Chú bé thành Paris 1
Lời giới thiệu
Victor Hugo (1802-1885) là nhà văn vĩ đại của nước Pháp. Cuộc
đời Victor Hugo là cuộc đời đấu tranh không ngừng cho chính nghĩa và cho tự do,
dân chủ. Những tác phẩm văn học của ông đã phản ánh trung thành những biến cố lịch
sử lớn lao trong cuộc cách mạng của nhân dân Pháp suốt thế kỷ XIX. Không những
vậy, Victor Hugo còn thể hiện lòng yêu hòa bình tha thiết và niềm tin tưởng ở
con người. Chính vì vậy, các tác phẩm của ông thấm đượm tính nhân văn sâu sắc.
Những người khôn khổ là bộ truyện lớn nhât và là một
trong những kiệt tác của Victor Hugo. Ông đã ấp ủ, suy nghĩ về đề tài này và viết
trong ba mươi năm trời. Năm 1862, Những người khốn khổ được xuất bản
và thành công vang dội. Chỉ trong vài tiếng, sách đã bán hết hàng mấy ngàn bản. Những
người khốn khổ không những là một bản anh hùng ca của thời đại mà còn thấm
nhuần tư tưởng nhân đạo, ca ngợi tự do dân chủ, chống lại áp bức cường quyền.
Trong tác phẩm Những người khốn khổ, tác giả đã thể hiện lòng thương cảm
sâu sắc đối với những con người bị xã hội chà đạp và lòng tin vào tâm hồn cao
thượng của họ. Họ chính là những người như Jean Valjean đã từng là tù khổ sai,
dẫu bị săn đuổi, truy lùng nhưng vẫn cố vươn lên, là Fantine - Người mẹ nghèo bị
đọa đày nhưng vẫn hết lòng vì con và còn là chú bé Gavroche hồn nhiên, dũng cảm
và nghĩa hiệp...
Gavroche tuy đói khổ và nhiễm chút "bụi đời" nhưng
vẫn rạng ngời phẩm chất tốt đẹp. Chú căm ghét kẻ giàu và sẵn sàng giúp đỡ người
nghèo khó. Dẫu không có cái ăn, cái mặc, không có chỗ ngủ nhưng chú vẫn ném chiếc
khăn choàng cho cô bé hành khất đang rét run trên đường phố. Định
"chôm" mấy quả táo ăn cho đỡ đói nhưng khi biết cụ Mabeuf nghèo túng,
Gavroche đành thôi và tìm mọi cách giúp cụ. Chú dùng đồng xu cuối cùng để mua
bánh cho hai đứa trẻ lạc đang đói và còn mở rộng bụng voi để chúng ngủ qua
đêm...
Paris khởi nghĩa, Gavroche hăng hái ra trận với khẩu súng
không cò, miệng hát vang những khúc ca "hòa âm của tiếng chim và xưởng thợ".
Thông minh và dũng cảm, Gavroche luôn có mặt ở những nơi cuộc chiến gay go và
ác liệt. Chú như con ong: châm anh sinh viên này, đốt anh thợ kia, đáp xuống, dừng
lại, bay lượn trên chiến lũy... "Đôi cánh tay nhỏ của chú là sự chuyển động
thường trực, hai lá phổi tí hon của chú chứa đựng sự huyên náo..."
Chiến lũy bị bao vây, mặc dù có cơ hội để thoát ra ngoài
nhưng Gavroche vẫn ngoan cường chiến đấu đến cùng. "Chú bé lang thang
thành Paris khi da thịt chạm mặt đường, thì cũng như người khổng lồ Antée chạm
mặt đất. Chú ngã xuống chỉ để chồm lên đưa hai tay lên trời hướng về bọn bắn
súng hát tiếp khúc ca dang dở..."
Bằng lối hành văn sinh động và hóm hỉnh, Victor Hugo đã làm sống
dậy hình ảnh của thiếu nhi Pháp trong cuộc cách mạng qua nhân vật Gavroche.
Gavroche trở thành biểu tượng của thanh thiếu niên Pháp yêu nước và chiến đấu
dũng cảm. Trong thời kỳ Phát xít Đức xâm chiếm Pháp, một đội du kích Pháp đã lấy
tên Gavroche để chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Hình tượng Gavroche vừa hồn
nhiên, trong sáng vừa dũng cảm hào hùng đã gây xúc động và niềm cảm phục sâu sắc
trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ trên thế giới.
Những người khốn khổ của đại văn hào Victor Hugo được
Nhóm Văn học Lê Quý Đôn dịch, và do cha tôi là Giáo sư Huỳnh Lý chủ biên. Là
nhà giáo lão thành, nặng lòng với thế hệ trẻ, thấy nhân vật Gavroche ngây thơ,
đáng yêu và có ý nghĩa giáo dục cao nên cha tôi đã thống nhất với các dịch giả
để tôi biên soạn Chú bé thành Paris và Nhà xuất bản Kim Đồng đã in
năm 2002. Mong rằng đọc Chú bé thành Paris, các bạn sẽ thêm yêu thích các
tác phẩm văn học kinh điển và biết trân trọng những gì mình đang có.
Paris có những đứa trẻ, trong rừng có đàn chim. Đàn chim là
đàn chim sẻ, lũ trẻ là những thằng "nhóc con". Bọn trẻ ấy lúc nào
cũng vui. Không phải ngày nào cũng có cái ăn nhưng tối nào cao hứng chúng cũng
đi xem hát được. Người không mặc áo, chân không đi giày, đầu không có mái che,
mình trần thân trụi, chúng giống như những con chim con trên trời. Chúng cũng
có những thói quen không hay: thích lê la chỗ này chỗ nọ, thích văng tục chửi
thề, đôi khi còn nói lóng, hát nhảm và lúc đói quá thì cũng móc túi,
"chôm" đồ song chẳng có chút ác ý nào vì lòng chúng chứa một viên ngọc.
Đó là hòn ngọc của tuổi thơ mà ngọc thì có ngâm dưới bùn cũng chẳng tiêu tan
trong bùn. Nếu người ta hỏi cái thành phố khổng lồ ấy: "Bọn trẻ ấy là
ai?" Thành phố đó sẽ vui vẻ trả lời: "Con tôi đấy!"
Người ta thường thấy hay đi về trên đại lộ Temple và trong
vùng Château-d’Eau một em trai nhỏ độ mười một, mười hai tuổi với một nụ cười
tươi trên môi và trái tim tràn lòng tin yêu cuộc sống. Em bé đó mặc một chiếc
quần dài và một cái áo ngắn nhưng không phải của cha mẹ em. Quần áo ấy là của
những người từ thiện đã cho em. Ấy thế mà em cũng có cha mẹ! Nhưng cha em không
nghĩ đến em và mẹ em cũng chẳng yêu em. Em bé ấy là một trong những em nhỏ đáng
thương hơn cả, có cha mẹ mà lại mồ côi. Em bé ấy cảm thấy không ở đâu khoan
khoái bằng ở ngoài đường. Những viên đá lát đường không rắn bằng trái tim mẹ em
và những cái nhìn của khách qua đường cũng không lạnh giá bằng đôi mắt của cha
em. Với một cú đá, cha mẹ em đã vứt em vào cuộc đời và thế là em bay đi.
Đó là một chú bé vui nhộn, xanh xao, nhanh nhẹn, tinh khôn,
ưa chế giễu, có vẻ hoạt bát mà ốm yếu. Chú đi, chú lại, chú hát, chú cười, chú
ranh mãnh và bụng đói thì ăn cắp vặt một tí, nhưng ăn cắp mà vui vẻ, hồn nhiên
như con mèo hay con chim sẻ. Chú cười khi người ta gọi chú là "nhãi
ranh" nhưng tức giận khi người ta gọi chú là "mất dạy". Chú
không có nhà ở, không có bánh ăn, không có lửa sưởi, không có ai yêu, nhưng chú
vui sướng vì chú tự do. Dân quanh vùng thường gọi chú là Gavroche.
Nhưng dù bị cha mẹ "mang con bỏ chợ" như vậy, đôi
khi cứ hai, ba tháng chú lại nói: "Chà! Mình phải viếng thăm ông bà già một
chút chứ!" Thế là chú rời đại lộ, bỏ rạp xiếc, ô Saint-Martin, đi xuống bờ
sông, qua cầu, ra ngoại ô đến khu Salpêtrière, đến đúng cái số nhà ghép 50-52,
cái nhà nát Gorbeau.
Cái nhà ấy thường vắng vẻ, bỏ không và luôn mang cái biển
"có phòng cho thuê" nhưng ít khi có người ở. Những người ở đây, như lệ
thường ở Paris, hoàn toàn không quen biết nhau, không có quan hệ gì với nhau, tất
cả đều thuộc hạng nghèo khổ.
Những người nghèo khốn nhất trong đám những người thuê này là
một gia đình bốn mạng: một người cha, một người mẹ và hai cô con gái đã khá lớn.
Cả bốn người ở chung trong một cái buồng tồi tàn. Cái gia đình ấy thoạt nhìn
không có vẻ gì đặc biệt ngoài sự túng thiếu cùng cực. Người cha khi thuê buồng
báo tên mình là Jondrette 1. Sau khi đã dọn nhà, lão Jondrette đã nói với mụ
cho thuê nhà đồng thời là mụ gác cổng:
- Bà này! Nếu có ai đến hỏi một người Ba Lan, một người Ý hay
một người Tây Ban Nha ở đây thì bà chỉ tôi đây nhé!
Đó chính là cái gia đình của chú bé khốn khổ và vui vẻ ấy.
Chú bé trở về đây và thấy sự nghèo khổ, cái tiều tụy thảm hại ấy và đáng buồn
hơn nữa là không có một nụ cười. Bếp lò lạnh tanh, lòng người cũng lạnh tanh.
Khi chú bước vào buồng thì người ta hỏi: "Mày ở đâu về?" Chú trả lời:
"Ở ngoài đường". Khi chú đi nhà lại hỏi: "Mày đi đâu?" Chú
trả lời: "Đi ra đường". Mẹ chú lại bảo: "Thế mày đến đây làm
gì?" Mỗi lần cũng chỉ từng ấy câu hỏi, đáp như vậy mà thôi. Chú bé về nhà
và lại ra đi trong chớp nhoáng.
Chú bé sống không chút tình thương yêu, cũng như những đám cỏ
nhợt nhạt trong hầm tối. Chú không lấy thế làm đau khổ mà cũng không trách ai.
Chú cũng không biết đúng ra một ông bố, một bà mẹ thì phải như thế nào với con
cái. Ấy thế mà bà mẹ lại rất yêu thương hai chị của chú.
Do thủ đoạn lừa lọc, tống tiền, cha mẹ chú Gavroche và đồng bọn
bị sa lưới pháp luật. Không hay biết tai biến đã xảy ra với gia đình mình,
Gavroche ít hôm sau lại về thăm nhà như thường lệ. Trời đã tối hẳn, giữa tháng
Hai giá rét mà chú bé chỉ mặc một cái quần vải. Chú bé xanh xao, gầy guộc và
rách rưới ấy vừa đi vừa hát vang. Ở góc phố Petit-Banquier, một bà già đang lom
khom bới đống rác dưới ánh đèn treo ngoài phố. Chú bé đi qua chạm phải bà già,
liền lùi lại và kêu lên:
- Kìa! Thế mà mình tưởng là một chú chó kếch sù, kếch sù.
Mắt nheo nheo, miệng chú chu lại, còn tay thì huơ trong không
trung. Lần thứ hai nói tiếng kếch sù, chú rống lên một cách hài hước. Có lẽ phải
viết hoa lên mới hình dung đúng cách nói đó. Một chú chó kếch sù, KẾCH SÙ. Bà
già ngẩng lên giận dữ, làu bàu nói:
- Thằng oắt con! Nếu bà không cúi xuống thì bà đã đá cho mày
một cái toạc mông.
Đứa bé đi xa còn quay lại kêu lên:
- Êu! Êu! Hóa ra mình không nhầm.
Bà già tức uất người lên, đứng thẳng dậy, ngọn đèn đỏ lòm chiếu
rõ khuôn mặt nhợt nhạt, xương xẩu, nhăn nheo của bà. Cả người bà lẫn trong bóng
tối, chỉ còn trông thấy cái đầu. Có thể nói đây là khuôn mặt của còm cõi lồ lộ
dưới ánh đèn trong đêm tối. Đứa bé ngắm bà, nhăn mặt lại rồi nói:
- Thưa bà! Cái nhan sắc của bà thuộc loại tôi không ưa cho lắm.
Nói rồi chú quay người, lắc mông một cách giễu cợt như anh hề
ở rạp xiếc. Thế rồi chú vừa đi vừa hát:
"Vua Coupdesabot
Lên đường đi săn
Đi săn chim quạ..."
Hát hết ba câu, chú ngừng bặt. Chú đến ngay trước số nhà
50-52. Thấy cổng đóng, chú lấy chân đạp. Tiếng đạp kêu ầm ầm, hùng dũng. Không
phải cái bàn chân nhỏ của chú đạp cổng ầm lên như thế mà là do đôi giày người lớn
chú đang đi. Bà già mà chú vừa gặp ở phố Petit-Banquier liền chạy đến đứng đằng
sau chú. Mụ vừa hoa chân múa tay vừa kêu la om sòm:
- Trời ơi! Cái gì thê? Cái gì thế? Đứa nào đạp cửa, đứa nào
phá nhà tao thế?
Tiếng chân đạp cửa vẫn ầm ầm không ngớt.
- Bây giờ người ta xử sự với nhà cửa như thế à?
Mụ bỗng dừng lại, nhận ra đứa bé.
- Thế nào? Lại thằng quỷ Satan này ư?
- Kìa! Bà già! Chào bà Burgonmuche. Tôi về thăm các cụ tổ nhà
tôi đây.
Cái mặt già nua xấu xí nhăn lại một cách thù hằn nhưng uổng
công vì đứa bé chẳng nhìn thấy gì trong bóng tối.
- Chẳng có ai cả, nhãi ạ!
- Sao? Thế cha tôi đâu?
- Ở khám lớn.
- Vậy mẹ tôi?
- Ở nhà giam.
- Còn các chị tôi đi đâu?
- Ở trong bốt.
Đứa bé gãi tai, nhìn bà Burgonmuche, kêu lên:
- Thế à!
Rồi chú xoay gót bước đi. Lát sau, bà già đứng trên ngưỡng cửa
còn nghe tiếng hát trong trẻo, ngây thơ của đứa nhỏ:
"Vua Coupdesabot
Lên đường đi săn
Đi săn chim quạ
Cụ đi cà kheo
Người chui dưới cụ
Phải nộp hai xu".
Dần dần, cái bóng nhỏ bé của chú chìm sâu vào trong đêm, dưới
những lùm cây đang rùng mình trước ngọn gió đông ẩm ướt.
--------------------------------
|
Thénardier - cha của Gavroche là kẻ bất lương, do đó hắn lấy
nhiều tên, nhiều loại quốc tịch khác nhau để dễ hành động mờ ám. |
Của từ trên trời rơi xuống
Một buổi tối, Gavroche chưa có gì bỏ bụng, sực nhớ ra rằng tối
hôm trước mình cũng chẳng ăn gì. Bây giờ thấy vừa đói vừa mệt, chú nghĩ phải
tìm cái lót dạ. Chú nhớ lại một lần lang thang qua đây, chú đã để ý một khu vườn.
Trong vườn có một cây táo. Chỉ cần một quả táo là đủ một bữa tối.
Một quả táo là đủ sống rồi!
Gavroche quyết định đến khu vườn. Trong vườn có một ngôi nhà
cổ. Thấp thoáng bóng một bà già và một ông lão. Gavroche thận trọng đi chung
quanh để dò xét. Thấy chắc ăn, chú định nhón chân để trèo vào, song tình cờ
nghe thấy có tiếng người nói, chú dừng lại, nép mình vào bóng đêm bên cạnh hàng
rào để nghe cho rõ hơn.
Bà lão giọng càu nhàu:
- Ông Mabeuf!
"Mabeuf 1!
Cái tên nghe đến lạ tai!" Gavroche nghĩ thầm. Ông già nghe gọi vẫn ngồi
yên không nhúc nhích.
- Ông Mabeuf!
- Cái gì đó bà Plutarque?
Lại một cái tên khôi hài nữa, Gavroche nghĩ bụng.
Bà Plutarque lại lên tiếng một lần nữa làm cho ông già phai bắt
chuyện.
- Ông Mabeuf ! - Bà lão tiếp tục nói - Chủ nhà họ không bằng
lòng vì ta thiếu tiền nhà trọ đã ba quý rồi. Người ta bảo sẽ mời ông ra ngủ
ngoài trời.
- Ừ thì tôi sẽ ra.
- Bà hàng hoa quả thì bảo: không có tiền thì không được lấy củi
cành trong vườn. Bà hàng thịt cũng đòi tiền.
- Không có củi cũng chẳng sao, còn thịt cũng chẳng cần thiết
lắm.
- Vậy thì lấy gì để sưởi? Lấy gì để ăn với bánh? Lấy gì để nấu
xúp đây?
- Đã có ánh nắng mặt trời thay lò sưởi. Còn ăn bánh mì không
có thịt càng nhẹ bụng. Nấu xúp chay ăn cũng ngon mà lại dễ tiêu.
- Bác hàng bánh cũng bảo: phải trả bớt nợ thì mới được lấy
bánh, còn không tiền thì đừng lấy bánh nữa.
- Không có bánh cũng được.
- Thế thì ông sẽ ăn gì?
- Chúng ta sẽ ăn táo trong vườn trừ bữa.
- Nhưng không tiền, không của như thế này thì làm sao sống được
hả ông?
- Tôi không có, biết làm sao được!
Bà lão bỏ đi. Ông già ngồi lại một mình suy nghĩ. Về phần
mình, Gavroche cũng băn khoăn không thực hiện ý đồ hái trộm táo nữa. Đáng lẽ phải
leo qua hàng giậu thì nó lại ngồi xổm dưới chân giậu. Ở đây cành cây xòe ra có
chỗ trống.
"Ồ, lại một chái nhà". Chú bé nghĩ bụng và chui vào
đấy.
Chỗ chú ngồi gần như sát lưng với chiếc ghế của ông cụ
Mabeuf. Chú nghe rõ hơi thở của ông cụ. Chú cố ngủ để trừ bữa. Ngủ gà ngủ gật,
vừa ngủ vừa theo dõi mọi việc.
Hoàng hôn phủ một màu trắng mờ lên mặt đất. Con đường nhỏ nổi
rõ thành một dãy nhợt nhạt giữa hai dãy bụi cây tối tăm.
Bỗng nhiên, trên dải đường trắng nhạt ấy, hai bóng đen hiện
ra. Một bóng đi trước, bóng kia theo sau, cách một quãng.
"Hai sinh vật". Gavroche nghĩ thầm.
Bóng thứ nhất có vẻ là một nhà tư sản già, dáng người lom
khom ra vẻ nghĩ ngợi, ăn mặc bình thường, bước đi chầm chậm vì tuổi tác và có
dáng như đang dạo chơi thơ thẩn dưới trời sao. Bóng thứ hai, người thẳng, chắc,
mảnh dẻ cứ theo sát bóng thứ nhất. Trông dáng đi cố ý chầm chậm, người ta đoán
được sự mềm dẻo và nhanh nhẹn. Bóng này mặc dù có vẻ dữ tợn và đáng sợ, lại có
đủ dáng điệu của một chàng công tử ăn diện. Hắn đội cái mũ hình chóp đẹp, áo
ngoài màu đen, may khéo, chắc là bằng loại dạ tốt, lại thắt đáy lưng ong nữa.
Cái đầu ngẩng cao vừa đẹp, vừa khỏe và dưới mũ, một khuôn mặt thanh niên hiện
ra trong hoàng hôn. Trên miệng hắn ngậm một bông hoa hồng. Bóng thứ hai này
Gavroche biết rõ: Đó là Montparnasse. Gavroche suýt bật kêu lên. Mặc dù không
biết người thứ nhất là ai song tính tò mò khiến Gavroche để ý. Vào lúc này mà
Montparnasse đi kiếm ăn thì đáng sợ thật. Gavroche thấy thương hại ông già. Làm
thế nào bây giờ? Can thiệp à? Trẻ thơ mà đi cứu già yếu ư? Chỉ tổ làm trò cười
cho Montparnasse mà thôi. Một ông già và một đứa trẻ con thì làm gì được thằng
cướp trẻ tuổi và cường tráng như Montparnasse. Gavroche đang đắn đo suy nghĩ,
lo lắng cho số phận ông già đang bị Montparnasse - một tay du đãng chuyên cướp
giật - bám sát gót, thì đột ngột cuộc chiến xảy ra. Thật chẳng khác nào hổ vồ lừa,
nhện bắt muỗi. Xuất kỳ bất ý Montparnasse ném bông hồng, nhảy xổ vào ông già,
túm cổ áo vật xuống. Gavroche cố hết sức mới khỏi kêu lên, song sự việc xảy ra
lại ngoài sức tưởng tượng của chú bé. Người nằm dưới đất là Montparnasse, và
người đè lên trên lại là ông già. Gavroche không thể ngờ được khi thấy
Montparnasse trẻ khỏe như vậy lại có thể thua ông già nhanh chóng đến thế.
Gavroche nghĩ bụng: "Ông già mới tuyệt làm sao!" Không kiềm được,
Gavroche vỗ tay cổ vũ. Song hai đối thủ đang mải vật nhau cho nên chẳng ai nghe
thấy gì. Bỗng mọi vật đều im ắng. Montparnasse thôi không vùng vẫy nữa. Ông già
từ nãy giờ vẫn im lặng, bây giờ Gavroche mới nghe thấy ông ta bảo Montparnasse:
- Đứng dậy đi!
Montparnasse đứng lên, ông già vẫn nắm lấy gã. Montparnasse
có vẻ như một con chó sói bị một con cừu ngoạm giữ, vừa khuất phục vừa gầm gừ
giận dữ. Gavroche thấy thú vị vô cùng. Chú không ngờ thằng cướp dữ dằn như thế
lại thua ông già mau lẹ như vậv. Chú cố vểnh tai và căng hai mắt để nghe và
nhìn. Ông già hỏi Montparnasse:
- Mày bao nhiêu tuổi?
- Mười chín.
- Mày khỏe mạnh thế, sao mày không làm việc?
- Không thích.
- Hiện mày làm nghề gì?
- Không làm nghề gì cả.
- Mày muốn làm gì? Trả lời đứng đắn để xem tao có thể giúp được
gì cho mày không?
- Ăn trộm.
Một phút yên lặng. Ông già có vẻ suy nghĩ mông lung lắm. Ông
đứng yên nhưng tay vẫn không buông Montparnasse. Chốc chốc, tên cướp trẻ tuổi,
vạm vỡ và nhanh nhẹn lại có những cái vùng vẫy của con thú bị sa bẫy. Nó đẩy mạnh
một cái hoặc móc chéo chân ông già, có khi nó lại vặn tay mình như điên như dại,
cố tìm cách thoát thân. Ông già có vẻ như không thấy gì, cứ một tay tóm cả hai
tay đối thủ với vẻ thản nhiên cực độ của một sức mạnh tuyệt đối. Ông già suy
nghĩ một chốc rồi nhìn thẳng vào Montparnasse, cất giọng nhẹ nhàng khuyên bảo
gã. Gavroche dỏng tai nghe không bỏ sót một tiếng. Giọng ông già từ tốn, chậm
rãi, rõ từng tiếng một:
- Cháu ạ! Mày bước vào cuộc sống cần cù bằng con đường lười
nhác. Chà! Mày tuyên bố thích làm "nghề ăn trộm" ư? Ai lại thế! Mày
phải làm một công việc gì đó chứ. Đồ lười nhác! Đừng có ăn bám nữa! Phải tìm một
nghề để sống chứ! Kẻ nào trốn tránh lao động, sợ lao động thì kẻ ấy sẽ đẩy con
người ta xuống vực thẳm. Mày còn trẻ dại lắm cháu ạ! Miệng mày còn hơi sữa. Chắc
mày còn mẹ. Tao bảo: mày hãy thương mẹ, thương thân mày mà nghe tao!
Ngừng một lát, ông già lại nói tiếp:
- Cháu ạ! Mày đi lầm đường rồi. Tính lười nhác, thích ăn diện
đã đẩy mày làm bậy. Cái nghề gay go, nặng nhọc nhất là nghề ăn trộm đấy. Mày
hãy nghe tao, đừng đâm đầu vào đó nữa. Mày thấy đấy, làm một tên ăn trộm chẳng
dễ chút nào, mà phải sống trong lo sợ thấp thỏm, dẫu có tiền xài thật, song đó
là đồng tiền trộm cắp, đồng tiền lừa lọc. Có tiền mà vẫn bị mọi người khinh rẻ,
xa lánh. Mày hãy tìm lấy một nghề gì đó mà làm. Tuy kiếm ít tiền hơn so với trộm
cắp song mày khỏi phải lo sợ luật pháp, cảnh sát, khỏi sợ truy lùng, bắt bớ...
Mọi người sẽ quên chuyện trộm cắp của mày. Mày đi đi và hãy suy nghĩ về những
điều tao vừa nói.
Dừng lại một lát, ông hạ giọng:
- À mà này! Mày muốn gì? Túi tiền của tao à? Thì đây này! Tao
cho mày đây! Mày hãy giữ lấy túi tiền để ăn tiêu và nhớ tìm một công việc mà
làm. Đừng trộm cắp nữa! Mày còn trẻ. Hãy sửa lại cuộc đời khi còn chưa muộn
cháu ạ!
Ông già buông Montparnasse ra, đặt túi tiền vào tay gã. Gã nhấc
xem nặng nhẹ, rồi với thói quen cẩn thận như khi đánh cắp, gã nhẹ nhàng bỏ vào
túi áo sau. Còn ông già sau khi cho tiền xong lại tiếp tục lững thững đi dạo.
Montparnasse nhìn theo ông già, lẩm bẩm:
- Đồ ngốc!
Montparnasse ngây người nhìn theo ông già đang khuất dần
trong bóng hoàng hôn.
Liếc nhìn vào trong vườn, Gavroche trông rõ ông cụ Mabeuf có
lẽ đã thiếp đi trên ghế đá. Gavroche liền luồn ra khỏi bụi cây, bò dần đến sau
lưng Montparnasse đang đứng im. Nó đến sát mà Montparnasse không hay biết gì cả.
Nó nhẹ nhàng thò tay vào túi chiếc áo ngoài bằng da mịn và với động tác hết sức
nhanh nhẹn, nó móc túi lấy tiền và bỏ đi trong bóng tối như con rắn.
Montparnasse không có lý do để đề phòng, lại đang trầm ngâm vì lần đầu tiên
trong đời phải suy nghĩ nên chẳng hay biết gì. Khi trở về chỗ nấp, nơi có ông cụ
Mabeuf đang ngồi chìm đắm trong suy tư, Gavroche vội ném túi tiền qua hàng rào
rồi ba chân bốn cẳng bỏ chạy.
Túi tiền rơi trúng chân cụ Mabeuf. Đau quá, cụ bừng tỉnh.
Trông thấy cái túi, cụ cúi xuống nhặt lên. Không hiểu có chuyện gì xảy ra mà
túi tiền lại rơi trong vườn ngay chỗ mình ngồi. Cụ thận trọng giở túi ra. Túi
có hai ngăn, có một ít tiền lẻ và sáu đồng vàng 2. Số tiền đó đối với cụ thật quá lớn. Cụ không
biết phải làm gì với số tiền bất ngờ mà có này, bèn giao cho bà ở. Bà Plutarque
nói:
- Của này chắc từ trên trời rơi xuống đây!
Song túi bạc đã không giúp gì cho cụ Mabeuf hết. Bản tính
liêm khiết, khắc khổ đến mức trẻ con khiến cụ không chấp nhận có những ngôi sao
từ trên trời rơi xuống biến thành những đồng tiền vàng như thế. Cụ không đoán
được rằng cái vật từ trên trời rơi xuống này là do bàn tay của chú bé Gavroche.
Cụ đã đem túi tiền lên sở cảnh sát để ai mất thì đến nhận. Chẳng có ai đến nhận
túi bạc cả. Túi bạc cuối cùng cũng "không cánh mà bay". Còn cụ Mabeuf
thì lại càng túng quẫn.
Vốn là nhà bác học lão thành và là nhà thực vật học, cụ
Mabeuf có nhiều công trình nghiên cứu sưu tầm rất có giá trị. Việc trồng cây
thí nghiệm thất bại đã làm cụ tiêu tốn rất nhiều tiền. Cụ đành phải bán những bộ
sách, những tranh ảnh quý để trang trải nợ nần. Những đồ gỗ, những vật dụng
trong nhà cụ cũng bị bán dần. Cụ rất ham đọc sách. Cụ có một tủ sách, gồm rất
nhiều quyển quý và hiếm, thế mà cụ phải lần lượt bán nó đi để lấy tiền ăn. Bọn
buôn sách thấy cụ túng quẫn nên chỉ trả hai mươi xu cho những quyển cụ đã mua
hai chục franc. Đôi khi người mua lại chính là người đã bán. Cứ thế từng quyển
sách một ra đi. Tủ sách dần dần biến mất. Nỗi buồn ngày càng tăng. Chỉ có một lần
cụ vui. Hôm ấy cụ ra đường với một cuốn sách của Robert Estienne, bán được ba
mươi lăm xu ở bờ sông Malaquais và cụ trở về với một quyển sách của Aide giá bốn
mươi xu cụ vừa mua được ở đường Grès. Cụ hớn hở khoe với bà Plutarque:
- Hôm nay tôi vừa mua được quyển sách mà chỉ nợ năm xu.
Hôm ấy cụ nhịn đói.
--------------------------------
|
Đồng âm với boeuf (con bò), và lẽ ra phải là monboeuf (đọc
là mông bớp). |
|
|
Một đồng vàng là hai mươi franc. |
Miếng bánh chia ba
Vợ chồng Thénardier ngoài hai đứa con gái lớn và Gavroche ra
còn có hai đứa con nhỏ nữa. Nhưng nếu như Gavroche bị ném ra ngoài đường từ khi
còn ít tuổi thì hai đứa bé sinh sau cũng bị cha mẹ đem cho mụ Magnon nuôi để
thu lợi mỗi tháng mười franc. Vì vậy Gavroche chẳng hề biết gì về hai đứa em của
mình cả.
Mụ Magnon thuộc loại tội phạm thanh nhã. Mụ ăn mặc rất lịch sự.
Đồ đạc trong nhà tuy đã cũ nhưng cầu kỳ. Mụ cho một ả người Anh nhập quốc tịch
Pháp ở chung nhà. Ả người Anh thành người Paris đó có những bạn bè giàu có và ả
dính dáng đến nhiều vụ trộm lớn. Sau này ả nổi tiếng trong các hồ sơ tư pháp.
Người ta gọi ả là Miss.
Hai đứa trẻ về ở với mụ Magnon cũng không đến nỗi nào. Số tiền
tám mươi franc được trả hằng tháng 1 khiến
mụ cũng có phần nương nhẹ bọn trẻ, cũng như người ta nương nhẹ tất cả những vật
dụng để sinh lợi. Chúng được ăn ngon, mặc đẹp, được chăm sóc gần như "cậu ấm".
Hai đứa bé ở với bà mẹ giả này hóa ra sung sướng hơn ở với mẹ ruột của chúng. Mụ
Magnon lại còn cố đóng vai quý bà thượng lưu không nói tục, nói lóng trước mặt
chúng.
Vài năm trôi qua như vậy, Thénardier đoán rồi sẽ còn khá hơn.
Một lần mụ Magnon đem đưa số tiền tháng mười franc cho hắn, hắn đã nói:
- Rồi đây "ông bố" của chúng phải nghĩ đến việc
giáo dục chúng mới được.
Rủi mà lại may, hai đứa bé tội nghiệp ấy thế mà được ấm thân.
Bỗng đâu một buổi kia, chúng lại bị vứt ra giữa cảnh đời để tự mình bắt đầu cuộc
sống.
Một cuộc bắt bớ hàng loạt những đứa bất lương, những ổ trộm
cướp diễn ra. Mụ Magnon sa lưới cùng với cô Miss và tất cả cư dân ở nhà ấy vì
hành tung đáng ngờ của họ.
Lúc đó, hai đứa trẻ đang chơi ngoài sân sau cho nên không hay
biết gì hết. Khi về nhà, chúng thấy cửa đóng, nhà trống không. Người thợ giày
bên kia đường gọi chúng lại, đưa cho chúng mẩu giấy mà "mẹ" chúng gửi.
Trong giấy có địa chỉ: "Ông Barge, quản lý lợi tức, phố Vua Sicile số
8". Người thợ giày còn dặn thêm:
- Các cháu đừng đứng đây nữa! Hãy tìm đến địa chỉ này, gần lắm.
Đó là phố đầu tiên mà các cháu bắt gặp về phía tay trái. Hãy đưa tờ giấy này ra
mà hỏi thăm đường thì người ta sẽ chỉ cho. Thôi, đi đi!
Chúng ra đi, thằng lớn một tay dắt em, một tay cầm mẩu giấy.
Trời rét quá, ngón tay nó cóng lạnh nên kẹp mẩu giấy không chặt. Đến đầu phố
Clocheperce, một luồng gió mạnh cuốn tờ giấy bay mất. Đêm đã xuống, chúng nó
loay hoay tìm mãi vẫn không thấy tờ giấy, chúng đành phải lang thang, thất thểu
hết phố này đến phố khác vì không biết về đâu.
Trong khi ấy, chú bé Gavroche rét run cầm cập trong bộ đồ
rách nát đang đứng ngây trước cửa hàng thợ cạo. Mặt chú vẫn tươi rói mặc dù chú
đang đói và rét. Chú say sưa ngắm bức tượng cô dâu rực rỡ. Cô dâu mặc áo cưới bằng
sáp màu đỏ tươi, mái tóc vàng óng đính hoa trắng lấp lánh ánh bạc, chiếc khăn
voan trên đầu. Bức tượng lộng lẫy đang quay vòng đằng sau cửa kính giữa hai ngọn
đèn dầu và cười duyên với khách qua lại. Gavroche làm ra vẻ đang say sưa chiêm
ngưỡng vẻ đẹp của cô dâu, nhưng thực sự chú đang quan sát xem có thể lấy được
cái gì không. Có thể "trộm" một bánh xà phòng để lấy tiền ăn sáng
chăng? Chú có biệt tài về "chôm chỉa", mà chú vẫn gọi bóng là "sửa
râu cho bác thợ cạo". Vừa ngắm tượng, vừa liếc bánh xà phòng, chú vừa lẩm
bẩm: "Ngày thứ Ba... Không phải là ngày thứ Ba, ừ, đúng là ngày thứ
Ba..." Thật ra hôm ấy là ngày thứ Sáu, có lẽ chú bé nhớ đến bữa ăn cuối
cùng của mình vào ngày thứ Ba. Vậy là đã ba ngày chú chưa có cái gì ăn cả.
Ngoài đường thì gió rét, còn trong hiệu thì có lò sưởi ấm áp. Lúc này bác thợ
đang cạo mặt cho khách. Thỉnh thoảng bác vẫn liếc nhìn ra ngoài để canh chừng
chú bé. Gavroche thì hai tay thọc vào túi, miệng huýt sáo trông có vẻ vô tư
nhưng trí đã ra khỏi óc từ bao giờ.
Chợt có hai đứa bé tiến lại. Một thằng độ bảy tuổi, một thằng
khoảng năm tuổi. Chúng ăn mặc khá đẹp. Cả hai đứa đều nhỏ hơn Gavroche. Chúng rụt
rè vặn quả nắm cửa rồi đi vào cửa hiệu. Chúng nói gì nghe không rõ, có lẽ chúng
xin ăn. Thằng nhỏ vừa khóc vừa nói, còn thằng lớn vừa nói, răng vừa va vào nhau
lập cập. Người phó cạo quay lại, vẻ mặt giận dữ. Tay phải không rời con dao, hắn
lấy tay trái xô thằng lớn, lấy đầu gối đẩy thằng nhỏ ra tận ngoài đường rồi
đóng sầm cửa lại.
- Đồ quỷ! Tự nhiên đem gió lạnh vào nhà người ta.
Hai đứa bé vừa đi vừa khóc. Có đám mây bay tới, mưa bắt đầu
rơi lác đác. Thấy thế, Gavroche động lòng thương, liền chạy theo chúng, gọi:
- Ê! Hai thằng nhỏ kia! Chúng mày làm sao thế?
- Chúng tôi không có chỗ ngủ. - Thằng lớn đáp.
- Có thế thôi ư? Tưởng là gì! Có thế mà cũng khóc được. Hai đứa
này còn dại khờ quá!
Chú lấy giọng người lớn, vừa ỡm ờ vừa xúc động, dịu dàng, vừa
có vẻ che chở:
- Hai đứa đừng có khóc nữa! Đi về với tao đi!
- Thưa vâng! - Thằng lớn nói.
Thế là hai thằng bé đi theo Gavroche như đi theo một vị tổng
giám mục. Chúng không khóc nữa. Gavroche dắt chúng đi ngược phố Saint-Antoine,
hướng về nhà ngục Bastille. Gavroche vừa đi vừa quay nhìn hiệu thợ cạo một cách
tức tối. Chú lầm bầm:
- Con ngáo ộp ấy thực chăng có chút nhân tính nào!
Một lúc sau chú lại nói thêm, vẻ bực bội:
- Gọi là ngáo ộp cũng chưa đúng. Nó là một con rắn độc. Thằng
thợ cạo kia! Ta sẽ gọi thợ khóa gắn cho mày cái lục lạc đeo ở đuôi 2.
Tên thợ cạo đã làm cho Gavroche trở nên hiếu chiến. Chú sẵn
sàng gây gổ với bất kỳ ai. Vừa lúc ấy, chú làm văng bùn lên đôi giày bóng lộn của
một ông khách qua đường. Ông ta tức quá, hét to:
- Thằng quỷ này!
- Ông tố cáo ai đây?
- Mày chứ còn ai nữa?
- Hết giờ rồi, văn phòng đã đóng cửa, tôi không nhận đơn của
ông đâu.
Đi một quãng nữa, bầu đoàn của Gavroche gặp một con bé ăn xin
độ mười ba, mười bốn tuổi đứng rét cóng với chiếc váy ngăn cũn cỡn để lộ hai đầu
gối. Con bé đã quá lớn, cái váy đó quả thật bất tiện với nó, mà trời thì lại
rét như cắt. Gavroche dừng lại, nói:
- Con bé thật đáng thương! Chắc nó cũng không có quần đâu.
Thôi, hãy cứ lấy cái này mà dùng tạm vậy.
Nói rồi Gavroche cởi ngay tấm khăn len ấm áp đang quàng quanh
cổ, ném lên đôi vai gầy gò tím ngắt của con bé ăn mày. Chiếc khăn len trên vai
con bé trở lại nguyên hình là một chiếc khăn quàng phụ nữ. Con bé nhận chiếc
khăn quàng, ngơ ngác nhìn Gavroche, quên cả cảm ơn. Cho khăn quàng đi, Gavroche
càng thêm rét. Chú vừa xuýt xoa kêu rét thì một cơn mưa tầm tã đã trút xuống.
Gavroche kêu lên:
- Ô hay! Thế này nghĩa là làm sao? Lại mưa. Chúa phúc đức ơi!
Nếu cứ như thế này thì tôi phải hủy việc mua mưa dài hạn mất thôi.
Gavroche lại đi. Chú bé liếc nhìn con bé hành khất đang thu
mình trong chiếc khăn quàng và nói:
- Cũng chẳng can gì. Con bé này được tấm áo ấm ra phết đây!
Rồi chú ngửa mặt lên trời và thét:
- Thua nhé!
Hai đứa bé nối gót chú. Chúng đi qua một tấm lưới sắt. Tấm lưới
sắt ấy chăng trước một cửa hiệu bánh mì. Ở đây, người ta cất bánh cũng như cất
vàng, đằng sau rào sắt. Gavroche ngoái lại hỏi:
- Ơ này! Bé con. Bọn bay đã ăn tối chưa?
- Thưa ông, từ sáng tới giờ chúng cháu chưa có gì vào bụng cả.
- Thằng lớn nói.
Rất uy nghi, Gavroche hỏi:
- Thế ra chúng mày không có cha, có mẹ gì cả à?
- Xin ông tha lỗi cho. Chúng cháu có cha có mẹ đấy ạ, nhưng
không biết bây giờ họ ở đâu rồi.
- Đôi khi như thế mà lại hơn cơ đây! - Gavroche nói như một
nhà hiền triết.
- Chúng cháu đi như thế này đã hai tiếng đồng hồ. Chúng cháu
cũng cố tìm cái ăn bên các mốc trụ nhưng không có.
- Tao biết. Chó nó ăn tuốt, chẳng còn gì!
Ngừng một lát, Gavroche nói tiếp:
- Ra thế! Các ông nhóc lạc mất cha mẹ của các ông nhóc. Các
ông nhóc không biết họ đi đằng nào, như vậy rất không tốt các ông nhóc ạ! Ai lại
để lạc mất người lớn như vậy? Mất thế thì lấy cóc khô gì mà gặm đây?
Từ nãy đến giờ, Gavroche sờ hết túi này đến túi khác, lục hết
các ngóc ngách trong bộ quần áo tã của mình. Cuối cùng chú ngẩng lên, ra vẻ vừa
ý, nhưng ánh mắt của chú lại hân hoan rạng rỡ như một kẻ chiến thắng.
- Hai đứa chớ lo nữa! Cái này đủ để ba chúng ta ăn tối.
Vừa nói chú vừa móc túi lấy ra một đồng xu. Hai thằng bé chưa
kịp kinh ngạc thì Gavroche đã đẩy chúng vào hàng bánh. Chú đặt đồng xu lên bàn
và gọi lớn:
- Bồi! Một xăng tim bánh!
Năm xăng tim là một xu nhưng Gavroche gọi thế cho oai. Người
bán hàng vốn là chủ hiệu, lấy ra một cái bánh và một con dao. Gavroche dặn
theo:
- Bồi! Cắt làm ba.
Rồi chú nói thêm một cách oai vệ:
- Bọn này ba người.
Sau khi nhìn kỹ ba đứa trẻ, người chủ hiệu lấy một chiếc bánh
đen. Thấy thế, Gavroche thọc sâu ngón tay vào một lỗ mũi, hùng dũng hít một hơi
dài và ném vào mặt ông chủ câu hỏi căm phẫn này:
- Têlatênao?
Đó không phải là một thứ tiếng nước ngoài hay tiếng kêu của một
bộ tộc man rợ nào, mà chỉ là "thế là thế nào" nói một cách tinh nghịch
đó thôi.
- Hừ! Đây là bánh chứ còn "tê nao tê niếc" gì! Bánh
hạng nhì rất tốt!
Gavroche thản nhiên và khinh khỉnh:
- Anh muốn nói bánh mì đen à? Không đâu! Bồi! Đây ưng bánh trắng,
bánh thượng hảo hạng. Đây thết người anh em kia mà.
Người chủ tiệm không thể không mỉm miệng cười. Khi ông cắt
cái bánh trắng, ông nhìn ba đứa trẻ một cách thương hại. Cái nhìn ấy chạm vào
lòng tự ái của Gavroche. Gavroche hất đầu về phía ông hàng bánh:
- Này, cái anh hàng bánh kia! Việc gì đến anh mà anh nhìn
chúng tôi từ đầu đến chân như vậy?
Cắt bánh xong, người hàng bánh cất đồng xu, còn Gavroche thì
bảo hai đứa bé:
- Chén thôi!
Hai đứa bé ngẩn ngơ nhìn Gavroche. Chú bật cười.
- Ừ nhỉ! Bọn nhóc còn nhỏ quá, đã hiểu gì đâu.
Rồi chú lại nói:
- Ăn đi!
Vừa nói, chú vừa đưa cho mỗi đứa một miếng bánh. Chú nghĩ rằng
thằng anh xứng đáng nói chuyện với chú hơn. Để khuyến khích nó, làm cho nó ăn uống
mạnh dạn, chú đưa miếng bánh to cho nó và bảo:
- Tọng vào nòng súng đi.
Trong ba phần chú lấy phần bé nhất. Mấy đứa bé khổ sở, đói
meo, kể cả Gavroche. Chúng ăn ngốn ngấu và đứng dàn ra chật cửa hàng. Người chủ
hiệu vì đã lấy tiền rồi nên nhìn chúng một cách bực bội. Gavroche hiểu ý liền bảo:
- Chúng ta trở về đường phố đi.
Chúng lại đi về hướng nhà ngục Bastille. Chốc chốc khi đi qua
các cửa hiệu đèn sáng, thằng bé nhất dừng lại, giở cái đồng hồ chì buộc lủng lẳng
trên cổ ra xem giờ. Gavroche bảo:
- Quả thật thằng này còn chưa biết gì cả.
Rồi nghĩ thế nào, chú lẩm bẩm:
- Chà! Nếu mà ta có con thì ta phải coi giữ kỹ hơn, kẻo không
thì chúng lạc mất.
Khi ba đứa ăn hết bánh thì vừa đến chỗ rẽ sang đường. Lúc ấy
có tiếng ai reo:
- Ô kìa! Gavroche, mày đấy ư?
Gavroche chào lại:
- Ôi! Montparnasse! Hóa ra cậu đấy à?
Lúc này, mặc dù Montparnasse đã cải trang nhưng Gavroche vẫn
nhận ra. Chú nói thêm:
- Chó xồm ơi! Cậu hóa trang khéo quá! Này, đây bảo thật: Cậu
trông có vẻ lắm!
- Suỵt! Nói nhỏ chứ!
Thế rồi Montparnasse kéo Gavroche ra khỏi chỗ ánh đèn và núp
vào dưới vòm cuốn của cái cổng tối om, không bị mưa và cũng không ai nhìn thấy.
Hai đứa bé bước theo sau như cái máy. Montparnasse hỏi:
- Gavroche, mày có biết tao đi đâu không?
- Lên máy chém!
- Xạo! Tao đi tìm thằng Babet.
- Tớ nhớ nó bị còng rồi kia mà!
- Phải, nhưng nó đã tự cởi còng.
Gavroche vừa nghe vừa cầm lấy cây gậy của Montparnasse. Tự
nhiên chú kéo đầu gậy lên và thấy hiện ra một con dao găm. Chú vội vàng đẩy lưỡi
dao vào và nói:
- Ồ! Cậu lại mang theo cả tên sen đầm trá hình tư sản này à?
Montparnasse nheo mắt ra hiệu. Gavroche tiếp:
- Ái chà! Cậu tính choảng nhau với bọn "cớm" kia ư?
Montparnasse trả lời như không để ý:
- Biết đâu đấy, lúc nào củng phòng sẵn vậy vẫn hơn chứ!
- Đêm nay cậu định làm vụ gì đây? - Gavroche hỏi vặn.
Montparnasse lấy giọng trầm hùng nói ấm ứ:
- Nhiều!
Bỗng gã đột ngột xoay sang chuyện khác:
- Mày này!
- Cái gì?
- Chuyện xảy ra hôm trước thật là kỳ cục. Mày tính tao gặp một
lão tư sản. Hắn tặng tao một túi bạc và một bài giảng đạo đức. Bạc thì tao để
vào túi. Vậy mà một phút sau, tao sờ túi thì chẳng còn gì.
- Ngoài cái bài giảng đạo đức phải không? - Gavroche cười
châm chọc.
Montparnasse không để ý đến câu giễu cợt ấy nên hỏi lại
Gavroche:
- Thế mày đi đâu bây giờ?
Gavroche chỉ hai đứa bé:
- Tớ đưa hai đứa này đi ngủ.
- Đi ngủ? Ngủ ở đâu?
- Nhà tớ.
- Nhà mày ở đâu? Mày mà có nhà cửa à?
- Phải, tớ có nhà cửa. Nhà tớ ở bụng con voi.
- Trong bụng con voi ư? - Montparnasse kêu lên kinh ngạc.
- Phải, ở trong bụng con voi. Đasao?
Đây lại là một tiếng ai cũng nói mà không ai viết:
"đasao" tức là "thì đã làm sao". Câu trả lời sâu sắc của
Gavroche làm cho Montparnasse trở nên bình tĩnh và biết điều. Gã có vẻ có cảm
tình hơn đối với khoản nhà cửa của Gavroche.
- Ừ nhỉ. Ở trong bụng voi. Này, thế ở trong ấy có tốt không?
- Tốt lắm, thật đấy. Ở trong đó không có gió lùa như ở dưới gầm
cầu đâu.
- Thế mày vào bằng cách nào?
- Tới chui vào.
- Vậy ra ở đấy có lỗ trống à?
- Đúng đấy! Nhưng đừng nói với ai nhé! Ở khoảng giữa hai chân
trước ấy. Bọn cớm chưa biết đâu.
- Mày trèo vào ư? - Montparnasse hỏi lại - Ừ bây giờ thì tao
hiểu rồi đấy, nhưng sau đó thì làm gì?
- Xoay tay một cái, a lê hấp! Thế là xong, không còn bóng
dáng mình đâu nữa.
Lặng yên một lát, Gavroche nói thêm:
- Với hai thằng nhóc này thì tớ sẽ dùng một chiếc thang.
Montparnasse phì cười.
- Hai thằng nhãi này mày nhặt ở đâu đây?
Gavroche trả lời đơn giản:
- Lão thợ cạo đằng kia biếu tớ đây.
Montparnasse lại có vẻ suy nghĩ. Hắn lẩm bẩm:
- Mày nhận ra tao dễ dàng quá.
Gã lấy trong túi ra hai cái lông chim có quấn bông, đem đút mỗi
ống vào một lỗ mũi. Mũi gã hóa ra khác hẳn.
- Ừ, mặt cậu khác đi đấy. Trông đỡ xấu hơn. Cậu cứ nên để mãi
như thế!
Thật ra Montparnasse đẹp trai nhưng Gavroche vốn thích đùa giỡn
nên nói như vậy. Montparnasse hỏi vẻ nghiêm túc:
- Thôi đừng đùa nữa, cứ nói thật xem mày thấy tao bây giờ thế
nào?
Nét mặt, giọng nói của gã bây giờ lạ hẳn. Quả là Montparnasse
bây giờ đã biến thành một người khác trong nháy mắt.
- Nào, làm hề cho chúng tớ xem chơi! - Gavroche khoái chí reo
lên.
Trước đó, hai thằng bé không hề để ý đến câu chuyện, bây giờ
nghe nói đến "hề", chúng mới nhích lại gần, hân hoan và kính phục
nhìn Montparnasse. Nhưng Montparnasse còn mải lo việc khác. Gã đặt tay trên vai
Gavroche và nói dằn từng tiếng một:
- Nghe tao bảo đây nhóc! Nếu tao có đem theo con đốm, cây đao
và con đầm mà ở giữa chợ mày đãi tao mười xu thì tao làm ngay, nhưng hôm nay
đâu phải ngày lễ!
Câu nói kỳ quặc với nhiều phụ âm đi kèm có ý báo để Gavroche
đề phòng. Nó có hiệu lực khác thường đối với Gavroche. Chú vội vã quay đầu lại,
đưa đôi mắt nhìn quanh một lượt và chú trông thấy một tên cảnh sát quay lưng lại
phía bọn chú. Chú buột miệng kêu lên: "Ái chà! Được đấy!", rồi kịp thời
giữ miệng. Chú lắc mạnh bàn tay Montparnasse:
- Chào cậu nhé! Tớ đưa hai đứa bé này về con voi đây. Giá thử
có đêm nào cậu cần đến tớ thì cứ lại đấy mà tìm. Tớ ở ngay tầng một, không có
người gác cổng. Cậu cứ hỏi ông Gavroche khắc có.
- Được!
Hai bên chia tay nhau. Gavroche kéo thằng anh, thằng anh lôi
thằng em, nhưng thằng này vẫn ngoái cổ nhìn theo anh "hề" đang xa dần.
--------------------------------
|
Mụ Magnon đã lừa gã nhà giàu đa tình và hào phóng rằng đó
là hai đứa con của lão để lão phải chu cấp tiền nuôi dưỡng. |
|
|
ó một giống rắn hổ mang có dãy vảy ở đằng đuôi có thể bật
lên tiếng kêu gọi là rắn đuôi chuông. |
Bé con đừng sợ
Đi qua nhiều phố, chúng vào quảng trường Bastille, nơi có tượng
đài voi to lớn. Năm tháng trôi qua, rồi mưa nắng... tất cả những cái đó đã làm cho
con voi không còn nguyên vẹn như trước. Nó đang đổ nát. Song trong đêm tối, người
ta không nhìn thấy những vết rạn nứt, những chỗ lồi lõm. Con voi có vẻ uy nghi
lạ thường trong cảnh đêm thanh hùng vĩ. Đi gần đến chỗ con voi, Gavroche đề
phòng bọn trẻ sợ, chú khuyên bảo trước:
- Lũ nhóc! Đùng có sợ nhé!
Rồi chú len qua một khoảng bao lơn mục gãy, sau đó kéo hai đứa
đi qua. Hai đứa trẻ hơi sợ nên lặng lẽ đi theo Gavroche. Chúng tin cậy ở vị thần
áo rách đã cho chúng ăn và còn hứa cho chúng ngủ nhờ nữa. Bên cạnh bao lơn có một
chiếc thang để nằm. Chiếc thang ấy, anh em thợ vẫn dùng làm việc vào ban ngày.
Gavroche nhấc bổng chiếc thang lên một cách mạnh mẽ lạ thường và dựa nó vào
chân trước của con voi. Ở đầu trên chiếc thang có một lỗ đen ngòm trong bụng con
voi. Gavroche chỉ chiếc thang và cái lỗ trống cho hai chú khách bé con và nói:
- Leo lên, rồi chui vào đi.
Hai đứa bé nhìn nhau kinh hãi. Gavroche kêu:
- Nhóc! Sợ ư? Đây! Các chú xem ta!
Gavroche không dùng thang, chú ôm cái chân nhám sì của con
voi và chỉ trong nháy mắt, chú đã leo đến chỗ trống. Chú chui vào như con rắn
chui qua kẽ hở. Lát sau, hai đứa bé trông thấy cái đầu của chú hiện ra ở cái lỗ
tối om. Chú gọi:
- Nào! Trèo lên đi. Rồi các chú sẽ biết, sướng lắm nhé! Này,
thằng lớn trèo lên trước đi. Tao đưa tay cho mà níu đây này!
Hai đứa bé đẩy nhau, chúng vừa sợ Gavroche lại vừa tin tưởng.
Vả lại mưa to quá. Thằng lớn đành leo liều. Thằng nhỏ thấy anh leo lên thang,
chỉ còn lại một mình nó ở dưới con vật khổng lồ đã toan khóc nhưng không dám.
Thằng anh leo lên từng nấc một, loạng choạng. Gavroche reo hò khuyến khích như
thầy dạy võ khuyến khích học trò, hoặc như bác chở ngựa thồ giục ngựa đi tới:
- Đừng sợ!
- Được đây! Cố lên đi!
- Đặt chân chỗ này này! Tay vịn vào đây đi.
- Cố lên tí nữa nào!
Khi thằng bé leo vừa đến tầm, Gavroche đột nhiên nắm chặt tay
nó mà lôi ngược lên.
- Thế là xong!
Thằng anh đã qua chỗ hổng, Gavroche bảo:
- Bây giờ thì đợi ta một chút. Ồ, thưa ông! Mời ông vui lòng
ngồi chơi!
Gavroche nói vậy rồi chui qua lỗ nẻ ra ngoài, nhanh nhẹn như
một con khỉ. Chú ôm chân voi tụt xuống đât. Chân vừa chấm đất thì chú ôm xốc thằng
bé em lên, đặt nó đứng ở giữa thang. Rồi chú leo theo sau và gọi thằng lớn:
- Tao đẩy ở dưới, còn ở trên mày lôi đấy nhé!
Thằng bé bị nhấc bổng lên, rồi bị đẩy, bị lôi, bị kéo, bị ấn,
bị nhét vào lỗ hổng, chẳng kịp hiểu đầu đuôi ra làm sao. Gavroche vào tiếp sau
nó và lấy chân hất thang rơi xuống cỏ. Làm xong, Gavroche vỗ tay reo to:
- Thế là ta đã về đến nhà rồi. Đại tướng Lafayette muôn năm!
Quá hứng khởi, Gavroche đã gọi tên vị tướng đã tham gia cách
mạng Pháp. Qua cơn khoái trá ồn ào ấy, Gavroche trịnh trọng tuyên bố với hai đứa
bé:
- Hai chú ạ! Đây là nhà của chúng ta.
Quả thật, đây là nhà của Gavroche. Con voi ở quảng trường
Bastille là sáng kiến nói lên mộng tưởng của hoàng đế Napoléon, nhưng trong thực
tế con voi lại có công dụng hơn thế. Nó che chở cho những trẻ em phiêu bạt đói
khát. Cái lỗ hổng Gavroche chui qua là một kẽ nút đứng ngoài rất khó trông thấy
bởi nó khuất dưới bụng con voi và hẹp lắm, chỉ có mèo và trẻ em là có thể chui
qua được mà thôi. Gavroche nói:
- Trước hết chúng mình phải dặn người gác cổng nếu có ai hỏi
thì bảo chúng mình đi vắng.
Nói rồi chú đi lấy ván đậy lỗ nứt lại. Mặc dù trong bụng con
voi tối om song chú đi lại chắc chắn như một ông chủ nhà quen thuộc mọi ngóc ngách,
xó xỉnh. Chú lại còn thắp đèn nữa, gọi là đèn nhưng thực ra đó chỉ là một chai
đựng lân tinh và một mẩu dây nhúng nhựa. Một chút ánh sáng lờ mờ soi rõ bụng
con voi. Hai đứa nhỏ đưa mắt quan sát "căn nhà" của Gavroche. Thật giống
như ở trong bụng cá voi vậy. Cả một bộ xương khổng lồ hiện lên bao bọc lấy
chúng. Vôi, gạch vụn từ trên lưng voi rơi xuống đã lấp bằng vùng trũng ở bụng
voi nên có thể đi lại như trên sàn gỗ. Thằng em khiếp sợ, dịch sát vào người thằng
anh, thì thầm:
- Tối quá!
Tiếng ấy khiến Gavroche phải thét lên. Chú nghĩ rằng hai đứa
trẻ sợ hãi quá. Cần phải lay mạnh chúng, cần phải ra oai với chúng, làm cho
chúng bớt sợ:
- Chúng mày lôi thôi cái gì đây? Đừng có đùa, cũng đừng làm bộ
õng ẹo! Chúng mày đòi cung điện hả? Chúng mày là súc vật à? Có phải thế thì bảo
tao! Tao nói cho chúng mày biết tao không phải là hạng người ngu ngốc đâu nhé!
Hừ! Hay chúng mày lại là những cậu âm con quan?
Bị quát tháo cục cằn, hai đứa bé không dám ho he. Chúng nhích
lại gần Gavroche. Thấy chúng tin cậy mình như thế, Gavroche mềm lòng, như người
cha liền đổi giọng nghiêm khắc ra giọng dịu ngọt. Chú nói chuyện với thằng nhỏ,
bắt đầu câu chuyện là một tiếng mắng yêu:
- Này chó con! Ở ngoài kia mới tối. Ở ngoài ấy mưa, ở trong
này không mưa. Ở ngoài đó lạnh, còn ở đây không có gió lọt vào. Ở ngoài ấy
trăng cũng không có, ở đây đã có ngọn nến của tao.
Hai đứa bé đã bớt sợ và bắt đầu đưa mắt nhìn quanh, nhưng
Gavroche giục:
- Nhanh lên thôi!
Rồi chú đẩy chúng vào phía trong cùng của phòng ngủ. Giường của
Gavroche đặt ở chỗ ấy. Giường của Gavroche có đầy đủ nệm, chăn, màn che. Nệm là
một cái nệm rơm, chăn là một tấm áo khoác bằng len thô màu xám rất ấm, khá rộng
và dường như còn mới nguyên. Còn cái chái thì tồi tàn, đổ nát với những tấm lưới
bằng đồng thau. Tấm lưới ấy nguyên là tấm lưới chăng chuồng chim của đoàn xiếc
thú vật. Lưới thau ấy là màn che cái chái của Gavroche. Gavroche nhấc mấy viên
đá chặn tấm màn lưới phía đằng trước rồi giở hai tấm màn gấp lên nhau mà bảo:
- Hai đứa đi bốn chân vào.
Chú cẩn thận đưa hai vị khách vào lồng rồi chú bò vào sau,
xong chú đậy kín màn lại và dằn đá xuống. Ba đứa nằm dài trên chiếu. Tuy ba đứa
đều bé bỏng, vẫn không đứa nào có thể đứng lên trong cái chái ấy. Gavroche còn
giữ ngọn đèn dây.
- Bây giờ thì giấc đi! Tao sắp tắt nến đây.
Thằng lớn chỉ tấm lưới thau, hỏi:
- Thưa ông, cái này là cái gì vậy?
- Cái ấy là để đề phòng ông tí. - Gavroche nghiêm trang bảo -
Giấc đi!
Tuy đã giục ngủ, song chú vẫn thấy cần phải nói thêm đôi câu
để kích thích lòng can đảm cho hai đứa bé còn quá nhỏ tuổi này. Chú nói tiếp:
- Những thứ này là của vườn bách thú, dùng cho thú dữ. Có cả
một kho kia, chỉ việc trèo một bức tường, leo qua một cửa sổ, rúc dưới gầm cửa
lớn, thế là tha hồ lấy.
Vừa nói, chú vừa kéo chăn đắp cho thằng nhỏ. Thằng bé kêu lên
khe khẽ:
- Ôi! Sướng quá! Ấm quá đi mất!
Gavroche nhìn tấm chăn, đắc ý:
- Cũng là của vườn bách thú đấy. Tao vớ của lũ khỉ.
Rồi chỉ cho thằng anh xem chiếc đệm rơm rất dày và bện rất
khéo, chú nói thêm:
- Còn cái này là của con hươu cao cổ.
Nghỉ một tí, chú lại nói:
- Bọn thú vật có đủ các thứ ấy. Tao lấy đi, chúng chả giận
đâu. Tao bảo chúng: "Lấy cho con voi này đây".
Ngừng một lát, chú lại sôi nổi:
- Mình trèo tường, vượt vách và mình bất chấp tất cả! Như thế
đấy, chúng bay ạ!
Hai đứa bé nhìn Gavroche với vẻ khâm phục xen lẫn kinh ngạc
và sợ hãi. Tuy cũng lang thang, cũng trơ trọi, cũng bé bỏng như chúng, nhưng
đây là một con người vừa khốn khổ vừa anh hùng, một con người khác thường. Trên
nét mặt ấy có những cái nhăn nhó của ông kép xiếc già lẫn nụ cười thơ ngây dễ mến
nhât.
- Thưa ông! - Thằng lớn rụt rè hỏi - Thế ông không sợ các ông
cảnh sát sao?
Gavroche chỉ đáp gọn:
- Nhóc! Người ta không gọi là các ông cảnh sát, mà người ta gọi
là "lũ cớm".
Thằng bé mở mắt thao láo nhưng không nói gì hết. Vì nó nằm
ngoài, còn thằng lớn nằm giữa nên Gavroche kéo chăn dém xuống chiếu cho nó như
một bà mẹ, rồi nhét một mớ giẻ cho cộm lên để làm một cái gối cho nó gối. Xong
chú quay sang thằng anh:
- Thế nào? Ở đây tốt chứ?
- Vâng, tốt lắm ạ!
Thằng anh vừa nói vừa liếc nhìn Gavroche với vẻ mặt của thiên
thần được cứu nạn. Hai đứa bé ướt át thấy người ấm dần lại.
- Này! Sao lúc nãy chúng bay lại khóc thế?
Gavroche trỏ thằng bé mà bảo thằng lớn:
- Thằng con nít này thì không nói làm gì. Còn lớn như mày mà
cũng khóc thì khỉ thật! Làm như còn bé lắm ấy.
- Vì lúc ấy chúng em không biết đi về đâu để có nhà ở.
- Nhóc ạ! - Gavroche nói - Người ta không nói là nhà mà nói
là xó.
- Vả lại chúng em sợ phải ở một mình qua đêm.
- Không ai nói đêm, người ta nói là tối mò.
- Cảm ơn ông!
- Nghe tao bảo này: từ nay không được gặp việc gì cũng rên
khóc. Tao sẽ chăm nom chúng mày. Chúng mày rồi sẽ thấy, chúng mình chơi đùa
thích lắm. Mùa hè chúng ta đi Glacière với thằng bạn tao. Chúng mình tắm ở bến
sông. Chúng mình cứ trần truồng mà chạy trên các đoàn thuyền gỗ trước cầu
Austerlitz làm cho mấy bà thợ giặt phát cáu. Các bà ấy la lối mắng chửi, tức
sôi gan lên trông buồn cười lắm. Rồi tao đưa chúng mày đi xem kịch, xem chính
nghệ sĩ Frédérick-Lemaître đóng. Tao có vé vì tao quen với nhiều diễn viên. Có
lần tao đã đóng trò trong một vở kịch. Bọn mày biết chúng tao làm gì không?
Chúng tao chạy dưới một tấm vải căng giả làm biển. Tao sẽ xin cho hai đứa mày
vào đóng trò ở rạp ấy. Rồi chúng ta sẽ đi xem người rừng. Những người rừng đó
không phải thực đâu. Chúng nó mặc may-ô hồng có nếp nhăn, ở khuỷu tay có vết mạng
bằng chỉ trắng. Rồi thì chúng ta đi xem Nhạc kịch viện. Đi với bọn vỗ tay mướn.
Ở Nhạc kịch viện, bọn vỗ tay mướn đều là những tay chiến cả. Tao không đi với bọn
vỗ tay ở các rạp hàng phố. Ở Nhạc kịch viện, bọn mày phải biết, có đứa phải trả
hai mươi xu để được ngồi vỗ tay, đã đành đó là những "thằng ngốc"...
Ôi chao! Anh em ta sẽ vui chơi như ngày hội!
Một giọt sáp nhỏ trên tay Gavroche làm chú sực nhớ tới thực tế
trước mắt.
- Chết chửa! Bấc hao quá. Phải coi chừng. Mỗi tháng mình
không thể tiêu quá một xu về khoản đèn lửa. Nằm xuống là phải ngủ. Chúng mình
không có thì giờ để đọc truyện. Với lại chong đèn thì ánh sáng có thể lọt qua
khe hở ở chỗ ra vào, tụi "cớm" dễ nhìn thấy.
Chỉ một mình thằng anh là dám chuyện vãn đối đáp với
Gavroche. Nó rụt rè góp ý kiến:
- Với lại, tàn lửa có thể rơi xuống chiếu rơm, không khéo thì
cháy nhà.
- Người ta không nói cháy nhà, người ta nói ra tro.
Cơn dông càng thêm dữ dội. Giữa hai hồi sấm rền vang, người
ta nghe rõ tiếng mưa rào đập chan chát vào lưng con quái. Gavroche nói:
- Cứ mưa, tha hồ mưa đi! Không gì vui bằng nghe tiếng nước chảy
dọc theo cột nhà. Mùa đông ngu lắm, mất công, mất của mà chẳng làm ướt được ai.
Cái lão già xách nước ấy thấy mất công toi bèn tức tối làm ầm lên như thế đấy!
Nó vừa nhắc đến sét thì một làn chớp dài lóe lên lóa cả mắt,
do khe nứt mà vào bụng voi, tiếp theo ngay sau đó là một tiếng sét dữ dội. Hai
thằng bé kêu lên một tiếng và vùng dậy mạnh quá làm cho tấm màn suýt bật ra.
Gavroche quay cái mặt gan góc lại phía chúng và thừa dịp tiếng sét nổ mà cười
lên khanh khách.
- Yên! Lũ bay, yên! Đừng có đạp khỏe quá mà đổ nhà. Sấm chính
tông đấy, sấm thế mới là sấm chứ! Không phải là sấm chớp nhì nhằng đâu nhé.
Hoan hô Chúa! Thật chẳng kém sấm ở rạp Ambigu là mấy.
Nói xong Gavroche chữa lại màn, nhẹ tay đẩy hai đứa bé nằm xuống,
rồi ấn lên đầu gối chúng để cho chúng duỗi thẳng chân ra.
- Trời đã thắp đèn lên thì ta có thể tắt đèn ta được. Ngủ đi,
hai ông mãnh ạ! Nằm mà không ngủ là không tốt. Sáng ra lỗ mũi, lỗ mồm của chúng
bay sẽ nặng mùi, nói như bọn trưởng giả thì là mồm chúng bay sẽ thối. Quấn chăn
cho kín. Tao sắp tắt đèn đây. Xong chưa?
Thằng lớn đáp khe khẽ:
- Xong rồi, chỗ tôi tốt lắm. Rất êm, như có độn lông chim dưới
đầu.
- Ai lại gọi là đầu, phải nói là sỏ chứ!
Hai đứa bé ôm rịt lấy nhau. Gavroche thu vén nốt cho chúng,
kéo chăn lên tận vai chúng rồi đọc câu phù chú này lần thứ ba:
- Giấc thôi!
Rồi chú thổi nến.
Nến vừa tắt thì tấm lưới thau rung rung một cách kỳ dị, vô số
cái gì cọ sát trên lưới làm nên những tiếng động, tiếng sắt lanh canh, y như có
răng, có vuốt mài lên dây thau. Cùng với sự rung động ấy, có những tiếng rỉ
rích. Thằng bé lên năm nghe thấy những tiếng động ấy trên đầu, suýt chết khiếp.
Nó hích khuỷu tay vào sườn thằng anh, nhưng anh nó theo lệnh Gavroche đã
"giấc rồi". Không dằn lòng được vì khiếp đảm quá, thằng nhỏ đành liều,
gọi Gavroche nhưng rất khẽ, vừa gọi vừa nín hơi:
- Ông ơi!
- Gì? - Gavroche vừa chợp mắt, tỉnh dậy hỏi.
- Cái gì động đậy đó ạ?
- À! Đó là ông tí ở cống đấy.
Gavroche lại đặt đầu xuống chiếu. Quả như chú nói, chuột cống
nhung nhúc trong sườn voi. Khi bụng voi chìm trong bóng tối, chúng ngửi thấy
mùi "thịt tươi" trong lều của Gavroche thì đổ xô đến, leo lên tận đỉnh,
gặm nhấm các mắt lưới để tìm cách chọc thủng. Thằng bé vẫn không ngủ được. Nó lại
gọi:
- Ông ơi!
- Gì?
- Thế ông tí là gì?
- Ông tí là chuột.
Cách giải thích ấy làm cho thằng bé bớt sợ một phần. Nó đã từng
trông thấy chuột bạch và nó không sợ chuột bạch. Tuy vậy nó vẫn lên tiếng hỏi:
- Thưa ông! Sao ông không nuôi một con mèo?
Nó thường nghe người ta nói nuôi mèo sẽ không có chuột. Lũ
chuột là chúa sợ mèo.
- Trước, tao có một con, tao mang lại đây nhưng bị chúng ăn
thịt mất.
Câu giải thích này làm tiêu tan ngay hiệu quả của câu thứ nhất.
Thằng bé lại run sợ. Cuộc đối thoại giữa nó và Gavroche lại diễn ra lần thứ tư.
- Thưa ông! Ai bị ăn thịt ạ?
- Con mèo.
- Thế ai ăn thịt con mèo?
- Ông tí.
- Chuột ấy à?
- Phải, chuột.
Thằng bé chết khiếp về việc chuột ăn thịt mèo. Nó hỏi thêm:
- Thưa ông! Thế những con chuột ấy có ăn thịt được chúng mình
không?
- Nó ăn đến đầu ấy chứ!
Nỗi kinh hoàng của đứa bé đã lên đến tột độ. Nhưng Gavroche vội
vã vỗ về, an ủi nó:
- Bé con! Đừng sợ! Lũ nó không vào đây được đâu. Vả lại đã có
tao. Thôi, hãy nắm lấy bàn tay tao rồi im đi mà ngủ thử nào!
Gavroche với tay qua mình thằng anh để cầm tay thằng em. Thằng
bé ôm siết bàn tay ấy vào người và cảm thấy yên lòng. Quả thật lòng can đảm và
sức mạnh có thể truyền cho người khác một cách mầu nhiệm.
Bây giờ quang cảnh chung quanh trở lại yên lặng, bởi vì lũ
chuột nghe tiếng nói xì xào nên đã lánh xa. Mấy phút sau chúng trở lại và làm
nhặng lên nhưng vô ích, ba đứa trẻ đã ngủ say, không nghe thấy gì nữa.
Cha ta... cũng được thôi...
Trong khi đó ở nhà lao La Force, Thénardier đang tìm cách để
vượt ngục với sự trợ giúp của đồng bọn bên ngoài. Lợi dụng đêm tối, trời mưa, bọn
lính gác canh phòng không cẩn mật, Thénardier đã thoát ra khỏi phòng giam. Hắn
đã trèo khỏi bức tường cổ. Song bức tường cao quá, trời mưa lạnh, tay tê cóng cộng
với nỗi lo sợ bị bắt làm Thénardier kiệt sức. Hắn nằm dài dưới mưa, bên phải có
một vực thẳm, bên trái có một vực thẳm, không được cựa, vừa hoa mắt vì sợ ngã vừa
hồi hộp vì sợ bị bắt lại. Như một quả lắc trong cái chuông, tâm trí hắn chao
qua đảo lại giữa hai tư tưởng: ngã thì chết, nằm yên thì sẽ bị bắt và trở lại
nhà tù.
Trong cảnh hoang mang đó, bỗng nhiên Thénardier trông thấy những
bóng người men theo chân tường một cách cẩn thận rồi tụ lại một chỗ trong khoảng
đất có cái nhà nát. Họ đứng ngay dưới chính chỗ Thénardier nằm. Nghe họ dùng những
tiếng lóng, Thénardier thoáng thấy có chút hy vọng. Người thứ nhất nói khẽ
nhưng rất rõ ràng:
- Dông đi thôi! Còn lục đục gì nữa?
Người thứ hai đáp:
- Mưa như trút nước thế này mà bọn lính tuần sắp đi qua, còn
thằng gác thì đứng như trời trồng ở đây. Không khéo bị hốt cả đám, lại tù rục
xương!
Tên thứ ba chen vào:
- Không việc gì phải vội, hãy đợi một tí nữa! Chắc gì hắn
không cần đến chúng ta?
Thénardier nhận ra qua giọng nói, qua thổ âm, qua cách dùng
tiếng lóng, của từng đứa một trong đám đồng bọn. Hắn nghe thấy giọng nói khẽ
nhưng sôi nổi của Brujon:
- Mày phun cái gì đó? Tao thì tao chắc rằng thằng bán cơm đó
không trốn ra được. Muốn trốn được, phải khôn ranh cơ.
Babet tiếp lời:
- Tên chủ quán của mày chắc bị tóm tại trận. Phải là sói già
mới được, còn hắn chỉ là chó con mới mở mắt. Này Montparnasse! Tao nghe có động
trong nhà lao. Không biết chừng thằng bán cơm đó phải kéo cày hai mươi thu rồi.
Tao thì tao không ngán. Tao không phải nhát như cáy nhưng giờ thì không làm gì
được nữa. Thôi đừng giận dữ làm gì, đi với chúng tao tợp ít hớp rượu cho vui.
- Ai lại bỏ rơi bạn bè trong lúc hoạn nạn như thế này? -
Montparnasse càu nhàu.
- Tao cam đoan với mày là nó bị còng lại rồi, giờ này thì thằng
chủ quán đó chẳng còn đáng một trinh! Biết làm sao bây giờ? Vù thôi! Tao thấy
như đã bị tên cớm nào thộp ngực rồi.
Montparnasse chỉ còn chống cãi yếu ớt. Thực ra theo luật
giang hồ, bọn cướp không bao giò bỏ nhau trong cơn nguy khốn. Bốn đứa chúng đã
lò dò suốt đêm quanh nhà ngục La Force. Mặc dù việc này nguy hiểm, chúng vẫn
không ngại vì chúng hy vọng Thénardier sẽ xuất hiện trong một bức tường nào đó.
Nhưng đêm đã khuya. Trời mưa to và gió lạnh rồi đội tuần tra đi lại suốt đêm.
Thời gian chờ đợi trôi qua, hy vọng tan dần, sợ hãi hiện đến... tất cả những thứ
ấy thúc giục bọn chúng rút lui. Nằm trên tường, Thénardier thấy trong lòng lo lắng,
hồi hộp như những hành khách đắm tàu còn sống sót trên bè giữa biển đang nhìn
thấy những chiếc tàu cứu nạn hiện ra rồi lại biến mất nơi chân trời. Hắn không
dám gọi, gọi nhỡ người ta nghe thấy thì hỏng cả. Thế rồi hắn bỗng nảy ra một
sáng kiến: hắn móc túi lấy mẩu dây của thằng Brujon. Mẩu dây ấy, hắn đã tháo được
trên ống khói và ném xuống. Mẩu dây rơi xuống chân lũ cướp.
Babet nói:
- Một mẩu dây.
- Dây của tao! - Brujon bảo.
- Đích thị lão chủ quán rồi. - Montparnasse bảo.
Chúng ngẩng lên nhìn. Thénardier thò đầu ra một tí.
Montparnasse bảo:
- Mau lên Brujon. Mày có đoạn dây của mày ở đây không?
- Có đây.
- Nối hai đoạn dây với nhau rồi ném lên cho nó. Nó sẽ buộc
dây vào tường mà tụt xuống. Có đủ dây để leo xuống đấy!
Thénardier đánh liều lên tiếng:
- Tao cóng rồi, không thể cựa được.
- Rồi chúng tao sẽ sưởi cho. Mày cứ thế mà tụt xuống, chúng
tao sẽ hứng đón mày ở dưới này.
- Hai bàn tay tao tê giá rồi.
- Thì mày hãy cố buộc dây vào ngọn tường thôi mà.
- Chịu thôi!
- Chắc là phải có thằng nào trong bọn ta leo lên với nó mới
xong. - Montparnasse nói.
- Những ba tầng gác. - Brujon buột miệng.
- Từ nhà gỗ, có một ống khói bằng thạch cao đâm lên và dựa
theo bức tường cũ, lên thẳng gần đến chỗ Thénardier nằm. Cái ống khói ấy rạn lở
cả và hẹp lắm.
Montparnasse nói:
- Có thể leo theo ống khói mà lên đây được.
- Leo theo ống khói mục nát, rạn vỡ này à? Nếu vậy một tướng
thì không nổi, phải là một oắt mới được.
Brujon phụ họa:
- Ừ, phải có một chú ranh.
- Đào đâu ra một chú tép vào lúc này bây giờ? - Gueulemer bảo.
- Chờ một chút! - Montparnasse bảo - Tớ có rồi.
Nói xong, Montparnasse nhẹ tay hé mở cửa, nhìn xem chắc chắn
là không có ai đi qua rồi mới cẩn thận lách mình bước ra. Gã khép cửa lại, nhằm
hướng ngục Bastille mà chạy.
Đêm càng về khuya, bóng tối phủ trên quảng trường Bastille
mênh mông. Gió đông thổi từng hồi lẫn với mưa. Gần sáng, có một người từ phố
Saint-Antoine chạy ra, vượt qua quảng trường đi vòng qua mảnh đất quanh Cột Đồng
Tháng Bảy 1 ,
len qua bao lơn vào đứng dưới bụng voi. Quần áo gã ướt sũng vì gã đã ở ngoài trời
suốt đêm. Đến dưới bụng voi, gã kêu lên một tiếng:
- Kirikikiu!
Đó là tín hiệu của Montparnasse, có thể hiểu là: "Tôi hỏi
ông Gavroche".
Khi Montparnasse gọi lần thứ hai thì có một giọng trong trẻo,
vui vẻ và non nớt từ trong bụng voi reo lên:
- Có đây!
Liền sau đó có tấm ván chắn lôi ra bị đẩy đi và một thằng bé
chui ra, theo chân voi tụt xuống đứng bên người mới đến. Montparnasse và
Gavroche yên lặng nhận mặt nhau. Trong đêm tối Montparnasse chỉ nói:
- Chúng tao cần mày! Mày lại đằng này giúp chúng tao một tay.
Gavroche cũng chẳng đòi hỏi giải thích gì thêm.
- Được rồi, tớ đi ngay!
Hai đứa lao đi trong bóng đêm và trong cơn mưa tầm tã để đến
phố Saint-Antoine. Chúng len lỏi nhanh nhẹn giữa những đoàn xe dài chở hoa quả
bắt đầu đi về chợ.
Các bác hàng rau ngồi xổm trên xe đương ngủ gật giữa mấy đống
rau quả, áo tơi kéo lên tới mang tai vì mưa tạt nghiêng. Họ không buồn để ý đến
hai ông khách qua đường lạnh lùng ấy.
Bảy, tám phút trôi qua, đối với Thénardier là bảy, tám thế kỷ.
Babet, Brujon, Gueulemer không hé răng nói nửa lời. Cánh cửa lại hé mở.
Montparnasse trở về, mồm thở hồng hộc, Gavroche theo sau. Trời vẫn mưa nên đường
vắng ngắt. Chú bé Gavroche vào, đưa mắt thản nhiên nhìn mấy bộ mặt kẻ cướp. Nước
mưa trên đầu chú nhỏ xuống. Gueulemer hỏi:
- Oắt con! Mày là thằng người đấy chứ?
Gavroche nhún vai, đáp:
- Oắt như tớ là người, người như các chú là oắt.
- Ranh lém lắm! - Babet khen.
Brujon thêm:
- Ranh mà ranh Paris thì không phải là ranh rơm ranh rạ đâu
nhé!
- Các ông tướng cần gì? - Gavroche hỏi.
- Leo ống này. - Montparnasse đáp.
Mấy thằng kia nói tiếp nhau:
- Với cái dây.
- Và buộc dây.
- Vào đầu tường.
- Chỗ chấn song cửa.
Gavroche hỏi:
- Rồi sao nữa?
- Chỉ vậy thôi. - Gueulemer đáp.
Chú bé ngắm cái dây, cái ống khói, bức tường và các cửa sổ, rồi
làm một tiếng phì môi khinh thường thật khó tả, có ý như nói: "Chỉ có thế
thôi ư?" Montparnasse bảo:
- Trên đó có một mạng người đang nhờ mày cứu sống.
Brujon hỏi:
- Mày có dám làm không?
Gavroche hình như cho câu hỏi đó là quá lạ lùng. Chú chỉ đáp:
"Ngốc!" Rồi chú tháo giày. Gueulemer đỡ Gavroche lên mái nhà. Ván mục
oằn xuống răng rắc dưới thân hình chú bé. Gueulemer đưa cho Gavroche sợi dây mà
Brujon đã nối lại trong lúc Montparnasse đi vắng. Chú bé tiến lại ống khói và
chui vào dễ dàng nhờ một kẽ khá rộng ở sát mái nhà. Lúc chú sắp leo lên thì
Thénardier thấy mình gần được cứu thoát nên cũng chồm người ra xem. Ánh sáng
ban mai vừa hiện ra soi vào cái trán nhễ nhại mồ hôi, hai gò má tím ngắt, cái
mũi mỏng và nhọn có vẻ man rợ, bộ râu hoa râm lởm chơm. Gavroche nhận ra
Thénardier, nói:
- Ơ kìa! Cha mình đây mà... Cũng được thôi!
Rồi chú ngậm sợi thừng, quả quyết leo lên. Leo đến đỉnh nhà
nát, chú giạng chân cưỡi qua ngọn tường như cưỡi ngựa rồi buộc chặt thừng vào bậu
cửa cũ.
Một lát sau, Thénardier đã xuống đường phố. Vừa chạm tới đất,
thấy không có gì nguy hiểm thì hắn cũng thấy hết mệt, không lạnh, không run. Những
cảnh nguy hiểm vừa tan như mây khói thì cái trí khôn kỳ quái, hiểm độc của hắn
bừng tỉnh và nhởn nhơ đứng lên, sẵn sàng tiến lên phía trước. Câu đầu tiên của
hắn là thế này:
- Giờ thì chúng mình thịt ai đây?
Brujon bảo:
- Cho khéo! Đứng nép cả vào đây. Nói ba điều bốn chuyện rồi
chia tay ngay mới được. Này! Ở phố Plumet có một vụ xem chừng khá lắm. Phố vắng,
nhà trơ trọi, chấn song cửa mục nát mà trong nhà chỉ có toàn đàn bà thôi.
- Ồ! Thế sao ta lại không làm? - Thénardier hỏi.
Babet đáp:
- Con gái của mày, con Éponine đã đi thăm dò, nó đã đưa một
chiếc bánh quy 2 về
cho con mụ Magnon. Ở đấy chẳng có nước mẹ gì đâu.
- Cái đĩ nhà tao chẳng phải đần độn đâu, tuy vậy cũng phải đến
xem sao.
- Đúng! Đúng đấy! - Brujon nói thêm - Phải kiểm tra lại xem
thế nào.
Trong lúc chúng nói chuyện, chẳng đứa nào để ý đến chú bé
Gavroche ngồi trên trụ đá. Chú đợi một lúc cho cha chú quay lại, nhưng đợi mãi
không được. Chú xỏ giày vào chân và nói:
- Xong rồi chứ? Các ông tướng không cần tớ nữa phải không?
Các tướng thoát nạn rồi. Thôi! Ta đi đây. Ta phải về đánh thức hai thằng bé nhà
ta dậy.
Thế rồi nó quay đi. Năm người kia cũng lần lượt bước ra ngoài
giậu. Khi Gavroche đã khuất ở khúc rẽ qua con đường Ballets, Babet bấm
Thénardier, hỏi:
- Lúc nãy mày có nhìn thằng oắt không?
- Thằng oắt nào?
- Thằng oắt đã leo lên ngọn tường đem dây cho mày ấy mà.
- Tao không nhìn kỹ lắm.
- Ôi! Tao cũng không biết chắc lắm, nhưng hình như là con mày
đấy.
- Vậy à? - Thénardier nói - Mày thấy như thế ư?
Rồi không nói gì thêm và cũng chẳng có vẻ gì băn khoăn,
Thénardier đi thẳng.
Chú thích:
|
1. |
Cột đồng kỷ niệm ngày nhân dân Paris đánh chiếm nhà ngục
Bastille (14/7/1789), công cụ chuyên chế của vua. |
|
2. |
Bánh quy là mật hiệu riêng của bọn cướp này, có nghĩa là
"không có gì". |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét