi nước có một tinh thần, khó có thể diễn tả ra cho rõ được; ta phải có một thứ cảm xúc riêng để cảm nghe cái tinh thần ấy. Đời nào văn Việt Nam lại dung túng những lối văn sống sượng, một lối văn nô lệ cho văn Tàu hay văn Tây! Trong văn chương cũng có một luật đào thải tự nhiên; những cái phản với tinh thần quốc văn tất phải tiêu diệt.
Tôi nghĩ chúng ta không càn phải quá áy náy, lo rằng văn chương Việt Nam mắc cái bệnh “làm tây”; những cỏ dại không hợp thủy thổ sẽ chết ngay từ khi gieo giống.
Chúng ta phải giữ gìn cho tính cách An-nam. Điều ấy rất phải. Nhưng giữ gìn bờ cõi có phải là đóng hết cửa biển, tuyệt hết giao thông, bế tắc cả nước lại đâu! Giữ gìn không là quẩn quanh trong một vũng ao tù, không phải là đành tâm mến yêu một cảnh nghèo đói. Văn chương Việt Nam được giữ kín một cách chắc chắn là tiếng Việt Nam (la langue Annamite) có hình thức, có mẹo luật riêng. Ta viết bằng quốc văn dùng những chữ (les mots) An-nam, theo một cú pháp An-nam và theo cái “tinh thần” riêng, mà ta cảm nghe rất rõ; tiếng An-nam cũng như một khí cụ, ta biết khéo dùng cái khí cụ ấy, dùng cẩn thận thì thôi; hà tất phải khư khư chạy đi tìm một cái cổ hủ nào rất vu vơ, mờ mịt?
Cái học Âu-tây đã làm cho chúng ta tinh vi, kỹ lưỡng; vì sao chúng ta không nói những điều ấy trong văn Việt Nam? Ta viết văn An-nam ta tả những tình cảm của ta, thì có gì hại cho văn An-nam chứ? Chúng ta là những người An-nam có chịu ảnh hưởng Âu-tây, nhưng vẫn là người An-nam. Mà người Âu tây là gì? Họ cũng vẫn là người. Trừ những điều riêng tây quá, chứ cái “kho”, cái “đáy”, cái “vốn” của con người ở đâu đâu cũng giống nhau. Trong lòng An-nam của chúng ta vẫn có phần nhiều những ý, những tình, những cảm giác mà người tây có. Xưa kia ta không nói là vì ta không ngờ; bây giờ cái não khoa học của Âu tây đã cho biết rằng ta có, vẫn có đã lâu những của cải chôn giấu ở trong lòng, thì sao ta không nói? Miễn là ta dùng tiếng An-nam và dùng đúng, tức là ta viết văn An-nam. Khi xưa, đất An-nam cũng vẫn có những dầu hoả đấy chứ; cái dầu hoả mà khoa học Âu tây tìm ra trên đất An-nam có phải là dầu hoả tây hay không?
Với lại có những cách phải dựa theo tây mà nói, nếu không thì không nói được bằng cách nào. Ta phải nhận rằng xưa kia các cụ có mấy khi chịu dùng tiếng An-nam! Một thứ tiếng để lâu quá, ít dùng quá thì cố nhiên ít được khéo léo. Chúng ta phải tạo thêm, phải bày đặt ra những cách dùng mới mà xưa kia các cụ không chịu tìm; vả lại chúng ta ở thế kỷ hai mươi, chúng ta có những cái phức tạp mà các cụ không có. Cái phức tạp là đấy ư? Thế nghĩa là muốn làm An-nam, phải giản dị, đơn sơ như thời trung cổ ư?
Bởi thế, thỉnh thoảng chúng ta phải dùng những chữ bởi, của, trong v.v... những tiếng đưa đẩy mà trước kia các cụ rất ít dùng; và ta lại dùng theo những cách có hơi lạ.
Tôi xin lỗi ông Hoài Thanh vì tôi đã nói: “Đại dương của thương nhớ, sa mạc của cô đơn”. Tôi nhận rằng chữ của ngô nghê thực. Song le nếu nói: “Nỗi thương nhớ mênh mông như đại dương” thì hai câu rất khác nhau. Câu dưới là một sự so sánh (une comparaison), câu trên có chữ của là một sự chung hợp, một sự lẫn lộn (une mé taphore). ý của tôi phải dùng một cái métaphore mới tả được; thì tôi phải dùng chữ của dầu cái chữ ấy nghe không quen tai.
Tôi còn nói nhiều về vấn đề này. Một vấn đề mềm mỏng và hệ trọng bao nhiêu! Cốt nhất không phải là thắng trong sự tranh luận; cốt nhất không phải lòng tự ái; chỉ một điều ta nên nghĩ, dầu ta phải hay trái, là tiếng Việt Nam mà ta yêu.
Tuyển tập Xuân Diệu tập II (in ra 1987) được xác định là dành riêng cho truyện ngắn, bút ký, song đã lấy vào một bài tiểu luận ngắn của tác giả Gửi hương cho gió. Đó là bài Thơ của người in trên Ngày Nay số ra ngày 7-8-1938.
Lần này, chúng tôi xin giới thiệu một tiểu luận ngắn khác của Xuân Diệu in trên Ngày Nay năm 1939 liên quan đến một vấn đề mà nhiều người hằng quan tâm, và giữa tháng 4-1994, đã trở thành chủ điểm của một cuộc hội thảo rộng rãi, đó là vấn đề tính dân tộc trong thơ.
Chúng ta sẽ gặp ở đây một cách hiểu khá rộng rãi của Xuân Diệu:
Ông không chỉ nghĩ tính cách dân tộc là một cái gì nhất thành bất biến. ngược lại, từ kinh nghiệm của riêng một người đang làm việc, ông bảo chúng ta phải mở cửa, phải biết tiếp nhận. Có những cách nói lần đầu khó nghe rồi dần dần sẽ quen. Chừng nào còn là người Việt, những cái chúng ta viết ra sẽ là văn chương Việt Nam. Không phải chỉ có một lối “giản dị” “chân quê” mới là dân tộc, như có người đã nghĩ!
Về mặt giọng điệu, Xuân Diệu năm 1939 cũng là Xuân Diệu những năm về sau, tự nhiên, nhẹ nhàng mà không kém phần duyên dáng. Văn ông không sa vào biền ngẫu song lại luôn luôn tạo được âm hưởng riêng. Câu văn như lời trò chuyện dung dị, thỉnh thoảng lại có cái đột ngột của một thứ đối thoại tâm tình. Đọc những bài viết viết ra từ 1939 này, người ta vẫn nhận ra nét bút riêng của con người sau này sẽ viết nên Tiếng thơ, Dao có mài mới sắc, Và cây đời mãi mãi xanh tươi v.v...
Để lưu ý rằng bài viết ra đời đã hơn nửa thế kỷ và cũng là để tôn trọng một cây bút đã quá cố, chúng tôi cố ý giữ nguyên một số từ ngữ được Xuân Diệu sử dụng từ hồi ấy, từ cách gọi Việt Nam là An nam, Trung Hoa và Tàu... cho đến cách chép tên đầy đủ người nước ngoài mà không phiên âm, và thỉnh thoảng lại chú thích nguyên văn tiếng Pháp của một, hai danh từ mới nhập vào Việt nam.
Tính cách “An Nam” trong văn chương
Có lẽ ý tôi sẽ ngược với rất nhiều người, song tôi cũng mong được có cái tự do tư tưởng, nói những điều tôi thành thực tin, dù bị công kích cũng đành.
Văng vẳng ở đâu đây, tôi được nghe người ta bảo: Văn chương An-nam phải có tính cách An Nam.
Thực là chí lý: thực là một điều dĩ nhiên quá: chẳng những viết văn An-nam lại hóa ra viết văn Tây. Nhưng cái thuyết “tính cách An-nam” là một thuyết dễ làm cho ta nhầm; chỉ một chút cố chấp, một chút hủ lậu cũng đủ biến cái thuyết đẹp đẽ kia thành ra một thuyết chật hẹp, nông nổi.
Người An-nam là người An-nam, chứ người tây sao được? Dù có Âu hoá đi nữa, cái đặc biệt của nòi giống vẫn còn ở trong máu, trong từng thớ thịt, từng miếng da. Văn chương Việt Nam cũng vậy. Cái ngô nghê phải chết, cái lố lăng phải mất, sự nô lệ trong văn chương không thể nào tạo nên được những tác phẩm lâu bền. Phải, văn mỗi nước có một tinh thần, khó có thể diễn tả ra cho rõ được; ta phải có một thứ cảm xúc riêng để cảm nghe cái tinh thần ấy. Đời nào văn Việt Nam lại dung túng những lối văn sống sượng, một lối văn nô lệ cho văn Tàu hay văn Tây! Trong văn chương cũng có một luật đào thải tự nhiên; những cái phản với tinh thần quốc văn tất phải tiêu diệt.
Tôi nghĩ chúng ta không càn phải quá áy náy, lo rằng văn chương Việt Nam mắc cái bệnh “làm tây”; những cỏ dại không hợp thủy thổ sẽ chết ngay từ khi gieo giống.
Chúng ta phải giữ gìn cho tính cách An-nam. Điều ấy rất phải. Nhưng giữ gìn bờ cõi có phải là đóng hết cửa biển, tuyệt hết giao thông, bế tắc cả nước lại đâu! Giữ gìn không là quẩn quanh trong một vũng ao tù, không phải là đành tâm mến yêu một cảnh nghèo đói. Văn chương Việt Nam được giữ kín một cách chắc chắn là tiếng Việt Nam (la langue Annamite) có hình thức, có mẹo luật riêng. Ta viết bằng quốc văn dùng những chữ (les mots) An-nam, theo một cú pháp An-nam và theo cái “tinh thần” riêng, mà ta cảm nghe rất rõ; tiếng An-nam cũng như một khí cụ, ta biết khéo dùng cái khí cụ ấy, dùng cẩn thận thì thôi; hà tất phải khư khư chạy đi tìm một cái cổ hủ nào rất vu vơ, mờ mịt?
Cái học Âu-tây đã làm cho chúng ta tinh vi, kỹ lưỡng; vì sao chúng ta không nói những điều ấy trong văn Việt Nam? Ta viết văn An-nam ta tả những tình cảm của ta, thì có gì hại cho văn An-nam chứ? Chúng ta là những người An-nam có chịu ảnh hưởng Âu-tây, nhưng vẫn là người An-nam. Mà người Âu tây là gì? Họ cũng vẫn là người. Trừ những điều riêng tây quá, chứ cái “kho”, cái “đáy”, cái “vốn” của con người ở đâu đâu cũng giống nhau. Trong lòng An-nam của chúng ta vẫn có phần nhiều những ý, những tình, những cảm giác mà người tây có. Xưa kia ta không nói là vì ta không ngờ; bây giờ cái não khoa học của Âu tây đã cho biết rằng ta có, vẫn có đã lâu những của cải chôn giấu ở trong lòng, thì sao ta không nói? Miễn là ta dùng tiếng An-nam và dùng đúng, tức là ta viết văn An-nam. Khi xưa, đất An-nam cũng vẫn có những dầu hoả đấy chứ; cái dầu hoả mà khoa học Âu tây tìm ra trên đất An-nam có phải là dầu hoả tây hay không?
Với lại có những cách phải dựa theo tây mà nói, nếu không thì không nói được bằng cách nào. Ta phải nhận rằng xưa kia các cụ có mấy khi chịu dùng tiếng An-nam! Một thứ tiếng để lâu quá, ít dùng quá thì cố nhiên ít được khéo léo. Chúng ta phải tạo thêm, phải bày đặt ra những cách dùng mới mà xưa kia các cụ không chịu tìm; vả lại chúng ta ở thế kỷ hai mươi, chúng ta có những cái phức tạp mà các cụ không có. Cái phức tạp là đấy ư? Thế nghĩa là muốn làm An-nam, phải giản dị, đơn sơ như thời trung cổ ư?
Bởi thế, thỉnh thoảng chúng ta phải dùng những chữ bởi, của, trong v.v... những tiếng đưa đẩy mà trước kia các cụ rất ít dùng; và ta lại dùng theo những cách có hơi lạ.
Tôi xin lỗi ông Hoài Thanh vì tôi đã nói: “Đại dương của thương nhớ, sa mạc của cô đơn”. Tôi nhận rằng chữ của ngô nghê thực. Song le nếu nói: “Nỗi thương nhớ mênh mông như đại dương” thì hai câu rất khác nhau. Câu dưới là một sự so sánh (une comparaison), câu trên có chữ của là một sự chung hợp, một sự lẫn lộn (une mé taphore). ý của tôi phải dùng một cái métaphore mới tả được; thì tôi phải dùng chữ của dầu cái chữ ấy nghe không quen tai.
Tôi còn nói nhiều về vấn đề này. Một vấn đề mềm mỏng và hệ trọng bao nhiêu! Cốt nhất không phải là thắng trong sự tranh luận; cốt nhất không phải lòng tự ái; chỉ một điều ta nên nghĩ, dầu ta phải hay trái, là tiếng Việt Nam mà ta yêu.
(Ngày Nay ra ngày thứ bảy 28 Janvier 1939 - số 147)









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét