Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2021

Chín mươi ba 2

Chín mươi ba 2

Phần thứ ba
Tại Vendée

Quyển một
Miền Vendée

I
Rừng

Hồi ấy, xứ Bretagne có bảy khu rừng thật khủng khiếp. Loạn Vendée là loạn thầy tu. Cuộc phiến loạn này đã được rừng rú phụ lực. Bóng tối hỗ trợ lẫn nhau.

Bảy khu Rừng Đen xứ Bretagne là rừng Fougères chắn lối giữa Dol và Avranches; rừng Princé chu vi tám dặm; rừng Paimpont toàn những khe và suối, phía Baignon thì hầu như không có lối vào, lại có đường rút dễ dàng về Concornet, một thị trấn bảo hoàng; rừng Rennes, ở đó nghe rõ tiếng chuông cấp báo của những giáo khu theo Cộng hòa bao giờ cũng tập trung quanh các đô thị; chính ở đây Puysaye thiệt mất Focard 1 , rừng Machecoul có con

thú dữ là tên Charette; rừng Garnache thuộc các giòng họ La Trémoille, Gauvain và Rohan; rừng Brocéliande là của các tiên nữ.

Một nhà quý tộc ở xứ Bretagne được phong chức lãnh chúa Bảy Khu Rừng. Đó là tử tước De Fontenay, hoàng thân xứ Bretagne.

Bởi lẽ hồi đó có ông hoàng xứ Bretagne khác với ông hoàng nước Pháp. Dòng họ Rohan đều là những ông hoàng xứ Bretagne. Vậy nên trong bản báo cáo gửi lên Viện Quốc ước ngày 15 tháng 4 lịch cộng hòa năm thứ hai, tướng Garnier đã gọi ông hoàng De Talmont như "tên Capet của lũ kẻ cướp, chúa tể xứ Maine và xứ Normandie".

Lịch sử rừng rú xứ Bretagne kể từ năm 1792 đến năm 1800 có thể tách riêng ra và dính liền vào cuộc phiêu lưu của loạn Vendée như một truyền thuyết.

Lịch sử và truyền thuyết mỗi đằng có một chân lý riêng. Chân lý truyền thuyết khác với chân lý lịch sử. Chân lý truyền thuyết chính là sự tưởng tượng mà kết quả là thực tại. Vả lại, lịch sử và truyền thuyết cùng có một mục đích là khắc họa con người muôn thuở qua con người nhất thời.

Loạn Vendée chỉ có thể giải thích được đầy đủ nếu được truyền thuyết bổ sung cho lịch sử, lịch sử cần cho toàn cục và truyền thuyết cần cho chi tiết.

Phải nói rằng loạn Vendée đáng được quan tâm. Loạn Vendée là một sự kỳ dị.

Cuộc chiến tranh của những kẻ dốt nát đó vừa rất ngu ngốc lại rất hùng tráng, vừa khả ố lại vừa huy hoàng, đã làm cho nước Pháp vừa bị điêu tàn lại vừa thêm kiêu hãnh. Loạn Vendée là một vết thương và cũng là một vinh quang. Trong những khoảng thời gian nhất định, xã hội loài người chứa bao điều bí ẩn, những điều bí ẩn đó đối với những bậc hiền giả là ánh sáng, còn đối với kẻ dốt nát là tăm tối, bạo lực và man rợ. Bậc hiền triết không dám lên án. Họ tính đến điều rối ren do các vấn đề gây nên. Chẳng vấn đề nào xảy ra mà không tỏa bóng xuống như những đám mây.

Nếu người ta muốn hiểu rõ loạn Vendée, hãy hình dung mối mâu thuẫn này: một bên là cách mạng Pháp, một bên là người dân quê xứ Bretagne. Trước những biến cố vô song kia là mối đe dọa lớn của tất cả những thành tựu tốt đẹp, cơn phẫn nộ của văn minh, sự quá khích điên cuồng của tiến bộ, sự cải thiện thái quá và khó hiểu; hãy đặt con người man rợ, nghiêm nghị và kỳ dị đó, con người mắt trong trẻo và tóc dài, sống bằng sữa và hạt dẻ gai, không nhìn xa quá mái tranh, bờ rào và hố rãnh của họ, nghe tiếng chuông là có thể phân biệt từng xóm bên cạnh, chỉ uống nước lã, khoác chiếc áo cộc da thêu, người thì thô lậu mà ăn mặc lại diêm dúa, vẽ lên áo quần như tổ tiên họ, người Celte xưa kia đã thích chàm lên mặt, kính trọng lãnh chúa là đao phủ của họ, nói một thứ từ ngữ, khác nào như nhốt tư tưởng vào một nấm mồ, chăn bò, mài lưỡi hái, giẫy có lúa mì đen, nhào bánh bằng bột gạo mạch, tôn kính cái cày hơn bà nội, tin cả Đức mẹ Đồng trinh và Đức bà Bạch y thần nữ, sùng kính trước bàn thờ cũng như trước tảng đá đồ sộ huyền bí đứng giữa đồng hoang; ở đồng bằng thì cày ruộng, ở ven biển thì đánh cá, ở rừng thì săn bắn trộm; yêu mến đức vua, lãnh chúa, linh mục; chấy rận trong người; đăm chiêu, thường im lặng hàng giờ trên bãi biển mênh mông hoang vắng, âm thầm lắng nghe biển cả. Và ta hãy tự hỏi liệu con người mông muội đó có thể tiếp nhận được ánh sáng kia không.

II
Con người

Người nông dân có hai chỗ dựa; đồng ruộng nuôi sống họ, rừng rú che giấu họ.

Rừng rú xứ Bretagne như thế nào có lẽ người ta khó tưởng tượng nổi; đó chính là những thành thị. Không gì âm thầm hơn: câm lặng và man rợ hơn những đám chằng chịt gai góc và cành lá rối bời đó; những bụi to, rậm là những chỗ ẩn náu im lìm và lặng lẽ; không có cảnh hoang vắng nào lại có cái vẻ chết chóc và sởn gai ốc hơn; nếu bất ngờ và nhanh như chớp có thể chặt sạch cây cối đi đột nhiên người ta sẽ thấy trong bóng tối đó một ổ người đông như kiến.

Những cái hầm tròn và hẹp, có nắp bằng đá và bằng cành cây che kín bên ngoài, đào thẳng xuống rồi xiên ngang ra, mở rộng dưới đất hình miệng phễu và thông đến những căn buồng tối tăm, đó là cái mà xưa kia Cambyse 2 đã tìm thấy ở Ai Cập và hiện nay Westermann 3 tìm thấy ở xứ Bretagne; những cái hầm kia ở giữa sa mạc, những hầm này ở trong rừng; hầm ở Ai Cập chứa những xác chết, hầm ở Bretagne lại chứa những người sống. Một trong những khoảnh rừng thưa hoang vu nhất, trong cánh rừng Misdon, đào chi chít những đường hầm và ngõ ngách, ở trong đó thường có một loại người bí mật qua lại, gọi là "thành phố lớn". Một khoảnh rừng thưa khác, bên trên không kém hoang vắng, nhưng bên dưới không kém đông đúc, gọi là "hoàng thành".

Ở xứ Bretagne, cảnh sống dưới đất như vậy có đã lâu đời. Từ xưa đến nay, ở đây con người vẫn phải lẩn trốn trước con người. Do đó mà có những hang rắn đào dưới gốc cây. Cái đó bắt đầu từ thời các tu sĩ và một số những hầm mộ đó cũng cổ sơ như những mộ đá. Những âm hồn trong truyền kỳ và quái vật trong lịch sử, tất cả đều đã sống qua trên cái xứ sở đen tối này nào Teutatès, César, Hoël, Néomène, Geoffroy nước Anh, Alain-Gant-de-Fer, Pierre Mauclerc, hoàng tộc Pháp Blois, hoàng tộc Anh Montford, các vua và quận công, chín nam tước xứ Bretagne, các quan thẩm phán những phiên tòa lớn, các bá tước thành Nantes xung đột với các bá tước thành Rennes, bọn lính cướp, bọn cướp đường, những dòng tu sĩ lớn, René II, tử tước De Rohan, những tổng trấn thay mặt nhà vua, ông "quận công phúc hậu De Chaulnes" đã từng treo cổ dân quê lên cây trước cửa sổ nhà bà De Sévigné, những cuộc chém giết giữa các lãnh chúa hồi thế kỷ thứ mười lăm, những cuộc chiến tranh tôn giáo hồi thế kỷ thứ mười sáu, mười bảy, ba vạn con chó được tập để săn người hồi thế kỷ thứ mười tám; bị dày xéo kinh khủng như vậy, nhân dân đã liệu cách biến đi. Lần lượt những thổ dân ở hang, cốt thoát tay người Celte, rồi đến người Celte cốt thoát tay người La Mã, người Bretagne cốt thoát tay người Normandie, người theo tân giáo cốt thoát tay người Thiên Chúa giáo, bọn buôn lậu cốt thoát tay lính đoan, trước hết trốn vào rừng, rồi sau chui xuống dưới đất. Phương sách của thú vật. Chính sách bạo ngược đã dìm nhân dân đến nông nỗi đó. Từ hai nghìn năm nay đủ loại chuyên chế, nào nạn xâm lược, nào phong kiến, nào cuồng tín, nào thuế má đã vây nã cái xứ Bretagne khốn khổ này đến xớn xác, một cuộc săn đuổi khốc liệt chỉ chấm dứt ở hình thức này để tiếp tục bằng hình thức khác. Con người đã lẩn xuống dưới đất.

Nỗi kinh hoàng cũng là một thứ giận dữ, đã có sẵn trong mọi tâm hồn, và hang hố đã sẵn sàng trong rừng, thì vừa lúc đó nền cộng hòa Pháp xuất hiện. Xứ Bretagne nổi loạn vì cảm thấy mình bị đè nén bởi cuộc giải phóng ép uổng này. Những kẻ nô lệ thường hay có những ngộ nhận như vậy.

III
Người và rừng rú cấu kết với nhau

Những khu rừng bi thảm xứ Bretagne lại giữ vai trò hỗ trợ cho cuộc phiến loạn trước đó.

Bên dưới đất của bất cứ khu rừng nào đó cũng có một hệ thống hiểm hóc những hang hầm và ngõ ngách xuyên đi khắp các ngả. Mỗi căn hầm tối mò ấy giấu được năm, sáu người. Cái khó là làm sao thở được trong đó. Một vài con số lạ lùng đủ nói lên trình độ tổ chức khá cao và quy mô to lớn ấy của cuộc nổi loạn. Ở Ile-et-Vilaine, trong khu rừng Pertre nơi cư trú của hoàng thân Talmont, không nghe thấy một hơi thở, không trông thấy một vết chân, thế mà ở đó có sáu nghìn người cùng với Focard. Ở Morbihan, trong khu rừng Meulac, không thấy một ai, thế mà có tám nghìn người. Vậy mà hai khu rừng Pertre và Meulac đó không phải là những khu rừng lớn nhất xứ Bretagne. Nếu đặt chân tới đó thì thật là ghê sợ. Nơi đây chứa đầy những chiến binh nấp trong một thứ đường hầm quanh co trong lòng đất dưới những bụi cây nham hiểm giống như những tảng bọt bể đồ sộ tối om, và khi gót chân khổng lồ của Cách mạng dẫm lên là cuộc nội chiến vọt ra.

Nhiều tiểu đoàn vô hình đang rình mò. Những đoàn quân không tên tuổi đó luồn bên dưới những đoàn quân cộng hòa, thình lình từ dưới đất chui lên rồi lại rút xuống, nhảy ra hằng hà sa số rồi biến ngay, xuất quỷ nhập thần, như núi lở bụi tan, như những hộ pháp biết phép thu hình, lúc chiến đấu thì to lớn, lúc biến đi thì bé choắt. Khác nào loài báo mà sống theo lối loài chuột chũi.

Không phải chỉ có rừng lớn, còn có rừng nhỏ. Cũng như bên những đô thị có làng mạc, dưới mái rừng có những bụi cây. Những rừng lớn nối với nhau nhờ có rừng nhỏ chi chít, rải rác khắp nơi. Những lâu đài cũ biến thành những pháo đài, những thôn xóm thành những doanh trại, những trang trại thành những khu đất rào kín đặt nhiều cạm bẫy, những thôn ấp được xẻ hào, rào cây, tất cả là những cái mắt của tấm lưới mà quân đội cộng hòa sa vào.

Toàn cảnh đó gọi là miền Bocage 4 . Ở đó có khu rừng Misdon, giữa rừng là một cái hồ và thuộc quyền của Jean Chouan; khu rừng Gennes thuộc quyền Taillefer; khu rừng Huisserie thuộc quyền Gouge-le-Bruant; khu rừng Charnie thuộc quyền Courtillé-le-Bâtard biệt hiệu là thánh đồ Saint Paul thủ lĩnh trại Bò Cái Đen; khu rừng Burgault thuộc quyền ông Jacques sống một cách bí ẩn và chết âm thầm dưới hầm Juvardeil; khu rừng Charreau, ở đó Pimousse và Petit-Prince bị đơn vị đồn Chateauneuf tấn công đã xông vào hàng ngũ cộng hòa tóm ngang lưng bọn lính bắt về làm tù binh! Khu rừng Heureuserie được chứng kiến cuộc tan vỡ của đồn Longue-Faye; khu rừng Aulne, ở đó có thể thám thính con đường từ Rennes đến Laval; khu rừng Gravelle mà một hoàng thân dòng La Trémoille đánh cuộc mà được; khu rừng Lorges ở Côtes-du-Nord nơi mà Charles De Boishardy thống trị sau Bernard De Villeneuve; khu rừng Bagnard gần Fontenay, nơi mà Lescure khiêu chiến với Chalbos, tay này dù một chọi năm vẫn nghênh chiến; khu rừng Durondais mà xưa kia Alain Le Redru và Hérispoux, hai con trai của Charles Đầu Hói đã tranh nhau; khu rừng Croqueloup, ở bên bờ truông ấy là nơi mà Coquereau đã gọt đầu tù binh; khu rừng Croix-Bataille đã từng nghe Chân-Bạc mắng Morière và Morière mắng lại theo kiểu Homère; khu rừng Saudraie mà chúng ta đã thấy một tiểu đoàn quân Paris sục sạo. Còn nhiều nữa...

Trong nhiều khu rừng lớn và nhỏ đó, không phải chỉ có những làng mạc ở dưới đất quây quần quanh hầm thủ lĩnh mà còn có những xóm lẻ gồm những lều thấp núp dưới rặng cây, và nhiều đến nỗi đôi khi dày đặc cả rừng. Khói thường làm lộ những làng mạc đó. Có hai xóm như thế ở khu rừng Misdon đến nay còn nổi tiếng, xóm Lorrière gần Létang và cụm lều Rue-de-Bau về phía Saint-Ouen-les-Toits.

Đàn bà sống trong lều và đàn ông ở dưới hang. Trong cuộc chiến tranh này, họ sử dụng những hang tiên và những hầm cũ của người Celte ngày xưa. Có người mang thức ăn xuống cho họ. Có những người bị bỏ quên rồi chết đói. Thật ra đó là những người vụng về không biết cách mở nắp hầm mà lên. Thông thường nắp hầm làm bằng rêu và cành cây khéo đến nỗi nhìn bên ngoài không thể nhận ra nó nằm trong cỏ; còn ở trong hầm thì mở và đóng nắp rất dễ dàng. Những hầm hố đó đào rất cẩn thận. Đất đào ở hầm lên người ta đem đổ xuống một cái ao nào gần đó. Vách trong và nền hầm phủ cỏ đuôi chồn và rêu. Họ gọi đó là "biệt phòng"; ở trong đó cũng tốt, chỉ có điều là thiếu ánh sáng, thiếu lửa, thiếu bánh và thiếu không khí.

Từ dưới hầm chui lên giữa đám người sống mà không thận trọng và thò mình ra không phải lúc thì thật nguy hiểm. Có thể lọt vào giữa chân một đoàn quân đi qua. Những khu rừng đáng sợ; những chiếc bẫy hai tròng. Quân xanh chẳng dám vào, quân trắng chẳng dám ra.

IV
Đời sống trong lòng đất

Họ sống buồn tẻ trong những cái hang thú đó. Ban đêm, thỉnh thoảng họ liều chui ra và đi như múa ở truông bên cạnh. Hoặc là họ cầu kinh để giết thời giờ. Bourdoiseau bảo: "Suốt ngày Jean Chouan bắt chúng tôi lần tràng hạt".

Cứ đến ngày mùa, hầu như không ngăn nổi dân vùng dưới sông Maine chui lên khỏi hầm đi dự Hội Mùa. Một số người có ý thích riêng, như Denys biệt hiệu là Xẻ-Núi trá hình thành phụ nữ để đi xem kịch ở Laval rồi lại trở về hang.

Bỗng dưng họ đem thân đi tìm cái chết, rời khỏi ngục tối để bước vào nhà mồ.

Đôi khi họ mở nắp hầm và họ nghe xem đằng xa có đánh chác gì không; họ lắng tai theo dõi trận đánh. Súng cộng hòa nổ rền, súng bảo hoàng bắn tản mác; cái đó hướng dẫn họ. Nếu tiếng súng nổ hàng loạt bỗng ngừng lại, đó là dấu hiệu quân bảo hoàng thất bại, nếu tiếng súng nhát gừng tiếp tục nổ và tiến sâu về phía chân trời, đó là dấu hiệu họ thắng thế. Quân trắng bao giờ cũng truy kích; quân xanh thì không bao giờ vì họ ở trên đất thù địch.

Những đám quân độn thổ đó thông tin tức cho nhau rất tài. Họ liên lạc với nhau không gì nhanh bằng, không gì bí mật bằng. Họ đã phá hết cầu, họ đã tháo hết xe bò, thế mà họ vẫn có cách liên lạc với nhau và loan báo cho nhau mọi tin tức. Các trạm liên lạc đặt từ rừng này đến rừng khác, làng này đến làng khác, trại này đến trại khác, nhà này đến nhà khác, bụi cây này đến bụi cây khác.

Có khi một dân quê có vẻ ngờ nghệch đi qua nhưng chính là có mang tin tức trong chiếc gậy rỗng lòng.

Một đại biểu Quốc hội lập hiến cũ là Boétidoux cấp giấy thông hành cộng hòa để họ xuôi ngược khắp vùng Bretagne loại giấy mới, chỗ đề tên để trắng mà tên phản bội đó có hàng bó. Không tài nào bắt được họ. Puysaye nói: "Có những tin kín truyền khắp bốn mươi vạn người mà vẫn giữ được bí mật".

Hình như cái mảnh đất vuông vắn đó, nam giáp đường đi từ Sables đến Thouars, đông giáp đường đi từ Thouars đến Saumur và con sông Thoué, bắc giáp con sông Loire và tây giáp Đại Tây Dương, có một hệ thần kinh chung và không một chỗ nào của mảnh đất này rùng mình mà mọi nơi không rung chuyển. Trong nháy mắt, tin tức đã chạy từ Noirmoutier đến Luçon và trại La Loué biết ngay trại Croix-Morineau đang làm gì. Nghe đâu có cả chim cũng giúp vào việc đó. Tướng Hoche viết ngày 7 tháng Gặt Hái năm thứ ba: "Người ta tưởng như họ có điện tín".

Đó là những thị tộc như ở xứ Ecosse. Mỗi giáo khu có chỉ huy của mình. Cuộc chiến tranh này, cha tôi có tham gia, và tôi có thể kể lại được.

V
Đời sống trong chiến tranh

Nhiều người chỉ có những chiếc dáo nhọn. Súng săn tốt thì nhan nhản. Chẳng ai bắn thạo bằng những tay săn trộm ở miền Bocage và những tay buôn lậu ở Loroux. Đó là những chiến binh kỳ lạ, ghê sợ và gan góc. Lệnh trưng binh ba mươi vạn người làm cho sáu trăm làng cùng báo động. Đồng thời các đám cháy nổ ran khắp nơi. Hai tỉnh Poitou và Anju bùng nổ cùng một ngày. Phải nói rằng một tiếng súng đầu tiên đã nổ từ ngày 8 tháng 7 năm 1792, một tháng trước ngày 10 tháng 8 trên đồng cỏ Kerbarder. Alain Redeler, ngày nay ít người biết đến, hồi ấy là tiền bối của La Rochejaquelein và Jean Chouan. Bọn bảo hoàng ép mọi người còn mạnh khỏe ra trận, nếu không nghe sẽ bị xử tử. Chúng trưng dụng lừa, ngựa, xe cộ, lương thực. Ngay tức khắc, Sapinaud có ba nghìn lính. Cathelineau một vạn, Stofflet hai vạn, và Charette thành chúa tể vùng Noirmoutier. Tử tước Scépeaux huy động miền Thượng Anjou, hiệp sĩ Dieuzie miền lưu vực giữa sông Vilaine và sông Loire, Tristan-l’Hermite miền dưới sông Main, anh thợ cạo Gaston ở thị trấn Guéméné và thầy tu Bernier những vùng còn lại. Muốn phát động những đám đông ấy chẳng cần gì nhiều chuyện. Người ta bỏ một con mèo đen to tướng vào trong tủ thánh thể trên bàn thờ của một vị linh mục đã được tín nhiệm, họ thường gọi là linh mục tuyên thệ, rồi giữa buổi lễ, cho con mèo đột ngột nhảy vọt ra. Dân quê kêu ầm lên: "Quỷ hiện!" Thế là có cả một tổng nổi loạn. Một luồng lửa từ những phòng xưng tội thổi ra. Để tấn công quân cách mạng và để vượt các hào hố, họ có sẵn cái gậy dài năm mét, dùng để đánh nhau và để chạy trốn. Trong những trận ác liệt nhất, khi họ đang tấn công những đội quân cộng hòa, nếu bắt gặp một cây thập ác hay một ngôi nhà thờ, tất cả đều quỳ xuống và cầu kinh dưới làn mưa đạn; lần hết chuỗi hạt, ai còn sống lại đứng dậy và lao vào đối phương. Những con người vĩ đại thay! Vừa chạy, họ vừa lắp đạn; đó là biệt tài của họ. Người ta muốn lừa dối dân quê thế nào cũng được; bọn thầy tu chỉ những thầy tu khác mà họ đã lấy dây, xiết chặt vào cổ cho đỏ bầm lên và nói: "Đó là những thầy tu chết chém đã sống lại". Dân quê có những lúc thật là hiệp sĩ; họ sùng bái Fesque, một người lính cộng hòa cầm cờ thà chịu chém chứ không buông lá cờ. Họ cũng châm biếm; họ gọi các thầy tu bên cộng hòa lấy vợ là "các thầy tu không mũ ca-lô thành những kẻ không quần chẽn". Lúc đầu, họ cũng sợ đại bác; về sau, với cái gậy, họ xông tới các cỗ đại bác và chiếm lấy. Đầu tiên, họ chiếm được một khẩu đại bác bằng đồng đen và đặt tên là khẩu Truyền Đạo; rồi một khẩu khác từ thời chiến tranh tôn giáo, khắc huy hiệu của tể tướng Richelieu và vẽ hình Đức mẹ Đồng trinh; họ gọi là khẩu Marie Jeanne. Khi mất thị trấn Fontenay, họ mất cả súng Marie Jeanne và sáu trăm dân quê chết không nao núng quanh khẩu súng đó; sau đó, họ chiếm lại Fontenay, cốt để chiếm lại Marie Jeanne và họ kéo khẩu pháo về, dưới lá cờ bảo hoàng, phủ đầy hoa, bắt phụ nữ đi qua phải hôn khẩu súng. Nhưng có hai khẩu súng thì ít quá. Stofflet đã chiếm được Marie Jeanne; Cathelineau ghen tức liền xuất quân từ Pin-en-Mange tấn công Jallais và chiếm được một khẩu thứ ba, Forest đánh Saint-Florent và chiếm được khẩu thứ tư. Hai viên chỉ huy khác là Chouppes và Saint-Pol còn nghề hơn; họ đẽo thân cây giả thành hình đại bác, và bện bù nhìn làm pháo thủ, và với cỗ pháo đó họ vừa cười cợt một cách dũng cảm vừa đánh lui được quân cộng hòa ở Mareuil. Đó là thời oanh liệt. Về sau, khi Chalbos đánh tan La Marsonnière, thì dân quê đã để lại trên chiến trường ba mươi hai khẩu đại bác kiểu Anh. Nước Anh hồi đó xuất tiền cho bọn hoàng thân Pháp, và người ta "cấp vốn cho họ vì người ta đã nói với ông Pitt 5 rằng như vậy mới lịch sự", theo như thư của Nantiat viết ngày 10 tháng 5 năm 1794. Trong một bản báo cáo ngày 31 tháng 3, Mellinet đã viết: "Tiếng hô của bọn phiến loạn là người Anh muôn năm!" Đám dân quê thường cướp bóc. Bọn sùng đạo này là lũ kẻ cướp. Quân man rợ có sẵn những thói hư. Sau này văn minh sẽ nắm lấy chỗ ấy để điều khiển họ. Puysaye viết trong tập II, trang 187: "Rất nhiều lần tôi bảo vệ thôn Plélan khỏi bị cướp phá", và tới trang 434, ông viết là ông tránh không vào Montfort: "Tôi phải đi đường vòng để tránh cho nhà những người Jacobin khỏi bị cướp phá". Họ cướp phá Cholet; họ vơ vét Challans. Sau khi thất bại ở Granville, họ cướp phá Ville-Dieu. Họ gọi những người dân theo cách mạng là "đám dân quèn Jacobin" 6 và tiêu diệt họ ác liệt hơn các tầng lớp khác. Họ thích đâm chém như binh lính và thích tàn sát như kẻ cướp. Họ thích thú nhất là giết những "đồ ngốc", nghĩa là thị dân: họ gọi thế là "phá giới". Ở Fontenay, một tên thầy tu trong bọn họ, linh mục Barbotin, đã chém một nhát kiếm giết chết một ông già. Ở Saint-Germain-sur-Ille 7 , một tên chỉ huy chính gốc quý tộc, đã bắn một phát súng giết một thẩm phán của xã, và lột lấy chiếc đồng hồ. Ở Machecoul, họ đem giết từng loạt những người cộng hòa, cứ đều đặn mỗi ngày ba chục người liên tiếp, như thế trong năm tuần lễ, mỗi chuỗi ba mươi người gọi là "chuỗi tràng hạt". Họ bắt mỗi xâu người đứng quay lưng vào một cái hố đào sẵn rồi bắn; những người bị bắn rơi xuống hố, nhiều khi còn sống họ cũng chôn lấp tất cả. Chúng ta đã thấy lại những phong tục man rợ ấy. Chủ tịch quận Joubert bị họ cưa tay. Họ bắt tù binh cộng hòa mang những chiếc cùm tay sắc cạnh. Họ thổi kèn săn rồi hạ sát từng loạt tù binh trên các quảng trường. Tướng Charette, ký tên: Bác ái, hiệp sĩ Charette, và cũng bắt chước Marat đội một chiếc mùi soa thắt nút phía trên lông mày, đã thiêu hủy thị trấn Pornic và tất cả những người ở trong nhà. Hồi ấy, Carrier 8 cũng thật đáng sợ. Khủng bố đáp lại khủng bố. Quân phiến loạn xứ Bretagne cũng hao hao giống quân phiến loạn Hy Lạp, cũng áo ngắn, súng đeo vai, xà cạp, quần rộng lùng thùng như váy xòe; giống hệt như bọn cướp vùng Klephte 9 . Henri De La Rochejaquelein mới hai mươi mốt tuổi đã đi theo bọn phiến loạn với một chiếc gậy và một cặp súng lục. Quân Vendée gồm có một trăm năm mươi tư binh đoàn. Họ hãm thành rất đúng cách; họ bao vây Bressuire ba ngày. Một ngày thứ sáu tuần lễ Thánh 10 , một vạn dân quê đã dội vào thị trấn Sables những viên đạn đại bác đỏ rực. Có khi trong một ngày họ tiêu diệt mười bốn đồn của quân cộng hòa từ Montigné đến Courbeveilles. Ở Thouars, trên bờ thành cao, người ta nghe được câu đối thoại lý thú giữa La Rochejaquelein với một tên lính:

- Carl!

- Có.

- Ghé vai đây cho tao leo lên.

- Xin bước lên.

- Đưa súng đây.

- Có.

Rồi La Rochejaquelein nhảy vào trong thành, và không cần thang, họ chiếm được cái pháo đài mà Duguesclin đã vây hãm. Họ quý một viên đạn hơn một đồng tiền vàng. Họ khóc khi nhìn mất hút gác chuông của quê mình.

Chạy trốn đối với họ rất giản đơn; chỉ cần chỉ huy hô: "Vứt guốc đi, giữ lấy súng!" Thiếu đạn, họ cầu kinh rồi xông vào cướp thuốc súng trong các thùng xe chở pháo của quân cộng hòa; về sau Elbée xin được đạn của bọn Anh. Khi đối phương tới gần, nếu có thương binh, họ đem giấu vào trong đồng lúa mì hay bụi đuôi chồn tốt um, đợi yên rồi họ trở lại mang về. Không có đồng phục. Quần áo tả tơi. Dân quê cùng quý tộc vớ được mảnh nào mặc mảnh ấy. Roger Mouliniers đội một chiếc khăn và mặc một chiếc áo lính kiểu Thổ Nhĩ Kỳ cướp được trong kho quần áo của rạp hát La Flèche; hiệp sĩ De Beauvilliers mặc áo biện lý và đội mũ phụ nữ trên chiếc mũ nồi bằng len. Tất cả đều mang đai và thắt lưng trắng; các cấp bậc được phân biệt bằng nơ thắt. Stofflet thắt nơ đỏ; La Rochejaquelein thắt nơ đen; Wimpfen có đôi phần theo phái Girondin, mà cũng ít khi ra khỏi xứ Normandie, mang băng ở cánh tay kiểu dân vùng Caen. Trong hàng ngũ có cả đàn bà: bà De Lescure về sau trở thành vợ La Rochejaquelein; Thérèse De Mollien, tình nhân của La Rouarie, người đã đốt danh sách các cha xứ; bà La Rochefoucauld đẹp, trẻ, kiếm cầm tay, đã tập hợp dân chúng dưới chân tháp lớn của lầu Puy-Rousseau, và Antoinette Adams, thường gọi là hiệp sĩ Adams rất anh dũng, cho nên đến khi y bị bắt, quân cộng hòa vì trọng nể đã cho y đứng để xử bắn. Thời ấy, con người trở nên cuồng bạo. Bà Lescure cho ngựa dẫm lên quân cộng hòa có lẽ bị thương đã ngã xuống; nhưng bà ta bảo họ đã chết. Đàn ông thỉnh thoảng còn phản bội, đàn bà thì không bao giờ. Cô Fleury ở Kịch viện Pháp bỏ La Rouarie theo Marat chỉ vì tình yêu. Chỉ huy thường khi cũng dốt nát như lính; lão De Sapinaud rất kém chính tả; hắn ta viết vần này lẫn sang vần kia. Tướng tá ghen ghét lẫn nhau; bọn chỉ huy thuộc phái Đồng Lầy kêu: "Đả đảo bọn mạn trên!" Kỵ binh ít và khó tổ chức. Puysaye viết: "Một người nào đấy có thể vui vẻ cho tôi hai đứa con, nhưng khi xin họ một con ngựa thì họ tỏ vẻ lạnh nhạt". Sào, xiên hái, súng cũ, súng mới, mác đi săn, gậy đóng đanh bịt sắt là vũ khí của họ; vài người đeo thánh giá làm bằng hai ống xương người chết. Lâm trận, họ hét vang, xông ra từ khắp nơi, từ rừng, đồi nương nho, đường hẻm, họ đánh tỏa ra, nghĩa là theo thế gọng kìm, họ chém, giết loạn xạ rồi sau đó lại biến mất. Khi qua một xóm cộng hòa, họ hạ Cây Tự Do xuống đốt và nhảy múa vòng quanh lửa. Họ chuyên đi đêm. Kỷ luật quân Vendée: luôn luôn đột xuất. Họ vượt mười lăm dặm im hơi, lặng tiếng, không làm rạp một ngọn cỏ. Tối đến, sau khi các tướng lĩnh và hội đồng quân sự đã quyết định địa điểm hôm sau sẽ đánh úp quân cộng hòa, họ liền lắp đạn vào súng, lẩm nhẩm cầu kinh, rút guốc ra và cứ từng hàng dài, họ luồn qua rừng, chân đất, bước trên cỏ, rêu, không một tiếng động, không một lời nói, không một hơi thở. Chẳng khác mèo đi trong đêm tối.

VI
Linh hồn đất truyền vào người

Lực lượng miền Vendée nổi loạn gồm khoảng năm mươi vạn đàn ông, đàn bà, trẻ con. Theo con số của Tuffin De La Rouarie thì có nửa triệu người chiến đấu.

Phái Liên Hiệp ủng hộ họ. Miền Gironde là đồng lõa. Tỉnh Lozère phái tới miền Bocage ba vạn người. Tám tỉnh liên kết lại, năm tỉnh ở xứ Bretagne, ba tỉnh ở Normandie. Evreux, kết nghĩa với Caen, có đại biểu trong hàng ngũ phiến loạn là tên đốc lý Chaumont và tên thân hào Gardenbas. Duzot, Gorsas và Barbaroux ở Caen, Brissot ở Moulin, Chassan ở Lyon, Rabaut Saint-Etienne ở Nîme, Meillan và Duchâtel ở Bretagne, tất cả những cái miệng ấy cùng thổi vào đám lửa.

Loạn Vendée có hai phái; phái lớn hơn áp dụng lối đánh dựa vào rừng; phái nhỏ đánh lối du kích; đó là chỗ khác nhau giữa Charette và Jean Chouan. Phái nhỏ thì ngây thơ, phái lớn thì thối nát; phái nhỏ còn khá hơn. Charette được phong tước hầu, khâm sai quân thứ và được gắn đệ nhất đẳng huân chương Thánh Louis; Jean Chouan gần như hiệp sĩ giang hồ.

Về phần các ngài thủ lĩnh cao thượng như Bonchamps, Lescure, La Rochehaquelein, họ đã nhầm. Đội quân công giáo là một cố gắng điên rồ; tai họa nhất định xảy ra; có thế nào tưởng tượng nổi một đám dân quê cuồng loạn tấn công Paris, một số thôn xã liên kết bao vây điện Panthéon, một mớ câu hát, câu kinh sủa chung quanh bài Marseillaise, một đám người chân guốc nhảy xổ vào đội quân trí tuệ? Le Mans và Savenay 11 đã trừng phạt trò điên rồ ấy. Vượt qua sông Loire, bọn Vendée không thể làm nổi. Chúng có thể làm tất cả trừ việc sang sông này. Nội chiến không chinh phục đất đai. Vượt qua sông Rhin là tạo điều kiện cho César hoàn thành sự nghiệp và tăng uy tín cho Napoléon; vượt qua sông Loire là tiêu diệt La Rochejaquelein.

Loạn Vendée thật sự phải ở trên đất Vendée; ở đấy thì không thể đánh tan họ và hơn thế, không thể túm được họ. Ở quê họ, người Vendée là người buôn lậu, dân cày, linh mục, người săn bắn trộm, quân du kích, người chăn dê, người kéo chuông, dân quê, mật thám, sát nhân, người giữ kho nhà thờ, thú rừng.

La Rochejaquelein chỉ là Achille còn Jean Chouan là Protée 12 .

Loạn Vendée đã dậy non, nhiều cuộc khởi nghĩa khác đã thành công, như ở Thụy Sĩ chẳng hạn. Nghĩa quân miền núi Thụy Sĩ khác với quân nổi loạn miền rừng Vendée là, hầu như bao giờ cũng thế, do ảnh hưởng không tránh khỏi của hoàn cảnh, người này thì chiến đấu vì một lý tưởng, kẻ kia vì những thành kiến. Người này thì bay bổng, kẻ kia thì bò sát đất. Một bên chiến đấu vì nhân loại, bên kia vì muốn cô độc. Một bên muốn tự do, bên kia muốn biệt lập; bên thì bảo vệ thôn xã, bên kia bảo vệ giáo khu. Hỡi nhân dân thôn xã! Đó là tiếng kêu của những vị anh hùng ở Morat 13 . Bên này đối phó với vực thẳm, bên kia với đồng lầy; một bên là người của thác ghềnh bọt sóng, bên kia là người của ao tù, sốt rét; một bên trên đầu là bầu trời xanh thẳm, bên kia trên đầu là bụi rậm; một bên ở đỉnh cao chót vót, bên kia nấp trong bóng tối.

Ở trên đỉnh cao hay ở dưới đất thấp, sự giáo dục thật không giống nhau.

Núi là thành lũy, rừng là nơi phục kích; ở núi khiến người ta phải dũng cảm, ở rừng phải nghĩ đến cạm bẫy. Thời cổ sơ đặt các chính thần ở trên đỉnh núi cao và các quái thần trong bụi rậm. Quái thần là giống man rợ, nửa người nửa thú. Những quốc gia tự do có các dãy núi Apennins, Alpes, Pyrénées, Olympe. Parnasse 14 là một ngọn núi. Mont-Blanc là trợ thủ khổng lồ của Guillaume Tell 15 ; bên trong và bên trên những cuộc chiến đấu của thần linh chống lại đêm tối đầy rẫy trong thơ ca Ấn Độ, người ta thấy bóng dáng Himalaya. Nước Hy Lạp, nước Tây Ban Nha, nước Ý, nước Helvétie có bộ mặt là núi non; xứ Cimmérie, xứ Germanie hoặc xứ Bretagne có bộ mặt là rừng rú. Rừng rú là man rợ.

Hình thế đất đai dạy cho con người nhiều cách hoạt động. Địa lý hỗ trợ cho cuộc sống. Đứng trước những phong cách rùng rợn, người ta nảy ra ý muốn tha thứ cho con người và buộc tội tạo hóa; người ta cảm thấy một sự khiêu khích ngấm ngầm của thiên nhiên; sa mạc đôi khi làm hại đến lương tri, nhất là lương tri ít sáng suốt. Lương tri có thể vĩ đại, làm nên Socrate và Jésus; nó có thể thấp bé, tạo nên Atrée và Judas 16 . Lương tri hèn mọn chóng trở thành bò sát. Cái nghiệp của nó là lai vãn những nơi rừng rú âm u, gai góc, trong vũng lầy dưới bụi cây, thường bị những ám ảnh xấu xa thấm vào mà không hay. Những ảo tưởng, những ảo cảnh, những lầm lạc về thời gian và không gian ném con người vào một bối cảnh hoảng sợ, nửa thần bí, nửa thú vật khiến thời bình thì sinh ra mê tín, và thời loạn sinh ra bạo tàn. Những ảo giác cầm đuốc soi đường cho việc giết người. Có trạng thái hôn mê trong tên cướp. Thiên nhiên kỳ diệu một mặt làm sáng chói những bậc tài cao nhưng mặt khác làm mờ mắt những đầu óc man rợ. Khi con người còn dốt nát, khi sa mạc còn đầy ảo ảnh, thì bóng tối của cô đơn nhập với bóng tối của trí tuệ; từ đó trong con người mở ra những vực thẳm. Một vài mõm núi, đường hào, lùm cây, rừng thưa hoang dại nào đấy lúc chiều hôm đẩy con người tới những hành động điên rồ tàn ác. Hầu như có thể nói được rằng đất cũng có những nơi hiểm độc.

Ngọn đồi âm u giữa Baignon và Plélan đã chứng kiến biết bao điều bi thảm!

Những chân trời rộng lớn đưa tâm hồn lên tới những tư tưởng tổng quát; những chân trời bó hẹp đẻ ra những tư tưởng vụn vặt. Cái đó đôi khi làm cho những người có tấm lòng rộng lớn thành những đầu óc nhỏ nhen; ví dụ: Jean Chouan.

Những ý niệm lặt vặt thường không ưa những ý niệm chung bao quát; đó cũng chính là cuộc đấu tranh cho tiến bộ.

Xứ sở, tổ quốc, hai chữ đó tóm tắt cuộc chiến tranh ở Vendée; đó là sự tranh chấp giữa ý thức cục bộ với ý thức toàn bộ, dân quê chống lại những người yêu nước.

VII
Sự kiện Bretagne

Từ lâu đời, xứ Bretagne luôn luôn nổi loạn. Suốt hai nghìn năm những lần nổi dậy ở xứ này đều hợp với lẽ phải; chỉ lần cuối cùng là sai lầm. Tuy nhiên, về căn bản, chống cách mạng hoặc chống chính thể quân chủ, chống đặc phái viên cộng hòa hoặc chống các tổng trấn là quận công và đại thần, chống tín phiếu cách mạng hoặc chống thuế muối thời quân chủ, dù người đi chiến đấu là nhân vật nào chăng nữa, là Nicolas Rapin, François De La Noue, là đại úy Pluviaut và phu nhân De La Garnache hoặc là Stofflet, Coquereau và Lechandelier De Pierreville, dưới thời ông Rohan chống vua hay ông Rochejaquelein phò vua, bao giờ xứ Bretagne cũng làm một thứ chiến tranh mang tính chất địa phương chống lại tinh thần trung ương tập quyền.

Cái xứ cổ lỗ ấy, là một loại ao hồ; nước tù không chịu chảy; gió thổi không gây thêm sinh khí, mà chỉ làm cho mặt nước nhăn nhó, giận dữ. Tỉnh Finisterre, là nơi tận cùng của đất Pháp, là nơi tận cùng của địa bàn đã trao cho con người, mà cũng là nơi mà cuộc tiến bước của các thế hệ dừng lại. Dừng lại! Đó là đại dương kêu lên với đất liền, và dã man kêu lên với văn minh. Tất cả những lần mà trung tâm là Paris phát ra một động lực, dù động lực ấy xuất phát từ nền quân chủ hay nền cộng hòa, dù theo hướng chuyên chế hay tự do, cũng đều là một điều mới mẻ, và xứ Bretagne lại xù lông ra. Hãy để chúng tôi yên. Người ta muốn gì nào? Rồi phái Đồng Lầy cầm xiên, miền Bocage cầm súng. Tất cả những mưu toan của chúng ta, những sáng kiến về pháp lý, về giáo dục, những cuốn bách khoa tự điển, những triết lý, những nhân tài, những vinh quang của chúng ta đều mắc cạn trước đất Houroux; tiếng chuông báo động ở Bazouges uy hiếp Cách mạng Pháp, bưng biền Faou nổi dậy chống lại những quảng trường của chúng ta đang sôi sục sóng gió cách mạng, và tiếng chuông của vùng Haut-des-Prés tuyên chiến với tháp Le Louvre.

Nạn điếc kinh khủng.

Cuộc nổi loạn Vendée là một sự hiểu lầm thảm khốc.

Một cuộc va chạm long trời lở đất, một cuộc tranh chấp giữa những người khổng lồ, một cuộc nổi dậy tràn lan, mục đích chỉ để lại trong lịch sử một tiếng, Vendée, vang dội và đen tối; tự sát vì bọn lưu vong, hy sinh cho sự ích kỷ, đem dũng cảm dâng cho hèn nhát; thiếu tính toán, thiếu chiến lược, thiếu chiến thuật, thiếu kế hoạch, thiếu mục đích, thiếu chỉ huy, thiếu trách nhiệm, tất cả chứng tỏ rằng đến độ nào đó, nghị lực có thể là bất lực; vừa hào hiệp vừa man rợ; vô nghĩa đến điên rồ, dựng lên một hàng rào bóng tối để ngăn cản ánh sáng; sự dốt nát tiến hành một cuộc kháng cự trường kỳ vừa ngu xuẩn vừa hùng tráng chống lại chân lý, công lý, pháp lý, lẽ phải, sự nghiệp giải phóng; nỗi kinh hoàng suốt tám năm trời, mười bốn tỉnh bị tàn phá, đồng ruộng mùa màng bị hủy hoại, làng mạc bị đốt cháy, thành thị tan hoang, nhà cửa bị cướp bóc, đàn bà và trẻ con bị giết, mồi lửa châm vào mái rạ, lưỡi gươm thọc vào trong tim nỗi hoảng sợ của văn minh, mối hy vọng của ngài Pitt; cuộc chiến tranh này là thế đấy, một mưu đồ thí nghịch vô ý thức Tóm lại, sự kiện Vendée đã phục vụ cho tiến bộ, nó chứng minh điều cần thiết là phải chọc thủng tan tành cái bóng tối già cõi là xứ Bretagne và phải bắn xuyên thủng cái bụi rậm này bằng tất cả các mũi tên của ánh sáng cùng một lúc. Những tai họa có một phương thức tối tăm để dàn xếp mọi việc.

--------------------------------

1

Puysaye và Focard là hai người theo Cách mạng nhưng bí mật hoạt động bên quân phiến loạn Vendée.

2

Cambyse (529 - 522 TCN : Vua Ba Tư, dã man và độc ác, đã xâm chiếm Ai Cập.

3

Westermann (François Joseph : Một danh tướng Pháp đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc tấn công lâu đài Tuileries ngày 10-08-1792; đánh thắng nhiều trận ở Vendée và chết trên máy chém năm 1794 với các bạn trong phái Danton.

4

Một xứ ở phía Tây bắc Poitoux, trong cuộc nội chiến đã trở thành bãi chiến trường.

5

William Pitt: Thủ tướng Anh, chống Cách mạng Pháp.

6

Masse jacobine (nguyên văn ngụ ý khinh miệt.

7

Puysaye, tập II, trang 35 (chú thích của tác giả .

8

Carier (Jean-Baptiste : Nhà cách mạng đã dùng những hình phạt tàn bạo ở Nantes, bị lên máy chém năm 1794.

9

Dân vùng núi Olympe et Pinde của Hy Lạp chuyên sống bằng nghề ăn cướp.

10

Ngày Chúa Jésus chết.

11

Hai thị trấn phía trên sông Loire.

12

Thần biển, có tài thiên biến vạn hóa.

13

Thành phố và hồ cùng tên ở Thụy Sĩ, nổi tiếng vì chiến thắng của quân và dân Thụy Sĩ chống xâm lăng năm 1476.

14

Ở Hy Lạp cổ đại, nơi ở của Apollon và các thi thần.

15

Một vị anh hùng truyền thuyết của Thụy Sĩ có tài bắn giỏi và chí khí hiên ngang. Nhiều nhà thơ trong đó có Schiller đã viết về người anh hùng.

16

Atrée: Nhân vật phản diện trong thần thoại Hy Lạp. Judas: Phản bội Jésus.

Quyển hai

Ba đứa trẻ



I
Plus quam civila bella (hơn cả nội chiến

Mùa hè năm 1792, mưa rất nhiều; mùa hè năm 1793 lại nóng rất dữ. Vì nội chiến, ở xứ Bretagne có thể nói rằng không còn đường sá nữa. Tuy vậy, người ta vẫn đi lại nhờ những ngày hè nắng ráo. Đất khô là đường đi tốt nhất.

Một buổi chiều tháng bảy êm ả, khoảng một giờ sau lúc mặt trời lặn, một người cưỡi ngựa từ phía Avranches, dừng lại trước quán Croix-Branchard ở đầu lối vào thị trấn Pontorson, trước quán có tấm biển mấy năm gần đây người ta còn đọc được giòng chữ này: Rượu táo ngon tha hồ túy lúy. Suốt ngày trời nóng bức, nhưng lúc này đã bắt đầu có gió.

Người khách khoác một chiếc áo choàng rộng phủ kín mông ngựa. Ông ta đội chiếc mũ rộng vành có huy hiệu tam tài, điều đó không phải là không táo bạo ở cái xứ toàn là bụi rậm, huy hiệu là mục tiêu cho những phát súng. Ông ta mặc chiếu áo choàng thắt nút ở cổ, phanh ra để đôi cánh tay được cử động tự do; người ta có thể thoáng thấy chiếc thắt lưng tam tài và hai chuôi súng lục nhô ra ngoài. Một thanh gươm lủng lẳng thò ra khỏi chiếc áo choàng.

Nghe tiếng chân ngựa dừng lại, người chủ quán mở cửa xách đèn lồng kính đi ra. Đấy là lúc tranh tối tranh sáng; ngoài đường còn sáng nhưng trong nhà đã tối như bưng.

Lão chủ quán nhìn cái huy hiệu và hỏi:

- Công dân, ông nghỉ lại đây chứ?

- Không.

- Ông đi đâu bây giờ?

- Đến Dol.

- Nếu như vậy, phải trở lại Avranches hoặc Pontorson.

- Tại sao vậy?

- Vì đang đánh nhau ở Dol.

- À!

Người cưỡi ngựa kêu lên một tiếng, rồi tiếp luôn:

- Cho ngựa tôi một ít lúa mạch nhé.

Lão chủ quán đem cái máng đến, dốc hết một bao lúa mạch vào rồi tháo ngựa, con ngựa vừa ăn vừa thở phì phò.

Câu chuyện giữa hai người lại tiếp tục.

- Công dân, đây là ngựa trưng dụng có phải không?

- Không.

- Của ông à?

- Vâng, tôi đã mua và trả tiền.

- Ông ở đâu đến?

- Paris.

- Không đi thẳng một mạch được chứ gì?

- Không.

- Tôi biết mà, đường sá bị chặn hết. Nhưng xe trạm thì vẫn còn.

- Vâng. Cho đến Alençon. Tôi vừa mới rời xe trạm ở đó.

- Thế à! Rồi xem ít lâu nữa, trên nước Pháp chẳng còn xe nữa. Hết ngựa rồi. Một con ngựa ba trăm quan nay phải trả đến sáu trăm quan, còn rơm cỏ thì đắt quá giá. Trước kia tôi làm đội trạm, thế mà bây giờ đành làm chủ quán. Trên một nghìn ba trăm mười ba đội trạm thì hai trăm xin nghỉ việc. Công dân này, ông đã đi xe theo giá mới phải không?

- Giá mới từ ngày một tháng năm. Đúng thế.

- Đi xe lớn chở khách thì mỗi chặng mất hai hào, xe con hai bánh thì mất hào hai mà xe chở hàng thì năm xu. Có phải ông mua ngựa này ở Alençon không?

- Vâng.

- Hôm nay, ông đi suốt cả ngày ư?

- Từ tảng sáng.

- Và hôm qua?

- Và cả hôm kia nữa.

- Tôi hiểu rồi. Ông đi lối Domfront và Mortain.

- Và Avranches.

- Công dân, nói thật đấy, nên nghỉ lại đi. Ông mệt rồi, ngựa cũng mệt rồi.

- Ngựa có quyền mệt, chứ người thì không.

Lão chủ quán lại chăm chăm nhìn người khách. Một khuôn mặt đạo mạo, bình tĩnh và nghiêm khắc dưới vầng tóc xám.

Lão chủ quán đưa mắt nhìn quãng đường thăm thẳm, vắng teo và hỏi:

- Vậy ông đi một mình như thế à?

- Không. Tôi có hộ vệ.

- Đâu?

- Gươm và súng lục của tôi.

Lão chủ quán đi lấy một thùng nước và cho ngựa uống, rồi trong lúc con ngựa uống nước, lão lại ngắm nghía người khác và nghĩ thầm: "Không hề gì, ông này có vẻ thầy tu".

Người cưỡi ngựa hỏi tiếp:

- Lão bảo người ta đánh nhau ở Dol à?

- Vâng. Chắc lúc này bắt đầu rồi đấy.

- Ai đánh với ai thế?

- Một cựu quý tộc đánh nhau với một cựu quý tộc.

- Lão bảo sao?

- Tôi nói một cựu quý tộc theo cộng hòa đánh nhau với một cựu quý tộc theo vua.

- Nhưng làm gì còn vua nữa.

- Còn có vua con. Và điều lạ, là hai cựu quý tộc ấy lại là thân thuộc.

Người cưỡi ngựa chăm chú nghe. Lão chủ quán nói:

- Một người trẻ, một người già; chính là cháu đánh nhau với ông bác. Ông bác thì bảo hoàng, cháu thì yêu nước. Ông bác thì chỉ huy phe Trắng, cháu thì chỉ huy phe Xanh. Ái dà! Rồi họ chẳng tha nhau đâu. Một cuộc tử chiến.

- Tử chiến?

- Vâng, công dân ạ. Này, ông có muốn xem cách họ đối đáp với nhau không? Đây là một tờ tuyên cáo mà lão già cho dán khắp nơi, khắp mọi nhà, khắp các cây và cả ngay trước cửa nhà tôi.

Lão chủ quán ghé đèn lại gần một tờ giấy vuông dán trên một cánh cửa và nhờ tờ tuyên cáo in chữ to nên khách ngồi trên mình ngựa có thể đọc được như sau:

Hầu tước Lantenac rất hân hạnh báo cho người cháu của ông ta là ngài tử tước Gauvain biết rằng nếu hầu tước may mắn bắt được ngài tử tước thì sẽ bắn ngay lập tức.

Lão chủ quán lại tiếp:

- Và đây là câu trả lời.

Lão quay lưng, áp đèn soi một tờ tuyên cáo khác, dán trên một cánh cửa bên cạnh đối diện với tờ kia. Người khách đọc:

Gauvain báo trước cho Lantenac là nếu bắt được y thì ông ta sẽ bắn y chết.

Lão chủ quán nói:

- Mới hôm qua, tờ tuyên cáo đầu vừa dán trước cửa nhà tôi thì sáng hôm nay lại đã có tờ thứ hai. Đối đáp tức thời.

Người khách lẩm bẩm như nói với mình những tiếng mà lão chủ quán nghe chẳng hiểu ra sao cả:

- Đúng, hơn là chiến tranh trong nước, đây là chiến tranh trong gia đình. Phải thế và thế là đúng. Những sự hồi xuân vĩ đại của các dân tộc phải trả giá như thế đấy.

Và người khách mắt chăm chú nhìn tờ tuyên cáo thứ hai đưa tay lên mũ chào.

Lão chủ quán lại tiếp tục:

- Công dân ạ, sự việc như thế này: trong các thành phố và các thị trấn lớn chúng ta theo cách mạng, còn thôn quê thì chống lại; có thể nói là ở thành phố người ta là dân nước Pháp và trong các làng mạc, người ta là dân xứ Bretagne. Chính là một chiến tranh giữa thị dân và dân quê. Họ bảo chúng ta là "bọn phệ" và chúng ta gọi họ là lũ "quê kệch". Bọn quý tộc và thầy tu đều theo họ.

- Không phải tất cả. - Người cưỡi ngựa nói.

- Chính thế, công dân ạ, bởi vì ở đây chính là một tử tước đánh nhau với một hầu tước.

Và lão ta như nói thêm với riêng mình:

- Và đúng là mình đang nói chuyện với một giáo sĩ.

Người cưỡi ngựa hỏi tiếp:

- Thế thì ai thắng?

- Cho tới nay thì tử tước thắng. Nhưng mà cũng vất vả lắm. Lão già cũng ghê lắm, các vị ấy thuộc dòng họ Gauvain, quý tộc ở xứ này. Dòng họ ấy có hai ngành, ngành trên, trưởng ngành là hầu tước De Lantenac, ngành dưới, trưởng ngành là tử tước Gauvain. Hiện nay hai ngành đang đánh nhau. Cây cối thì chẳng thấy thế bao giờ 1 nhưng người thì có thế đấy. Hầu tước De Lantenac rất có uy thế ở xứ Bretagne này, đối với dân quê, đó là một ông hoàng. Hôm ông ta đổ bộ, đã có ngay tám nghìn người theo ông ta. Sau một tuần có ba trăm giáo khu nổi dậy. Nếu ông ta chiếm được một nơi ở ven biển thì quân Anh đã đổ bộ rồi. May thay, lại có ông Gauvain ở đó, mà lại là cháu ông ta, chuyện mới kỳ quái chứ. Ông Gauvain chỉ huy quân đội cộng hòa, và đã chặn đường ông bác lại. Rồi lão già Lantenac, khi vừa đến và tàn sát một toán tù binh, đã sai bắn hai người đàn bà trong đó có một chị có ba đứa con được tiểu đoàn Paris đỡ đầu. Việc này làm cho tiểu đoàn trở nên hung dữ. Đấy là tiểu đoàn Mũ Đỏ. Cái tiểu đoàn dân Paris ấy chẳng còn được nhiều người nữa nhưng họ đều là những tay đâm lê dữ dội. Họ đã sáp nhập vào đoàn quân của ông Gauvain. Không ai cự nổi họ. Họ đang muốn trả thù cho hai người đàn bà và giành lại mấy đứa trẻ. Người ta không hiểu lão già ấy đã làm gì với mấy đứa trẻ kia. Chính cái đó đã làm cho những người lính Paris phát điên lên. Ví thử mấy đứa trẻ không dính dấp vào cuộc chiến tranh này thì cục diện không đến nỗi như thế đâu. Tử tước là người tốt, trẻ tuổi và dũng cảm. Nhưng lão già là một hầu tước kinh khủng. Dân quê gọi cuộc chiến tranh này là cuộc chiến tranh của thánh Michel 2 chống với quỷ Belzébuth 3 . Ông hẳn biết thánh Michel là vị thần ở xứ này. Ngài có riêng một ngọn núi ở giữa biển phía trong vịnh. Ngài đến để đánh chết con quái vật và đem vùi xác nó dưới một ngọn núi khác ở gần đây gọi là núi Tombelaine.

- Vâng - Người cưỡi ngựa lẩm bẩm - Tumba Beleni nghĩa là cái mồ của Belebus, của Bel, của Bélial, của Belzébuth.

- Tôi thấy là ông am hiểu đấy.

Rồi lão chủ quán nói một mình:

- Nhất định rồi, ông ta biết tiếng La-tinh, đúng là một thầy tu.

Rồi lão chủ quán lại nói tiếp:

- A này, công dân ạ, đối với dân quê, thì chính là cuộc chiến tranh vừa nói đó lại tái diễn. Không cần phải nói, đối với họ thì thánh Michel là vị tướng bảo hoàng và con yêu quái Belzébuth là vị chỉ huy yêu nước kia; nhưng nếu có yêu quái thì chính đó là Lantenac và nếu có một vị thiên thần thì đó là Gauvain. À, ông không dùng gì sao?

- Tôi có bình nước với ít bánh. Nhưng lão chưa nói hết với tôi về tình hình ở thị trấn Dol.

- Như thế này. Ông Gauvain chỉ huy quân chinh phạt vùng bờ biển. Mục đích của Lantenac là làm cho khắp nơi nổi loạn, lấy vùng dưới xứ Bretagne dựa vào vùng dưới xứ Normandie, mở cửa cho Pitt và dùng hai vạn quân Anh cùng hai mươi vạn dân quê giúp sức cho đại quân xứ Vendée. Nhưng Gauvain đã chặn đứng kế hoạch đó. Ông ta giữ chặt bờ biển, dồn Lantenac vào nội địa và đẩy quân Anh ra ngoài khơi. Trước kia Lantenac đóng ở đây, nhưng Gauvain đã đánh bật lão ta đi, Gauvain đã chiếm lại Pont-au-Beau, đuổi lão ra khỏi Avranches, Villedieu, chặn không cho lão tới Granville. Gauvain điều quân dồn Lantenac vào khu rừng Fougères và bao vây lão ta ở đó. Tình hình rất tốt. Lão Lantenac đã khôn khéo mở ra một mũi; được tin lão đang tiến quân về phía Dol. Nếu lão chiếm được thị trấn Dol và đặt trên núi Dol một khẩu đội, vì lão cũng có trọng pháo, thì đấy là một chỗ ở bờ biển cho quân Anh đổ bộ và như thế là cả vùng này sẽ rơi vào tay lão. Vì thế không để lỡ một chút, ông Gauvain, một người cương nghị, tự tin, không đợi xin chỉ thị, liền nổi kèn, kéo pháo tập trung quân, tuốt gươm, và trong khi Lantenac xông tới Dol thì Gauvain nhảy bổ vào Lantenac. Hai trận tuyến trên đất Bretagne sắp đụng độ nhau ở Dol. Một cuộc chạm trán nảy lửa. Hiện giờ họ đã ở đấy.

- Từ đây đến Dol phải mất bao nhiêu thì giờ?

- Hành quân có xe pháo ít nhất cũng phải ba giờ; nhưng họ tới đó rồi.

Người khách lắng tai và bảo:

- Quả vậy, tôi nghe như có tiếng đại bác.

Lão chủ quán lắng nghe.

- Đúng rồi, công dân ạ. Và có cả những loại súng ngắn, nghe như xé vải. Ông nên nghỉ lại đây. Đến đấy thì chẳng gặp điều lành đâu.

- Tôi không thể nghỉ lại. Tôi phải đi.

- Không nên đi ông ạ. Tôi chẳng hiểu công việc của ông, nhưng nguy hiểm lắm, nếu như không phải vì người thân nhất trên đời...

- Ấy chính vì thế. - Người cưỡi ngựa trả lời.

- Hình như là con trai của ông...

- Gần thế. - Người cưỡi ngựa đáp.

Lão chủ quán ngẩng đầu lên và tự nhủ:

- Dầu sao cái ông công dân này vẫn có vẻ thầy tu.

Và sau một lúc suy nghĩ:

- Thầy tu, mà ông ta lại có con.

- Đóng lại cương ngựa cho tôi - Người khách bảo - Hết bao nhiêu?

Rồi ông ta trả tiền.

Lão chủ quán xếp cái chậu và thùng nước vào cạnh tường và trở lại bên người khách.

- Vì ông đã quyết định đi thì ông nên nghe tôi. Rõ ràng là ông định đi Saint-Malo. Thế thì chớ đi con đường qua Dol. Có hai đường, một đường qua Dol và một đường men theo biển. Chẳng đường nào ngắn hơn đâu. Con đường ven biển sẽ qua Saint-Georges de Brehaigne, Cherrueix và Hirel-le-Vivier. Ông đi giữa Dol ở phía nam và Cancale ở phía bắc. Đến đầu đường phố này ông sẽ thấy hai lối rẽ; sang trái là đi về Dol còn đi Saint-Georges de Brehaigne thì rẽ tay phải. Ông hãy nghe tôi, nếu ông đi qua Dol thì ông sẽ rơi vào giữa cuộc chém giết. Vì thế không nên rẽ về bên trái mà nên theo lối tay phải.

- Cảm ơn. - Người khách nói.

Rồi ông ta thúc ngựa đi.

Trời đã tối hẳn, người cưỡi ngựa lao vào trong đêm mù mịt. Lão chủ quán nhìn theo đã mất hút.

Khi người khách đến đầu con đường rẽ, ông ta nghe từ xa tiếng lão chủ quán gọi to:

- Đi về bên phải!

Người cưỡi ngựa rẽ sang trái.

II
Dol

Các vị chức sắc nhà thờ vẫn gọi Dol là thành phố Tây Ban Nha trên đất Pháp, trong xứ Bretagne, nhưng Dol không phải là một thành phố mà chỉ là một đường phố.

Một đường phố lớn, cũ kỹ kiểu gô-tích, hai bên đường rộng thênh thang san sát những dãy nhà có cột chẳng ra hàng lối gì, cái thụt vào, cái nhô ra. Còn lại là một mạng lưới những ngõ ngách nhỏ nối liền với đường lớn và đổ về đó như nhiều con suối đổ vào một dòng sông. Thành phố không có cửa ô, chẳng có tường thành, trống trải, điểm cao là núi Dol, bị bao vây thì không thể nào chống lại được; nhưng đường phố thì có khả năng chống giữ. Những ngôi nhà nhô lên, năm mươi năm trước người ta vẫn còn thấy, và hai dãy hiên giữa hàng cột lớn làm cho đường phố trở thành một vị trí chiến đấu hết sức kiên cố và có thể cầm cự được lâu dài. Bao nhiêu nhà là bấy nhiêu pháo đài; và phải chiếm từng nhà một. Cái chợ cũ xây gần giữa phố.

Lão chủ quán ở Croix-Branchard đã nói đúng, chính lúc lão kể chuyện là lúc phố Dol đang ngập trong một cuộc hỗn chiến điên cuồng. Một trận đọ súng ban đêm đột nhiên nổ ra trong thành phố giữa bọn Trắng tới đây ban sáng và phe Xanh thình lình kéo đến lúc chiều. Lực lượng hai bên chênh lệch nhau, phe Trắng có sáu nghìn quân, phe Xanh chỉ có nghìn rưỡi, nhưng kể về quyết tâm chiến đấu thì hai bên lại ngang nhau. Điều đáng chú ý là chính phía nghìn rưỡi quân đã tấn công phía sáu nghìn.

Một bên là đám ô hợp, một bên là quân đội chính quy. Một bên là sáu nghìn dân quê, trên áo da gắn hình trái tim Chúa, đội mũ tròn buộc những giải băng trắng, trên băng tay viết những châm ngôn Thiên Chúa giáo, thắt lưng đeo tràng hạt, trang bị bằng nhiều chàng nạng hơn là gươm, hoặc bằng súng ngắn, không có lưỡi lê, dùng dây thừng buộc pháo mà kéo, tổ chức kém, kỷ luật kém, trang bị kém, nhưng hết sức cuồng tín. Còn bên kia là một nghìn rưỡi binh sĩ đầu đội mũ chào mào có huy hiệu tam tài, áo thân trước rộng và ve áo to, dây đeo kiếm bắt chéo lại, gươm cong và có chuôi bằng đồng và súng trường cắm lưỡi lê dài, có hàng ngũ thuần thục, và cũng hung dữ, biết tuân lệnh như những người đã từng biết chỉ huy, cũng là lính tình nguyện, nhưng là tình nguyện vì tổ quốc, ngoài ra thì trang phục rách rưới, chân không; bên phía bảo hoàng là những dân quê phiêu lưu, bên phía cách mạng là những vị anh hùng chân đất; ở cả hai phe người chỉ huy là linh hồn của đơn vị, bên bảo hoàng là một lão già, bên cộng hòa là một chàng trai. Một bên là Lantenac, một bên là Gauvain.

Cách mạng có những thanh niên vĩ đại như Danton, Saint-Just và Robespierre và những thanh niên lý tưởng như Hoche và Marceau. Gauvain là một trong những người ấy.

Gauvain trạc ba mươi tuổi, vóc người lực lưỡng có cặp mắt nghiêm nghị của một nhà tiên tri và nụ cười của một em bé. Ông ta không hút thuốc, không uống rượu, không văng tục. Ra trận ông ta đem theo đồ trang điểm; ông ta giữ gìn rất cẩn thận móng tay, hàm răng, mái tóc đẹp màu đen nâu. Và những lúc dừng chân, ông ta tự tay giũ trước gió bộ quân phục chỉ huy của mình đã bị đạn bắn thủng lỗ chỗ và bụi bám trắng xóa. Luôn luôn hăng say lao vào đám hỗn chiến, ông ta chưa bao giờ bị thương. Tiếng nói của ông hết sức dịu dàng nhưng lâm thời lại có những giọng sang sảng đột ngột của người chỉ huy. Ông nêu gương nằm đất, dưới gió rét, dưới mưa, trong tuyết, mình cuộn tròn trong áo khoác, đầu gối lên một tảng đá. Một tâm hồn dũng cảm và trong trắng. Lúc tay vung gươm thì nét mặt ông ta thay đổi hẳn. Cái dáng điệu ẻo lả của ông khi lâm trận lại trở nên táo tợn.

Ngoài ra, Gauvain là nhà tư tưởng và triết gia, một bậc hiền nhân trẻ tuổi, trông thấy ông ta thì tưởng là một Alcibiade 4 , nghe ông ta nói thì tưởng là Socrate, trong một cuộc đột biến lớn lao như cách mạng Pháp, chàng trai này tức khắc trở thành tướng lĩnh.

Đội quân do ông ta xây dựng, giống như một quân đoàn thời cổ La Mã, một kiểu binh đoàn nhỏ bé nhưng hoàn chỉnh. Có cả bộ binh và kỵ binh; có trinh sát, có lính đào hào, có công binh, có lính làm cầu: và quân đoàn thời cổ La Mã có máy bẫy đá, thì binh đoàn ông ta có trọng pháo. Ba khẩu pháo thắng vào xe làm cho đơn vị mạnh mà vẫn cơ động.

Lantenac cũng là một tướng lĩnh, nhưng ác hơn. Lão ta vừa suy tính kỹ hơn lại vừa táo tợn hơn. Lớp lão tướng thường điềm đạm hơn lớp thanh niên vì họ đã xa buổi bình minh, và họ táo tợn hơn vì đã gần cõi chết. Họ còn gì để mà mất? Rất ít thôi. Do đó mà Lantenac có những cuộc hành quân vừa táo bạo vừa khôn khéo. Nhưng rút cục, và hầu như bao giờ cũng thế, trong cuộc vật lộn dai dẳng giữa một lão già và một thanh niên, Gauvain vẫn chiếm ưu thế. Đó chỉ là hồng vận. Tất cả mọi diễm phúc, cho đến cả loại diễm phúc kinh khủng đều thuộc phần tuổi trẻ. Chiến thắng cũng ưa chuộng tuổi trẻ.

Lantenac giận Gauvain sôi lên, trước hết vì Gauvain thắng lão ta, sau nữa Gauvain lại là thân thuộc của lão. Sao nó lại đi theo bọn Jacobin? Cái thằng Gauvain kia! Cái thằng ranh con! Cháu thừa kế của lão, vì lão không có con, một thằng cháu họ cũng gần như cháu đích tôn! Ông bác ấy đã phải thốt lên: "Ta mà tóm được nó thì ta sẽ giết nó như giết một con chó!"

Vả lại, chính phủ cộng hòa có lý do để lo ngại về lão hầu tước De Lantenac này. Vừa mới đặt chân lên đất liền, lão đã làm rung chuyển khắp vùng. Tên tuổi lão truyền đi khắp Vendée phiến loạn như một làn thuốc súng, và tức khắc, Lantenac trở thành trung tâm. Trong một cuộc nổi loạn như kiểu này, mà tất cả ganh ghét nhau và mỗi người chiếm cứ riêng một bụi rậm, một đường hào, thì một kẻ bề trên xuất hiện có thể liên kết được bọn thủ lĩnh rời rạc, cá đối bằng đầu. Hầu hết bọn tướng lục lâm đều theo Lantenac, và dù ở gần hoặc xa cũng đều tuân lệnh răm rắp.

Chỉ có một người bỏ hắn, đó là Gavard, kẻ đầu tiên đã đi theo hắn. Tại sao vậy? Gavard là một kẻ tâm phúc. Gavard nắm được mọi điều bí mật và đã áp dụng những kế hoạch hành binh kiểu cũ của nội chiến thì Lantenac đến đã thay đổi cả. Ai lại đi kế thừa một người tâm phúc; đi thừa của La Rouarie: Lantenac không thèm xỏ chân vào. Gavard đã bỏ Lantenac để đến với Bonchamps 5 .

Về mặt quân sự, Lantenac thuộc trường phái Frédéric II; lão ưa phối hợp lối đánh quy mô với lối đánh du kích. Lão không vừa lòng với một "khối ô hợp" như đội quân Thiên Chúa giáo và bảo hoàng, một đám đông chỉ đi đến chỗ bị tiêu diệt; lão cũng không ưa những toán quân tản mạn trong rừng, trong bụi, chỉ quấy rối được chứ không thể quật ngã kẻ địch. Lối đánh du kích không thể kết thúc hoặc kết thúc một cách thảm hại; lúc khởi sự thì tấn công cả một nền cộng hòa, và rút cuộc thì là cướp giật một chuyến xe ngựa. Lantenac không quan niệm cuộc chiến tranh ở xứ Bretagne này hoàn toàn là trận địa chiến ở đồng bằng như La Rochejaquelein và cũng không hoàn toàn là ở rừng rú như Jean Chouan; không thể theo kiểu Vendée cũng không thể theo kiểu Chouan được. Lão muốn một cuộc chiến tranh thực sự; sử dụng dân quê nhưng phải dựa vào quân đội. Lão muốn vừa có những toán dân quê vũ trang để dùng trong chiến lược, lại vừa có những trung đoàn trong chiến thuật. Lối phục kích và tấn công bất ngờ rất thích hợp với dân quê vũ trang, tán tụ nhanh chóng. Nhưng những toán quân như thế lỏng lẻo lắm; như nước trong lòng bàn tay; lão muốn tạo nên một điểm vững chắc trong cuộc chiến tranh bồng bềnh và tản mạn này; lão muốn bổ sung cho đám quân, man rợ ở rừng núi một đội quân chính quy làm nòng cốt để huy động dân quê. Ý nghĩ thật thâm hiểm và ghê sợ; nếu lão thực hiện được thì loạn Vendée khó mà dẹp nổi.

Nhưng tìm đâu ra một đội quân chính quy? Tìm đâu ra binh lính? Tìm đâu ra những trung đoàn? Tìm đâu ra cả một quân đoàn có sẵn? Chỉ có ở nước Anh. Do đó, ý nghĩ như đinh đóng cột của Lantenac: làm sao đưa quân Anh đổ bộ vào. Thế là, ý thức phe phái đã sụp đổ; chiếc huy hiệu trắng đã che lấp cho chiếc áo đỏ 6 . Lantenac chỉ có một ý nghĩ: chiếm một điểm trên bờ biển và dâng cho Pitt. Vì vậy, khi thấy Dol bỏ ngỏ, lão nhảy xổ đến để chiếm Dol tức là chiếm ngọn núi Dol và từ đó chiếm bờ biển.

Địa điểm ấy thật khéo chọn. Đại bác đặt ở núi Dol sẽ quét sạch cả một vùng từ Fresnois đến Saint-Brelade, buộc hạm đội Cancale không dám tiến gần và biến cả một vùng bãi biển, từ Raz-sur-Couesnon đến Saint-Mêloir-des-Ondes, sẵn sàng chờ một cuộc đổ bộ.

Muốn cho mưu mô có tính chất quyết định đó thành công, Lantenac đem theo hơn sáu nghìn người, chọn những người lực lưỡng nhất và tất cả khẩu đội pháo gồm mười khẩu đại bác hạng nhỏ mười sáu ly, một khẩu đại bác chắp vá lại, cỡ tám ly và một khẩu loại trung đoàn bắn được bốn li-vrơ đạn. Lão dự định đặt một khẩu đội mạnh trên núi Dol theo nguyên tắc là mười khẩu trọng pháo bắn ra một nghìn phát đạn được việc hơn là năm khẩu bắn ra một nghìn năm trăm phát.

Thắng lợi tưởng như đã cầm chắc. Lão có sáu nghìn quân. Chỉ còn lo phía Avranches, quân của Gauvain có một nghìn rưỡi người và mặt Dinan có quân của Léchelle. Léchelle, tuy có hai vạn rưỡi quân thật nhưng lại ở cách xa những hai mươi dặm. Lantenac yên tâm, phía Léchelle có lực lượng lớn nhưng ở xa, còn về phía Gauvain, tuy ở gần nhưng quân số lại ít. Xin nói thêm rằng Léchelle là một anh ngu ngốc và sau này hắn đã nướng cả hai vạn rưỡi quân ở truông Croix-Bataille, và hắn đã tự tử vì cuộc bại trận đó.

Vậy nên Lantenac rất yên trí. Cuộc tiến quân vào Dol rất chớp nhoáng và ác liệt. Hầu tước De Lantenac đã khét tiếng là không biết thương ai. Cho nên khi vào Dol thì không một ai dám kháng cự. Dân chúng khiếp đảm ẩn trong nhà, chận kín cửa lại. Sáu nghìn quân Vendée chiếm đóng các phố, chúng lộn xộn theo lối dân quê, gần như họp chợ, không có hạ sĩ quan hậu cần, không được bố trí chỗ ở, bạ đâu hạ trại đó, nấu nướng ngay ngoài trời, tự do phân tán vào nhà thờ, vứt hết súng ống để lần tràng hạt. Lantenac cùng với vài sĩ quan pháo binh vội vã đi quan sát núi Dol và giao chức phó chỉ huy cho Gouge-le-Bruant.

Tên này đã để lại một dấu tích mờ nhạt trong lịch sử. Hắn có hai tên hiệu, một là Diệt-Xanh, vì những cuộc tàn sát của hắn đối với những người yêu nước, hai là Imânus bởi vì con người hắn có một cái gì ghê tởm không thể tả được. Chữ Imânus nói chệch đi từ một danh từ cổ vùng dưới xứ Normandie là Imânis để chỉ cái gì xấu xa nhất, loài người không thể có, mà lại có nghĩa rùng rợn hoang đường như là ma, quỷ, yêu tinh. Trong một bản thảo cổ đã thấy có viết chữ Imânus đó. Ngày nay, các cụ già ở vùng Bocage cũng không hiểu gì về Gouge-le-Bruant và Diệt-Xanh nghĩa là gì; nhưng các cụ có biết lỗ mỗ về Imânus. Cái tên Imânus còn rớt lại trong những chuyện mê tín ở địa phương. Người ta còn nhắc đến tên Imânus ở hai làng Trémorel và Plumaugat nơi mà tên Gouge-le-Bruant đã để lại vết chân dã man của hắn. Trong vụ loạn Vendée, những kẻ khác chỉ là man rợ nhưng Gouge-le-Bruant là loài tàn bạo. Đó là một thứ chúa mọi, trên người hắn ánh lên vẻ ghê tởm và gần như dị thường của một tâm hồn hoàn toàn không giống bất cứ một tâm hồn nào khác của con người. Trong chiến đấu, hắn dũng cảm một cách khốc liệt rồi dần dần trở nên bạo ngược. Một trái tim đầy rẫy những ngõ ngách quanh co, có khi rất mực trung thành, có khi rất mực cuồng bạo. Hắn có biết suy xét không? Có chứ, nhưng như kiểu rắn bò, theo đường ngoằn ngoèo. Cách suy xét của hắn là đi từ hùng dũng để tới giết người. Thật khó mà đoán được những quyết định của hắn từ đâu mà có, đôi khi những quyết định ấy vĩ đại đến trở thành quái gở. Hắn có thể làm tất cả những việc bất ngờ, khủng khiếp. Ở hắn có cả bạo ngược lẫn hào hùng.

Từ đó, hắn mang cái tên hiệu kỳ quái là Imânus.

Lão hầu tước De Lantenac rất tin cậy ở tính độc ác của hắn.

Độc ác là sở trường của Imânus; đúng thế. Nhưng về mặt chiến lược, chiến thuật thì hắn lại không sở trường bằng và khi phong hắn chức chỉ huy tác chiến, có thể lão hầu tước đã thất sách. Dù sao, lão hầu tước đã để Imânus thay lão xem xét mọi việc.

Gouge-le-Bruant, một tên hiếu chiến hơn một nhà quân sự, dùng để cắt cổ cả một bộ tộc hơn là giữ một thành phố. Tuy nhiên hắn cũng bố trí các đơn vị tiền tiêu.

Vừa chập tối, sau khi lão hầu tước De Lantenac đã quan sát địa điểm dự định đặt khẩu đại pháo và trở về Dol, thì bất thình lình lão nghe tiếng đại bác nổ. Lão chú ý nhìn. Một đám khói đỏ rực bốc lên ở phố lớn. Ở đó đã xảy ra một trận đánh bất ngờ, một trận đột kích, một cuộc tấn công; hai bên đang đánh nhau trong thành phố.

Mặc dầu vốn là người ít hay ngạc nhiên, lúc bấy giờ lão cũng sửng sốt. Lão có tính đến nông nỗi này đâu. Có thể là ai? Nhất định không phải Gauvain. Không thể lấy một mà chọi với bốn được. Hay là Léchelle? Nhưng hành quân chớp nhoáng cách nào! Chưa hẳn là Léchelle mà không thể là Gauvain được.

Lantenac thúc ngựa; trên đường hắn gặp dân phố chạy trốn; hắn hỏi thăm, họ đang hết sức hoảng sợ. Họ kêu lên: Bọn Xanh! Bọn Xanh! Và khi hắn về đến nơi, thì tình thế đã trở nên bất lợi.

Sự việc đã xảy ra thế này.

III
Những binh đoàn nhỏ và những trận đánh lớn

Vừa đặt chân đến phố Dol bọn dân quê, như ta vừa thấy, đã phân tán khắp các ngả trong phố, ai muốn làm gì thì làm, dĩ nhiên là như thế khi "người ta tuân lệnh chỉ vì cảm tình", đó là lời họ nói. Cách tuân lệnh đó tạo nên anh hùng chứ không tạo thành binh lính. Họ đã cất đại bác và đồ đạc dưới vòm chợ cũ, rồi họ vừa mệt, vừa ăn no uống say, lần tràng hạt, và nằm ngổn ngang trên đường cái làm bộn đường hơn là bảo vệ đường phố. Trời vừa tối thì phần đông đã ngủ, đầu gối lên bọc quần áo, một vài người còn có vợ con nằm bên cạnh; vì đàn bà đôi khi cũng đi theo họ; ở Vendée, đàn bà bụng mang dạ chửa thường làm việc do thám. Đêm đã sang trời tháng bảy, êm ả; các chùm sao lấp lánh trên nền trời xanh và sâu thẳm. Cả đoàn người ô hợp đó bắt đầu ngủ ngon trông giống như một đoàn lữ hành nghỉ chân hơn là một đoàn quân cắm trại. Bỗng nhiên qua ánh hoàng hôn mờ mờ, những người còn thức trông thấy ba khẩu trọng pháo chĩa thẳng ở ngay đầu lối vào phố lớn.

Đó là Gauvain. Ông đã đánh lừa được bọn lính tiền tiêu, đột nhập vào thành phố, dẫn đoàn quân của mình chiếm lấy đầu phố.

Một người dân quê vùng dậy kêu lên: ai, và luôn một phát súng; một phát đại bác đáp lại. Rồi một loạt súng trường giận dữ nổ vang lên. Đám đông đang ngủ dở mắt, chồm dậy. Một cuộc kinh động dữ dội. Họ ngủ dưới trời sao và thức dậy trong lửa đạn.

Giây phút đầu tiên thật là kinh khủng. Không có gì bi đát bằng một đám người lúc nhúc bị đánh. Họ vồ lấy vũ khí. Họ gào thét, họ chạy, nhiều người ngã xuống. Họ bị đột kích bất thần, họ luống cuống, người nọ bắn lẫn vào người kia. Nhiều người trong phố như mất trí chạy khỏi nhà, chạy vào rồi lại chạy ra và lang thang, cuống quít trong đám hỗn loạn. Nhiều gia đình gọi nhau. Trận đánh thảm khốc có lẫn cả đàn bà và trẻ con. Đạn lên, rạch sáng ngời trong bóng tối. Súng bắn từ tất cả các góc tối. Tất cả bốc khói và huyên náo. Xe cộ ngổn ngang khiến cho quang cảnh càng thêm hỗn độn. Ngựa đá hậu cuống cuồng. Người ta dẫm lên cả những thương binh. Người ta nghe thấy những tiếng tru tréo sát mặt đất. Có kẻ chết khiếp, có người mất hồn như ngây dại. Binh lính và sĩ quan tìm nhau. Giữa cảnh hỗn loạn ấy có những bộ mặt lạnh lùng, u ám. Một người đang ngồi sát vào một mảnh tường cho con bú, chồng chị cũng dựa lưng vào bức tường đó, một chân bị gãy, máu chảy dầm dề, vẫn lên đạn bắn vu vơ như để giết ai trong bóng tối trước mặt. Nhiều người đàn ông nằm sấp sát đất, ghếch súng bắn qua các bánh xe ngựa. Thỉnh thoảng lại nổi lên tiếng hò reo ầm ĩ. Những tiếng nổ ầm ầm của đại bác át hết tất cả. Thật là kinh khủng.

Như một cảnh đốn rừng; người ngã chồng chất lên nhau. Quân của Gauvain, nấp kín, bắn ra chắc chắn và bị thương vong rất ít.

Nhưng rồi đám dân quê liều lĩnh và hỗn độn ấy cuối cùng cũng giữ được thế thủ; họ rút vào trong chợ, một cứ điểm rộng và tối mò, một rừng cột bằng đá. Vào đó họ củng cố lại đội ngũ; bởi vì nơi nào giống cảnh rừng cũng đều làm cho họ vững lòng. Imânus làm hết sức mình để thay thế Lantenac. Quân Lantenac cũng có đại bác nhưng Gauvain ngạc nhiên thấy họ không sử dụng; đó là vì những sĩ quan pháo binh đã cùng với lão hầu tước quan sát núi Dol, đám binh lính ở lại chẳng biết xoay xở thế nào với các khẩu súng ấy. Nhưng họ cũng trút được đạn súng trường lên quân xanh đang nã trọng pháo vào họ. Họ bắn rào rào để đương đầu với đạn đại bác. Bấy giờ, chính họ lại thế kín đáo. Họ chất tất cả xe ngựa lớn nhỏ, đồ đạc hành lý, những thùng rượu bỏ trong chợ và mang lên một chiến lũy cao với những khe hở để chĩa mũi súng ra ngoài. Từ những lỗ châu mai đó, lực của họ cũng gây nhiều thiệt hại cho đối phương. Các việc đó được tiến hành rất nhanh chóng. Chỉ trong khoảnh khắc, khu chợ ấy đã có một trận tuyến vững chắc.

Việc này khá nghiêm trọng cho Gauvain. Khu chợ này đột nhiên trở nên thành lũy, thật là điều bất ngờ, trong đó, đám dân quê đã cụm lại và được bảo vệ vững chắc. Gauvain đã thắng trong trận đột kích nhưng thất bại trong ý định đánh tan quân địch. Ông ta xuống ngựa. Tay vòng trước ngực thanh kiếm lăm lăm, vẻ chăm chú, ông ta đứng dưới ánh đuốc đang chiếu sáng khẩu đội pháo, mắt nhìn vào cái đám đen trước mặt.

Dưới ánh đuốc ấy, thân hình cao lớn của ông đã để cho bọn người sau chiến lũy trông rõ. Ông ta đã thành mục tiêu nhưng vẫn không nghĩ đến.

Từ chiến lũy, đạn bắn ra vèo vèo, rơi quanh Gauvain vẫn đứng nghĩ ngợi.

Nhưng ông ta có đại bác chống lại cái loại súng ngắn của địch. Cuối cùng thì đại bác vẫn có thế hơn. Trong chiến đấu, ai có trọng pháo là người ấy thắng. Khẩu đội của ông được sử dụng tốt, vẫn giữ ưu thế.

Đột nhiên, từ khu chợ tối đen, một ánh chớp lóe lên, rồi người ta nghe thấy một tiếng nổ như sét đánh, và một viên đạn đại bác bay đến phá thủng một căn nhà phía trên đầu Gauvain.

Phía chiến lũy đã dùng đại bác để trả lời đại bác. Cái gì đã xảy ra? Một sự kiện mới. Bây giờ hỏa lực đại bác không chỉ ở một bên nữa.

Một viên đạn đại bác thứ hai tiếp đến bắn vào bức tường sát bên cạnh Gauvain. Một viên đạn thứ ba hất mũ ông ta xuống đất.

Những viên đạn đó đều thuộc cỡ lớn. Chính một khẩu mười sáu ly đã bắn ra.

- Chúng nhằm bắn ngài đấy. - Các pháo thủ kêu lên.

Và họ tắt đuốc. Gauvain, mơ màng, cúi xuống nhặt mũ.

Quả thực có người nào đó nhằm bắn Gauvain, đó là Lantenac.

Lão hầu tước vừa vào chiến lũy qua lối sau. Imânus đã chạy lại báo cáo với hắn:

- Thưa đức ông, chúng ta bị tấn công bất ngờ.

- Ai tấn công?

- Chúng tôi chưa rõ.

- Đường phía Dinan vô sự chứ?

- Tôi chắc vậy.

- Phải chuẩn bị rút lui.

- Thưa đã bắt đầu. Nhiều đứa đã tháo chạy rồi.

- Không tháo chạy mà rút lui. Tại sao không sử dụng trọng pháo?

- Chúng nó cuống cả lên, vả lại sĩ quan vắng cả.

- Ta ra đó xem.

- Thưa đức ông, tôi đã cho rời đến Fougères các hành lý, bọn đàn bà, tất cả những thứ vô dụng. Còn ba đứa trẻ tù binh thì nên thế nào?

- A, đám trẻ ấy à?

- Vâng.

- Chúng là con tin của ta. Sai dẫn chúng đến lâu đài Tourgue.

Nói xong, lão hầu tước đi đến chiến lũy. Người chỉ huy tới, mọi sự thay đổi hẳn. Chiến lũy bố trí không đủ cho cả khẩu đội, chỉ đủ chỗ cho hai khẩu đại bác; lão hầu tước cho ghép hai khẩu mười sáu ly thành khẩu đội. Lão nhoài mình trên một khẩu pháo, quan sát khẩu đội pháo địch, lão trông thấy Gauvain.

- Chính nó rồi! - Lão kêu lên.

Rồi tự tay lão dùng thông nòng, nện thuốc, lắp đạn, sửa lại đường ngắm thật chắc và nổ súng.

Ba lần lão chỉnh hướng cho đúng Gauvain, và đã bắn trượt cả. Phát thứ ba chỉ làm trật mũ.

- Vụng quá! - Lantenac lẩm bẩm - Thấp một tí thì được cái đầu rồi.

Đột nhiên, ngọn đuốc tắt, và trước mặt lão tối như mực.

- Được.

Và quay về phía bọn pháo thủ, lão hô:

- Bắn liên hồi.

Ở bên kia, bên Gauvain tình hình cũng không kém nghiêm trọng. Tình thế nguy ngập. Chiến cuộc đã chuyển sang một hình thái mới. Phía chiến lũy hãy còn ở giai đoạn nã đại bác sang họ. Biết đâu họ lại không sắp chuyển từ phòng ngự sang phản công? Bên địch trừ những tên chết và chạy tháo thân, ít ra cũng còn năm nghìn người mà bên phía Gauvain thì chỉ còn một nghìn hai trăm người đủ sức tác chiến. Bên quân cộng hòa sẽ ra sao nếu địch biết được quân số ít ỏi của họ? Tình thế sẽ đảo ngược. Đang ở thế xung kích, họ sẽ bị xung kích. Nếu phía chiến lũy mở một đợt tấn công thì có thể hỏng tất cả.

Làm thế nào? Không thể tính chuyện tấn công vào chiến lũy ở chính diện nữa. Dùng toàn lực mở một đợt cường kích thì thật là ảo tưởng; một nghìn hai trăm người không thể nào đánh đuổi được năm nghìn người ra khỏi hiểm cứ. Tốc quyết không được, chờ đợi càng bí hơn. Phải kết thúc tình thế ấy. Nhưng bằng cách nào?

Gauvain là người địa phương, ông ta biết rõ phố Dol, ông ta biết phía sau chợ mà quân Vendée đang nấp để bắn ra thông với những ngõ hẹp và quanh co. Ông ta quay lại phía viên phó chỉ huy là đại úy Guéchamp, người về sau nổi tiếng vì đã quét sạch cả khu rừng Consise, nơi chôn nhau cắt rốn của Jean Chouan và chặn quân địch ở bờ chuôm La Chaîne, ngăn không cho chúng chiếm Bourg-neuf.

- Guéchamp - Gauvain nói - Tôi giao nhiệm vụ chỉ huy cho ông. Ông cứ cho trút hết hỏa lực ra. Cứ cho đại bác chọc thủng chiến lũy đi. Giữ chân tất cả đám quân địch kia.

- Rõ! - Guéchamp đáp.

- Tập trung toàn binh đoàn, lên đạn sẵn và chuẩn bị cho họ xung phong.

Ông ta nói thêm vài lời sát tai Guéchamp.

- Rõ! - Guéchamp đáp.

Gauvain hỏi tiếp:

- Trống của ta đủ cả đấy chứ?

- Đủ.

- Chúng ta có tất cả chín tay trống. Ông giữ lại hai, cho tôi bảy.

Bảy tay trống đến sắp hàng lặng lẽ trước mặt Gauvain.

Lúc đó, Gauvain hô:

- Tiểu đoàn Mũ Đỏ theo tôi!

Mười hai người, trong đó có một viên đội bước ra khỏi hàng quân.

- Tôi cần cả tiểu đoàn. - Gauvain bảo.

- Cả tiểu đoàn đây. - Viên đội trả lời.

- Mới có mười hai người.

- Chúng tôi còn lại mười hai người thôi.

- Được! - Gauvain nói.

Viên đội đó chính là Radoub, một chiến sĩ rất tốt và cứng cỏi, người đã thay mặt tiểu đoàn nhận đỡ đầu ba đứa trẻ gặp trong rừng Saudraie.

Ta còn nhớ chỉ có một nửa tiểu đoàn thôi đã bị sát hại ở Herbe-en-Pail và may sao khi ấy Radoub lại không ở trong số đó.

Ở gần đó có một chiếc xe chất đầy rơm khô; Gauvain trỏ tay bảo viên đội:

- Ông đội bảo lính bện rơm quấn vào súng để tránh tiếng động khi chạm vào nhau.

Một phút sau, mệnh lệnh được chấp hành đầy đủ, lặng lẽ trong bóng tối.

- Báo cáo xong. - Viên đội nói.

Gauvain lại ra lệnh:

- Anh em binh sĩ, cởi hết ra.

- Chúng tôi chẳng có. - Viên đội đáp.

Thế là tiểu đoàn Mũ Đỏ với bảy người đánh trống thành mười chín người; Gauvain là người thứ hai mươi.

Gauvain hô:

- Một hàng dọc. Theo tôi. Trống đi theo tôi. Tiếp đến tiểu đoàn. Ông đội, ông sẽ chỉ huy tiểu đoàn.

Gauvain dẫn đầu đoàn quân, và trong khi đại bác hai bên vẫn nổ dòn dã, hai mươi người ấy lướt đi như những cái bóng, tiến sâu vào những phố nhỏ vắng ngắt.

Họ đi một lúc lâu như thế, quanh co men theo các nhà. Trong thành phố, mọi vật như chết; dân phố đều núp cả dưới hầm nhà. Tất cả cửa lớn đều cài then, cửa sổ khép chặt. Không một chút ánh sáng.

Giữa cảnh im lìm ấy, ngoài phố lớn đạn vẫn nổ dữ dội; đại bác vẫn tiếp tục bắn nhau; cả hai bên, khẩu đội cộng hòa và chiến lũy bảo hoàng khạc đạn vào nhau như điên như dại.

Sau hai mươi phút đi quanh co, Gauvain bước vững chắc trong bóng tối, lần đến đầu một phố nhỏ ăn thông ra phố lớn; có điều lúc này họ đã ở phía sau chợ rồi.

Vị trí đã đổi ngược. Về phía bên này, không có chỗ ẩn nấp, đó là một điều sơ hở muôn thuở của những người xây chiến lũy, cả mặt sau chợ bỏ trống và người ta có thể đi qua các hàng cột trong đó đã có vài chiếc xe chứa đồ đạc chuẩn bị chuyển đi. Gauvain và mười chín người đi theo đang đứng trước năm nghìn quân Vendée nhưng không phải ở trước mặt mà lại ở sau lưng.

Ông ta bảo nhỏ với viên đội; họ tháo rơm bện quanh súng; mười hai khinh binh dàn thành thế trận sau góc phố nhỏ và bảy anh lính mang trống đã giơ cao dùi trống chờ lệnh.

Trọng pháo hai bên vẫn trút đạn ngắt quãng từng hồi. Đột nhiên, giữa khoảng cách của hai loạt súng nổ, Gauvain vung kiếm và hô lớn như một tiếng kèn trận nổi lên giữa cảnh im lìm:

- Hai trăm người bên phải, hai trăm người bên trái, còn lại xông vào mặt giữa.

Cả mười hai phát súng nổ và bảy chiếc trống rung nhịp xung phong. Và Gauvain thét lên, tiếng thét ghê sợ của quân đội cộng hòa:

- Lắp lê! Xung phong!

Kết quả thật là dị thường.

Cả cái đám dân quê ấy cảm thấy đã bị đánh tập hậu và tưởng rằng phía sau lưng có một binh đoàn mới. Cùng lúc đó, nghe tiếng trống, toán quân giữ phía đầu phố lớn do Guéchamp chỉ huy cũng chuyển động ồn ào, trống cũng rung nhịp xung phong và chạy lao vào chiến lũy; đám dân quê bị kẹp giữa hai hỏa tuyến. Trong lúc hoang mang cái gì cũng to lớn khác thường; trong cơn hoảng loạn, một tiếng súng lục cũng nghe to như một phát súng đại bác, những tiếng ồn ào nghe như ma kêu quỷ khóc và tiếng chó sủa tưởng như sư tử gầm. Phải nói thêm là rơm bắt lửa nhanh thế nào thì đám dân quê sợ hãi nhanh thế ấy, và nếu lửa bám vào rơm dễ gây nên đám cháy thì nỗi sợ hãi của đám dân quê cũng dễ dàng dẫn đến bại trận. Thật là cả một cuộc tháo chạy không thể nào tả xiết.

Trong chốc lát, khu chợ đã vắng tanh, lính khiếp đảm tan rã trong chốc lát, chỉ huy chẳng làm sao mà ngăn cản được. Imânus bắn một vài tên bỏ chạy nhưng vô hiệu, người ta chỉ nghe tiếng kêu "Mạnh ai nấy chạy!" và đám loạn quân ấy vượt qua đường phố như vượt qua các lỗ rây, tản ra ngoài đồng nhanh như một đám mây bị gió lốc cuốn.

Kẻ thì bỏ chạy về Chateauneuf, kẻ thì chạy về Plerguer, kẻ thì chạy về Antrain.

Lão hầu tước Lantenac đứng nhìn cuộc rút lui tán loạn ấy. Lão tự tay khóa đại bác lại, và rút sau cùng, chậm rãi và lạnh lùng, và lão thốt ra: "Nhất định là bọn dân quê không làm nổi việc. Chúng ta cần phải có người Anh".

IV
Đây là lần thứ hai

Quân cộng hòa toàn thắng.

Gauvain quay lại nói với anh em trong tiểu đoàn Mũ Đỏ:

- Mười hai người các anh có thể sánh với nghìn người.

Thời ấy, một lời khen của cấp chỉ huy cũng ngang như một tấm huân chương. Theo lệnh Gauvain, Guéchamp truy kích địch ngoài thị trấn và bắt được vô số.

Sau đó, người ta đốt đuốc lên và đi lục soát trong phố.

Tất cả những kẻ không chạy trốn được đều ra hàng. Người ta đốt lửa sáng rực cả phố lớn. Mặt đường ngổn ngang xác chết và người bị thương. Kết thúc một cuộc chiến đấu, bao giờ cũng gay go; một vài nhóm đó đây, tuy đã tuyệt vọng nhưng vẫn cố chống cự, cuối cùng bị chặt, chúng phải hạ khí giới.

Trong đám quân địch tháo chạy hỗn loạn, Gauvain vừa nhận ra một người hết sức dũng cảm, nhanh nhẹn và lực lưỡng như thú rừng không chịu rút mà vẫn bắn chặn, che chở cho bọn khác đang tháo chạy. Hắn sử dụng súng ngắn rất oanh liệt, dùng nòng súng mà bắn, dùng báng súng mà đánh đến gãy. Lúc này, hai tay hắn, một tay cầm súng lục, một tay cầm kiếm. Không ai dám lại gần hắn. Bỗng nhiên, Gauvain thấy hắn lảo đảo rồi tựa lưng vào một cái trụ bên đường. Hắn vừa bị thương. Nhưng hắn vẫn nắm chắc kiếm và súng. Gauvain cắp thanh kiếm dưới nách đi đến chỗ hắn.

- Hàng đi! - Ông ta bảo.

Người kia nhìn Gauvain chằm chặp. Máu từ một vết thương trong người hắn chảy trong lớp quần áo đọng lại thành một vũng to dưới chân.

- Anh là tù binh của tôi. - Gauvain tiếp.

Người kia nín lặng.

- Anh tên là gì?

Người kia trả lời:

- Nhảy 7 .

- Anh là một người dũng cảm.

Và ông ta chìa tay ra bắt tay người kia.

Hắn đáp lại bằng một câu:

- Đức vua muôn năm!

Và thu hết tàn lực, hai cánh tay cùng giơ lên một lúc, hắn nhằm bắn một phát vào ngực Gauvain và chém một nhát kiếm trên đầu ông ta.

Hắn làm nhanh như một con hổ; nhưng có một người khác lại còn nhanh hơn nữa. Đó là một người cưỡi ngựa vừa mới đến và đứng đó một lúc mà không ai để ý. Khi trông thấy tên lính Vendée giơ cao thanh kiếm và khẩu súng lên, ông ta nhảy xổ ngay vào giữa tên này và Gauvain. Không có người đó, Gauvain đã chết rồi. Con ngựa hứng lấy phát đạn, người cưỡi ngựa bị thanh kiếm chém trúng, cả hai đều ngã xuống. Tất cả sự việc diễn nhanh vừa kịp cho người kia kêu lên một tiếng.

Tên lính Vendée lúc ấy đã gục xuống bên lề đường.

Nhát kiếm đã chém trúng giữa mặt người cưỡi ngựa; ông ta ngã xuống bất tỉnh. Con ngựa chết ngay.

Gauvain lại gần.

- Người này là ai? - Ông ta hỏi.

Ông ta nhìn kỹ. Máu trên vết thương chảy như xối làm cho mặt người bị thương thành một cái mặt nạ đỏ ngầu. Khó mà biết được rõ mặt người đó. Chỉ nhìn thấy mái tóc màu xám.

- Người này đã cứu ta - Gauvain nói tiếp - Có ai ở đây biết ông ta không?

- Thưa chỉ huy - Một người lính nói - Người này vừa mới vào thành phố được một chốc. Tôi trông thấy ông ta đến.

Ông ta từ đường Pontorson tới.

Viên sĩ quan quân y chạy lại với hộp đồ cấp cứu. Người bị thương vẫn mê man bất tỉnh. Y sĩ khám nghiệm và bảo:

- Một vết thương xoàng thôi. Không việc gì. Có thể liền lại được. Trong vòng tám hôm, ông ta sẽ đi lại được. Một nhát kiếm thật cừ.

Người bị thương mặc áo choàng, mang thắt lưng màu tam tài, có đôi súng lục và một thanh kiếm. Người ta đặt nằm trên một chiếc cáng rồi cởi áo ra. Người ta đem đến một gàu nước lã, y sĩ rửa sạch vết thương, bộ mặt dần dần rõ ra. Gauvain nhìn ông ta rất chăm chú.

- Ông ta có giấy tờ gì không? - Gauvain hỏi.

Y sĩ lần tay vào một bên túi rút ra một chiếc ví đưa cho Gauvain.

Vừa lúc đó, người bị thương nhờ có nước lạnh đã hồi lại. Mi mắt ông ta hơi động đậy.

Gauvain lục chiếc ví của ông ta, thấy một tờ giấy gấp tư, mở ra, đọc:

"Ủy ban cứu quốc. Công dân Cimourdain..."

Gauvain kêu lên một tiếng:

- Cimourdain!

Tiếng kêu ấy làm cho người bị thương mở mắt ra.

Gauvain cuống quít.

- Cimourdain! Thầy ư! Đây là lần thứ hai thầy đã cứu tôi.

Cimourdain nhìn Gauvain. Một niềm vui không tả xiết ánh lên trên bộ mặt đẫm máu của ông ta.

Gauvain quỳ xuống trước mặt người bị thương, thốt lên:

- Thầy tôi!

- Cha của con. - Cimourdain nói.

V
Giọt nước lạnh

Đã bao nhiêu năm họ không được gặp nhau, nhưng lòng họ nào có bao giờ rời nhau; họ nhận ra nhau ngay tưởng như mới chia tay ngày hôm qua.

Người ta đã tổ chức ngay một y xá ở tòa thị chính phố Dol. Người ta đặt Cimourdain nằm trên một chiếc giường trong một căn phòng nhỏ thông sang gian phòng lớn của thương binh. Y sĩ phẫu thuật đã khâu xong vết thương, buộc hai người chấm dứt việc thổ lộ tâm tình và khuyên nên để Cimourdain ngủ. Vả lại, Gauvain còn bận trăm công nghìn việc, mà đều là những nhiệm vụ, những vấn đề do cuộc chiến thắng nảy ra. Còn Cimourdain nằm lại một mình; nhưng ông ta không ngủ; ông ta đang trong hai cơn sốt, một cơn sốt vì vết thương, một cơn sốt vì sung sướng.

Ông ta không ngủ nhưng cũng không phải là tỉnh. Có thể như thế được không? Giấc mộng của ông ta đã thành sự thực. Cimourdain thuộc hạng người không tin ở sự may mắn, tình cờ, thế mà nay ông lại gặp may. Ông đã tìm thấy Gauvain. Xa nhau khi anh ta còn nhỏ, gặp nhau thấy anh ta đã thành người; ông ta thấy Gauvain ngày nay đã lớn lên, đáng sợ, dũng cảm. Ông ta gặp lại Gauvain kẻ chiến thắng và chiến thắng vì nhân dân. Tại vùng Vendée này, Gauvain là điểm tựa của cách mạng, và chính ông, Cimourdain đã tạo nên cái trụ cột ấy cho nền cộng hòa. Kẻ thắng trận ấy là học trò của ông. Cái mà Cimourdain thấy rạng rỡ trên gương mặt trẻ trung kia, rồi đây có thể được đưa vào điện Panthéon của nước cộng hòa, đó là tư tưởng của mình, của chính bản thân ông; người học trò của ông, con đẻ trí tuệ của ông, giờ đây đã thành một vị anh hùng và ít lâu sẽ đạt tới đỉnh vinh quang. Cimourdain tưởng như chính tâm hồn mình đã hóa thành siêu phàm. Ông ta đã trông thấy tận mắt Gauvain chỉ huy chiến đấu như thế nào, ông ta cũng giống như Chiron 8 được tận mắt nhìn thấy Achille trong chiến đấu. Đây là mối quan hệ bí ẩn giữa ông thầy tu và con xăng-tô, bởi vì thầy tu chỉ có nửa phần xác là người thôi.

Những chuyện bất ngờ vừa qua, lại thêm bị mất ngủ vì vết thương, làm cho Cimourdain như trào lên một niềm say sưa bí ẩn. Một vận mệnh trẻ trung đang vươn lên, lộng lẫy, và điều làm Cimourdain vui thêm là ông ta có toàn quyền đối với vận mệnh ấy. Chỉ cần thêm một chiến thắng như chiến thắng vừa qua là Cimourdain sẽ chỉ nói một tiếng là chính phủ cộng hòa trao ngay cho Gauvain một quân đoàn. Không có gì choáng váng bằng sự ngạc nhiên thấy tất cả đều thành công. Đó là thời mà mỗi con người đều nuôi một giấc mộng về quân sự. Ai cũng muốn gây dựng nên một đại tướng. Danton thì muốn gây dựng cho Westermann, Marat thì muốn gây dựng cho Rossignol, Hébert thì muốn gây dựng cho Ronsin, còn Robespierre thì lại muốn dìm tất cả những người ấy. Tại sao lại không thể là Gauvain? Cimourdain tự hỏi như vậy. Và ông ta nghĩ ngợi. Một tiền đồ không giới hạn đang mở ra trước mắt ông. Ông ta đi từ giả thiết này đến giả thiết khác. Bao nhiêu những chướng ngại đều biến cả, một khi người ta đã đặt chân lên cái thang danh vọng ấy thì không khi nào dừng lại, người ta sẽ tiến lên, không ngừng, đi từ con người bình thường để tới vì sao sáng lạn. Một đại tướng chỉ là người chỉ huy các quân đoàn; một thủ lĩnh quân sự vĩ đại phải đồng thời là một nhà lãnh đạo tư tưởng. Cimourdain mơ ước Gauvain sẽ trở thành một thủ lĩnh vĩ đại. Giấc mơ thoáng qua nhanh, Cimourdain tưởng như trông thấy Gauvain đang đánh đuổi quân Anh trên biển cả; đang trừng phạt các vua phương bắc trên sông Rhin; đang đẩy lùi Tây Ban Nha ở vùng núi Pyrénées; đang đứng trên đỉnh Alpes ra hiệu cho dân thành La Mã nổi dậy, trong Cimourdain có hai con người, một con người có tình và một con người u uất; cả hai đều thỏa mãn. Vì cứng rắn là lý tưởng của ông, nên đối với ông, Gauvain vừa oai hùng vừa đáng sợ. Cimourdain đang nghĩ đến những cái cần phải hủy diệt đi trước khi xây dựng, và ông nghĩ rằng, lúc này không phải lúc biểu lộ tình cảm, Gauvain người có "tầm vóc thời đại", như bấy giờ người ta thường nói. Cimourdain hình dung Gauvain nghiền nát dưới chân mình những bóng tối của thời đại, bao bọc trong ánh hào quang, trên đầu rực rỡ sao băng, dang rộng đôi cánh lý tưởng của công lý, của lẽ phải, của tiến bộ, với một thanh kiếm trong tay, thiên thần nhưng sứ mệnh là hủy diệt.

Trong lúc đang ngây ngất trong giấc mơ qua cánh cửa hé mở, ông thoáng nghe người ta đang nói chuyện ở phòng quân y bên cạnh, ông nhận ra tiếng của Gauvain. Cimourdain lắng nghe. Có tiếng chân bước. Tiếng một vài người lính hỏi:

- Thưa chỉ huy, chính tên này đã bắn vào ngài. Trong khi không ai trông thấy, hắn đã lê vào một cái hầm rượu. Chúng tôi đã tìm được hắn. Chính hắn đấy.

Rồi Cimourdain nghe được mẩu chuyện giữa Gauvain và người kia.

- Anh bị thương à?

- Tôi bị thương nhưng còn đủ sức khỏe để cho các ông đem bắn.

- Đặt người này nằm vào giường. Hãy băng bó cho anh ta, săn sóc anh ta, chữa cho anh ta.

- Tôi muốn chết.

- Anh sẽ sống. Nhân danh vua, anh đã muốn giết ta; nhân danh thể chế cộng hòa, ta tha cho anh.

Một nét buồn thoáng qua trên vầng trán Cimourdain. Ông ta như giật mình tỉnh giấc và lẩm bẩm một cách não nùng bi đát:

- Quả là một người khoan hồng.

VI
Vết thương khỏi, nhưng trái tim vẫn rướm máu

Một vết rạch ở mặt cũng chóng khỏi; nhưng ở nơi khác còn có một người bị thương nặng hơn Cimourdain nữa. Đó là người đàn bà bị bắn đã được lão ăn mày Tellmarch nhặt được trong cái ao ở trại Herbe-en-Pail.

Vết thương của chị Michelle Fléchard nguy hiểm hơn Tellmarch tưởng, cùng với lỗ thủng phía trên vú còn có lỗ thủng xương bả vai. Cùng một lúc với viên đạn làm gãy xương quai xanh, một viên đạn khác xuyên qua vai. Tuy nhiên, nhờ phổi không hề gì nên chị ta có thể khỏi được. Tellmarch là một "ông thầy", dân quê gọi thế, có nghĩa là lão biết một ít về thuốc, một ít về mổ xẻ, và một ít về tà thuật. Lão săn sóc người đàn bà bị thương trong cái hang thú của lão, trên cái ổ bằng rong biển với các thứ bí mật mà người ta gọi là thuốc vặt, và nhờ lão mà chị Fléchard đã sống.

Xương quai xanh nối liền lại được, vết thương ở ngực và vai đã kín lại. Sau một tuần, người đàn bà đã bình phục.

Một buổi sáng, chị ta tựa vào lão Tellmarch bước được ra khỏi hang thú. Chị ta đến ngồi sưởi nắng dưới gốc cây. Tellmarch biết về chị ta rất ít, vết thương trên ngực chị đòi hỏi phải im lặng, và từ lúc gần như hấp hối cho tới khi khỏi bệnh, chị ta mới chỉ nói được đôi ba tiếng. Khi chị ta muốn nói thì Tellmarch lại bắt chị ta phải im; những lúc ấy, chị ta mơ màng có vẻ bướng bỉnh, và Tellmarch nhận thấy trong con mắt chị ta nhiều ý nghĩa xót xa đang day dứt. Buổi sáng hôm đó, chị ta đã khỏi gần như có thể bước đi được một mình. Lão Tellmarch chất phác đã chạy chữa cho chị ta như tình cha con lúc này sung sướng nhìn chị mỉm cười, nói:

- Người ta đứng được rồi. Người ta chẳng còn thương tích nữa.

- Còn ở trong lòng. - Chị ta bảo.

Rồi chị ta nói tiếp:

- Thế là cụ không biết chúng nó ở đâu ư?

- Ai kia? - Tellmarch hỏi.

- Các con tôi.

Tiếng "thế là" ấy nói lên biết bao nhiêu ý nghĩa, điều đó có nghĩa là "cụ chẳng nói gì về các con tôi, bao nhiêu ngày cụ ở bên cạnh tôi mà không cho tôi mở miệng nhắc đến chúng nó, cụ không cho tôi nói năng gì mỗi khi tôi muốn phá tan không khí im lặng, cụ có vẻ sợ tôi nhắc đến chúng nó, như thế nghĩa là cụ chẳng có điều gì để nói với tôi về chúng nó". Nhiều lúc, trong cơn sốt, trong cơn mê sảng, chị ta đã gọi con và chị ta đã thấy rõ, vì trong cơn mê, người ta vẫn nhận xét, lão già không trả lời gì chị cả.

Vì quả thật, Tellmarch cũng chẳng biết nói gì với chị. Mà cũng chẳng dễ gì nói chuyện với một bà mẹ về những đứa con mất tích của người ta. Với lại, lão biết gì? Chẳng biết gì hết. Lão chỉ biết rằng một người mẹ đã bị bắn, người mẹ đó lão đã trông thấy nằm trên đất, khi lão đem về nhà thì gần như một cái xác không hồn, cái xác ấy có ba đứa con mà lão hầu tước De Lantenac, sau khi sai bắn người mẹ, đã bắt chúng đem đi. Tất cả tin tức lão nhặt được mới chỉ có thế. Những đứa trẻ ấy giờ ra sao? Có còn sống không? Hỏi han mãi, lão cũng chỉ biết rằng trong ba đứa trẻ, có hai đứa con trai và một đứa con gái vừa mới cai sữa. Chẳng còn biết gì hơn nữa. Lão đã tự đặt bao nhiêu câu hỏi về lũ trẻ không may ấy, nhưng lão không thể giải đáp được. Dân địa phương mà lão hỏi thăm cũng chỉ biết lắc đầu. Đức ông De Lantenac là một người mà người ta không thích nói động đến.

Người ta không thích nói đến Lantenac và người ta cũng không thích nói chuyện với Tellmarch. Dân quê thường có cái lối ngờ vực riêng của họ. Họ không thích Tellmarch. Lão ăn mày Tellmarch là một người đáng ngại. Có việc gì mà lão cứ luôn luôn nhìn lên trời? Và hàng giờ không nhúc nhích như vậy thì lão làm gì và lão suy nghĩ gì? Quả là kỳ dị. Trong cái xứ đang chiến tranh, đang xung đột, đang thiêu đốt, nơi mà tất cả mọi người chỉ có một chuyện là tàn phá, chỉ có một việc là chém giết, trong cái xứ mà người ta đua nhau đốt nhà, cắt cổ cả một gia đình, tàn sát cả một đồn lính, làm cỏ cả một thôn xóm, trong cái xứ mà người ta chỉ nghĩ chuyện phục kích, lừa nhau vào cạm bẫy và chém giết lẫn nhau, thì cái lão già cô độc ấy cứ mải mê với trời đất, chìm đắm trong cái yên tĩnh mênh mông của cảnh vật, đi hái các thứ cây cỏ, chỉ bận bịu với hoa lá, chim chóc và trăng sao, cái lão ấy nhất định là kẻ nguy hiểm. Rõ ràng, lão ta không có lý trí; lão chẳng phục kích, cũng chẳng bắn vào ai. Do đó mà đối với lão người ta thấy sờ sợ.

- Lão ấy điên đấy! - Những người qua đường thường bảo thế.

Vì vậy, Tellmarch không chỉ là con người cô độc mà là một con người bị xa lánh.

Không ai hỏi lão một lời, và người ta cũng ít khi trả lời lão. Vì vậy lão đã không hỏi han được tất cả những điều lão cần biết. Chiến tranh đã lan đi nơi khác, người ta đã đi đánh nhau ở nơi xa, lão hầu tước De Lantenac đã mất hút ở phương nào rồi và trong tâm trạng Tellmarch lúc đó muốn cho lão biết là có chiến tranh thì chiến tranh phải đặt chân lên người lão.

Sau tiếng "các con tôi", lão Tellmarch thôi không mỉm cười nữa và người mẹ kia lại nghĩ ngợi. Cái gì xảy ra trong tâm hồn người mẹ ấy? Chị ta như chìm dưới đáy vực thẳm. Đột nhiên, chị ta nhìn lão Tellmarch và lại thét lên, giọng nói gần như căm giận:

- Các con tôi!

Lão Tellmarch cúi đầu xuống như một kẻ phạm tội.

Lão đang nghĩ đến tên hầu tước De Lantenac, nhưng hắn thì chắc hẳn không tưởng gì đến lão và rất có thể, hắn cũng không biết là có lão nữa. Lão nhận ra điều đó và tự nhủ thầm: "Bọn lãnh chúa, khi nguy biến thì họ biết đến mình; thoát nạn rồi thì họ chẳng biết mình là ai".

Và lão lại tự hỏi: "Nhưng thế thì tại sao ta lại cứu cái tên lãnh chúa kia?"

Rồi lão lại tự trả lời: "Vì đó là một con người".

Tới đó, lão lại suy nghĩ thêm giây lát, rồi lại hỏi mình: "Có chắc thế không?"

Rồi lão lại tự nhắc lại câu nói chua chát:

- Nếu ta biết trước!

Tất cả câu chuyện này đè trĩu lên lão; vì cái điều lão đã làm, lão thấy như có một cái gì bí ẩn. Lão càng nghĩ càng thấy đau đớn. Vậy ra làm một điều thiện có khi lại hóa ra làm điều ác. Cứu con sói là giết con cừu. Chắp cánh cho con diều hâu thì phải chịu trách nhiệm về vuốt nhọn của nó.

Quả là lão cảm thấy mình có tội. Nỗi giận dữ vô tình của người mẹ ấy là đúng.

Tuy thế, việc cứu sống người đàn bà này cũng an ủi lão về việc đã cứu tên hầu tước.

Nhưng còn những đứa trẻ?

Người mẹ cũng đang nghĩ ngợi. Hai dòng tư tưởng ấy xuôi chảy bên cạnh nhau và, tuy không thổ lộ ra, nhưng hẳn đã gặp gỡ nhau trong cơn suy tưởng âm thầm.

Nhưng rồi người mẹ lại nhìn chăm chắm vào lão Tellmarch, cái nhìn thăm thẳm âm u.

- Có lẽ nào mà lại xảy ra cơ sự này. - Chị ta nói.

- Suỵt! - Lão Tellmarch đặt một ngón tay lên miệng ra hiệu.

Chị ta vẫn nói:

- Cụ cứu tôi là sai rồi, tôi giận cụ lắm. Tôi muốn chết đi, vì chết thì chắc sẽ gặp chúng nó. Tôi sẽ biết chúng ở đâu. Chúng sẽ chẳng thấy tôi, nhưng tôi sẽ ở bên cạnh chúng nó. Chết đi thì còn có thể che chở cho chúng.

Lão cầm lấy tay chị ta và bắt mạch.

- Bình tĩnh lại đi, không khéo lại lên cơn sốt đấy.

Chị ta hỏi lão, giọng hơi xẵng:

- Bao giờ thì tôi có thể ra đi được?

- Chị ra đi à?

- Vâng. Đi.

- Nếu biết điều, thì mai đi được. Nếu không, thì chưa biết bao giờ.

- Biết điều nghĩa là thế nào?

- Nghĩa là tin ở Chúa.

- Chúa! Chúa đã đem các con tôi đi đâu?

Rồi chị ta nhớn nhác. Giọng nói trở nên hết sức dịu dàng.

- Cụ hiểu cho - Chị ta nói - Tôi không thể cứ như thế này. Cụ không có con, nhưng tôi đã có chúng nó. Khác nhau lắm. Người ta không thể phán đoán về một việc khi người ta không biết nó là cái gì. Cụ không có con cái gì, phải không?

- Không - Lão Tellmarch trả lời.

- Còn tôi, tôi chỉ có các con tôi thôi. Không có chúng nó, tôi có còn là tôi nữa không? Tôi muốn người ta giải thích cho tôi biết tại sao bây giờ tôi lại không có các con của tôi. Tôi cảm thấy như có một việc gì đã xảy ra vì tôi không hiểu được. Người ta giết chồng tôi, người ta bắn tôi, nhưng biết vậy thôi, tôi chẳng hiểu sao cả.

- Thôi - Lão Tellmarch bảo - Lại lên cơn sốt rồi. Đừng nói nữa.

Chị ta nhìn lão, rồi im lặng.

Từ hôm đó, chị ta không nói gì nữa.

Tellmarch được người ta nghe theo quá cả ý muốn của mình. Chị ta ngồi hàng giờ dưới chân tường xiêu vẹo vẻ mặt đờ đẫn, chị mơ màng và lặng thinh. Sự im lặng thường an ủi được những tâm hồn bình dị khi gặp cảnh vô cùng đau đớn, thâm trầm và bi thảm. Chị ta hình như không muốn hiểu biết gì nữa. Đến một độ nào đó, người thất vọng không hiểu nổi sự thất vọng của mình nữa.

Lão Tellmarch nhìn chị ta, cảm động. Trước cảnh đau thương ấy, con người già lão kia có những ý nghĩ như đàn bà. Phải rồi! Lão tự nhủ. Mồm chị ta không nói nhưng đôi mắt đã nói thay, ta biết chị ấy chỉ có một định kiến. Chị đã từng làm mẹ, đã từng nuôi con. Chị ta không thể cam chịu được. Chị ta nhớ cái con bé mà cách đây không bao lâu chị còn cho bú. Chị ta nhớ nó, nhớ nó, nhớ nó.

Thực vậy, còn gì thú vị bằng khi một cái miệng con trẻ bé xíu đỏ hồng nó lôi kéo tâm hồn ta từ trong da thịt ta ra, và nó biến cái sống của ta thành cái sống của nó.

Về phần lão, Tellmarch cũng lặng thinh và hiểu rằng trước một nỗi tuyệt vọng như thế, lời nói nào cũng bất lực. Khi người ta có một định kiến thì sự im lặng thật là đáng sợ. Và khi một người mẹ đã có một định kiến thì làm thế nào cho họ nghe theo lẽ phải được? Tình mẫu tử là khăng khăng một mực: không thể bàn cãi gì nữa. Cái gì làm cho một người mẹ được cao siêu, chính là vì người mẹ là một người có thú tính, có thú tính một cách kỳ diệu. Người mẹ không còn là người đàn bà nữa, họ là giống cái.

Những đứa con cũng là những con vật nhỏ.

Do đó, trong người mẹ có một cái gì vừa thấp lại vừa cao hơn lý trí. Người mẹ có một cái khiếu đánh hơi rất thính. Cái ý chí bao la, mù mịt của tạo hóa nằm trong người mẹ và điều khiển họ. Mù quáng nhưng rất minh mẫn.

Lúc này, lão Tellmarch muốn làm sao cho người đàn bà khốn khổ kia nói lên; nhưng không làm thế nào được. Một lần, lão nói với chị ta:

- Khốn khổ, lão già rồi, lão không bước nổi nữa. Đi chưa cùng đường thì lực đã tận. Chỉ đi một khắc là chân đã chùn lại, thế là lão phải nghỉ; nếu không, lão có thể sẽ cùng đi với chị. Kể ra thì lão không đi được lại là cái hay. Đi với chị, có lẽ lão giúp chị thì ít mà gây nguy hiểm cho chị thì nhiều. Ở đây, người ta làm lơ cho lão; nhưng gặp bọn Xanh, chúng sẽ nghi lão là dân quê phiến loạn và gặp dân quê thì họ lại nghi lão là phù thủy.

Lão chờ đợi xem chị ta trả lời thế nào. Chị ta cũng chẳng buồn ngước mắt nhìn lên nữa.

Một định kiến thường dẫn đến sự điên rồ hoặc đến hành động anh hùng. Nhưng một người đàn bà quê mùa khốn khổ kia có thể có được hành động anh hùng gì? Chẳng có gì hết. Chị ta có thể làm mẹ, và thế thôi. Mỗi một ngày qua, chị ta lại chìm sâu hơn vào trong cơn mơ tưởng. Lão Tellmarch vẫn theo dõi chị ta.

Lão tìm cách làm cho chị ta có việc; lão đem cho chị ta kim chỉ, một cái khâu tay; kết quả là chị ta bắt đầu may vá, điều ấy làm cho lão vui lòng; chị ta vẫn nghĩ ngợi, nhưng chị ta làm việc, đó là dấu hiệu sức khỏe đã hồi phục; chị ta ngày càng khỏe lên; chị ta vá quần áo, vá ; nhưng mắt chị vẫn lờ đờ. Vừa may vá, chị ta vừa cất tiếng hát nho nhỏ, âm thầm. Chị ta lẩm bẩm những tên người, rất có thể là tên mấy đứa trẻ, nhưng tiếng không rõ lắm, lão Tellmarch không thể nghe được. Có lúc chị bỗng ngừng lại và lắng nghe tiếng chim kêu như là đàn chim sắp mách tin gì mới vậy. Chị ta theo dõi thời tiết. Đôi môi chị mấp máy. Chị ta nói lẩm bẩm một mình. Chị ta khâu một cái túi và chứa đầy hạt dẻ. Một buổi sáng, lão Tellmarch thấy chị ta ra đi, vơ vẩn nhìn đăm đăm vào những nơi sâu thẳm của núi rừng.

- Chị đi đâu? - Lão hỏi.

Chị ta trả lời:

- Tôi đi tìm chúng nó.

Lão cũng không tìm cách giữ chị ta lại nữa.

VII
Hai cực của chân lý

Sau một vài tuần lễ nhộn nhịp của cuộc nội chiến, trong vùng rừng Fougères chỉ còn nghe nói về chuyện hai người trái ngược nhau, nhưng lại cùng làm một nhiệm vụ, nghĩa là cùng đứng về phe cách mạng, chiến đấu bên nhau.

Cuộc đọ sức man rợ ở Vendée vẫn tiếp tục nhưng phái bảo hoàng đã thất bại. Riêng khu vực Ille-et-Vilaine, nhờ người chỉ huy trẻ tuổi trên mặt trận Dol đã đem cái gan dạ của nghìn rưỡi người chiến sĩ yêu nước chiến thắng cái gan dạ của sáu nghìn người bảo hoàng, cho nên cuộc nổi loạn, nếu không nói là tắt hẳn thì cũng đã hết sức giảm sút và hết sức bị giới hạn. Người chỉ huy trẻ tuổi ấy đã thu được nhiều thắng lợi kế tiếp theo đó và từ những thắng lợi liên tiếp nảy ra một tình huống mới.

Cục diện đã đổi thay, nhưng một sự rắc rối đặc biệt lại xảy ra.

Trong khắp vùng này của miền Vendée, nền cộng hòa đã thắng, đó là điều không còn nghi ngờ gì nữa; nhưng nền cộng hòa nào, cuộc chiến thắng vừa tạo nên đã xuất hiện hai hình thái cộng hòa, cộng hòa khủng bố và cộng hòa khoan hồng, một bên muốn chiến thắng bằng tàn khốc và một bên chủ trương chiến thắng bằng nhân từ. Bên nào hơn? Hai hình thái đó mà đại biểu là hai người, một người thì muốn giải quyết ôn hòa, một người thì không hề khoan nhượng, mỗi người đều có một phạm vi ảnh hưởng và quyền thế của mình, người này là chỉ huy quân sự, người kia đại diện chính phủ; trong hai người đó, ai là kẻ sẽ thắng? Trong hai người đó thì người đại diện chính phủ có những chỗ dựa rất lớn; ông ta đến công cán trong các tiểu đoàn của Santerre mang theo mệnh lệnh đáng sợ của Công xã Paris: "Không dung tha, không để sống sót". Để khuất phục tất cả dưới quyền lực của mình, ông ta lại có thêm sắc lệnh của Viện Quốc ước là "xử tử hình tất cả những ai tự ý tha hoặc để cho một tên cầm đầu bọn phiến loạn thoát ngục", được Ủy ban cứu quốc giao cho toàn quyền hành động và một mệnh lệnh bắt mọi người phải tuân theo ông ta, mang chữ ký ROBESPIERRE, DANTON, MARAT. Người kia là quân nhân, chỉ có cái sức mạnh là lòng thương người.

Ông ta chỉ có hai cánh tay đập tan kẻ thù và một tấm lòng để tha thứ cho họ. Là kẻ chiến thắng, ông ta tưởng mình có đủ quyền tha cho kẻ chiến bại.

Do đó nảy ra một sự xung đột ngấm ngầm, nhưng sâu sắc giữa hai người. Hai người là hai đám mây khác nhau, cả hai đều chiến đấu chống bọn phiến loạn, nhưng mỗi bên mang theo một luồng sấm sét riêng, bên này là chiến thắng, bên kia là khủng bố.

Khắp miền Bocage người ta chỉ bàn tán đến họ và điều làm cho mọi người thêm lo âu là hai người đó tuy hết sức đối lập nhau nhưng đồng thời lại gắn bó với nhau rất chặt chẽ. Hai đối thủ đó lại là hai người bạn thân thiết. Không có thứ cảm tình cao thượng, sâu xa nào có thể làm cho hai trái tim gần gũi nhau hơn thế; con người dữ tợn đã cứu sống con người hiền lành, do đó ông ta mang một vết sẹo dài trên mặt. Hai người đó là hiện thân của cái chết và sự sống; một bên là nguyên tắc khủng khiếp bên kia là nguyên tắc ôn hòa và họ yêu thương nhau. Vấn đề thật lạ lùng. Ta hãy hình dung Oreste từ bi với Pylade hà khắc 9 . Đó cũng là ông Thiện anh em với ông Ác 10 .

Cần nói thêm rằng một trong hai người ấy mà người ta gọi là ông "ác", lại huynh đệ bác ái hơn mọi người; ông ta băng bó cho những kẻ bị thương, săn sóc những người đau yếu, ngày đêm miệt mài trong những xe quân y và trong bệnh viện, xúc động khi thấy các em nhỏ chân không có, ông không giữ gì riêng cho mình, hiến tất cả cho những người nghèo khổ. Ông ta xông xáo vào nơi trận địa, đi hàng đầu đơn vị và giữa trận đánh ác liệt, người ông vũ trang đầy đủ giắt bên thắt lưng một thanh gươm và hai khẩu súng lục, mà như không vũ trang gì hết, vì không bao giờ người ta thấy ông rút kiếm hoặc đụng đến súng. Ông ta đương đầu với gươm đạn nhưng không đánh trả lại ai. Người ta đồn trước kia ông là thầy tu.

Hai người đó, một là Gauvain, một là Cimourdain.

Đó là tình thân ái giữa hai con người và sự thù địch giữa hai nguyên tắc; thật là một tâm hồn cắt làm đôi và chia xẻ. Gauvain đã tiếp thu một nửa tâm hồn của Cimourdain, nhưng đó là cái nửa hiền từ. Hình như Gauvain đã tiếp nhận cái phần trắng, còn Cimourdain thì giữ lại cái phần đen cho mình. Do đó đã xảy ra sự bất hòa sâu kín. Cuộc xung đột âm thầm đó không thể không nổ ra. Một buổi sáng họ đã khai chiến.

Cimourdain nói với Gauvain:

- Hiện nay tình hình đến đâu rồi?

Gauvain trả lời:

- Thầy cũng biết rõ như tôi. Tôi đã đánh tan các bè lũ Lantenac. Hắn chỉ còn một nhúm người, hắn đã bị dồn vào khu rừng Fougères. Trong tám hôm nữa hắn sẽ bị vây chặt.

- Và mười lăm hôm nữa thì sao?

- Hắn sẽ bị bắt.

- Rồi sao nữa?

- Thầy đã thấy tờ tuyên cáo của tôi chưa?

- Rồi. Nhưng thế nào nữa?

- Hắn sẽ bị xử bắn.

- Vẫn còn khoan hồng, phải cho nó lên máy chém.

- Tôi thì, tôi xử tử theo cách nhà binh. - Gauvain nói.

- Và ta, ta sẽ xử tử theo lối cách mạng. - Cimourdain đáp lại.

Rồi Cimourdain nhìn thẳng vào Gauvain và hỏi:

- Tại sao anh lại sai thả bọn cô mụ ở nhà tu kín Saint-Marc-le-Blanc?

- Tôi không đánh nhau với đàn bà. - Gauvain trả lời.

- Bọn đàn bà ấy thù địch với nhân dân. Và đã là kẻ thù thì một người đàn bà bằng mười người đàn ông. Tại sao anh lại không chịu đưa ra Tòa án cách mạng cái lũ thầy tu cuồng tín đã bị bắt ở Louvigné?

- Tôi không đánh nhau với những người già.

- Một tên thầy tu già tệ hơn một tên trẻ. Cuộc nổi loạn sẽ nguy hiểm hơn nếu do bọn đầu bạc ấy thuyết giáo. Người ta tin ở những nếp da nhăn nheo, Gauvain ạ, không nên có cái lối thương hại không phải cách. Những kẻ giết vua chính là những người giải phóng cho dân tộc. Phải theo dõi tháp Temple.

- Tháp Temple ư? Tôi sẽ giải thoát thái tử khỏi tháp ấy. Tôi không đánh nhau với trẻ nhỏ.

Mắt Cimourdain trở nên nghiêm khắc.

- Gauvain, anh nên biết rằng cần đánh nhau với đàn bà khi người đàn bà ấy tên là Marie - Antoinette 11 , đánh nhau với người già khi hắn là giáo hoàng Pie VI 12 , đánh nhau với đứa trẻ khi nó là Louis Capet.

- Thưa thầy, tôi không phải là nhà chính trị.

- Nhưng hãy cố gắng đừng trở thành một kẻ nguy hiểm. Tại sao khi tấn công đồn Cossé, lúc tên phản nghịch Jean Treton cùng đường mạt lộ, một mình cầm gươm đâm xổ ra chống với cả một đoàn quân, anh đã hô: Đội ngũ tản ra. Cho nó chạy?

- Bởi vì không ai lại dùng một nghìn rưỡi người để giết một người.

- Tại sao ở Astillé, khi thấy đồng đội sắp giết tên phiến loạn Joseph Bézier bị thương đương kéo lê dưới đất, anh lại hô: Tiến lên! Việc đó mặc ta! Và anh đã bắn một phát súng chỉ thiên?

- Vì không ai lại đi giết một người đã ngã xuống.

- Thế là anh đã sai lầm. Hiện nay cả hai tên ấy đang chỉ huy những toán quân phiến loạn; Joseph Bézier chính là tên Hai Râu và Jean Treton chính là tên Chân-Bạc. Cứu sống hai tên đó, anh đã tạo nên hai kẻ tử thù cho nền cộng hòa.

- Thật ra, tôi muốn tạo cho nền cộng hòa những người bạn chứ không phải là những kẻ thù.

- Tại sao, sau chiến thắng ở Landéan, anh lại không cho đem bắn ba trăm tên dân quê bị bắt làm tù binh?

- Bởi vì Bonchamp đã tha tù binh cộng hòa, tôi muốn người ta cũng nói được rằng bên cộng hòa cũng khoan hồng đối với tù binh bảo hoàng.

- Vậy thì, nếu anh bắt được Lantenac, anh sẽ thả nó chứ?

- Không.

- Tại sao? Anh đã thả ba trăm dân quê phiến loạn kia mà?

- Dân quê là những kẻ dốt nát; còn Lantenac thì biết rõ việc hắn làm.

- Nhưng Lantenac là thân thích của anh?

- Nước Pháp còn thân gấp bội.

- Lantenac là một người già.

- Lantenac là kẻ ngoại lai. Lantenac không có tuổi. Lantenac cầu viện quân Anh. Lantenac là kẻ ngoại xâm. Lantenac là kẻ thù của tổ quốc. Cuộc đọ gươm giữa hắn và tôi chỉ có thể kết thúc nếu hắn chết, hoặc tôi chết.

- Gauvain, anh hãy nhớ lấy lời đó.

- Tôi đã nói thế rồi.

Một lát im lặng, và cả hai đều nhìn nhau.

Rồi Gauvain lại tiếp:

- Cái năm 93 này sẽ là một năm được ghi lại bằng máu.

- Hãy cẩn thận! - Cimourdain kêu lên - Những nhiệm vụ khủng khiếp đang còn. Chớ nên kết tội cái gì không thể kết tội được. Đã bao giờ bệnh hoạn lại là lỗi của thầy thuốc? Phải, đặc điểm của cái năm vĩ đại này chính là ở chỗ không thương xót. Tại sao vậy? Vì đó là một năm của cao trào cách mạng. Cái năm chúng ta đang sống đây chính là hiện thân của cách mạng. Cách mạng có một kẻ thù là chế độ cũ, và cách mạng không thương hại cái chế độ ấy, cũng như nhà phẫu thuật có một kẻ thù là chứng hoại thư, và ông ta không thương hại nó. Cách mạng phải nhổ tận gốc cái chính thể quân chủ trong tên vua, cái lớp thượng lưu trong tên quý tộc, nạn chuyên chế trong bọn võ biền, nạn mê tín trong bọn thầy tu, sự tàn nhẫn trong quan tòa, nói tóm lại, là phải quét sạch cái tàn bạo trong tất cả các tên tàn bạo. Cuộc phẫu thuật thật kinh sợ, và cách mạng đã thực hiện rất vững tay. Làm việc đó phải hy sinh bao nhiêu da thịt lành mạnh hãy thử hỏi Boerhave 13 xem ông ta nghĩ sao. Cắt ung nhọt đi thì bao giờ lại chẳng mất một ít máu? Dập tắt một đám cháy nào đó, có bao giờ lại không phải hy sinh cho nó vài chỗ sát lửa đỏ. Những tất yếu kinh khủng đó là điều kiện của thắng lợi. Nhà phẫu thuật cũng giống như anh đồ tể; một người trị bệnh cũng có thể giống như một đao phủ. Cách mạng phải dốc lòng với sứ mệnh tất yếu của nó. Cách mạng có cắt xẻo đấy, nhưng lại cứu sống. Sao! Anh lại muốn xin cách mạng tha cho loại siêu vi trùng! Anh lại muốn cách mạng khoan dung cho loài nấm độc! Cách mạng không nghe đâu. Cách mạng đã nắm được quá khứ và sẽ kết liễu nó. Cách mạng rạch một vết sâu vào văn minh và từ đó loài người sẽ khỏe mạnh hơn. Anh đau khổ ư? Hẳn rồi. Trạng thái đó sẽ kéo dài bao lâu? Bằng thời gian tiến hành phẫu thuật. Sau đó anh sẽ sống. Cách mạng cắt cái thối nát cho loài người. Do đó, mới có cái năm 93 đẫm máu này.

- Nhà phẫu thuật thì bình tĩnh - Gauvain nói - Nhưng những con người mà tôi trông thấy thì lại hung hãn.

- Cách mạng - Cimourdain đáp lại - cần những bàn tay táo bạo. Nó khước từ những kẻ run tay. Nó chỉ tín nhiệm ở những kẻ thật cứng rắn. Danton là người đáng sợ. Robespierre là người không khuất phục. Saint-Just, con người sắt đá. Marat, không đội trời chung với kẻ thù. Gauvain, anh hãy thận trọng. Những người đó rất cần thiết. Họ có giá trị bằng những quân đoàn. Họ sẽ làm cho cả châu Âu khiếp sợ.

- Và có lẽ rồi cả tương lai cũng phải khiếp sợ họ. - Gauvain đáp.

Ông ta ngừng lại, rồi thêm:

- Vả lại, thưa thầy, thầy đã lầm, tôi không buộc tội ai cả. Theo tôi, cái quan điểm cách mạng chính xác nhất là không ai có trách nhiệm cả. Chẳng có ai vô can mà cũng chẳng có ai là thủ phạm. Louis XVI chỉ là một con cừu bị ném ra giữa đám sư tử. Nó muốn chạy, nó muốn thoát, nó tìm cách tự vệ; nó cắn, nếu có thể. Nhưng không phải ai muốn làm sư tử cũng được. Sự chống chọi nhất thời của nó bị coi là tội ác. Con cừu tức giận nhe răng. Đàn sư tử kêu lên: đồ phản phúc! Và xé xác con cừu. Ăn xong, chúng tại đánh lẫn nhau.

- Con cừu là một con vật.

- Thế những con sư tử, thì là gì?

Câu chất vấn đó đã làm cho Cimourdain suy nghĩ. Ông ta ngửng đầu lên và trả lời:

- Những con sư tử đó là lương tri. Những con sư tử đó là tư tưởng. Những con sư tử đó là nguyên tắc.

- Chúng đã gây ra khủng bố.

- Một ngày kia, cách mạng sẽ thanh minh cho sự khủng bố này.

- Nên lo rằng sự khủng bố ấy lại bôi nhọ cách mạng.

Rồi Gauvain lại tiếp:

- Tự do. Bình đẳng. Bác ái. Là những giáo lý của hòa bình và hòa hợp. Tại sao lại khoác cho nó một bộ mặt đáng sợ? Chúng ta muốn gì? Thu phục các dân tộc vào một chế độ cộng hòa toàn thế giới. Thế thì không nên làm cho họ sợ. Cần gì phải nạt nộ? Các dân tộc cũng như giống chim, không đem con bù nhìn ra mà dứ được đâu. Không nên làm điều ác để làm điều thiện. Lật đổ ngai vàng không phải để giữ lại đoạn đầu đài. Các vua chúa phải chết để cho các dân tộc sống. Lật đổ ngai vàng nhưng phải tha cho mạng người. Cách mạng là sự đồng tâm nhất trí chứ đâu phải là sự khiếp sợ. Những con người thiếu độ lượng đã thực hiện sai những tư tưởng nhân ái. Hai tiếng ân xá theo tôi là một từ đẹp nhất trong ngôn ngữ loài người. Tôi chỉ muốn đổ máu khi máu mình cũng phải đổ. Tóm lại tôi chỉ biết chiến đấu, và tôi chỉ là một quân nhân. Nhưng nếu người ta không thể tha thứ thì chẳng cần chiến thắng để làm gì. Ở mặt trận, chúng ta là kẻ thù của quân thù, nhưng sau khi chiến thắng thì ta và họ là anh em.

- Nên thận trọng! - Cimourdin nhắc lại lần thứ ba - Gauvain, tôi coi anh hơn con đẻ. Nên thận trọng!

Và ông ta nói thêm, dáng nghĩ ngợi:

- Trong thời đại như thời đại chúng ta, lòng thương có thể là một hình thức của phản bội.

Nghe hai người trò chuyện ta tưởng như đây là cuộc đối thoại giữa thanh kiếm và lưỡi rìu.

VIII
Người mẹ đau thương

Trong lúc đó, người mẹ đi tìm con.

Chị ta cứ thẳng trước mặt mà đi. Chị ta sống bằng cách nào? Không thể nói được. Tự chị ta cũng không biết nữa. Chị ta cứ đi ngày này qua đêm khác; chị xin ăn, chị ăn cỏ, nằm đất, ngủ giữa trời, trong bụi cây, dưới đêm sao, một đôi khi dưới mưa và gió rét.

Chị ta lảng vảng làng này qua làng khác, ấp nọ đến ấp kia để dò tin tức. Chị ta dừng lại trước mọi nhà. Chiếc áo ngoài đã rách mướp. Có lúc được người ta tiếp, có khi bị người ta đuổi. Không vào được các nhà thì chị ta lại ra rừng.

Chị ta chẳng hiểu thung thể, mù tịt tất cả, trừ thôn Siscoignard và giáo khu Azé, đi chẳng đúng đường có khi quay lại lối cũ, bắt đầu đi lại quãng đường đã đi qua, đi nhiều quãng đường vô ích. Khi thì lần theo hè phố, có khi theo vết xe bò, có khi theo những con đường mòn trong rừng. Giữa cuộc sống lang thang vô định, chiếc áo tồi tàn của chị ngày càng rách nát. Lúc đầu, chân còn có, dần dần phải đi chân không, rồi đến lúc đôi chân rớm máu.

Chị ta đi qua vùng chiến tranh, qua tên đạn mà không nghe thấy gì, không trông thấy gì, không tìm cách tránh, chỉ tìm con. Khắp nơi loạn lạc chẳng còn đâu có cảnh sát, xã trưởng, chính quyền. Chị ta chỉ biết hỏi thăm người qua lại.

Chị ta hỏi:

- Ông bà có thấy ở đâu đây có ba đứa trẻ không?

Những người qua lại ngửng đầu nhìn chị. Chị ta nói:

- Hai cháu trai, một cháu gái.

Rồi chị ta lại tiếp:

- René-Jean, Gros-Alain, Georgette ấy mà? Ông bà không thấy chúng nó ư?

Chị ta lại thêm:

- Thằng anh lên bốn tuổi rưỡi, còn bé út mới hai mươi tháng.

Chị ta hỏi lại:

- Ông bà có biết chúng nó đâu không? Người ta bắt mất con tôi mà.

Mọi người chỉ biết nhìn chị ta thôi.

Biết không ai hiểu mình, chị ta lại phân trần:

- Chúng nó là con đẻ của tôi mà. Vì thế tôi mới hỏi thăm.

Người ta lại ai đi đường nấy. Chị ta bèn dừng lại, không hỏi han gì nữa và mười ngón tay cứ cào cấu vào ngực.

Tuy nhiên, một hôm một người dân quê dừng lại nghe. Con người tốt bụng ấy suy nghĩ một lúc, rồi nói:

- Xem nào? Ba đứa trẻ à?

- Vâng.

- Hai đứa con trai?

- Và một cháu gái.

- Chị tìm chúng à?

- Vâng.

- Tôi nghe nói có một ông lớn đã bắt ba đứa trẻ đi theo ông ta.

- Người đó ở đâu? - Chị ta kêu lên - Con tôi ở đâu?

Người dân quê trả lời:

- Chị cứ đi đến La Tourgue.

- Có đúng là ở đấy tôi sẽ tìm thấy con tôi không?

- Có thể.

- Ông bảo...?

- La Tourgue.

- La Tourgue là cái gì?

- Là...

- Xóm làng? Lâu đài? Hay là ấp trại?

- Tôi chưa đến đấy bao giờ.

- Có xa không?

- Không gần đâu.

- Ở phía nào?

- Về phía Fougères.

- Đến đấy thì phải qua lối nào?

- Đây là Ventortes - Người dân nói - Chị sẽ bỏ Ernée ở bên trái và Coxelles ở bên phải rồi đi qua Lorchamps và Leroux.

Rồi người dân quê chỉ tay về phía tây.

- Cứ thẳng trước mặt mà đi mãi về phía mặt trời lặn.

Người kia chưa kịp buông tay xuống, chị ta đã vội bước đi.

Người dân quê nói theo chị ta:

- Cẩn thận đấy. Ở đấy họ đang đánh nhau.

Chị ta không quay lại để đáp lời và cứ lủi thủi đi về phía trước.

IX
Nhà ngục ở tỉnh nhỏ

1. La Tourgue

Bốn mươi năm trước đây, ai qua khu rừng Fougères, vào theo lối Laignelet và ra lối Parigné, khi tới ven khu rừng sâu thẳm này sẽ gặp một cảnh tượng thật ảm đạm. Ra khỏi khu rừng rậm thì La Tourgue hiện lên đột ngột trước mặt họ.

Không phải là La Tourgue lúc còn phồn thịnh mà là La Tourgue đã điêu tàn. La Tourgue đã nứt nẻ, thủng dột, sứt mẻ, đổ nát. Một dinh cơ điêu tàn. Không còn quang cảnh nào thê lương hơn thế nữa. Chỉ còn lại một cái tháp tròn cao đứng lẻ loi ở một góc rừng như một tên gian phi. Cái tháp nát dựng trên một khối đá tảng dốc đứng, gần như xây theo kiểu kiến trúc La Mã, trông cũng có vẻ chững chạc và vững chắc; cái khối lực lưỡng ấy là hình ảnh của một cái gì hùng mạnh lẫn với cái điêu tàn. Trông nó gần giống với kiểu kiến trúc La Mã, bởi vì nó thuộc kiểu Roman, khởi công từ thế kỷ thứ chín, và hoàn thành vào thế kỷ thứ mười hai, sau cuộc viễn chinh thập tự thứ ba. Cứ nhìn những cửa tò vò xây bằng đá cũng biết cái tháp ấy dựng vào thời đại nào. Tới gần tháp, leo lên dốc, người ta sẽ nhìn thấy một lỗ tường thủng, chui vào trong thì thấy rỗng không. Nó tựa như một chiếc kèn trận bằng đá đặt đứng trên mặt đất. Trong lòng tòa lâu đài, từ trên xuống dưới nom thông thống, không có mái, không có trần, không có sàn chỉ có những mảnh vòm cuốn và ống khói lò sưởi cùng những khung cửa tạc hình chim ưng; nhìn lên cao, thấy còn sót lại những đàn quạ khắc trong đá hoa cương và mấy cây đà để lại dấu vết những tầng lầu cũ; trên những cây đà ấy đầy cứt chim đêm; tường đồ sộ, dưới chân dầy tới năm mét và trên nóc dầy bốn mét; đây đó, dấu vết những khung cửa cũ còn để lại những lỗ thủng, qua đó có thể nhìn thấy những bậc cầu thang mờ mờ ở mé trong bức tường tối om. Đi vào đây lúc chiều hôm thì người ta nghe tiếng cú mèo, chim huýt gió, sếu và dơi, dưới chân thì toàn gai góc, đá, rắn rết; trên đầu, qua cái vành tròn tối đen của đỉnh tháp giống như một cái miệng giếng lớn, thì thấy trời cao.

Theo truyền thuyết địa phương, trên tầng thượng của tháp có những cửa bí mật bằng một tảng đá lớn như các cửa mộ vua chúa xứ Juda, tảng đá quay xung quanh một cái trục, mở ra rồi khép lại, và lẩn kín vào trong tường; lối kiến trúc này được nhập cảng qua các cuộc viễn chinh thập tự cùng với kiểu kiến trúc hình cung nhọn. Khi các cửa ấy đã đóng thì không tài nào tìm ra được vì nó lẫn với đá xây tường. Ngày nay, người ta còn thấy các cửa ấy trong các đô thị bí ẩn vùng núi Anti-Liban, những đô thị thoát khỏi nạn động đất ở mười hai tỉnh thành dưới thời Tibère.

2. Lỗ tường thủng

Lỗ tường thủng, có thể chui qua để vào di tích hoang tàn này vốn là một lỗ mìn. Với một người nào hiểu cách đánh mìn như các ông Errard, Sardi và Pagan, thì cái lỗ mìn ấy phá rất khéo. Hốc đặt thuốc nổ, hình mũ giáo sĩ, có sức công phá tương đương với sức chịu đựng của tòa tháp mà người ta định phá. Hốc ấy đựng được đến gần hai tạ thuốc nổ. Người ta đi vào bằng một con đường hẻm ngoằn ngoèo tốt hơn đường thẳng; mìn nổ phá khối đá làm lộ ống dẫn mồi lửa, đường kính cỡ quả trứng gà. Sức nổ đã phá bức tường tạo thành một lỗ sâu, đủ cho quân bao vây có thể vào lọt. Qua nhiều thời đại, tháp canh này đã chịu đựng nhiều cuộc bao vây đúng quy cách và mang trên mình nhiều vết thương; các vết đạn ấy không cùng một thời gian; mỗi kiểu đạn in dấu riêng lên mặt thành, từ đạn bằng đá ở thế kỷ mười bốn đến đạn bằng sắt của thế kỷ mười tám - tất cả đã khắc sâu vào tháp canh. Lỗ tường thủng mở đường vào nơi trước đây là tầng cuối cùng của tòa tháp. Đối diện với lỗ tường thủng, mặt tường bên kia lộ ra một cái cửa huyệt, cái huyệt ấy đục trong đá và ẩn sâu dưới chân móng tháp tận phía dưới tầng cuối cùng.

Cái huyệt đó bị lấp đến ba phần tư, năm 1855 nhờ công lao của ông Auguste Le Prévost, nhà nghiên cứu đồ cổ ở Bernay, mới được bới ra.

3. Ngục tối

Huyệt này là một ngục tối. Lâu đài nào cũng có ngục tối. Cũng giống kiểu các hầm hành hình khác xây cùng thời. Huyệt này có hai tầng; tầng trên, qua cửa huyệt vào là một gian phòng xây cuốn khá rộng, ngang tầm với tầng dưới của lâu đài. Trong phòng tường bị cày lên hai đường song song với nhau từ bên này sang bên kia qua cả vòm trần, vết hằn rất rõ khiến ta liên tưởng đến hai vết bánh xe. Quả thật, chính là hai vết bánh xe. Chính là hai bánh xe đã đào thành hai cái rãnh đó. Xưa kia, dưới thời phong kiến, chính phòng này là nơi hành hình xé xác bằng một phương pháp ít huyên náo hơn lối ngựa xé. Ở đây có hai bánh xe vừa khỏe vừa lớn đến nỗi chạm sát tường và vòm trần; người ta buộc vào mỗi bánh xe một chân và một tay kẻ bị hành hình, rồi người ta quay hai bánh xe ngược chiều nhau, xé xác người ấy ra. Phải quay thật mạnh để bánh xe chạm vào đá ở chỗ nào thì đào thành rãnh ở chỗ đó. Ngày nay, ở lâu đài Vianden vẫn còn một cái phòng như thế.

Bên dưới căn phòng này có một căn phòng khác nữa. Phòng ấy mới thật là ngục tối. Vào đó không phải qua cửa mà qua một lỗ hổng; nạn nhân, trần truồng, bị buộc dây vào hai nách và dòng dưới qua một lỗ thông khoét trên nền đá với căn phòng bên trên. Nếu như kẻ kia còn sống thì người ta ném thức ăn xuống cái lỗ thông ấy. Ngày nay ở lâu đài Bouillon vẫn còn một lỗ thông như thế.

Gió lùa vào từ lỗ thông đó. Phòng bên dưới đào dưới tầng cuối của tòa lâu đài giống một cái giếng hơn là một căn phòng, ăn ra chỗ mạch nước, do đó gian phòng tràn ngập gió lạnh buốt. Ngọn gió ấy giết chết người tù bên dưới và nuôi dưỡng người tù bên trên. Nó khiến cho nhà ngục dễ thở. Người tù bên trên, mò mẫm dưới vòm mái chỉ được hưởng không khí từ lỗ thông ấy mà thôi. Vả lại, kẻ nào vào đó hoặc rơi xuống đó thì không bao giờ ra nữa. Ở đó người ta mặc cho người tù liệu mà tránh cái lỗ đó. Bước chân hụt một cái, thì người tù ở tầng trên trở thành người tù ở tầng dưới. Điều đó là tùy mình. Với kẻ nào ham sống thì cái lỗ thông kia là tai họa; kẻ nào buồn nản thì cái lỗ thông ấy lại là phương tiện giải thoát. Tầng trên là nhà ngục, tầng dưới là nhà mồ. Hình thái chồng chéo giống hệt cái xã hội thời đó.

Ông cha chúng ta gọi cái đó là "cái chôn hố". Ngày nay, cái đó đã mất đi, cái tên ấy đối với chúng ta chẳng có ý nghĩa gì nữa. Nhờ Cách mạng, chúng ta nghe mấy tiếng đó với vẻ thản nhiên.

Bên ngoài tháp, trên lỗ tường thủng, bốn mươi năm trước đây là lối ra vào duy nhất, ta nhìn thấy một khuôn cửa to hơn các cửa châu mai xung quanh, ở đó còn treo một tấm rèm sắt đã bị bật tung ra và sụt xuống.

4. Ngôi nhà trên cầu

Đối diện với lỗ tường thủng, một cái cầu đá ba nhịp không hư hỏng lắm nối với tháp. Trên cầu có một ngôi nhà giờ đây chỉ còn sót lại ít di tích. Ngôi nhà ấy mang dấu vết của một đám cháy nay chỉ còn lại khung nhà đen xịt, ánh sáng lọt qua và ngôi nhà bên cạnh tháp ấy giống như một bộ xương đứng ngay cạnh một con ma.

Ngày nay, cái dinh cơ hoang tàn bị tàn phá hết, chẳng còn lại dấu vết gì nữa. Cái mà bao thế kỷ, bao vua chúa đã dựng nên, chỉ cần một người dân quê phá trong một ngày.

La Tourgue, dân quê gọi tắt như thế có nghĩa là Tháp-Gauvain, cũng như người ta gọi La Jupelle thay cho La Jupellière và tên một tướng cướp lưng gù Pinson-le-Tort là Pinson-le-Tortu.

La Tourgue, bốn mươi năm trước đây là một dinh cơ hoang tàn, nay chỉ còn là một cái bóng ma nhưng năm 1793 lại là một pháo đài. Đó là cái pháo đài cũ kỹ của dòng họ Gauvain, nó chắn ở phía tây con đường vào khu rừng Fougères; khu rừng ấy ngày nay không còn rậm rạp như xưa.

Người ta đã xây dựng thành trì ấy trên một khối diệp thạch, loại đá tảng này có rất nhiều giữa Mayenne và Dinan, nằm rải rác ở khắp các cánh rừng y như thể là có những thần khổng lồ xưa kia đã quăng đá vào đầu nhau.

Tháp là pháo đài; dưới chân tháp là một khối đá tảng, dưới chân khối đá là một dòng nước, cứ tháng một thì biến thành thác và đến tháng sáu thì cạn khô.

Xây dựng giản đơn như thế, pháo đài ấy, thời trung cổ, gần như không thể nào hạ nổi. Cái cầu đã làm cho thành trì yếu thế đi. Trước kia, dòng họ Gauvain không xây cầu. Từ bên ngoài vào người ta đi qua một tấm ván rệu rã, khi cần chỉ một nhát rìu là sập. Lúc dòng họ Gauvain mới chỉ là tử tước thì họ cho thế là được; nhưng khi họ được phong tước hầu, và khi họ rời bỏ cái hang hốc này để vào triều thì họ xây ba nhịp cầu trên dòng thác, như vậy thì từ phía cánh đồng đi vào dễ dàng, đồng thời từ đó đi lại với vua chúa cũng dễ dàng. Các ông hầu tước hồi thế kỷ mười bảy và các bà hầu tước hồi thế kỷ mười tám không muốn là con người bất khả xâm phạm nữa. Họ không muốn tiếp tục truyền thống của cha ông nữa; họ rập theo Versailles 14 .

Trước mặt tháp, về phía tây, có một cao nguyên nối với cánh đồng; cao nguyên này nằm gần tháp, chỉ còn cách có một cái hào rất sâu có dòng nước chảy, một nhánh của sông Couesnon. Cái đầu nối pháo đài với cao nguyên, xây trên những cột trụ rất cao. Trên những cột trụ ấy, người ta xây một tòa nhà theo kiểu kiến trúc Mansard như ở Chenonceaux ở thoải mái hơn bên tháp. Nhưng tập quán thời đó hết sức gò bó; các ông lớn vẫn giữ tục lệ ở trong những phòng trên vọng lầu giống như những căn ngục tối. Ngôi nhà trên cầu cũng là thứ lâu đài nhỏ, ở lối vào có một hành lang dài gọi là phòng canh, trên phòng canh là thư viện và trên thư viện là vựa rơm rạ. Nhiều cửa sổ dài kính nhơ bằng thủy tinh Bohême, giữa các cửa sổ có một hàng cột, trên tường chạm trổ hình huy chương; có ba tầng: tầng dưới cùng chứa súng và giáo mác; tầng giữa chứa sách, tầng trên cùng chứa những bao lúa mạch và rơm rạ; cách sắp đặt ấy hơi man rợ và cũng rất quý phái.

Cạnh đó, tòa tháp trông dữ tợn.

Nó cao đến dễ sợ át hẳn ngôi nhà diêm dúa kia. Từ trên sân thượng, có thể xả súng xuống cầu.

Hai công trình ấy, cái thì thô lỗ, cái thì xinh xắn, mâu thuẫn với nhau hơn là đi đôi với nhau. Hai kiểu kiến trúc không ăn nhịp với nhau; hai vòng bán nguyệt tưởng là phải giống nhau, nhưng còn gì khác nhau hơn là kiểu vòm rômăng với kiểu vòm cổ điển. Ngôi tháp ấy xứng với núi rừng lại thật xa lạ với cái cầu kề bên chỉ xứng với cung đình. Khác nào một tướng lục lâm khoác tay hoàng đế. Nhìn toàn cụm thật ghê rợn. Từ hai dáng nghi vệ hòa vào nhau ấy toát ra một cái gì thật hung bạo.

Về mặt quân sự, cái cầu khiến cho tòa tháp dễ thất thủ, tô điểm thêm nhưng lại làm mất khả năng tự vệ; được phần trang trí thì mất sức mạnh. Cái cầu khiến cho tòa tháp ngang tầm với cao nguyên. Từ phía khu rừng đánh vào thì tòa tháp ấy vẫn rất kiên cố, nhưng từ phía cánh đồng đánh vào thì tháp rất dễ bị hạ. Xưa kia chưa có cái cầu thì tòa tháp chi phối qua cao nguyên nhưng nay thì, ngược lại, tòa tháp bị cao nguyên chi phối; kẻ địch chiếm được cao nguyên thì chẳng mấy chốc làm chủ cái cầu. Thư viện và vựa rơm rạ lợi cho địch và bất lợi cho pháo đài. Thư viện và vựa rơm rạ giống nhau ở chỗ là sách và rơm đều dễ bốc cháy. Đối với kẻ bao vây định dùng chiến thuật hỏa công thì đốt Homère hoặc đốt một bó rơm cũng vậy thôi, miễn cháy là được. Khi người Pháp đốt cháy thư viện Heidelberg, họ đã chứng minh cho người Đức chân lý ấy, và người Đức khi đốt cháy thư viện Strasbourg cũng chứng minh cho người Pháp chân lý ấy. Tháp Tourgue có thêm cái cầu ấy về mặt binh pháp thật là một sai lầm; nhưng thế kỷ thứ mười bảy, dưới thời Colbert và Louvois 15 , các vị hoàng thân Gauvain ấy cũng như các hoàng thân De Rohan hoặc De La Trémoille cho rằng họ không bao giờ bị vây nữa. Tuy thế, những người xây dựng cầu cũng đã dự phòng ít nhiều. Trước hết, họ đã dự kiến hỏa hoạn; ở bên dưới ba cửa sổ ngảnh về mé hạ lưu con sông, họ đã treo nằm ngang một chiếc thang cấp cứu lớn vào những móc sắt mà cách đây nửa thế kỷ vẫn còn thấy, chiếc thang ấy dài bằng chiều cao của hai tầng nhà mé cầu và vượt quá ba tầng nhà bình thường; sau nữa, họ cũng dự kiến bị đột kích nên họ đã ngăn cầu và lâu dài bằng một cửa sắt nặng và thấp. Cửa sắt ấy nằm lọt trong khung vòm cửa tò vò và khóa bằng một chiếc chìa khóa rất lớn cất kín một chỗ, chỉ có chủ nhân biết mà thôi. Và một khi cửa đã đóng, thì nó có thể bất chấp đòn húc và gần như coi thường cả đạn đại bác.

Phải qua cái cầu mới tới cửa sắt ấy, và qua cửa sắt ấy mới vào bên trong tháp được, không có lối nào khác.

5. Cái cửa sắt

Tầng thứ hai của lâu đài nhỏ xây trên cầu nhờ có những trụ đá nên cao ngang tầm với tầng thứ hai của tháp. Chính ở tầm cao ấy mà cái cửa sắt đã được đặt cho thêm chắc chắn.

Về phía cầu, cửa sắt mở lối vào thư viện, và về phía tháp, thì mở lối vào một gian phòng lớn, trần xây cuốn, có cột trụ ở giữa. Gian phòng này, như đã nói, là tầng thứ nhì của vọng lầu. Nó cũng tròn như hình tháp. Ánh sáng bên ngoài chỉ lọt qua những lỗ châu mai dài nhìn ra cánh đồng. Tường trông rất thô lậu, không trát, để lộ các lớp đá xếp rất cân đối. Từ tầng dưới người ta leo lên bằng một cầu thang xoáy trôn ốc xây trong tường, cách bố trí này rất đơn giản, vì bức tường dầy tới năm mét. Vào thời trung cổ, người ta đánh chiếm từng phố một để chiếm cả thành phố, đánh chiếm từng ngôi nhà một để chiếm một đường phố, đánh chiếm từng phòng một để chiếm một ngôi nhà. Đối với một pháo đài cũng phải bao vây chiếm dần từng tầng một. Về mặt này tháp Tourgue đã được bố trí khôn khéo, lên xuống rất quanh co, khó khăn. Từ tầng này đi lên tầng khác, người ta phải qua một cầu thang xoáy trôn ốc rất khó bước lên, các cửa lớn đều nằm chéo góc và không cao quá tầm người, phải cúi đầu xuống mới qua được; mà cúi đầu tức là giơ sọ cho người ta nện, vì ở mỗi cửa, kẻ bị vây sẵn sàng chờ đợi quân bao vây.

Bên dưới phòng tròn có trụ có hai phòng tương tự, đó là tầng gác thứ nhất và tầng nhà dưới bên trên còn ba tầng nữa. Trên cùng sau phòng chồng lên nhau ấy là sân thượng lát đá, và lên sân thượng phải đi qua một cái chòi hẹp.

Người ta đã phải đục bức tường dầy năm mét để đặt tấm cửa sắt, và tấm cửa gắn chặt vào đó, như bị bó trong một đường ống khum, như vậy là khi cửa đóng lại thì ở hai bên cửa lối sang cầu cũng như lối lên tháp, hình thành một cái cổng sâu tới hai mét; khi cửa mở các cổng ấy thông với nhau thành một lối vào có nóc xây cuốn.

Dưới vòm cổng phía cầu, có một cửa nhỏ đục trong tường ở chân cầu thang xoắn ốc dẫn vào hành lang tầng thứ nhất phía dưới thư viện; đây lại thêm một trở ngại nữa cho quân bao vây. Về phía cao nguyên lâu đài nhỏ xây trên cầu kết thúc bằng một bức tường dốc đứng và cầu bị cắt ở đấy. Một cầu rút, tựa vào cái cửa thấp làm cho cầu thông với cao nguyên, và do mặt đất bên ngoài cao hơn nên khi hạ xuống bao giờ cầu rút cũng nghiêng vào trong; cầu rút ấy dẫn vào hành lang tức là phòng canh gác. Khi quân bao vây chiếm lĩnh được hành lang đó, chúng phải ra sức chiếm lĩnh cái cầu thang xoắn ốc dẫn lên tầng hai.

6. Thư viện

Thư viện là một gian phòng dài và rộng ngang với cầu và chỉ có một cửa vào là cửa sắt, phía trong có một cánh cửa giả bọc dạ xanh, che khuất cổng vòm và chỉ cần đẩy nhẹ là đi vào tòa tháp. Tường thư viện, suốt từ trên xuống dưới và từ trên trần xuống tận sàn đều có tủ kính đóng theo kiểu đồ mộc đẹp thế kỷ thứ mười bảy. Sáu cửa sổ lớn, mỗi bên tường ba cửa trên mỗi nhịp cầu một cửa, chiếu sáng thư viện. Qua những cửa sổ đó từ bên ngoài và từ cao nguyên người ta nhìn thấu vào trong thư viện. Trên tường, giữa hai cửa sổ, trên những bệ bằng gỗ sồi chạm trổ, đặt sáu bức tượng của các nhân vật cổ Hy Lạp và danh nhân Pháp bằng cẩm thạch.

Trong thư viện toàn những sách tầm thường. Chỉ một cuốn nổi tiếng. Đó là một cuốn sách cổ, khổ giấy gấp tư, với những trang khắc gỗ, nhan đề in chữ lớn: Thánh Barthélémy, phụ đề: Kinh phúc âm theo lời kết của thánh Barthélémy, có lời bạt của nhà triết học Cơ Đốc giáo Pantoenus về vấn đề bản phúc âm này có phải là ngụy thư không và thánh Barthélémy có phải chính là Nathanaël không. Cuốn sách này, coi như bản độc nhất, được đặt trên một cái bàn ở giữa phòng. Hồi thế kỷ trước, người ta hay tò mò đến xem.

7. Vựa rơm rạ

Vựa rơm rạ cũng như thư viện, dài bằng cầu và sát mái nhà, như một gian chợ lổn ngổn rơm rạ, ánh sáng lọt vào qua sáu khung cửa sổ, không có vật trang trí nào khác ngoài hình chạm trổ. Khuôn mặt thánh Barnabé trên cửa vào phía dưới có đề câu thơ này.

Barnabus sanctus falcem jubet ire per herbam 16 .

Như vậy đây là một tòa tháp cao và rộng có sáu tầng với mấy lỗ châu mai rải rác; lối ra vào duy nhất là một cái cửa sắt thông với một cái cầu trên đó xây một lâu đài nhỏ có cầu rút đóng lại; đằng sau tòa tháp là rừng rậm, đằng trước là cao nguyên thạch thảo, cao hơn cầu và thấp hơn tháp, dưới gầm cầu là một cái hào sâu và hẹp ngăn cách cao nguyên với tháp, mọc đầy cỏ rậm, mùa đông biến thành thác lũ, mùa xuân thành con suối, mùa hè thành cái hố đá lởm chởm.

Tháp Gauvain, còn gọi là tháp Tourgue, là như thế.

X
Những đứa con tin

Tháng bảy trôi qua, tháng tám đã tới, một luồng hào khí dữ dội lướt trên khắp nước Pháp; hai bóng ma vừa sang bên kia thế giới, Marat với con dao cắm ngập sườn; Charlotte Corday cụt đầu; tình hình trở nên khủng khiếp. Còn quân Vendée bị đánh thua trong chiến lược lớn, chúng rút vào chiến lược nhỏ - như chúng tôi đã nói, lại càng đáng sợ; lúc này, trận tuyến đã lan rộng, rải rác trong các khu rừng; sự tan rã của đạo quân đông đúc gọi là cứu Chúa và bảo hoàng bắt đầu; một sắc lệnh điều quân đoàn Mayence đến Vendée; tám nghìn quân Vendée bị tiêu diệt ở Ancenis; chúng bị đẩy lùi khỏi Nantes bị đuổi khỏi Montaigu, bị trục xuất khỏi Thouars, bị đánh tán loạn ở Noirmoutier, Cholet, Mortagne và Saumur; chúng rút khỏi Parthenay, rời bỏ Clisson, mất Châtillon, mất một lá cờ ở Saint-Hilaire, bị thua ở Pornic, ở Sables, ở Fontenay, ở Doué, ở Château-d’Eau, Ponts-de-Cé, bị thất bại ở Luçon chúng rút khỏi Châtaigneraye, tan rã ở Roche-sur-Yon; nhưng một mặt chúng uy hiếm La Rochelle, mặt khác, ở trong vùng biển Guernesey, một hạm đội Anh theo lệnh của tướng Craig chở nhiều trung đoàn lính Anh lẫn lộn với những sĩ quan giỏi của hải quân Pháp, chỉ còn chờ ám hiệu của hầu tước De Lantenac là đổ bộ lên đất Pháp. Cuộc đổ bộ này có thể đem lại thắng lợi cho quân phiến loạn bảo hoàng. Pitt, vốn là một nhà chính trị bất lương: sự phản bội trong lĩnh vực chính trị cũng như con dao găm cắm lẫn trên giá vũ khí; Pitt dùng dao găm đâm vào nước ta, đồng thời phản bội Anh; làm ô danh tổ quốc cũng tức là phản quốc; nước Anh dưới quyền Pitt và do Pitt điều khiển theo đuổi một cuộc chiến tranh bẩn thỉu. Họ do thám, ăn gian nói dối, đánh trộm, giả mạo, chẳng từ một việc xấu xa nào; hằn thù đi đến những thủ đoạn chi li. Họ tích trữ đầu cơ cả mỡ bò, giá lên đến năm quan một lạng; ở Lille, người ta bắt được một người Anh, trong người có mang thư của Prigent, tay sai của Pitt ở Vendée, trong đó viết: "Tôi yêu cầu ngài không tiếc tiền. Chúng tôi hy vọng các vụ ám sát sẽ được thực hiện khéo léo. Trong công việc này những thầy tu trá hình và đàn bà là những người rất đắc lực. Ngài gửi ngay tới Rouen sáu mươi ngàn bảng và tới Caen năm mươi ngàn". Ngày 1 tháng 8, Barère đã đọc thư này trước Viện Quốc ước. Parein và sau này Carrier đã trừng trị các mưu toan điên đảo ấy bằng những hành động khốc liệt, man rợ. Quân đội cộng hòa miền Metz và miền nam yêu cầu đi tiêu diệt quân phiến loạn. Một sắc lệnh ban hành cho thành lập hai bốn đại đội xung kích đi đốt sạch các bờ bụi, rào lũy vùng Bocage. Khủng hoảng đến cực điểm. Chiến tranh dập tắt ở nơi này lại bùng lên ở nơi khác. Không dung tha! Không bắt tù binh! là khẩu lệnh cả của hai phe. Lịch sử tràn ngập trong tăm tối hãi hùng.

Trong tháng tám ấy Tourgue bị bao vây.

Một buổi tối, trên trời sao vừa mọc, trong cái tĩnh mịch của đêm hè oi bức, rừng không một chiếc lá lay động, ngoài đồng không một ngọn cỏ run rẩy, bỗng một tiếng tù và từ trên tầng cao của tòa tháp rúc lên và xuyên qua cái tĩnh mịch của bức màn đêm vừa buông xuống.

Ở bên dưới một tiếng kèn đồng đáp lại.

Bên trên tháp, một người cầm súng; phía dưới trong bóng tối, một trại quân.

Trong bóng tối, xung quanh tháp Gauvain lố nhố những bóng đen. Đó là đoàn quân hạ trại. Vài ánh lửa bắt đầu nhóm lên dưới các gốc cây trong rừng và giữa đám thạch thảo trên đồi, và rải rác trong bóng đêm, những điểm sáng lập lòe tựa hồ như dưới đất trên trời đều nhấp nhánh các vì sao. Những ngôi sao của chiến tranh ảm đạm làm sao! Phía cao nguyên, trại quân kéo dài ra tận cánh đồng và phía rừng thì ẩn sâu vào những bụi cây rậm rạp. Tháp Tourgue bị vây kín.

Phạm vi rộng lớn của trại quân bao vây chứng tỏ quân số rất đông.

Họ xiết chặt pháo đài, về phía tháp thì tiến sát chân gò đá tảng, còn về phía cầu thì đến tận đường hào.

Lại có tiếng tù và thứ hai tiếp theo là tiếng kèn đồng.

Tiếng tù và hỏi và tiếng kèn đồng đáp lại.

Tiếng tù và ấy có ý hỏi trại quân: có thể nói chuyện với các người được không? Tiếng kèn đồng trả lời: được.

Thời đó, Viện Quốc ước không coi quân Vendée là đối thủ giao chiến cho nên đã có sắc lệnh cấm thương thuyết với "quân đạo tặc", người ta tìm cách thay thế các cuộc thương thuyết mà luật pháp quốc tế cho phép trong chiến tranh thông thường và cấm ngặt trong nội chiến. Do đó trong trường hợp này, có vẻ như là có sự giao ước giữa tiếng tù và của dân quê và tiếng kèn đồng của quân đội. Tiếng tù và thứ nhất mới là nhập đề, tiếng thứ nhì là đặt vấn đề: các người có muốn nghe không? Nếu sau tiếng tù và thứ nhì mà kèn không vang lên, như vậy là từ chối; nếu kèn đáp lại, tức là đồng ý. Như thế có nghĩa là ngừng chiến trong chốc lát.

Sau khi tiếng kèn trả lời tiếng tù và thứ nhì, người đứng trên lầu cao bắt đầu nói, người ta nghe thấy thế này:

"Hỡi các người đang nghe ta nói, ta là Gouge-le-Bruant, biệt hiệu là Diệt-Xanh, bởi vì ta đã giết vô số bên các người, lại có tên là Imânus bởi vì rồi đây ta còn giết các người nhiều hơn nữa; ở trận Granville một nhát gươm chém vào nòng súng của ta đã chặt ta cụt một ngón tay và ở Lavan các người đã chặt đầu cha mẹ ta cùng em gái Jacqueline của ta mới mười tám tuổi. Lai lịch của ta thế đấy.

Ta nói chuyện với các người nhân danh đức ông hầu tước Gauvain De Lantenac, tử tước De Fontenay, hoàng thân xứ Bretagne, vị chúa tể của vùng Bảy Khu Rừng và là chủ soái của ta.

Trước hết các người cần biết rằng trước khi đến cố thủ trong cái tháp này, mà các người đang vây hãm, đức ông hầu tước đã phân công tác chiến cho sáu vị tướng soái là sáu vị phó tướng của người; khu vực nằm giữa đường đi Brest và đường đi Entrée giao cho Delière; khu vực giữa Roё và Laval giao cho Treton; dọc miền trên sông Maine Thượng giao cho Jacquet, tục gọi là Taillefer; vùng lâu đài Gontier giao cho Gaulier, biệt danh là Grand-Pierre; vùng Craon có Lecomte; Fougères có ngài Dubois-Guy và tất cả vùng Mayenne có ngài De Rochambeau; cho nên nếu các người có chiếm được pháo đài này thì chiến tranh cũng chẳng chấm dứt và dù cho đức ông hầu tước có chết đi thì xứ Vendée của Chúa và Đức vua cũng chẳng bao giờ chết cả.

Các người nên hiểu những điều ta vừa nói là để cảnh cáo trước các người. Đức ông đang ở bên cạnh ta. Ta là cái loa để truyền đi lời của ngài.

Hỡi các người đang vây hãm chúng ta, hãy yên lặng.

Và đây là những điều mà các ngươi cần nghe rõ.

Chớ quên rằng cuộc chiến tranh mà các người đã gây ra với chúng ta là phi nghĩa. Chúng ta là những người dân sống trên xứ sở của chúng ta, chúng ta chiến đấu vì chính nghĩa và chúng ta sống bình dị trong sạch theo ý muốn của Chúa như ngọn cỏ dưới sương non. Chính phe cộng hòa đã tấn công chúng ta, nhiễu loạn nông thôn, đốt cháy nhà cửa mùa màng, bắn phá các ấp trại, buộc vợ con chúng ta chân trần trốn tránh trong các bờ bụi, rừng núi, giữa lúc những con chim bạc má mùa đông đang còn ca hát.

Hỡi các người đang đứng đấy và đang nghe ta nói, các người đã lùng bắt chúng ta trong rừng và các người đang vây hãm chúng ta trong tháp này; các người đã giết hoặc đuổi toán loạn những kẻ theo chúng ta; các người có đại bác; các người đã tập hợp thêm quân các đồn trại Mortain, Barenton, Teilleul, Landivy, Evran, Tinteniac và Vitré, như vậy là các người có bốn nghìn rưỡi quân để tấn công chúng ta; và chúng ta chỉ có mười chín người để tự vệ.

Chúng ta hiện có đủ lương thực và đạn dược.

Các người đã nổ được một quả mìn, phá được một mảnh đá tảng và tạo nên một lỗ trong tường, dưới chân tháp, không lộ thiên, qua đó các người có thể vào được; tháp vẫn kiên cố và đứng thẳng, chụp lên cái lỗ hổng của các người.

Hiện giờ, các người đang sửa soạn tấn công.

Và chúng ta, trước hết là đức ông hầu tước, hoàng thân xứ Bretagne, viện trưởng tu viện Sainte-Marie xứ Lantenac, tại đó hoàng hậu Jeanne đã đặt ra lễ cầu nguyện hằng ngày, sau nữa đến những vị khác đang bảo vệ tháp, trong đó có ngài tu viện trưởng Turmeau trong chiến tranh lấy tên là Grand-Francoeur, rồi đến bạn ta là Guinoiseau người chỉ huy Trại-Xanh, bạn Chante-en-Hiver chỉ huy trại Lúa Mạch, bạn La Musette chỉ huy trại Kiến và ta, một dân quê sinh ở thị trấn Daon, nơi có giòng suối Moriandre tất cả chúng ta có một điều muốn nói với các người.

Hỡi các người dưới chân tháp, hãy nghe đây.

Trong tay chúng ta có ba tù binh: ba đứa trẻ. Ba đứa trẻ đó do một trong những tiểu đoàn của các người đỡ đầu và chúng nó là của các người. Chúng ta sẽ trao lại cho các người ba đứa trẻ đó.

Với một điều kiện.

Là để cho chúng ta được tự do ra khỏi vòng vây.

Nếu các người từ chối, hãy nghe cho rõ, các người chỉ có thể tấn công bằng hai cách; qua lỗ hổng ở chân tường về phía rừng; hoặc từ chiếc cầu về phía cao nguyên. Tòa nhà trên cầu cáo ba tầng: ở tầng dưới cùng thì ta, Imânus, đang nói chuyện với các người đây, ta đã cho xếp sáu tấn hắc ín và hàng trăm bó cỏ khô; tầng trên cùng thì chứa rơm; tầng giữa thì chứa đầy sách và giấy; cánh cửa sắt từ chiếc cầu thông vào lâu đài đã đóng chặt và chính Đức ông giữ chìa khóa, còn ta, ta đã đục dưới cánh cửa một cái lỗ, cái mồi tẩm lưu huỳnh xuyên qua đó, một đầu cho vào một tấm hắc ín, và đầu kia thì ở phía trong tháp, vừa tầm tay ta; ta muốn châm lửa khi nào cũng được. Nếu các người từ chối không để chúng ta ra khỏi thì ba đứa trẻ kia sẽ bị nhốt trong tầng thứ hai, kẹp giữa tầng có mồi tẩm lưu huỳnh cùng hắc ín và tầng lầu chứa đầy rơm, có cánh cửa sắt sẽ bị đóng chặt lại. Nếu các người tấn công phía cầu thì chính tay các người sẽ thiêu hủy lâu đài; nếu các người tấn công cả hai mặt qua cầu và qua lỗ chân tường thì cả hai bên cùng châm lửa, và trong bất cứ trường hợp nào, ba đứa trẻ kia cũng sẽ chết.

Bây giờ thì các người nhận lời hoặc từ chối.

Nếu các người chấp nhận, thì chúng ta ra.

Nếu các người từ chối; ba đứa trẻ phải chết.

Ta đã nói hết".

Người đứng nói trên tháp đã im lặng.

Bên dưới một tiếng thét lên:

- Chúng ta từ chối.

Tiếng nói ấy cộc lốc và gắt gao, một tiếng nói khác tuy kiên quyết nhưng bớt cứng rắn hơn thêm vào:

- Chúng ta để cho các người hai mươi bốn tiếng đồng hồ để suy tính mà đầu hàng không điều kiện.

Một phút im lặng rồi người vừa nói lại tiếp:

- Giờ này, ngày mai nếu các người không chịu đầu hàng, chúng ta sẽ tấn công.

Và tiếng nói ban đầu lại tiếp:

- Khi đó thì quyết chẳng dung tha.

Đáp lại tiếng nói ghê sợ đó, từ trên tháp một tiếng khác trả lời. Người ta trông thấy một hình cao lớn đang cúi xuống giữa hai khe tường; nhờ ánh sao sáng người ta nhận ra bộ mặt hung tợn của hầu tước De Lantenac đang đưa mắt như tìm ai trong bóng tối và thét lên:

- Ô kìa, mày, thầy tu!

- Đúng, chính tao đây hỡi tên phản bội kia! - Tiếng nói gay gắt ở phía dưới đáp lại.

XI
Ghê sợ như chuyện thời cổ

Giọng nói căm thù là giọng Cimourdain; giọng trẻ hơn và kém triệt để là giọng Gauvain.

Lão hầu tước De Lantenac đã không lầm khi nhận ra thầy tu Cimourdain.

Chỉ trong mấy tuần lễ, ở xứ này, khi cuộc nội chiến trở nên ác liệt thì, như ta đã biết, Cimourdain đã lừng danh; một thứ tiếng tăm thảm đạm. Người ta bảo: Ở Paris có Marat, ở Lyon có Châlier, ở Vendée có Cimourdain. Trước kia, người ta kính trọng linh mục Cimourdain bao nhiêu thì bây giờ người ta chửi rủa bấy nhiêu; đó là hậu quả khi chiếc áo thầy tu đã lộn trái. Cimourdain đã khiến người ta khiếp sợ. Những kẻ khắc nghiệt đều là những kẻ bất hạnh, ai chứng kiến những hành vi của họ thì lên án, nhưng nếu ai biết được lương tâm của họ thì cũng có thể miễn thứ cho họ được. Lycurgue không được phân tích kỹ thì cũng giống Tibère 17 .

Dù thế nào thì cả hai người, lão hầu tước De Lantenac và cha xứ Cimourdain cũng ngang nhau trên cán cân căm thù, bọn bảo hoàng nguyền rủa Cimourdain không kém gì phe cộng hòa phỉ nhổ Lantenac. Mỗi người đều được phe đối lập xem như quái vật; thậm chí trong khi ở Grandville, Prieur De La Marne treo thưởng lấy đầu Lantenac thì ở Noirmoutier, Charette cũng treo thưởng lấy đầu Cimourdain.

Cũng nên nói rằng, ở góc độ nào đó thì hai người, hầu tước và nhà tu hành cũng chỉ là một con người. Chiếc mặt nạ bằng đồng hun của cuộc nội chiến có hai hình dáng, một hướng về dĩ vãng, một hướng về tương lai, nhưng cũng bi thảm như nhau. Lantenac là hình dáng thứ nhất và hình dáng thứ hai là Cimourdain; có điều là cái nhếch mép chua chát của Lantenac như phủ bóng đen tăm tối, còn trên vừng trán quyết liệt của Cimourdain như bừng lên một ánh bình minh.

Trong lúc đó, Tourgue bị vây hãm được hưởng một lúc hoãn chiến.

Nhờ có Gauvain, như ta đã thấy hai bên thỏa thuận ngừng bắn trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ.

Vả lại đúng như Imânus đã biết được, lúc này, nhờ Cimourdain trưng tập thêm quân, Gauvain đã có trong tay bốn nghìn rưỡi người, gồm vệ quốc quân và bộ đội xung phong; với số quân đó, Gauvain đang bao vây Lantenac trong tháp Tourgue, lại còn chĩa vào pháo đài cả mười hai khẩu đại bác, sáu khẩu đặt chìm ở rìa rừng nhằm tòa tháp, sáu khẩu đặt nổi trên cao nguyên nhằm về phía cầu. Gauvain còn cho bắn mìn và đã phá được một lỗ hổng dưới chân tường tháp. Bởi vậy, ngay khi hết hai mươi bốn tiếng ngừng bắn, cuộc chiến đấu sẽ diễn ra như sau.

Trên cao nguyên và trong rừng có bốn nghìn rưỡi quân.

Trong lâu đài, mười chín.

Lịch sử có thể tìm thấy tên tuổi của mười chín kẻ bị bao vây đó trên những tờ cáo thị đặt họ ra ngoài vòng pháp luật. Có thể về sau, chúng ta sẽ gặp tên tuổi họ.

Để chỉ huy bốn nghìn rưỡi quân, gần như một quân đoàn, Cimourdain muốn phong Gauvain lên chức tướng. Gauvain đã khước từ: "Để khi nào bắt được Lantenac sẽ hay. Tôi chưa có gì xứng đáng".

Giữ những chức vụ chỉ huy quan trọng với cấp bậc nhỏ đó là phong cách dưới chính thể cộng hòa. Sau này, Bonaparte cũng vừa là trung đội trưởng pháo binh đồng thời là tổng chỉ huy quân đoàn Ý.

Vận mệnh của tòa tháp Gauvain thật lạ lùng: một Gauvain tấn công nó, một Gauvain bảo vệ nó. Do đó, về mặt tấn công có phần nào dè dặt, nhưng phía kháng cự thì không, bởi vì ngài De Lantenac là hạng người chẳng kiêng nể gì, và hơn nữa, lâu nay ngài thường ở Versailles, chẳng mê tín gì về tháp Tourgue mà ngài cũng chẳng quen thuộc gì mấy. Bây giờ ngài chạy trốn vào đây là vì đường cùng, thế thôi; ngài có thể phá nó đi mà không chút đắn đo. Gauvain thì trân trọng nó.

Điểm yếu của pháo đài là cái cầu; nhưng trong thư viện trên cầu có lưu trữ gia phả; nếu tấn công về phía đó thì chiếc cầu sẽ bị thiêu hủy; đối với Gauvain thì đốt gia phả tức là tấn công vào tổ tiên. Tourgue là trang viên của dòng họ Gauvain; bao nhiêu thái ấp ở xứ Bretagne đều có nguồn gốc ở tháp này, cũng như các thái ấp của nước Pháp đều gốc ở tháp Louvre; nơi đây, biết bao kỷ niệm của dòng họ Gauvain. Chính Gauvain cũng sinh ra ở đấy; bây giờ đây trưởng thành, số phận éo le lại đưa Gauvain về tấn công cái dinh lũy cổ kính đã từng đùm bọc mình thuở bé. Liệu Gauvain có cam chịu bất hiếu đến mức đang tâm thiêu ra tro cái dinh cơ này không? Cái nôi thuở bé có thể còn ở một góc nào đó trong thư viện. Bao nhiêu suy nghĩ là bấy nhiêu cảm xúc. Đứng trước nơi chôn nhau cắt rốn, Gauvain mủi lòng. Ông quyết định chừa cái cầu ra, chỉ bố trí không để kẻ nào ra lọt bằng con đường này và để một khẩu đội pháo trấn áp cầu, còn ông chọn để tấn công phía bên kia. Mìn đã nổ phá một lỗ thủng ở chân tháp.

Cimourdain để mặc Gauvain bố trí; lẽ ra phải ngăn chặn cách bố trí ấy vì ông nghiêm khắc cả với tàn tích của chế độ cũ và không chủ trương khoan hồng đối với nhà cửa cũ cũng như với con người. Gượng nhẹ đối với một lâu đài là đã bắt đầu sự khoan dung. Mà khoan dung chính là điểm yếu của Gauvain. Ta đã biết là Cimourdain luôn luôn theo dõi và ngăn ngừa Gauvain trên cái dốc thảm hại này. Tuy vậy, chính bản thân ông khi trông thấy lại tháp La Tourgue cũng không khỏi chạnh lòng thầm kín và lấy làm bực bội khi thú với mình điều đó; ông xúc động trước thư phòng xưa kia ông đã tập cho Gauvain đọc trong những quyển sách vỡ lòng; ngày trước ông là cha xứ ở làng Parigné bên cạnh; chính Cimourdain cũng đã sống trên tầng gác sát dưới mái lâu đài nhỏ xây trên cầu; chính trong thư viện ấy, ông đã ấp trong lòng cậu bé Gauvain đang bập bẹ đánh vần; chính giữa bốn bức tường cũ kỹ kia, ông đã nhìn thấy cậu học trò thân yêu, đứa con của tâm hồn mình lớn lên cả về thể xác lẫn trí tuệ. Thư viện bên trong kia, bốn bức tường kia ấp ủ biết bao nhiêu công lao săn sóc của ông đối với cậu bé Gauvain bây giờ nên đốt phá đi chăng? Cimourdain khoan hồng. Nhưng không phải là không chút hối hận.

Ông để mặc cho Gauvain bố trí tấn công ở phía bên đối diện. La Tourgue có mặt man rợ là tòa tháp và mặt văn minh là thư viện. Cimourdain cho phép Gauvain chỉ được pháo kích ở phía man rợ.

Như vậy, giữa cao trào cách mạng, ngôi nhà cổ bị một người trong họ tấn công, lại một người trong họ bảo vệ, như đang quay về với lề thói phong kiến. Những cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn là tất cả lịch sử thời trung cổ. Ở Goths cũng như ở Hy Lạp đều có những Eteocles và Polynices, và Hamlet hành động ở Elseneur cũng như Oreste đã hành động ở Argos 18 .

XII
Bố trí cấp cứu

Suốt đêm, cả hai bên đều chuẩn bị.

Khi cuộc đàm phán vừa mới dứt, Gauvain cho gọi viên chỉ huy phó lại.

Cũng cần biết một chút về Guéchamp ông ta là một nhân vật thứ yếu, thật thà, can đảm, tài trí tầm thường, làm lính tốt hơn là chỉ huy, thông minh đến mức chỉ biết có nhiệm vụ không cần biết gì khác, chẳng bao giờ xúc động, không thể bị bất cứ loại cám dỗ nào cám dỗ, kể cả tiền tài làm táng tận lương tâm, tình thương làm mờ công lý. Trong tâm hồn và trái tim con người ấy như có hai cái chao đèn là kỷ luật và mệnh lệnh, như một con ngựa hai bên mắt che kín, chỉ được bước trên quãng đường mà nó còn trông thấy. Nó bước ngay ngắn nhưng đường nó đi bị thu hẹp.

Ngoài ra đấy là một người tin cậy được; chỉ huy cứng rắn, chấp hành nghiêm chỉnh.

Gauvain ra lệnh hết sức nhanh cho Guéchamp:

- Guéchamp, cần một cái thang.

- Thưa chỉ huy, chúng ta không có thang.

- Cần phải có một cái.

- Để leo vào?

- Không, để cấp cứu.

Guéchamp suy nghĩ và đáp lại:

- Tôi hiểu; nhưng để dùng vào việc ấy thì cái thang phải cao lắm.

- Ít nhất phải với đến tầng ba.

- Vâng, có thể xấp xỉ như thế.

- Và phải quá một chút để nắm chắc thành công.

- Đúng thế.

- Nhưng sao lại không có thang?

- Thưa chỉ huy, vì ngài không tính đến việc tấn công tòa tháp từ cao nguyên; ngài chỉ cho vây chặt phía đó thôi; ngài định tấn công không phải phía cầu mà phía tháp. Quân sĩ chỉ chuẩn bị đánh mìn mà không chuẩn bị dụng cụ để leo. Vì vậy chúng ta không có thang.

- Cho làm ngay một cái.

- Một cái thang cao ba tầng lầu không thể làm trong chốc lát được.

- Cho nối nhiều chiếc thang ngắn lại.

- Nhưng mà phải có thang đã.

- Phải kiếm cho kỳ được.

- Không có đâu. Khắp nơi dân quê phá hết cả thang, lại còn tháo tung cả xe bò và phá hết cầu.

- Đúng thế, chúng muốn làm tê liệt nền cộng hòa.

- Chúng muốn chúng ta không thể sử dụng một chiếc xe, không qua sông, không leo tường được.

- Dù sao cũng phải kiếm cho được một chiếc thang.

- A, tôi nghĩ ra rồi, ở Javené, gần khu Fougères có một xưởng mộc lớn. Chắc ở đó, có thang.

- Không nên để lỡ một chút.

- Bao giờ thì ngài cần đến thang?

- Ngày mai, chậm lắm là vào giờ này.

- Tôi sẽ phái một lính kỵ mã hỏa tốc đến Javené, mang theo lệnh trưng dụng. Ở Javené cũng có một đồn quân kỵ mã họ sẽ cử một toán hộ tống. Ngày mai, chiếc thang có thể có ở đây trước lúc mặt trời lặn.

- Được, thế là đủ - Gauvain nói - Tiến hành mau. Thôi được.

Mười phút sau, Guéchamp đã trở lại báo cáo với Gauvain:

- Thưa chỉ huy, giao liên hỏa tốc đã đi Javené.

Gauvain trở lên cao nguyên đứng rất lâu, mắt đăm đăm nhìn chiếc cầu với lâu đài nhỏ vắt ngang đường hào. Đầu hồi lâu đài, chỉ có một cửa thấp mà chiếc cầu rút đóng lại khi kéo lên, đối diện với bờ hào dốc đứng. Từ cao nguyên đi xuống chân trụ cầu, phải lần theo bờ hào dốc đứng ấy, cứ lần từng bụi cây, không khó khăn lắm. Nhưng một khi đã ngồi dưới hố thì kẻ tiến công sẽ hứng lấy đạn của cả ba tầng lầu trút xuống. Tình hình vây hãm lúc đó khiến Gauvain thấy rõ là phải mở cuộc tấn công qua lỗ tường phía tháp, không còn cách nào khác.

Gauvain bố trí cẩn mật không để cho đối phương thoát; ông ta thắt chặt vòng vây quanh tháp Tourgue; dồn các tiểu đoàn sít nhau như những mắt lưới, đến nỗi không có một vật gì có thể lọt qua được. Gauvain và Cimourdain phân công chỉ huy vây hãm pháo đài Gauvain phía rừng, Cimourdain, phía cao nguyên. Họ đã đồng ý là phía rừng, có Guéchamp phụ lực, sẽ tấn công theo lỗ tường, còn Cimourdain sẽ châm lửa tất cả các ngòi của khẩu đội nổi, chăm chú quan sát chiếc cầu và đường hào.

XIII
Hoạt động của lão hầu tước

Trong lúc bên ngoài chuẩn bị tấn công thì bên trong cũng chuẩn bị chống lại.

Có một sự trùng hợp trên thực tế khi một tòa tháp cũng còn gọi là một cái thùng, và có khi người ta dùng mìn đánh vào tháp cũng như dùng mũi nhọn chọc vào chiếc thùng. Bức thành có thể chọc thủng như người ta chọc một lỗ nước trong thùng chảy ra. Điều đó đã đến với tháp Tourgue.

Hai hoặc ba tạ thuốc nổ đã chọc thủng bức tường đồ sộ từ bên này qua bên kia, từ chân tường xuyên qua bức tường ở phần dày nhất, rồi phá ra ở tầng dưới pháo đài một cái cửa tò vò nham nhở. Từ bên ngoài quân tấn công lại dùng đại bác bắn vào lỗ thủng, thoát rộng thêm để xung kích xông lên dễ dàng.

Tầng dưới cùng, chỗ lỗ thủng phá vào là một gian phòng lớn hình tròn, trống rỗng, có một trụ giữa đỡ vòm trần. Căn phòng ấy, rộng nhất so với tất cả các phòng của tòa tháp, đường kính đến hơn mười mét. Mỗi tầng của tòa tháp đều có một gian phòng tương tự nhưng không rộng bằng, có nhiều lỗ châu mai trong các khuôn cửa nhỏ. Tầng dưới cùng không có lỗ châu mai, không có cửa tò vò, không có cửa sổ; ánh sáng và không khí hầu như không có.

Cửa vào các hầm ngầm, làm bằng sắt nhiều hơn là gỗ ở tầng dưới cùng này. Ở đây còn một cửa nữa đi lên cầu thang dẫn đến các phòng ở tầng trên. Tất cả các cầu thang đều xây lẩn vào trong tường.

Nhờ cái lỗ tường thủng do họ phá, những người tấn công có cơ lọt được vào gian phòng thấp, chiếm được gian phòng này còn phải chiếm cả tòa tháp.

Trước đây, ở trong gian phòng thấp người ta không thở nổi. Không một ai ở trong đó hai mươi bốn tiếng đồng hồ mà không chết ngạt. Nhưng lúc này, nhờ lỗ tường hổng nên cũng có thể sống được.

Vì vậy, bọn bị vây cũng không bịt lỗ tường thủng lại. Vả lại, bịt kín làm gì? Đạn đại bác lại phá ra thôi.

Chúng đóng lên tường một chân đèn bằng sắt, rồi cắm vào đó một bó đuốc, soi sáng cả gian phòng.

Bây giờ thì bố trí phòng ngự trong đó như thế nào?

Lấp lỗ tường thủng lại thì dễ, nhưng vô ích. Bố trí một tuyến tốt hơn. Một phòng tuyến cố thủ là một chỗ ẩn nấp có góc lõm, một loạt chiến lũy hình chữ V cho phép tập trung hỏa lực vào mũi xung kích, và tuyến ngoài không bịt lỗ tường thủng mà lại bịt ở bên trong. Vật liệu không thiếu; chúng xây một phòng tuyến cố thủ có khe hở để đặt nòng súng. Góc phòng tuyến cố thủ tựa vào trụ giữa; hai cánh kéo dài đến sát hai bên tường. Xong xuôi, chúng tìm chỗ thuận lợi để đặt mìn.

Lão hầu tước điều khiển tất cả. Lão vừa tổ chức, vừa ra lệnh, vừa hướng dẫn, vừa sai phái, một con người thật đáng sợ.

Lantenac thuộc loại võ quan thế kỷ thứ mười tám, loại người ở tám chục tuổi vẫn cứu nổi các đô thành. Lão giống như bá tước Alberg đã gần trăm tuổi còn đánh đuổi được bọn Ba Lan ra khỏi thủ đô Riga 19 .

- Dũng cảm lên, các bạn! - Lão hầu tước nói - Đầu thế kỷ này, vào năm 1713, ở Bender, vua Charles XII, cùng ba trăm quân Thụy Điển cố thủ trong một căn nhà đã đương đầu nổi với hai vạn quân Thổ.

Chúng dựng chướng ngại vật ở hai tầng dưới, tăng phòng thủ ở các phòng, đục lỗ châu mai ở các phòng ngủ, chẹn cửa bằng rầm nhà và dùng vồ nện chặt lại; có điều là phải để ngỏ con đường cầu thang xoáy trôn ốc đi lên các tầng trên, vì bọn chúng cũng phải có lối đi lại; chẹn cầu thang, thì ngăn được quân tấn công nhưng đồng thời cũng chẹn cả mình. Những ổ đề kháng bao giờ cũng có nhược điểm như thế.

Lão hầu tước không biết mệt, lực lưỡng như thanh niên, tự mình vác cả những cây cột, khuân đá, làm gương cho mọi người, mó tay vào mọi việc, chỉ huy, giúp đỡ, xuề xòa cười đùa với các đám người dữ tợn ấy, mà vẫn luôn luôn giữ được cốt cách ông lớn kiêu kỳ, thân mật, lịch sự, dữ tợn.

Không ai dám cưỡng lại lão. Lão nói: "Trong số các anh, nếu có một nửa nổi lên phản kháng thì ta sẽ bắt nửa kia bắn chết và ta sẽ chống cự đến cùng với số còn lại". Những chuyện đó khiến người ta tôn sùng thủ lĩnh.

XIV
Hành động của Imânus

Trong lúc lão hầu tước bận về phía lỗ tường hỏng và tòa tháp thì tên Imânus lo phía cầu. Từ lúc bắt đầu bị bao vây, theo lệnh lão hầu tước, Imânus đã cho tháo chiếc thang cấp cứu treo ngang bên ngoài, phía dưới cửa sổ tầng thứ hai và tự tay mang vào cất trong thư viện. Có lẽ Gauvain muốn tìm thang để thay thế cho cái thang đó. Các cửa sổ của tầng thứ nhất vẫn gọi là phòng cảnh vệ đều được phòng thủ bằng ba lần chắn song sắt xây gắn trong đá, không ai có thể ra vào được.

Các cửa sổ thư viện không có chấn song, nhưng lại rất cao. Imânus đem theo ba tên khác, có thể làm mọi việc. Đó là Hoisnard, tức là Cành-Vàng, và hai anh em Gậy-Nhọn. Imânus cầm một cái đèn ló, mở tấm cửa sắt ra, xem xét kỹ lưỡng ba tầng nhà xây trên cầu. Hoisnard Cành-Vàng, vốn có người em bị bên cộng hòa giết, cũng là một tên quyết liệt như Imânus.

Imânus xem xét tầng trên chứa đầy cỏ và rơm, rồi tầng dưới trong đó hắn cho đặt thêm mấy cái hỏa lò bên cạnh những thùng hắc ín; hắn cho đặt đống cỏ khô sát vào mấy tấn hắc ín rồi kiểm soát kỹ lưỡng dây mồi tẩm lưu hoàng, một đầu ở trong nhà trên cầu và một đầu ở trong tháp. Hắn đổ vung vãi hắc ín nước trên sàn, dưới những thùng hắc ín và cỏ khô, rồi nhúng một đầu mồi tẩm lưu hoàng vào; hắn lại cho khuân ba cái nôi có René-Jean, Gros-Alain và Georgette đang ngủ ngon, đặt vào thư viện, nơi tầng dưới thì đầy hắc ín và tầng trên thì đầy rơm khô. Chúng khuân mấy cái nôi thật nhẹ tay để lũ trẻ khỏi thức giấc.

Đó là mấy cái nôi vùng quê, loại nôi thấp bện bằng mây đặt ngay trên mặt đất, như vậy đứa trẻ có thể tự mình bước ra khỏi nôi không cần có giúp đỡ. Bên mỗi chiếc nôi, Imânus cho đặt một bát xúp và một cái thìa gỗ. Chiếc thang cấp cứu tháo khỏi móc sắt, được đặt nằm trên sàn nhà sát chân tường; Imânus cho xếp ba chiếc nôi nối nhau ở sát tường đối diện với thang. Rồi nghĩ rằng có gió lùa càng tốt, hắn mở toang sáu cửa sổ thư viện. Lúc đó là một đêm hè, trong xanh và ấm áp.

Imânus sai anh em Gậy-Nhọn mở rộng cửa sổ các tầng trên và tầng dưới ra, hắn đã chú ý đến một cây dây leo, già và chết khô màu nâu đậm, ở mặt phía đông tòa nhà, phủ kín khắp một bên cầu từ trên xuống dưới và leo chung quanh cửa sổ của ba tầng lầu. Hắn nghĩ rằng cái cây này cũng chẳng hại gì cả. Imânus đưa mắt một lượt cuối cùng; xong đâu đó, bốn người ra khỏi nhà và trở về tháp. Imânus đóng tấm cửa sắt thật chặt, ngắm nghía cái ổ khóa to đáng sợ, rồi nhìn cái mồi tẩm lưu huỳnh dẫn qua một cái lỗ do hắn đục ra; từ giờ phút này trở đi, đó là vật duy nhất nối liền cầu và tòa tháp, rồi hắn gật đầu hài lòng. Dây mồi ấy bắt đầu từ gian phòng tròn trong tháp, chui qua tấm cửa sắt và vòm cửa, đi xuống theo bậc thang tầng dưới cùng của ngôi nhà trên cầu, vòng theo những bậc thang xoáy trôn ốc, bò theo sàn hành lang ở tầng hai và kết thúc ở đống cỏ khô trên cái ao hắc ín. Imânus đã tính toán phải mất mười lăm phút kể từ khi châm lửa bên trong tháp mồi lửa mới cháy đến đám hắc ín lênh láng ở tầng dưới thư viện. Sắp xếp và kiểm tra xong, hắn đem trả cái chìa khóa cửa sắt cho lão hầu tước và lão bỏ vào túi.

Cần phải theo dõi mọi hoạt động của bọn tấn công. Imânus liền ra đứng gác ở chòi canh trên sân thượng, chiếc tù và giắt ở thắt lưng, một mắt dán về phía rừng, một mắt nhìn về phía cao nguyên. Hắn đã để sẵn trên thành cửa tò vò vọng canh, gần bên hắn một túi thuốc súng, một túi đầu đạn và những tờ báo cũ mà hắn xé ra để quấn vỏ đạn.

Mặt trời mọc soi rõ khu rừng có tám tiểu đoàn, người nào cũng gươm bên sườn, túi vải trên lưng, súng lắp lê, sẵn sàng xung kích; trên cao nguyên lù lù một khẩu đội pháo với đầy đủ xe tải, túi thuốc đạn; hộp đầu đạn; trong tháp có mười chín người đang nạp đạn các loại súng ngắn, súng dài; và trong ba chiếc nôi, ba đứa trẻ đang ngủ say.

--------------------------------

1

Ý nói cây cối thì chẳng bao giờ hai cành cùng gốc lại đánh nhau. Từ branche trong tiếng Pháp vừa có nghĩa là "ngành họ", vừa có nghĩa là "cành cây".

2

Thiên thần trông coi công việc trị an.

3

Ma quỷ, tinh ma, láo xược (theo Thánh kinh .

4

Học trò yêu của Socrate, một vị tướng có tài nhưng vô hạnh, có nhiều tham vọng cá nhân.

5

Quý tộc trẻ, thủ lĩnh quân phiến loạn Vendée, tử trận năm 1794.

6

Áo đỏ tượng trưng cho dã tâm xâm lược của tướng Pitt, thủ tướng Anh.

7

Danse-à-l’Ombre (nguyên văn có nghĩa là "nhảy múa dưới bóng mát".

8

Nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, thuộc giống xăng-tô (nhân mã , nửa người, nửa ngựa, thầy học của Achille.

9

Theo thần thoại Hy Lạp, Oreste là người đã giết mẹ để báo thù cho cha, thế mà Pylade vẫn tha thứ cho Oreste.

10

Nguyên văn: "Thần Arimane anh em với thần Ormus". Theo tôn giáo Ba Tư, hai ông thần đó là ông Thiện và ông Ác.

11

Vợ Louis XVI.

12

Giáo hoàng từ 1775 - 1799.

13

Herman Boerhave (1668 - 1738 : Bác sĩ phẫu thuật người Hà Lan nổi tiếng ở châu Âu.

14

Cung điện của các vua Pháp.

15

Colbert: Bộ trưởng Bộ Tài chính dưới thời Louis XVI, con người tiêu biểu cho sự xâm nhập của giai cấp tư sản Pháp vào đời sống chính trị. Louvois: Một Bộ trưởng có nhiều công lao trong việc tổ chức vũ trang cho nhà nước phong kiến Pháp thế kỷ XVII.

16

Tiếng La-tinh có nghĩa là "thánh Barnabé vung liềm cắt cỏ".

17

Licurgue là quan lập pháp thành Sparte nước Hy Lạp cổ đại. Ông ta đi thăm nhiều nước nên học được nhiều điểm đem về làm luật lệ cho xứ sở. Còn Tibère là một bạo chúa cổ La Mã.

18

Eteocles và Polynices: Tên hai anh em tiêu biểu cho những cuộc huynh đệ tương tàn. Hai người giết nhau và thần thoại Hy Lạp truyền rằng, đến chết, ngọn lửa trên giàn hỏa cũng chia làm hai ngọn. Hamlet: Nhân vật trong một tác phẩm cùng tên của Shakespeare giết chú để trả thù cho cha bị chú giết. Elsineur là tên một đô thị của Đan Mạch, nơi xảy ra chuyện Hamlet. Oreste trong thần thoại Hy Lạp, cùng em giết mẹ để báo thù cho cha, sau làm vua Argos và Sparte, hai đô thị lớn của Hy Lạp cổ.

19

Thủ đô Lettonie.

Quyển ba

Vụ thảm sát ngày Thánh Barthélémy 1



I

Mấy đứa trẻ thức dậy.

Đầu tiên là con bé.

Trẻ con ngủ dậy như hoa vừa nở; hình như có một làn hương tỏa ra từ những tâm hồn tươi mát này.

Georgette, con bé hai mươi tháng, là đứa út, dạo tháng năm hãy còn bú, đang ngẩng cái đầu nhỏ, ngồi nhổm lên, ngắm nghía đôi chân mình và bắt đầu nói líu lo.

Một tia nắng sớm dọi trên nôi nó. Thật khó mà nói được chân Georgette và ánh nắng bên nào hồng hơn.

Hai đứa trẻ kia còn ngủ; con trai vốn lề mề; Georgette vui vẻ, bình thản, vẫn bi bô.

René-Jean tóc nâu, Gros-Alain tóc hạt dẻ, Georgette tóc vàng. Những màu tóc khác nhau ấy, hợp với lứa tuổi khi còn nhỏ, về sau có thể đổi khác. René-Jean có vẻ một dũng sĩ tí hon; nó nằm ngủ úp sấp, hai nắm tay tì vào mắt. Hai chân Gros-Alain thò ra ngoài chiếc giường nhỏ của nó.

Cả ba đứa trẻ đều rách rưới; áo quần mà độ trước tiểu đoàn Mũ Đỏ cho chúng nay đã rách mướp; cái chúng mặc trên người chẳng ra hình chiếc áo nữa; hai đứa con trai gần như trần truồng, Georgette quấn một thứ giẻ rách trước kia là cái váy, nay chỉ còn là một cái tã. Ai săn sóc mấy đứa trẻ này? Chẳng có ai. Không có mẹ. Bọn dân quê hung dữ vừa đánh nhau vừa lê chúng đi theo hết rừng này qua rừng khác và bớt cho chúng khẩu phần của họ. Thế thôi. Mấy đứa trẻ phải liệu lấy, được sao hay vậy. Đối với chúng ai cũng là chủ, nhưng chẳng ai là bố. Tuy thế, áo quần rách mướp của chúng tràn đầy ánh sáng. Chúng thật dễ thương.

Georgette vẫn nói líu lo.

Con chim hót thế nào thì đứa trẻ líu lo như vậy. Cũng một bài ca. Một bài ca chưa rõ tiếng, bập bẹ, thâm trầm. Đứa trẻ hơn con chim ở cái kiếp người ảm đạm đang chờ đợi nó. Do đó, nỗi buồn của người nghe pha lẫn niềm vui của trẻ hát. Bài ca tuyệt vời nhất trên quả đất này chính là tiếng bập bẹ của loài người trên môi trẻ thơ. Cái tiếng thì thầm, như một ý nghĩ đang thuộc về bản năng, đòi hỏi một nền công lý vĩnh cửu; phải chăng đó là lời phản kháng trên ngưỡng cửa cuộc đời; một lời phản kháng khiêm tốn và não lòng; cái tuổi vô tư đang nở nụ cười ấy đòi hỏi tạo hóa phải có trách nhiệm đối với số phận các sinh linh yếu đuối và không có khả năng tự vệ. Tai họa nếu xảy ra sẽ là sự lạm dụng lòng tin.

Tiếng thì thầm của con trẻ không như lời nói của con người; chẳng thành cung bậc nhưng lại là một lời ca; chẳng thành âm vận nhưng chính là một ngôn ngữ; tiếng thì thầm ấy phát sinh từ bầu trời và không bao giờ tắt trên trái đất; nó có trước khi đứa trẻ sinh ra và tiếp tục mãi, đó là một sự kế tục. Tiếng bập bẹ ấy là tiếng nói của con trẻ khi còn là thiên thần và sau này là tiếng nói của người lớn; chiếc nôi có một dĩ vãng cũng như ngôi mộ có một Tương Lai; Tương Lai và Dĩ Vãng ấy kết tinh trong cái tiếng ríu rít bí ẩn; và không có gì chứng minh Thượng đế, chứng minh sự xung đột trong số mệnh bằng cái bóng tối lớn lao trong linh hồn màu hồng của con trẻ.

Georgette bập bẹ một mình cả gương mặt dịu hiền của nó là một nụ cười. Miệng cười, mắt cười, lúm má cũng cười, như sẵn sàng chờ đón một bình minh đầy bí ẩn. Tâm hồn tin ở ánh sáng. Trời trong xanh nóng ẩm, nắng đẹp. Đứa trẻ yếu ớt ấy không biết gì, không hiểu gì đắm mình trong mộng tưởng vô tư, cảm thấy được che chở trong cảnh trời đất này, giữa những cây cối hiền lành, chân thật, trong thôn trang trong sáng và yên tĩnh, giữa những tiếng xào xạc của tổ chim, của suối, của ruồi, của lá; trên những cảnh vật đó sáng ngời ánh sáng mênh mông.

Sau Georgette là René-Jean, anh cả, tròn bốn tuổi, thức dậy, nó đứng lên, bước qua nôi rất chững chạc, nhìn thấy chiếc bát, không chút ngạc nhiên, rồi ngồi xuống và bắt đầu ăn xúp.

Tiếng líu lo của Georgette không đánh thức nổi Gros-Alain, nhưng nghe tiếng thìa khua vào bát, chú này giật mình quay người lại và mở mắt ra. Gros-Alain đã ba tuổi. Nó thấy bát, chỉ việc giơ tay ra cầm lấy, rồi chẳng cần ra khỏi giường, nó đặt bát lên đùi, nắm lấy thìa, làm như René-Jean, bắt đầu ăn.

Georgette không chú ý gì các anh và giọng trầm bổng của nó như đung đưa trong giấc mơ. Mắt nó mở to nhìn lên trên có vẻ thiên thần; trên đầu đứa trẻ dù là trần hay vòm nhà thì cái phản chiếu vào trong mắt chúng cũng là trời cao.

Khi René đã ăn xong, nó lấy thìa cạo đáy bát, thở dài một cái rồi nói vẻ đĩnh đạc:

- Tôi ăn xong.

Câu đó làm cho Georgette tỉnh giấc mơ. Nó nói:

- Pu pu.

Rồi thấy René-Jean đã ăn xong và Gros-Alain đang ăn, nó cũng cầm bát xúp đặt bên cạnh nó và ăn, nhiều lần không đưa thìa lên miệng mà lại đưa lên tai. Thỉnh thoảng nó chẳng thèm văn minh nữa lấy tay bốc ăn.

Gros-Alain sau khi đã cạo đáy bát, liền chạy theo anh nó.

II

Bỗng nhiên, từ bên ngoài, ở phía dưới, từ mé rừng, vang lại một tiếng kèn đồng, thứ quân nhạc kiêu kỳ và nghiêm khắc. Từ trên đỉnh tòa tháp một tiếng tù và đáp lại.

Lần này lại là tiếng kèn đồng gọi và tiếng tù và đáp lại.

Tiếp đó là một tiếng kèn hai và một tiếng tù và thứ hai.

Và từ mé rừng vẳng lên một tiếng nói xa xăm nhưng rất rõ:

- Lũ kẻ cướp kia! Đầu hàng đi. Nếu không đầu hàng vô điều kiện trước lúc mặt trời lặn chúng ta sẽ đánh.

Một tiếng vang lên như sấm từ trên sân thượng tòa tháp:

- Đánh đi.

Tiếng phía dưới lại tiếp:

- Một phát súng đại bác sẽ bắn cảnh cáo lần cuối cùng, nửa giờ trước khi tấn công.

Và tiếng bên trên nhắc lại:

- Đánh đi.

Những tiếng ấy không vang tới tai mấy đứa trẻ, nhưng tiếng kèn, tiếng tù và vang cao hơn, xa hơn, và Georgette nghe tiếng kèn đầu tiên, nghển cổ lên và ngừng ăn; nghe tiếng tù và, nó buông thìa trong bát; nghe tiếng kèn thứ hai, nó giơ ngón tay trỏ bên phải. Lần lượt hạ xuống và giơ lên theo nhịp kèn và tù và, khi tiếng kèn và tù và đều im bặt, nó ngẩn người ra, ngón tay còn giơ trên không và miệng lẩm bẩm: misique 2 .

Chúng ta hiểu nó muốn nói: âm nhạc.

Hai đứa lớn, René-Jean và Gros-Alain không chú ý đến tiếng kèn và tiếng tù và; chúng đang mê mải chuyện khác; một con bọ vừng đang bò qua thư viện.

Gros-Alain vừa thấy kêu lên:

- Một con vật.

René-Jean chạy lại.

Gros-Alain nói tiếp:

- Nó châm đấy.

- Đừng đụng vào nó. - René-Jean nói.

Và cả hai đứa nhìn con vật đi qua.

Lúc ấy Georgette đã ăn xúp xong. Nó đưa mắt nhìn hai anh René-Jean và Gros-Alain đang ngồi trong khung cửa sổ, nghiêm trang nhìn xuống con bọ vừng; trán hai đứa giáp nhau, tóc quyện nhau; chúng nín thở, ngạc nhiên và chằm chằm nhìn con vật lúc ấy đã dừng lại không nhúc nhích, hình như không thích được ngắm nghía đến nước ấy.

Georgette thấy các anh say sưa nhìn cũng muốn biết chuyện gì. Đến gần hai anh nó không phải dễ nhưng nó vẫn quyết tâm đi tới; đoạn đường ngổn ngang nhiều thứ dưới đất, nào ghế đẩu lật nghiêng, từng chồng giấy má, những chiếc hòm trống không, long đanh, hòm quần áo và từng đống đồ vật khiến nó phải đi men chung quanh; thật là cả một quần đảo lởm chởm; Georgette vẫn liều đi tới. Nó bắt đầu bước ra khỏi nôi; rồi lần theo giữa núi đá, eo biển, đẩy một cái ghế, bò giữa hai cái hòm, trèo qua một bó giấy, leo bên này, lăn sang bên kia, dịu dàng phơi cái thân nhỏ nhoi trần truồng đáng thương, và cuối cùng ra tới biển khơi như thủy thủ thường gọi, nghĩa là một khoảng sàn khá rộng, không có gì vướng và nguy hiểm; thế là nó bò bốn chân, nhanh như con mèo qua khoang rộng này, bằng đường kính cả gian phòng, rồi nó tới gần cửa sổ; đến đây, có một trở ngại ghê gớm; đó là chiếc thang lớn nằm dọc tường đến tận cửa sổ và một đầu thang lại vượt quá chỗ khung cửa; cái thang trở thành một thứ mũi đất ngăn giữa Georgette và các anh nó; nó dừng lại và suy nghĩ; nó lẩm bẩm một mình, rồi quyết định; những ngón tay hồng hào nắm chắc lấy một bậc thang thẳng đứng, vì chiếc thang đặt nằm nghiêng; nó gắng nhón chân và ngã xuống; nó làm lại hai lần nữa; nhưng vẫn ngã; lần thứ ba, nó thành công; rồi nó đứng thẳng lên và lần lượt vịn vào các bậc thang, nó đi dọc theo thang; đến cuối thang nó mất chỗ vịn; nó sẩy chân, nhưng bíu được cái dóng thang to tướng, nó đứng thẳng đi vòng quanh đầu thang, rồi nhìn René-Jean và Gros-Alain, nó cười.

III

Trong lúc ấy, René-Jean, thích thú về những điều quan sát được về con bọ vừng, ngửng đầu nói:

- Một con cái.

Tiếng cười của Georgette làm René-Jean cười theo, và tiếng cười của René-Jean làm Gros-Alain cũng cười theo.

Georgette liên lạc được với các anh nó và cả ba đứng họp lại giữa sàn. Nhưng con bọ vừng đã biến mất. Nó đã nhân lúc Georgette cười mà chui xuống lỗ sàn gác.

Sau chuyện bọ vừng, nhiều chuyện khác xảy ra.

Đầu tiên là đàn én bay qua.

Chắc là én làm tổ dưới mái nhà. Chúng bay liệng gần cửa sổ, hơi sợ mấy đứa trẻ, liệng những vòng rộng trong không trung và cất vang lên tiếng hót dịu dàng của mùa xuân. Ba đứa trẻ ngẩng nhìn và quên bọ vừng.

Georgette lấy tay trỏ đàn én, và kêu lên:

- Chi chin!

René-Jean mắng em:

- Không phải là chi chin, gọi là con chim.

- Chon chim. - Georgette nói.

Và cả ba nhìn đàn én.

Tiếp đó, một con ong bay vào.

Không gì giống một linh hồn như con ong. Nó bay từ hoa này sang hoa khác, như một linh hồn từ ngôi sao này đến ngôi sao khác và nó đem mật về cũng như linh hồn mang ánh sáng về.

Con ong nào làm ồn ào lên, nó kêu vo vo như muốn nói: Tôi đến đây, tôi vừa ghé thăm hoa hồng, bây giờ tôi đến thăm bọn trẻ. Ở đây có việc gì nào?

Một con ong là một bà nội trợ, vừa gắt gỏng, vừa hát.

Con ong còn ở đây thì mấy đứa trẻ không rời mắt.

Ong quan sát khắp thư viện, luồn vào các ngóc ngách, dọc ngang, tự nhiên như ở trong tổ, lượn khắp tủ này qua tủ khác, xòa đôi cánh bay vi vu, nhìn tên sách qua cửa kính, làm như nó cũng biết đọc.

Thăm xong rồi nó bay đi. René-Jean bảo:

- Nó về nhà nó.

- Nó là một con vật - Gros-Alain nói.

- Không, nó là con ruồi - René-Jean đáp lại.

- Rùi - Georgette nói theo.

Ngay lúc ấy, Gros-Alain vừa nhặt được dưới đất một sợi dây, một đầu thắt nút, nó cắp lấy đầu dây chia giữa ngón tay cái và ngón trỏ rồi quay tít như chong chóng và nhìn say sưa.

Còn Georgette, lại bò bốn chân loanh quanh giữa sàn, đã tìm ra một chiếc ghế bành cổ kính có đệm bọc vải thêu bị mọt ăn thủng, cỏ ở trong đệm tung ra qua nhiều lỗ.

Georgette dừng lại bên ghế, lấy tay khoét rộng mấy lỗ và trầm ngâm kéo cỏ ra.

Bỗng nó giơ ngón tay, ý muốn nói: Nghe kìa.

Hai đứa anh ngảnh đầu lại.

Bên ngoài một thứ tiếng ì ầm, thoang thoảng xa xôi. Có thể là quân tấn công đang bố trí gì đó trong rừng; ngựa hí, trống đánh, xe lăn, tiếng xích chạm nhau, tiếng kèn nhà binh gọi và đáp lại nhau, một mớ tiếng động hỗn độn ghê rợn trộn lẫn với nhau thành một thứ hòa âm; mấy đứa trẻ lắng nghe, khoái trá.

- Đấy là Chúa trời làm thế đấy. - René-Jean nói.

IV

Tiếng động im bặt.

René-Jean mơ màng.

Những ý tưởng tán rồi tụ như thế nào trong những đầu óc nhỏ nhoi ấy? Có cái gì bí ẩn xáo trộn được những trí nhớ rất hỗn độn và rất ngắn ngủi ấy? Bên trong cái đầu dịu dàng của đứa trẻ đang suy nghĩ ấy như có một mớ hỗn độn những tiếng kêu cứu, những lời cầu nguyện, với hình ảnh hai bàn tay chắp lại, một nụ cười dịu hiền xa xưa mà giờ đây không còn nữa, và René-Jean thì thầm: Mẹ.

- Mẹ - Gros-Alain nói.

- Mẹ - Georgette nói theo.

Rồi René-Jean nhẩy cẫng lên. Gros-Alain thấy vậy cũng nhẩy lên.

Gros-Alain lặp lại các động tác, cử chỉ của René-Jean; Georgette làm ít hơn. Ba tuổi thì bắt chước bốn tuổi; còn hai mươi tháng thì giữ vững tính độc lập của mình.

Georgette vẫn ngồi, thỉnh thoảng nói một tiếng không nói thành câu. Đó là một nhà tư tưởng, nói bằng sấm chú, nói từng tiếng một.

Tuy vậy, một lát sau, nó cũng bắt chước và cuối cùng cố gắng làm như các anh nó, rồi cả ba để bàn chân trần ấy theo nhau chạy nhảy, chệnh choạng giữa bụi bặm trên sàn gỗ sồi láng bóng, dưới cái nhìn nghiêm nghị của những tượng đá bằng cẩm thạch mà chốc chốc Georgette lại băn khoăn liếc nhìn và lẩm bẩm:

- Thằng ngời!

Trong ngôn ngữ của Georgette, tiếng "ngời" là tất cả cái gì giống con người, mà cũng không hẳn là người. Đối với trẻ em, người hiện ra đã lẫn lộn với ma.

Georgette bước chập chững theo các anh, nó thích bò hơn là đi.

Bỗng dưng René-Jean lại gần một cửa sổ, ngẩng đầu lên, rồi cúi xuống, và chạy trốn trong góc tường cạnh cửa sổ. Nó vừa thấy ai nhìn nó. Đó là một người lính cộng hòa đóng quân trên đồi, nhân khi ngừng bắn và vi phạm quy ước một chút đã liều tới tận bờ hào, ở đó có thể nhìn vào thư viện. Thấy René-Jean trốn, Gros-Alain cũng chạy trốn; nó nép mình bên René-Jean và Georgette cũng đến nấp sau chúng. Chúng ngồi đấy, im thin thít, không cựa quậy, và Georgette đặt một ngón tay lên trên môi. Một lát sau, René-Jean liền nhô đầu ra; người lính còn đứng đó. René-Jean thụt đầu vào ngay; và cả ba đứa không dám trở mạnh. Như thế kéo dài khá lâu. Cuối cùng, sợ mãi đâm chán, Georgette đánh bạo nhìn ra. Người lính đã đi rồi. Ba đứa trẻ lại chạy chơi.

Gros-Alain, tuy hay bắt chước và khâm phục René-Jean nhưng lại rất giỏi tìm ra nhiều cách để chơi. Anh nó và em nó bỗng thấy nó lao mình chạy, kéo theo sau chiếc xe nhỏ có bốn bánh, chẳng biết nó lôi ở đâu ra.

Chiếc xe búp bê ấy đã bao nhiêu năm bỏ quên trong bụi bặm làm bạn với sách vở của các danh nhân và tượng của thánh hiền. Có thể là một thứ đồ chơi của Gauvain hồi thơ ấu.

Gros-Alain lấy sợi dây làm roi quật đen đét; nó hãnh diện lắm. Những nhà phát minh đều như vậy cả. Khi người ta không tìm ra được châu Mỹ thì người ta tìm ra được một chiếc xe con. Thì hãy thế đã.

Nhưng phải chia nhau. René-Jean muốn buộc mình vào xe để kéo còn Georgette muốn trèo lên trên. Georgette thử ngồi vào. René-Jean làm ngựa. Gros-Alain làm xà ích.

Nhưng chú xà ích chưa biết nghề, chú ngựa phải dạy cho. René-Jean thét bảo Gros-Alain:

- Nói thế này: Đi!

- Đi! - Gros-Alain lặp lại.

Xe đổ. Georgette lăn nhào. Các thiên thần chúa là hay kêu. Georgette kêu lên rồi bậm bệu muốn khóc.

- Thưa cô - René-Jean nói - Cô đã lớn quá rồi.

- Lớn rồi - Georgette cũng nhắc lại.

Và cái lớn ấy đã an ủi cái ngã đau.

Trên gờ tường trang trí dưới các cửa sổ khá rộng bụi đất từ cao nguyên bay vào chất lại và nước mưa đã biến bụi bặm thành đất; gió đã gieo vào đó một hạt, thậm chí một thứ cây gai thuộc loại khỏe gọi là dâu rừng nhân đó đã mọc lên. Bấy giờ vào tháng tám, cây dâu nặng trĩu quả và một nhánh dâu lạ đâm vào trong cửa sổ. Nhánh dâu chĩa xuống gần sát sàn gác.

Gros-Alain, sau khi khám phá ra sợi dây, chiếc xe, lại khám phá ra cây dâu này. Nó lại gần, hái một quả dâu rồi bỏ vào miệng ăn.

- Mình đói. - René-Jean nói.

Và Georgette dùng đầu gối và bàn tay nhảy chồm chỗm tới.

Cả ba đứa giật cành cây và ăn sạch quả dâu. Chúng nó ăn no ăn chán, bôi khắp mặt mũi, đỏ lựng vì màu dâu, cả ba thiên thần tí hon ấy đã trở thành ba con thú con, điều đó chắc là chướng mắt Dante, nhưng lại làm vừa lòng Virgile 3 .

Chúng nó cười ha hả.

Thỉnh thoảng gai dâu châm vào ngón tay chúng. Chẳng có gì cho không bao giờ.

Georgette giơ cho René-Jean xem ngón tay có một giọt máu long lanh và chỉ cành dâu nói: Châm!

Gros-Alain cũng bị gai đâm, nhìn cây dâu một cách ngờ vực nói: Một con vật.

- Không phải, một cái gậy. - René-Jean trả lời.

- Cái gậy, ác thật - Gros-Alain nói tiếp. Georgette, một lần nữa muốn khóc, nhưng rồi lại cười.

V

Nhưng René-Jean có lẽ vì ghen với những phát minh của em nó là Gros-Alain nên đã có một dự kiến lớn. Trong khi vừa hái quả dâu và bị gai châm vào tay, mắt nó đã luôn liếc nhìn về phía cái giá sách đặt trên một cái trụ xoay, đứng riêng ở giữa thư viện. Chính trên cái trụ xoay ấy đặt quyển sách nổi tiếng Thánh Barthélémy.

Đó là một quyển sách khổ giấy gấp tư, đồ sộ và vô giá. Quyển Thánh Barthélémy này đã phát hành ở Cologne do nhà xuất bản nổi tiếng Bloeuw tên La-tinh là Coesius, người đã xuất bản bộ kinh thánh nổi tiếng năm 1682. Sách này in ở xưởng có máy in "hộp" và dây chằng bằng gân bò; không phải trên giấy Hà Lan, mà trên thứ giấy Ả Rập đẹp, được Edrisi 4 hết sức ca ngợi, làm bằng lụa và bông, bao giờ cũng trắng tinh. Bìa đóng da mạ vàng, khóa bạc; tờ lót đầu và cuối sách bằng thứ giấy da đặc biệt mà những người buôn giấy da ở Paris thề sống thế chết là mua ở nhà hàng Saint-Mathurin "chứ không phải ở nơi nào khác". Quyển này đầy những tranh khắc gỗ, khắc đồng và bản đồ nhiều nước; đầu sách là bản phản kháng của các nhà in, nhà làm giấy và nhà xuất bản chống lại đạo dụ 1635, đánh thuế "da thuộc, rượu bia, gia súc chân chẽ, cá biển và giấy"; và sau trang đầu sách người ta đọc thấy những câu đề tặng họ Gryphe nổi tiếng hồi ấy ở Lyon cũng như họ Elzévir ở Amsterdam 5 . Do tất cả những điểm đó, nó thành một quyển sách lừng danh, hiếm có gần như quyển Apostol ở Mat-xcơ-va.

Quyển sách rất đẹp; vì vậy, René-Jean nhìn nó, có lẽ quá lâu. Sách mở đúng vào bức tranh khắc lớn vẽ thánh Barthélémy mang bộ da của mình trên cánh tay. Bức tranh này, đứng dưới cũng trông thấy. Khi đã ăn hết quả dâu, René-Jean ngắm nghía bức tranh với đôi mắt trìu mến ghê rợn, và Georgette nhìn theo hướng mắt anh nó, trông thấy bức tranh và nói: tanh.

Tiếng ấy hình như quyết định thái độ của René-Jean. Thế là nó làm một việc dị thường khiến cho Gros-Alain hoảng sợ. Trong một góc thư viện có một chiếc ghế dựa lớn bằng gỗ sồi; René-Jean đi tới chiếc ghế, nắm lấy và một mình kéo ghế đến giá sách. Rồi khi chiếc ghế đã đứng sát giá sách, nó trèo lên trên và đặt hai nắm tay lên trên quyển sách.

Lên đến chỗ cao ấy, nó cảm thấy cần tỏ ra oai vệ; nó cầm mép trên bức "tanh" và xé rất cẩn thận; thánh Barthélémy bị xé ngang nhưng đó không phải là lỗi của René-Jean; nó để lại trong sách tất cả phía trái với một con mắt và một phần vòng hào quang trên đầu của đấng lão tông đồ truyền kinh phúc âm giả hiệu, và nó tặng Georgette nửa kia của thánh với bộ da. Georgette nhận vị thánh và nói:

- Thằng người.

- Còn em! - Gros-Alain đòi.

Trang sách đầu tiên bị xé cũng như giọt máu đầu tiên chảy ra. Cái đó quyết định cuộc thảm sát.

René-Jean giở sách; sau thánh còn có chân dung của nhà bình luận Pantoenus; René-Jean tặng Pantoenus cho Gros-Alain.

Trong lúc ấy, Georgette đã xé mảnh tranh của nó thành hai, rồi hai mảnh thành bốn; đến nỗi lịch sử có thể chép rằng thánh Barthélémy, sau khi đã bị lột da ở Arménie, còn bị xé ra từng mảnh ở Bretagne.

VI

Xé xong, Georgette chìa tay đòi René-Jean:

- Nữa!

Sau vị thánh và nhà bình luận, tới những hình gớm ghiếc của những nhà chú giải. Nhà bình luận xưa nhất là Gavantus, René-Jean rứt ra và trao Gavantus cho Georgette. Tất cả các nhà chú giải khác cũng đi theo con đường này. Cho là cao thượng, René-Jean không giữ cho mình cái gì hết. Gros-Alain và Georgette ngắm nghía nó; nó cho thế là đủ: được công chúng khâm phục là nó mãn nguyện.

René-Jean hào phóng tặng Gros-Alain Fabricio Pignatelli, tặng Georgette cha Stilting; nó lại tặng Gros-Alain Alphonse Tostat, tặng Georgette Cornelius a Lapide; Gros-Alain được nhận Henri Hammond, Georgette được cha Roberti, kèm theo bức tranh thành phố Douai, nơi cha sinh năm 1619. Gros-Alain nhận được bản phản kháng của các nhà làm giấy và Georgette được mấy hàng đề tặng họ Gryphe. Sách còn có bản đồ. René-Jean phân phát cả. Nó cho Gros-Alain Ethiopie và cho Georgette Lycaonie.

Xong, nó vứt sách xuống đất.

Thật là một khoảnh khắc đáng sợ. Gros-Alain và Georgette vừa say sưa vừa lo sợ trông bộ dạng René-Jean nhíu lông mày, duỗi chân, nắm tay và đẩy ra ngoài giá quyển sách to tướng kia. Một quyển sách trang nghiêm mất hết tư thế, thật là bi đát. Khổ sách nặng bị hất xuống cùng một lúc, ngập ngừng, chuyển mình rồi đổ nhào, rách tan, nhàu nát, long bìa, hỏng gáy, nằm úp sấp giữa sàn một cách thảm hại. May mà sách không rơi phải chúng nó.

Chúng thích thú vì không bị đè bẹp. Tất cả những hành động phiêu lưu của những kẻ đi xâm lược cũng không kết thúc được tốt đẹp như vậy.

Cũng như mọi thứ danh vọng, quyển sách đổ cũng gây một tiếng ồn ào lớn và tung lên một đám bụi.

Sau khi đã quật ngã quyển sách, René-Jean từ ghế bước xuống.

Một lát im lặng và ghê sợ, chiến thắng nào cũng có những nỗi kinh hoàng. Ba đứa trẻ cầm tay nhau và đứng cách xa nhìn quyển sách bị xé nát.

Nhưng sau một chút mơ màng, Gros-Alain cương quyết đến gần và đá quyển sách một cái.

Thế là hết. Nhưng sự thèm muốn phá loại vẫn còn. René-Jean đá một cái, Georgette đá một cái, do đó nó bị ngã, may mà ngã ngồi; nhân đà nó nhảy lên thánh Barthélémy; bao uy danh mất hết; René-Jean nhảy xổ vào, Gros-Alain lăn xả tới, và cả ba đứa trẻ vui thích, say sưa, thắng thế, tàn nhẫn, đang xé xác các tấm ảnh khác, đâm thủng các trang sách, giật đứt cái dây đánh dấu trang, trầy nát tấm bìa, làm bong lớp da chữ mạ vàng, rút đanh ở các góc bằng bạc ra, xé rách giấy ra, xé rách các trang sách quý, rồi sử dụng tất cả chân tay, răng, ba vị thiên thần hồng hào, vui thích dữ tợn, chà đạp lên vị tông đồ không tự vệ.

Chúng nó tiêu diệt xứ Arménie, xứ Judée, xứ Bénévent, nơi lưu tích của thánh, cả Nathanaёl có lẽ cũng là một với Barthélémy, giáo hoàng Gélase, người đã tuyên bố bản kinh Barthélémy-Nathanaёl là giả hiệu, cùng tất cả các hình vẽ, bản đồ; và cuộc trừng phạt tàn khốc quyển sách cổ lôi cuốn chúng đến nỗi con chuột nhắt chạy qua chúng cũng không để ý.

Đó là một cuộc hủy diệt.

Xé lịch sử, cổ tích, khoa học, thần thoại thật hay giả, chữ La-tinh, nhà thờ, mê tín, cuồng tín, bí ẩn ra từng mảnh. Xé cả một tôn giáo từ trên xuống dưới, đó là công việc của ba người khổng lồ, và cũng là công việc của ba đứa trẻ; thời gian qua, khá lâu, nhưng chúng nó đã đạt kết quả; thánh Barthélémy chẳng còn vết tích gì nữa.

Khi xong một việc, khi trang sách cuối cùng đã rời ra, khi tờ tranh cuối nằm dưới đất, khi cả quyển sách chỉ còn lại từng mảnh vụn bài văn và minh họa, René-Jean đứng phắt dậy, nhìn mặt sàn phủ đầy giấy rời và vỗ tay.

Gros-Alain cũng vỗ tay.

Georgette nhặt một tờ, đứng dậy, tựa vào cửa sổ cao tới cằm và xé vụn tung qua cửa. Thấy thế René-Jean và Gros-Alain cũng làm theo. Chúng nhặt và xé, nhặt nữa, xé nữa như Georgette đã làm; và hết trang này đến trang khác, gần hết quyển sách cổ bay trong gió. Georgette mơ màng, nhìn những mảnh giấy vụn trắng theo gió thổi tung lên, và nói:

- Bươm bướm!

Và cuộc thảm sát kết thúc, tiêu tan trong bầu trời xanh.

VII

Thế là xong cuộc hành hình thánh Barthélémy lần thứ hai, người đã tử vì đạo lần đầu tiên năm 49 Công Nguyên.

Lúc đó trời đã chiều, nóng càng tăng, hai con mắt Georgette lờ đờ muốn ngủ, René-Jean tới gần nôi, lôi ra cái bị rơm dùng làm đệm, kéo tới gần cửa sổ, nằm dài và nói.

- Ta ngủ.

Gros-Alain gối đầu lên René-Jean, Georgette gối đầu lên Gros-Alain, và ba tên bất trị lăn ra ngủ.

Hơi gió ấm luồn qua cửa sổ mở toang; hương hoa dại từ các khe đồi, bay phảng phất trong gió chiều; không gian trầm lặng, từ bi; mọi vật tỏa ánh sáng dịu hiền, tình yêu thương bao la; ánh sáng mặt trời vuốt ve tạo vật; từ các lỗ chân lông, người ta cảm thấy sự nhịp nhàng tỏa ra từ vẻ dịu hiền mênh mông của muôn loài! Có một tấm lòng từ mẫu trong khoảng không gian vô tận. Tạo hóa là cả một sự kỳ diệu đang nảy nở vừa vĩ đại lại thấm lòng nhân từ, tưởng chừng như trong cuộc tranh chấp ghê sợ của loài người có kẻ nào vô hình đang bí mật ân cần, che chở kẻ yếu chống lại kẻ mạnh; đồng thời, cũng thật là đẹp; vẻ huy hoàng gợi lên đức đại độ. Phong cảnh êm dịu không tả siết, đồng cỏ và dòng sông thấp thoáng bóng mây, ánh lên thật đẹp; khói chiều bay tận mây cao như ước mơ tìm tới ảo ảnh; chim từng đàn liệng trên tháp Tourgue; chim én nhìn qua cửa sổ, như muốn đến xem mấy đứa trẻ ngủ có ngon không. Lũ trẻ gối lên nhau rất đáng yêu, không nhúc nhích, nửa trần truồng, trong những dáng điệu âu yếm; chúng dễ thương và trong trắng. Cả ba cộng lại chưa đầy chín tuổi, nụ cười thoáng nở trên môi như hiện lên những giấc mơ thiên đường, có lẽ Chúa đang ghé tai bảo ban chúng nó, chúng nó là những kẻ mà tất cả ngôn ngữ của loài người gọi là yếu đuối và được ban phúc. Chúng nó là những kẻ ngây thơ đáng kính; tất cả cảnh vật lặng im tưởng chừng hơi thở từ những lồng ngực dịu hiền của chúng là vũ trụ và cả tạo hóa lắng nghe, lá không xào xạc, cỏ không rung rinh! Hình như cả thế giới mênh mông đầy sao đang nín thở để không khuấy động ba đứa trẻ nằm ngủ bình dị và thần tiên kia, và không có gì cao cả bằng lòng tôn kính lớn lao của tạo vật chung quanh tuổi thơ bé bỏng ấy.

Mặt trời sắp lặn và xuống gần tận chân trời. Bỗng, trong cảnh thanh bình sâu thẳm ấy, một tia chớp lóe ra từ khu rừng, và tiếp đó là một tiếng động ghê rợn, người ta vừa mới bắn một phát đại bác. Tiếng vang cùng với tiếng động gây thành một tiếng nổ ầm ầm. Tiếng nổ kéo dài từ đồi này đến đồi khác, nghe thật kinh sợ. Nó đánh thức Georgette dậy.

Georgette ngửng lên một tý, giơ ngón tay nhỏ, lắng nghe rồi nói:

- Bùm!

Tiếng động đã im và cảnh vật trở lại lặng lẽ, Georgette lại kê đầu lên Gros-Alain và ngủ lại.

--------------------------------

1

Barthélémy là một trong mười hai tông đồ của chúa Jésus thường gọi là thánh Barthélémy. Vị thánh này tương truyền bị lột da và đóng lên cây thập ác, năm 49 sau Công Nguyên. Lễ thánh vào ngày 24-08. Vào đêm 23-08-1572, trước ngày vía của thánh Barthélémy, ở Pháp xảy ra một vụ thảm sát lớn gọi là vụ thảm sát ngày thánh Barthélémy. Vụ thảm sát này do vua Pháp (theo Cựu giáo chủ trương giết phái Tân giáo. Cuốn sách lấy tên Vụ thảm sát ngày thánh Barthélémy mà tác giả nói ở đây bị ba đứa trẻ xé nát. Sách ấy kể thân thế và sự nghiệp thánh Barthélémy.

2

Georgette phát âm là misique thay vì musique, trong tiếng Pháp nghĩa là "âm nhạc".

3

Dante (1265 - 1321 và Virgile (70 - 19 TCN : Hai nhà thơ lớn của nước Ý.

4

Nhà nghiên cứu địa lý, người Ả Rập, có nhiều công trình nghiên cứu về đạo Hồi thế kỷ XII.

5

Gryphe và Elzévir: Những gia đình nổi tiếng làm nghề in.

Quyển tư

Người mẹ



I
Tử thần đi qua

Cho đến chiều hôm ấy, người mẹ lang thang suốt cả ngày. Kể ra thì ngày nào chị ta cũng thế: cứ đi mãi, không bao giờ dừng. Giấc ngủ nặng trĩu của chị ta ở một xó nào đấy cũng chẳng phải là dịp nghỉ ngơi, cũng như ăn, gặp đâu ăn đấy chả khác loài chim. Chị ta chỉ ăn và ngủ vừa đủ để khỏi ngã gục.

Đêm qua chị ta nằm ngủ trong một cái nhà kho bỏ hoang, nội chiến đã tạo nên những ngôi nhà đổ nát ấy; giữa cánh đồng vắng vẻ, chị ta thấy bốn bức tường, một cái cửa mở toang, một ít rơm dưới một mái nhà xơ xác, và chị nằm trên ổ rơm ấy, dưới mái nhà ấy, nghe chuột rúc dưới rơm, và nhìn sao mọc qua mái nhà. Chị ta ngủ một giấc; rồi nửa đêm thức dậy chị ta lại đi, cố gắng đi cho được một quãng khá dài trước khi nắng gắt. Đối với những người đi bộ đường xa về mùa hè, đi ban đêm dễ chịu hơn đi ban ngày.

Chị ta cố đi theo đúng con đường ang áng do người dân quê ở Ventortes chỉ cho; chị ta đi mãi về phía mặt trời lặn. Ai gần chị lúc ấy chắc cũng nghe tiếng chị lẩm bẩm luôn miệng: La Tourgue. Cùng với tên ba đứa con, chị ta chỉ còn biết tiếng ấy nữa mà thôi.

Vừa đi, chị vừa nghĩ ngợi. Chị nghĩ đến những biến cố đã qua; chị nghĩ đến tất cả những đau khổ, những điều đã chịu đựng, những cuộc gặp gỡ, những cái ô nhục, những điều kiện, để có chỗ nghỉ chân, để lấy một miếng bánh, có khi chỉ để người ta chỉ đường cho. Một người đàn bà khốn khổ còn đau thương hơn một người đàn ông khốn khổ, vì họ còn là một thứ đồ chơi. Bước đường lưu lạc quả là ghê rợn. Dầu sao, chị cũng coi thường tất cả, miễn là tìm được con.

Hôm ấy chị ta tới một thôn cạnh đường; trời mới tờ mờ sáng, cảnh vật còn chìm trong đêm tối; tuy vậy, vài cánh cửa đã hé mở và có những người tò mò thò đầu ra ngoài cửa sổ. Dân chúng xôn xao như ong vỡ tổ. Đó là do họ vừa nghe thấy tiếng bánh xe lăn và tiếng xích sắt loảng xoảng.

Trên quảng trường, trước nhà thờ, một đám đông hốt hoảng, mắt nghếch lên trời đang nhìn một cái gì từ đỉnh đồi kéo xuống theo con đường đi vào thôn. Đó là một chiếc xe bốn bánh có năm con ngựa buộc xích kéo. Trên chiếc xe chồng chất những thứ giống như những rường nhà dài, ở giữa có cái gì hình dạng khác thường; tất cả được che dưới một chiếc vải bạt nom như một tấm vải liệm. Mười người cưỡi ngựa đi trước, mười người cưỡi ngựa đi sau. Họ đội mũ chào mào, và phía trên vai họ ló lên những mũi nhọn như là gươm tuốt trần. Cả đoàn ấy tiến chậm chạp, vạch một nét đen đâm lên nền chân trời. Tưởng như xe, ngựa, người cùng một màu đen. Phía sau là cảnh ban mai tái nhợt.

Cả đoàn tiến vào thôn và đi vào quảng trường.

Trong lúc chiếc xe đi xuống, trời đã hửng sáng và người ta đã có thể nhìn rõ đoàn người đi lặng lẽ như những cái bóng.

Giữa lúc cỗ xe và lính cảnh sát ấy vào quảng trường, người mẹ khốn khổ lang thang từ phía khác cũng vừa tới và lại gần đám đông. Trong đám đông đã có những tiếng thì thầm hỏi và đáp:

- Cái gì đấy?

- Cái máy chém đấy.

- Ở đâu đến?

- Từ Fougères.

- Đi về đâu?

- Không rõ. Nghe nói đi tới một lâu đài ở phía Parigné.

- Ở Parigné!

- Nó muốn đi đâu thì đi, đừng dừng ở đây là được!

Cỗ xe đồ sộ ấy, đồ đạc bọc kín trong một thứ vải liệm, đoàn ngựa kéo, lính cảnh sát, tiếng xích loảng xoảng, bọn người ngậm tăm, vào lúc mờ mờ sáng, tất cả cảnh ấy như là cảnh ma.

Đoàn người ngựa kéo qua khỏi thôn; thôn nằm trong lòng chảo, con đường vắt qua, một bên dốc xuống, một bên dốc lên; khoảng mười lăm phút sau, dân quê vẫn đứng ngẩn ra như phỗng đã lại thấy cái đoàn kinh tởm kia hiện lên ở trên đỉnh quả đồi ở phía tây. Bánh xe to lộc cộc trên đường ổ gà, giây xích kêu leng keng trong gió sớm, lưỡi gươm lấp lánh; mặt trời đã lên, con đường ngoặt sang phía khác, và tất cả mất hút.

Chính lúc ấy, Georgette trong thư viện, tỉnh dậy bên cạnh hai đứa anh đang còn ngủ, và cất tiếng chào hai bàn chân đỏ hồng của nó.

II
Tử thần lên tiếng

Người mẹ đã nhìn thấy cái vật đen tối ấy đi qua, nhưng không hiểu gì, mà cũng chẳng tìm để hiểu. Trước mắt chị ta chỉ có một mộng ảnh: mấy đứa con của chị mịt mù trong bóng tối.

Rồi chị ta cũng đi ra khỏi thôn, sau đoàn kia một chút và cùng đi một đường, cách một quãng sau tốp lính cảnh sát thứ hai. Bỗng dưng hai tiếng "máy chém" trở lại trong óc chị; "máy chém", chị ta nghĩ. Michelle Fléchard con người mông muội ấy chẳng biết cái đó là cái gì; nhưng bản năng báo trước, chẳng biết sao chị ta rùng mình một cái, như thấy đi sau cái ấy ghê tởm quá, thế là chị rẽ qua trái, bỏ con đường cái và luồn vào dưới rừng cây khu Fougères.

Dò dẫm một lúc, chị ta thấy một gác chuông và mấy mái nhà, đó là một thôn ở ven rừng, chị ta đi tới đó. Chị ta đói.

Đó là một trong những thôn có đồn bốt của phe cộng hòa.

Chị ta đi tới trước trụ sở thôn.

Dân trong thôn cũng đang xôn xao lo lắng. Một đám người tụ tập chen chúc trước tam cấp trụ sở. Một người đang đứng trên tam cấp, tay cầm một tờ giấy lớn mở rộng, sau lưng có lính hộ vệ bên phải có một tay trống, bên trái có một người cầm lọ hồ và một cái bút quết hồ.

Trưởng thôn đứng ở bao lơn phía trên cửa trụ sở, băng tam tài đeo chéo trên người lẫn trong bộ quần áo dân quê.

Người cầm tờ giấy là người rao tin.

Anh ta đeo đai da chéo trước ngựa với một cái túi, mắc vào đấy điều này chứng tỏ anh ta đã đi từ thôn này qua thôn khác để loan báo khắp nơi.

Vừa lúc Michelle Fléchard tới gần, anh ta căng tờ giấy ra, và bắt đầu lớn tiếng đọc:

- "Nước Cộng hòa Pháp, thống nhất và không thể chia cắt".

Một hồi trống nổi lên. Cả đám đông lại nhấp nhô. Mấy người đội mũ nồi cất mũ lên; mấy người đội mũ có vành thì ấn mũ xuống. Hồi ấy, trong vùng đó người ta có thể biết chính kiến theo kiểu mũ; mũ có vành là bảo hoàng, mũ nồi là cộng hòa. Tiếng xôn xao tắt đi và người ta nghe đọc:

- "Chiếu theo các mệnh lệnh đã tiếp nhận và quyền hạn được Ủy ban cứu quốc giao cho chúng tôi..."

Lại một hồi trống nữa. Người rao tin tiếp:

- "Và thi hành sắc luật của Viện Quốc ước đặt ra ngoài vòng pháp luật tất cả những tên phiến loạn bắt được quả tang có khí giới trong tay, và kết án tử hình tất cả những ai cho những tên phiến loạn này trú ẩn hoặc để cho chúng thoát ngục..."

Một người dân quê hỏi nhỏ người bên cạnh:

- Này, tử hình là cái gì?

Người đứng bên trả lời:

- Tôi không biết.

Người rao tin vẩy vẩy tờ giấy:

- "Chiếu theo khoản 17, luật ngày 30 tháng 4, ủy thác quyền hành cho các vị đại diện và cấp bộ kế cận giải quyết tội trạng bọn phiến loạn..."

- "Đặt ra ngoài vòng pháp luật..."

Anh ta ngừng một lát và tiếp:

- "Tất cả những kẻ có tên và bí danh sau đây..."

Mọi người lắng tai nghe.

Giọng người rao tin vang to lên:

- "Lantenac, tên cướp..."

- Đức ông đấy.

Một người dân quê lẩm bẩm. Và trong đám đông có tiếng xì xào:

- Đức ông đấy.

Người rao tin lại tiếp:

- "Lantenac, tên cướp, trước đây là hầu tước. Imânus, tên cướp..."

Hai người dân quê đưa mắt nhìn nhau.

- Gouge-le-Bruant đấy.

- Đúng, chính là ông Tiêu-Diệt-Bọn-Xanh đấy.

Người rao tin đọc tiếp danh sách.

- "Grand-Francoeur, tên cướp..."

Đám đông lầm rầm:

- Thầy tu đấy.

- Phải, tu viện trưởng Turmeau.

- Phải, làm linh mục đâu ở phía bên kia rừng La Chapelle.

- Và là kẻ cướp. - Một người đội mũ nồi nói chen vào.

Người rao tin đọc:

- "Boisnouveau, tên cướp. Hai anh em Gậy-Nhọn, hai tên cướp. Houzard, tên cướp..."

- Ông De Quélen đấy - Một người dân quê nói.

- "Panier, tên cướp..."

- Ông Sepher đấy.

- "Place-nette, tên cướp..."

- Ông Jamois đấy.

Người rao tin tiếp tục đọc, không chú ý đến những câu bàn tán ấy:

- "Guinoiseau, tên cướp. Chatenay, tức Robi, tên cướp..."

Một người dân quê nói nhỏ:

- Guinoiseau chính là Le Blond, Chatenay là De Saint-Ouen.

Người rao tin tiếp:

- "Hoisnard, tên cướp..."

Và người ta nghe trong đám đông xì xào:

- Ông De Ruillé đấy.

- Phải, ông Cành-Vàng đấy.

- Ông ấy có người anh chết trận ở Pontorson.

- Vâng, tên là Hoisnard-Malonnière.

- Một thanh niên mười chín tuổi, đẹp trai.

- Xin chú ý - Người rao tin lại tiếp - Đây là phần cuối của bản danh sách. "Belle-Vigne, tên cướp. La Musette, tên cướp. Sabre-tout, tên cướp. Brin-d’Amour, tên cướp..."

Một anh con trai hích tay một cô gái. Cô con gái cười. Người rao tin vẫn tiếp tục:

- "Chante-en-hiver, tên cướp. Le Chat, tên cướp..."

Một người dân quê nói:

- Moulard đấy.

- "Tabouze, tên cướp..."

Một người dân quê nói:

- Gauffre đấy.

- Hai anh em Gauffre - Một người đàn bà chêm vào.

- Người tử tế cả. - Một người lẩm bẩm.

Người rao tin vẩy vẩy tờ giấy và trống lại rung lên.

Người rao tin đọc tiếp:

- "Những tên nói trên đây, bất kỳ bất được ở đâu, sau khi thẩm tra lý lịch, đều đem xử tử hình ngay".

Mọi người xôn xao.

Người rao tin tiếp:

- "Ai cho những tên này ẩn nấp và giúp chúng trốn thoát sẽ bị đưa ra tòa án quân sự và xử tử hình. Ký tên..."

Bỗng lặng phắc cả.

- "Ký tên: Đại diện Ủy ban Cứu quốc, Cimourdain"

- Một ông thầy tu. - Một người dân quê nói.

- Cha xứ Parigné đấy.

Một thị dân thêm:

- Turmeau và Cimourdain. Một thầy tu trắng và một thầy tu xanh.

- Cả hai đều đen ngòm. - Một thị dân khác nói tiếp.

Thôn trưởng đứng trên bao lơn giơ mũ lên và hô:

- Cộng hòa muôn năm!

Một hồi trống nữa báo rằng người rao tin chưa đọc xong. Quả nhiên anh ta vẫy tay:

- Chú ý! Tờ cáo thị còn bốn hàng cuối cùng đây. Do cấp chỉ huy đạo quân chinh phạt vùng Bờ-Biển-Bắc là tư lệnh Gauvain ký tên.

- Nghe kìa! - Trong đám đông có tiếng nói.

Và người rao tin đọc:

- "Xử tội tử hình..."

Mọi người im lặng.

- "Kẻ nào vi phạm lệnh cấm mọi sự cứu giúp mười chín tên phản nghịch nói trên hiện đang bị bao vây trong tháp Tourgue".

- Sao? - Có người hỏi.

Tiếng đàn bà. Tiếng một người mẹ.

III
Dân quê xì xào

Michelle Fléchard đứng lẫn vào đám đông. Chị ta không nghe được gì cả, nhưng điều không lắng nghe lại lọt vào tai. Tiếng La Tourgue đã lọt tai chị ta. Chị ta ngẩng đầu lên và lặp lại: "Sao? La Tourgue à?"

Người ta nhìn chị. Chị có vẻ ngơ ngác, rách rưới. Có tiếng rì rầm: "Trông có vẻ một mụ kẻ cướp".

Một người đàn bà dân quê bưng một thúng bánh mì đen đến gần và nói nhỏ với chị ta:

- Im đi.

Michelle Fléchard đờ đẫn nhìn bà kia. Chị ta lại chẳng hiểu gì nữa. Cái tên La Tourgue này lướt qua như một ánh chớp rồi lại mù mịt. Sao, chị ta không có quyền hỏi thăm à? Có gì mà người ta nhìn chị như vậy?

Trong khi ấy, trống đã rung lên hồi cuối cùng, tờ cáo thị đã được dán lên, trưởng thôn đã trở vào trụ sở người giao tin đã đi qua thôn khác và đám đông đã giải tán.

Một nhóm còn đứng lại trước tờ cáo thị. Michelle Fléchard đi tới đó.

Người ta đang bàn tán về những tên người bị đặt ra ngoài vòng pháp luật.

Ở đó có cả dân quê và thị dân, nghĩa là có cả phe Trắng và phe Xanh.

Một người dân quê nói:

- Chẳng hề gì, họ chẳng bắt được hết cả đâu. Mười chín, chỉ là mười chín thôi. Họ chẳng bắt được Priou, chẳng bắt được Benjamin Moulins, chẳng bắt được Goupil ở giáo khu Andouillé.

- Cũng không bắt được Lorieul ở Monjean. - Người khác nói.

Những người khác thêm vào:

- Cả Brice-Denys.

- Cả François Dudouet.

- Đúng, người ở Laval.

- Cả Huet ở Launay-Villiers.

- Cả Grégis.

- Cả Pilon.

- Cả Filleul.

- Cả Ménicent.

- Cả Guéharrée.

- Cả ba anh em nhà Logerais.

- Cả ông Lechandelier De Pierreville.

- Đồ ngốc - Một ông cụ già tóc bạc nghiêm khắc lên tiếng - Họ bắt được hết nếu họ bắt được Lantenac.

- Đã bắt được đâu. - Một anh còn trẻ lẩm bẩm.

Người kia đáp:

- Mất Lantenac là mất linh hồn. Lantenac chết thì Vendée cũng bị tiêu diệt.

- Cái ông Lantenac ấy là ai thế? - Một thị dân hỏi.

Một thị dân khác trả lời:

- Trước là quý tộc đấy.

Một người khác thêm:

- Một trong những tên bắn giết đàn bà.

Michelle Fléchard nghe được nói luôn:

- Đúng đấy.

Mọi người quay lại.

Chị ta nói thêm:

- Vì người ta đã bắn tôi mà.

Câu nói lạ thật. Y như người còn sống mà tự xưng là chết rồi. Mọi người liếc nhìn chị ta.

Quả nhiên nom chị ta thật đáng ngờ. Cái gì cũng động lòng, cũng hoảng hốt, cũng run rẩy như loài vật và quá khiếp đảm đến nỗi chị ta trở nên đáng sợ. Trong nỗi thất vọng của người đàn bà có cái vẻ yếu hèn thật ghê rợn. Người ta tưởng như thấy một con người bị treo ở đầu sợi dây số mệnh. Nhưng người dân quê lại nhìn sự việc một cách đại khái hơn. Một người lẩm bẩm:

- Rất có thể là một con gián điệp.

Bà già hồi nãy nói nhỏ với chị:

- Đừng nói nữa, và đi đi.

Michelle Fléchard trả lời:

- Tôi không làm gì hại cả. Tôi tìm con tôi.

Bà già nhìn những người đang nhìn Michelle Fléchard, vừa lấy ngón tay chỉ vào trán vừa nháy mắt và nói:

- Chị ta ngớ ngẩn đấy.

Rồi người ấy kéo Michelle ra một chỗ và đưa cho một chiếc bánh mì đen.

Michelle Fléchard chẳng cám ơn, nhai ngấu nghiến chiếc bánh.

- Ừ - Mấy người dân quê nói - Chị ta ăn như một con vật, đúng là một người ngớ ngẩn.

Rồi đám người giải tán, kẻ trước người sau.

Ăn xong, Michelle Fléchard nói với bà kia:

- Xong rồi, no rồi! La Tourgue ở đâu?

- Đấy, lại lên cơn rồi! - Người đàn bà kia thốt lên.

- Tôi phải đi đến La Tourgue. Bà chỉ đường cho tôi đi La Tourgue.

- Không bao giờ! Để cho người ta giết chị đi sao? Vả chăng, tôi có biết gì đâu! Ái chà, vậy chị điên thật ư? Này, tội nghiệp, chị có vẻ mệt mỏi lắm. Chị có muốn về nhà tôi nghỉ không?

- Tôi không nghỉ ngơi gì cả đâu.

- Chân chị ta sây sát cả. - Bà kia lẩm bẩm.

Michelle Fléchard tiếp:

- Tôi đã nói với bà là người ta cướp mất lũ con tôi. Một đứa con gái và hai đứa con trai. Tôi ở đằng phía rừng đi lại đây. Hỏi lão Tellmarch về tôi thì rõ. Và hỏi cả người đàn ông mà tôi đã gặp trên cánh đồng phía ấy. Chính cụ ăn xin đã chữa cho tôi khỏi. Hình như tôi đã bị gãy cái gì ấy. Việc đã xảy ra như thế đấy. Còn có ông đội Radoub nữa. Cứ hỏi ông ta, ông ta sẽ bảo. Vì chính ông ta đã gặp chúng tôi trong rừng. Ba đứa. Tôi nói với bà là tôi có ba đứa con. Đứa đầu tiên là René-Jean. Tôi nói có bằng chứng mà. Đứa kia là Gros-Alain, và con bé nữa là Georgette. Chồng tôi chết rồi. Bị người ta giết. Chồng tôi cày rẽ ở ấp Siscoignard. Trông bà phúc hậu. Bà chỉ đường cho tôi. Tôi không điên đâu, tôi chỉ là một người mẹ. Tôi mất con. Tôi đi tìm con. Có thế thôi. Tôi chẳng biết đích xác tôi đi từ đâu đến. Đêm qua tôi nằm ngủ trên ổ rơm, trong một nhà kho. Tôi đi tới La Tourgue đây. Tôi không phải là kẻ trộm. Bà cũng thấy là tôi nói thật. Cần giúp tôi tìm con tôi. Tôi không phải là người ở đây. Tôi đã bị bắn. Nhưng cũng không biết rõ đã bị bắn ở đâu nữa.

Người đàn bà kia gật đầu nói:

- Này, chị nghe tôi. Trong thời buổi cách mạng không nên nói những điều mà người ta không hiểu được. Có khi bị bắt đó.

- Nhưng còn La Tourgue! Bà ơi, vì Chúa Hài đồng, vì Đức mẹ Đồng trinh trên trời, tôi xin bà, tôi cầu khẩn bà, bà chỉ cho tôi đường đi tới La Tourgue.

Người đàn bà kia nổi giận:

- Tôi có biết đâu! Mà có biết tôi cũng không nói! Đó là những nơi nguy hiểm. Đừng đi đến làm gì!

- Tôi cứ đi - Người mẹ ấy nói.

Rồi chị ta bước đi thật.

Người đàn bà kia nhìn theo và lẩm bẩm:

- Phải cho chị ta ăn.

Rồi bà ta chạy theo và đặt một chiếc bánh mì vào trong tay chị ta:

- Này, để ăn bữa tối đấy.

Michelle Fléchard cầm chiếc bánh mì, chẳng đáp gì cả, chẳng ngoảnh đầu lại, và cứ bước tràn.

Chị đi ra khỏi thôn. Qua những nhà cuối cùng, chị ta gặp ba đứa trẻ rách rưới, chân không, đi qua. Chị ta đi lại gần chúng rồi nói:

- Lũ này, lại là hai gái, một trai.

Thấy chúng nhìn tấm bánh, chị ta liền cho chúng.

Lũ trẻ cầm bánh, vẻ sợ hãi.

Chị ta thì đi miết vào trong rừng.

IV
Một sự lầm lẫn

Cũng ngày hôm ấy, trước lúc rạng đông, trong bóng tối mờ mờ trong rừng, trên quãng đường từ Javené đến Lécousse đã xảy ra chuyện này.

Trong miền Bocages toàn là đường trũng, nhất là đường từ Javené đến Parigné đi qua Lécousse, rất khó đi. Lại ngoằn ngoèo nữa. Một cái rãnh thì đúng hơn. Con đường này từ Vitré tới và đã có hân hạnh làm cho cỗ xe của bà De Sévigné nhảy khấp khểnh khi qua đây. Bờ dậu chắn hai bên đường như hai bờ tường. Phục kích thì chẳng còn đâu hơn nữa.

Sáng hôm ấy, một giờ trước khi Michelle Fléchard từ một góc rừng đi tới thôn đầu tiên và gặp cỗ xe ma có cảnh sát hộ tống, thì trong bụi rậm hai bên đường từ Javené đến, sau chiếc cầu trên sông Couesnon, có một đám người lố nhố. Cành lá che kín cả. Họ là dân quê, bận kiểu áo lông mà các vua chúa xứ Bretagne mặc hồi thế kỷ thứ sáu và nay dân quê thế kỷ thứ mười tám mặc kẻ súng, người rìu. Bọn có rìu vừa chặt xong một đống củi khô chỉ còn châm lửa vào nữa thôi. Những người có súng thì nấp hai bên đường chờ đợi. Qua kẽ lá, có thể thấy ngón tay họ đặt sẵn lên cò súng. Họ đang rình. Tất cả các mũi súng chĩa ra ngoài con đường đang sáng dần.

Trong bóng tối lờ mờ ấy, nghe có tiếng người đối đáp nhau.

- Có chắc không?

- Chắc, người ta nói thế mà.

- Nó sẽ qua đây?

- Người ta nói nó đang ở trong vùng này.

- Không cho nó ra thoát khỏi nơi đây.

- Phải đốt nó đi.

- Bọn ta, ba thôn đến làm việc đó.

- Ừ, nhưng có toán quân hộ vệ.

- Tiêu diệt cả quân hộ vệ.

- Nhưng liệu chúng có qua đường này không?

- Người ta bảo thế.

- Vậy thì chúng từ Vitré đến à?

- Sao lại không?

- Ấy thế mà lại nghe nói chúng từ Fougères tới.

- Từ Vitré hay từ Fougères tới cũng đều là từ chỗ bọn quỷ tới cả.

- Đúng.

- Và nhất định nó phải trở về với quỷ.

- Đúng.

- Có phải chúng đi tới Parigné không?

- Hình như vậy.

- Chúng sẽ không tới nơi được.

- Không.

- Không, không, không!

- Chú ý!

Quả thật bây giờ cần im lặng, vì trời đã bắt đầu sáng rõ.

Bỗng bọn người phục kích cùng nín thở: đã nghe có tiếng xe, tiếng ngựa. Họ nhìn qua kẽ lá và nhận ra thấp thoáng trên đường hẻm một chiếc xe dài, một toán quân hộ vệ cưỡi ngựa, và một cái gì trên xe, đang đi về phía họ.

- Nó đấy! - Người nói hình như là đội trưởng.

- Vâng, cả toán hộ vệ nữa - Một người khác nói.

- Bao nhiêu lính hộ vệ?

- Mười hai.

- Hai mươi.

- Mười hai hay hai mươi, cứ giết sạch.

- Chờ cho chúng đến ngang tầm súng đã.

Một lát sau, ở một khúc ngoặt, chiếc xe và toán lính hiện ra.

- Đức vua muôn năm! - Viên chỉ huy đám dân quê hô to.

Trăm phát súng cùng nổ một loạt.

Khi khói đã tan, toán lính hộ vệ cũng tan rã. Bảy người chết, năm người chạy trốn. Đám dân quê chạy tới chiếc xe.

Viên chỉ huy nói:

- Lạ chưa! Không phải máy chém. Một chiếc thang.

Đúng là xe chỉ chở có một cái thang.

Hai con ngựa bị thương đã gục xuống; anh đánh xe không bị họ cố ý bắn, cũng chết.

- Chẳng sao. - Viên chỉ huy nói, một cái thang mà có lính hộ tống là khả nghi rồi. Nó đi về phía Parigné. Chắc là để chúng leo lên tháp Tourgue.

Đám dân quê kêu lên:

- Đốt thang đi.

Rồi họ đốt thang.

Còn chiếc xe ma mà họ chờ đợi thì đã theo một con đường khác và đã cách xa nơi họ tới hai dặm, trong cái thôn mà Michelle Fléchard gặp nó đi qua lúc mặt trời mọc.

V
Tiếng nói giữa cõi hoang vu

Michelle Fléchard sau khi cho ba đứa trẻ chiếc bánh của mình, bèn đi liều qua khu rừng.

Chẳng ai muốn chỉ đường cho, chị ta phải tự lần lấy đường đi vậy. Thỉnh thoảng chị ta ngồi xuống, rồi lại đứng lên, rồi lại ngồi xuống. Chị ta thấy ê ẩm trong bắp thịt rồi đến cả trong xương tủy; cái mệt mỏi của người nô lệ. Quả thật chị ta là kẻ nô lệ. Nô lệ mấy đứa con biệt tin. Phải tìm thấy chúng; mỗi phút trôi qua có thể làm chúng thiệt mạng. Ai đã có một nhiệm vụ như vậy thì chẳng còn có quyền gì nữa; nghỉ lấy hơi cũng chẳng được. Nhưng chị ta đã mệt nhừ. Kiệt sức đến mức ấy rồi bước lên một bước là cả một vấn đề. Còn bước được nữa không? Chị ta đi từ sáng chẳng còn gặp thôn xóm, nhà cửa gì nữa. Lúc đầu chị ta đi đúng đường, rồi đi sai đường, và cuối cùng lạc vào giữa đám cây chỗ nào cũng giống chỗ nào. Đã gần tới đích chưa? Đã đến gần nơi chị ước chưa? Có thể nói rằng chị đang đi trên con đường đau khổ và cảm thấy rã rời ở chặng đường cuối cùng. Liệu ta có ngã xuống và thở hơi thở cuối cùng ở đây không? Đôi khi, chị thấy khó lòng mà bước thêm được một bước nữa; mặt trời đã xế, cảnh rừng tối om, đường mòn xóa nhòa trong cỏ, và chị chẳng biết tính sao. Chị kêu lên, chẳng ai trả lời.

Nhìn quanh mình, chị ta thấy một vùng quang đãng, liền đi về phía đó, và bỗng nhiên thấy mình ra khỏi cánh rừng.

Trước mắt chị là một cái thung lũng hẹp như một con đường hầm, dưới đáy có một giòng nước chảy trong veo giữa các tảng đá. Chị ta bấy giờ mới thấy khát đến rát cổ. Chị chạy tới, quỳ xuống và uống nước.

Nhân khi quỳ xuống, chị đọc kinh.

Và khi đứng dậy, chị tìm phương hướng.

Chị ta bước qua con suối.

Cuối thung lũng là một cao nguyên rộng bao la, cây cối thấp lè tè, chạy xa tắp từ con suối lên đến tận chân trời. Cánh rừng thì cô tịch, cao nguyên thì hoang vu. Trong rừng, sau mỗi bụi cây có thể gặp một người; trên cao nguyên này, mắt nhìn thấu đến đâu cũng chẳng thấy một ai. Vài con chim liệng trên cánh đồng thạch cỏ như muốn tìm chỗ trốn.

Thế rồi, đứng trước cảnh đơn chiếc mênh mông ấy, chị thấy đầu gối chùn lại. Và, như điên như dại, chị hoảng hốt cất tiếng hỏi cảnh hoang vu:

- Có ai đó không?

Và chị chờ tiếng đáp lại.

Có tiếng trả lời.

Một thứ tiếng trầm trầm đục đục nổi lên, từ chân trời xa vọng lại, từ tiếng vang này dội qua tiếng vang khác, giống như tiếng sấm nếu không phải là tiếng súng đại bác; và như tiếng ấy đáp lại tiếng gọi của người mẹ:

- Có.

Rồi lại im lặng như tờ.

Người mẹ đứng lên, như tỉnh lại; có người đấy; hình như bây giờ chị ta đã có người để nói chuyện. Chị vừa uống nước và đọc kinh xong; sức khỏe đã trở lại, chị liền leo lên cao nguyên hướng về phía có tiếng xa xăm, to lớn vừa dội lại.

Bỗng nhiên chị ta thấy tận chân trời ở cách xa một dặm đường nổi lên một tháp cao, trơ trọi giữa cảnh hoang dại, nhuộm đỏ ánh chiều tà sau tòa tháp ấy một giải rừng xanh thấp thoáng trong sương: đó là rừng Fougères.

Tháp hiện ra phía chân trời, ở cùng một điểm đã phát ra tiếng âm vang ban nãy, mà Michelle Fléchard tưởng như tiếng người. Có phải chính tòa tháp đã phát ra tiếng động ấy không?

Michelle Fléchard đã bước lên đỉnh cao nguyên; trước mặt chị bấy giờ chỉ là một cánh đồng bằng phẳng.

Chị đi về phía tháp.

VI
Tình thế lúc ấy

Giờ phút đã đến.

Con người khắc nghiệt đã chộp được kẻ tàn nhẫn.

Cimourdain đã nắm Lantenac trong tay.

Tên bảo hoàng phiến loạn già đã bị giữ tại sào huyệt; dĩ nhiên nó không thể nào thoát được nữa; và Cimourdain muốn rằng tên hầu tước phải bị chặt đầu ngay tại lâu đài của nó, trên đất đai của nó, nói cách khác là trong nhà nó, để cho cái dinh cơ phong kiến trông thấy rơi xuống cái đầu của tên phong kiến, và để nêu gương cho muôn đời sau.

Bởi vậy, ông ta đã sai người đi lấy máy chém ở Fougères về. Người ta vừa thấy nó ở trên đường.

Giết Lantenac là tiêu diệt được cuộc phiến loạn Vendée; tiêu diệt cuộc phiến loạn Vendée là cứu được nước Pháp. Cimourdain không ngần ngại gì cả. Ông ta thấy thoải mái trước sự hung dữ phải làm.

Đời tên hầu tước coi như là kết liễu; về mặt này, Cimourdain rất yên tâm, nhưng ông ta lo về phía khác. Cuộc chiến đấu nhất định sẽ khốc liệt; Gauvain sẽ chỉ huy cuộc chiến đấu và còn muốn lao mình vào đó; trong người chỉ huy trẻ ấy có máu con nhà lính; Gauvain sẽ lăn vào cuộc vật lộn này; miễn là không bị thiệt mạng, Cimourdain cầu mong như thế, Gauvain! Con của ông! Tình thương duy nhất của ông trên quả đất này! Gauvain từ trước đến nay vẫn có hồng phúc, nhưng có hồng phúc nào là bền lâu mãi mãi! Cimourdain run sợ. Cuộc đời ông ta có điều này kỳ lạ là giữa hai Gauvain một người ông muốn cho chết đi, còn một người ông muốn cho sống.

Tiếng súng đại bác vừa thức tỉnh Georgette trong nôi và lên tiếng gọi bà mẹ từ nơi cô tịch xa xôi, không phải chỉ có tác dụng như thế. Có lẽ do người nhắm bắn vô tình hoặc cố ý viên đạn được bắn ra để báo hiệu đã đánh trúng, phá vỡ và giật đi một nửa cái lưới song sắt chấn lỗ châu mai lớn ở tầng thứ nhất tòa tháp. Những người bị vây không còn đủ thì giờ để chữa lại nữa.

Bọn bị vây đã khoác lác. Chúng chỉ có rất ít đạn dược, tình thế của chúng, xin nhắc lại, còn nguy kịch hơn là quân đội bao vây bên ngoài dự đoán. Nếu chúng có đủ thuốc súng thì chúng sẽ cho nổ tháp Tourgue, cả chúng và đối phương ở trong đó là điều chúng mơ ước; nhưng tất cả dự trữ của chúng đã cạn. Chúng chỉ còn chưa đầy ba mươi phát đạn mỗi đầu người. Chúng có nhiều súng dài, súng ngắn, và súng lục, nhưng ít đạn. Chúng đã đem lắp đạn vào tất cả các thứ súng để bắn được liên tục; nhưng bắn như thế thì phỏng kéo dài được bao lâu? Thành ra phải vừa bắn đều tay vừa phải dè sẻn. Cái khó khăn của chúng là ở đó. May sao - một thứ may mắn ghê rợn - cuộc chiến đấu phần lớn diễn ra theo lối đánh giáp lá cà, và dùng gươm dáo. Người ta vật lộn hơn là bắn nhau. Người ta đâm, chém nhau; đó là hy vọng của chúng.

Phía trong tháp có vẻ kiên cố. Trong cái phòng thấp ăn ra lỗ tường bị phá là góc cố thủ, thứ chiến lũy do Lantenac dựng lên một cách tài tình đó chặn đường từ ngoài vào. Phía sau góc cố thủ này để một cái bàn dài đầy các loại súng nạp đạn sẵn có các thứ gươm, búa, dao găm. Không thể lấy thuốc nổ phá tung hầm kín thông với phòng thấp này, tên hầu tước đã bịt kín cửa hầm này lại. Phía trên phòng tháp này là cái phòng tròn của tầng gác thứ nhất, lên đó bằng một cầu thang trôn ốc rất hẹp; trong phòng này cũng đặt một cái bàn đầy vũ khí lắp đạn sẵn, ánh sáng bên ngoài lọt vào theo chỗ lưới sắt đã bị đạn chọc thủng; trên phòng này chiếc cầu thang xoắn ốc dẫn đến một phòng tròn của tầng thứ hai, nơi đây có chiếc cửa sắt nhìn ra tòa nhà xây trên cầu. Gian phòng tầng hai ngày gọi là phòng cửa sắt hay là phòng gương vì ở đấy có treo rất nhiều gương nhỏ vào đầu những chiếc đinh gỉ đóng trên tường đá, một cách trang trí cầu kỳ và man rợ. Các phòng ở phía trên không thể phòng ngự có hiệu quả, nên cái phòng gương này là "vị trí cuối cùng để cho kẻ bị bao vây đầu hàng" như lời nhà kiến trúc Mannesson-Mallet. Vì thế phải chặn không cho kẻ địch lọt vào tới chỗ này.

Gian phòng ở tầng hai đó được soi sáng nhờ các lỗ châu mai; nhưng ở đây còn có một bó đuốc rực lửa cắm vào cái giá bằng sắt giống như cái giá đặt dưới phòng thấp, do Imânus đốt và đặt bên cạnh mồi lửa tẩm lưu huỳnh. Một sự chuẩn bị thật ghê rợn!

Cuối cùng gian phòng tháp, trên một tấm phản dài, có bày thức ăn như trong hang núi thời thần thoại; những dĩa cơm lớn, cháo mì đen, thịt bê băm nhỏ, bánh làm bằng trái cây bọc bột và những bình rượu táo. Ai muốn ăn thì ăn, muốn uống thì uống.

Phát súng đại bác làm chúng ngừng tay. Trước mắt chỉ còn có nửa giờ thôi.

Imânus đứng trên lầu cao, kiểm soát bước tiến của đối phương. Lantenac đã ra lệnh không được bắn và để cho địch đi tới. Lão đã nói:

- Chúng có tất cả bốn ngàn rưỡi người. Chúng còn ở ngoài, có giết cũng vô ích thôi. Cho vào trong rồi sẽ giết. Bên trong chúng với ta sẽ bình đẳng.

Và lão ta vừa cười vừa nói thêm:

- Bình đẳng. Bác ái.

Đã quy ước với nhau là khi nào đối phương bắt đầu hoạt động thì Imânus sẽ thổi tù và báo động.

Tất cả đều im lặng, phục trong góc cố thủ, hoặc trên các bậc thang, chờ đợi, một tay đặt trên súng, một tay lần tràng hạt.

Tình thế mỗi lúc mỗi rõ ràng như sau:

Quân bao vây phải trèo qua lỗ tường thủng phá chiến lũy, đánh chiếm từng gian ba phòng ở ba tầng, giành từng bậc trên cầu thang dưới làn mưa đạn. Bên bị bao vây chỉ có một con đường: chết.

VII
Trận đánh mở màn

Gauvain cũng đang bố trí cuộc tấn công. Ông ta đã căn dặn Cimourdain lần cuối cùng - chúng ta nhớ là ông này phải bảo vệ cao nguyên, không tham gia cuộc tiến công - và ra lệnh cho Guéchamp cùng với đại quân canh phòng trong rừng. Pháo ở khu cao nguyên cũng như pháo trong rừng đều không được bắn nếu đối phương không xông ra ngoài hoặc chạy trốn. Gauvain giành cho mình quyền chỉ huy mũi xung kích vào đột phá khẩu. Chính việc đó làm cho Cimourdain lo lắng.

Mặt trời vừa lặn.

Một tòa tháp đứng ở giữa cánh đồng bằng phẳng cũng giống như một con tàu giữa biển. Tấn công một tòa tháp cũng như tấn công một chiến thuyền. Một cuộc giáp chiến đúng hơn là một cuộc đột kích: không cần đại bác. Chẳng nên làm cái gì vô ích. Bắn đại bác vào những bức tường dày năm thước phỏng có ích gì. Chọc thủng mạn tàu, rồi một bên xông vào, một bên chặn lại, sử dụng búa dao, súng ngắn, nắm tay và răng. Cuộc chiến đấu sẽ diễn ra như thế.

Gauvain cảm thấy không còn cách nào khác đánh chiếm tháp Tourgue. Một cuộc chạm trán ác liệt. Ông ta biết rõ bên trong tháp rất đáng sợ, vì đã từng ở trong ấy khi còn nhỏ.

Ông ta suy nghĩ kỹ lưỡng.

Trong khi ấy, cách ông mấy bước, phụ tá của ông là Guéchamp, tay cầm ống nhòm đang quan sát chân trời phía Parigné. Bỗng Guéchamp kêu to:

- A! Kia rồi.

Câu nói ấy kéo Gauvain ra khỏi cơn mơ mộng.

- Cái gì thế? Guéchamp?

- Báo cáo, có thang rồi đấy.

- Thang cấp cứu à?

- Vâng.

- Kỳ thật! Đến bây giờ mà chưa có thang à?

- Chưa. Tôi đang lo. Liên lạc hỏa tốc cử đi Javené đã trở về.

- Tôi biết.

- Anh ta báo tin đã tìm được ở xưởng mộc Javené chiếc thang đúng kích thước cần thiết, đã trưng dụng và đặt thang lên xe, có mười hai kỵ binh áp tải, và đã chứng kiến cả xe, cả lính, cả chiếc thang đã khởi hành về phía Parigné. Sau đó anh ta mới phóng ngựa về đây.

- Và đã báo cáo như vậy. Anh ta có nói thêm rằng chiếc xe đã thắng cẩn thận và ra đi từ hai giờ sáng, có thể về đây trước khi mặt trời lặn. Tôi biết tất cả những điều đó. Còn gì nữa.

- Thưa tư lệnh, mặt trời đã lặn, và chiếc xe chở thang chưa về.

- Có thể thế không? Nhưng ta phải tấn công. Đến giờ rồi. Nếu chậm, lũ bị vây sẽ tưởng ta tháo lui.

- Thưa tư lệnh, ta có thể tấn công.

- Nhưng chiếc thang rất cần.

- Hẳn thế.

- Nhưng ta chưa có thang.

- Có rồi.

- Thế nào?

- Chính vì vậy mà tôi nói: A! Đây rồi. Xe chưa tới; tôi lấy ống nhòm quan sát con đường từ Parigné đến Tourgue và, thưa tư lệnh, tôi hài lòng lắm. Chiếc xe đang ở kia với đoàn áp tải; xe đang xuống một cái dốc. Tư lệnh có thể xem qua.

Gauvain cầm ống nhòm và nhìn.

- Đúng rồi. Nó đây rồi. Chiều rồi, không nhìn được rõ tất cả. Nhưng nhìn rõ đoàn áp tải, đúng như vậy. Có điều là đoàn áp tải đông hơn chứ không như anh nói, Guéchamp ạ.

- Tôi cũng thấy thế.

- Họ còn cách đây một phần tư dặm.

- Thưa tư lệnh, chiếc thang cấp cứu sẽ tới đây trong vòng mười lăm phút nữa.

- Có thể tấn công được rồi.

Đúng là có một chiếc xe đi tới, nhưng không phải là chiếc xe chở thang như họ tưởng.

Gauvain quay lại, thấy viên đội Radoub, đứng nghiêm hai mắt nhìn xuống, trong tư thế chào nhà binh.

- Cái gì thế? Đội Radoub?

- Thưa công dân tư lệnh, chúng tôi, tất cả anh em trong tiểu đoàn Mũ Đỏ, chúng tôi xin tư lệnh làm ơn...

- Gì thế?

- Cho chúng tôi được chết.

- À! - Gauvain nói.

- Tư lệnh có chiếu cố cho không?

- Nhưng, còn tùy...

- Thế này, thưa tư lệnh. Từ sau trận đánh ở Dol, tư lệnh nuông chúng tôi quá. Chúng tôi còn tất cả mười hai người.

- Thì sao?

- Điều đó làm nhục chúng tôi.

- Các anh là lực lượng dự trữ.

- Chúng tôi muốn là đội tiền đạo.

- Nhưng tôi cần các anh để quyết định thắng lợi cho một cuộc tấn công. Tôi bảo toàn các anh.

- Quá đáng.

- Thôi được. Các anh cùng tiến với đoàn xung kích.

- Tiến sau cùng. Quân đội Paris có quyền đi tiền phong.

- Đội Radoub, tôi sẽ tính đến điều đó.

- Xin tư lệnh tính ngay cho hôm nay. Đây là một dịp. Sắp có ở đó một cuộc ẩu đả quyết liệt. Ai sờ đến tháp Tourgue sẽ bị bỏng tay. Xin cho chúng tôi cái ân huệ ấy.

Viên đội dừng lại, vân vê râu mép, và nói tiếp với một giọng tha thiết:

- Vả lại, trong chiếc lầu này có mấy cháu bé. Đó là những đứa con của chúng tôi, của đơn vị chúng tôi, ba đứa con của chúng tôi. Bộ mặt gớm ghiếc của tên Gribouille-mon-culte-baise, tên Diệt-Xanh, tên Imânus, tên Gouge-le-Bruant, tên Bouge-le-Gruyand, tên Fouge-le-Truand, cái lũ quỷ trời đánh ấy đang dọa dẫm các cháu. Các cháu của chúng tôi. Dù cho trời rung đất chuyển, chúng tôi không muốn sẽ xảy ra điều gì nguy hại cho chúng. Vừa rồi, nhân lúc chưa khởi sự, tôi trèo lên cao nguyên và nhìn thấy chúng ở phía sau chiếc cửa sổ. Vâng, các cháu còn ở đó, đứng trên bờ hào có thể thấy chúng, tôi đã nhìn chúng và đã làm chúng sợ, các cháu thân yêu của chúng tôi. Thưa tư lệnh, nếu một sợi tóc trên đầu bé bỏng của chúng rơi xuống thì tôi, đội trưởng Radoub, tôi sẽ oán cả Chúa. Toàn đơn vị cũng đã nói: một là cứu được các cháu, hai là chết sạch. Đó là quyền của chúng tôi, vâng, chết sạch! Và giờ đây, xin kính chào tư lệnh.

Gauvain bắt tay Radoub và nói:

- Các anh thật dũng cảm. Các anh sẽ tham gia đội xung kích. Tôi chia các anh làm hai. Sáu người đi đầu để mọi người tiến theo, sáu người đi sau để không một ai lùi bước.

- Tôi vẫn chỉ huy mười hai anh em này?

- Tất nhiên.

- Vậy thì xin cám ơn tư lệnh. Vì tôi đi đầu đội xung kích.

Radoub chào theo kiểu nhà binh rồi trở về hàng ngũ.

Gauvain rút đồng hồ ra, ghé tai Guéchamp nói vài lời và đơn vị xung kích bắt đầu được phiên chế.

VIII
Đạo nghĩa và tiếng gầm thét

Cimourdain vẫn chưa trở về vị trí ở trên cao nguyên mà còn đứng bên cạnh Gauvain, ông ta tới gần một người lính kèn và bảo:

- Nổi hiệu kèn gọi tù và đi.

Kèn vang lên, tiếng tù và trả lời.

Một tiếng kèn và một tiếng tù và nữa đối đáp nhau.

- Cái gì thế? - Gauvain hỏi Guéchamp - Cimourdain muốn gì thế?

Cimourdain đã tiến đến gần tháp, một chiếc mùi xoa trắng cầm tay.

Ông cất tiếng:

- Hỡi những người trong tháp, các người biết ta không?

Tiếng nói của Imânus từ trên lầu vọng xuống:

- Có.

Hai bên đối đáp, và người ta nghe thấy như thế này:

- Ta là đặc phái viên của chính phủ cộng hòa.

- Là cựu linh mục của xứ Parigné.

- Ta là đại diện của Ủy ban cứu quốc.

- Là một thầy tu.

- Ta là đại diện của pháp luật.

- Là tên bỏ đạo.

- Ta là đặc sứ của cách mạng.

- Là tên phản đạo.

- Ta là Cimourdain.

- Là quỷ sứ.

- Các người biết ta?

- Chúng ta căm thù ngươi.

- Các người có muốn bắt giữ ta không?

- Chúng ta tất cả mười tám người ở đây sẵn sàng mất đầu để đổi lấy đầu ngươi.

- Thế thì ta đến nộp mình cho các người.

Người ta nghe từ trên lầu cao một tiếng cười man rợ và một tiếng thét:

- Tới đây!

Trại quân im lặng chờ đợi.

Cimourdain nói tiếp:

- Với một điều kiện.

- Gì?

- Nghe đây.

- Nói đi.

- Các người oán ghét ta?

- Đúng.

- Ta thì ta lại yêu mến các người. Ta với các người là anh em.

- Đúng. Caïn.

Cimourdain lại nói tiếp, với một giọng khác thường, vừa cao siêu vừa dịu dàng:

- Các người cứ việc nguyền rủa, nhưng các người hãy nghe. Ta đến đây với nhiệm vụ thương thuyết. Phải, các người là anh em với ta. Các người là những kẻ lầm đường lạc lối đáng thương. Ta là bạn các người. Ta là ánh sáng và ta nói chuyện với sự mê muội. Ánh sáng bao giờ cũng đầy tình nhân ái. Vả chăng, chúng ta đều chẳng là cùng một mẹ, một tổ quốc đó sao? Các người hãy nghe ta. Sau này các người sẽ biết, hoặc con cháu các người sẽ biết rằng những việc đang tiến hành hiện nay đều là do mệnh lệnh từ trên xuống, tất cả mọi việc của Cách mạng đều do Chúa. Trong khi chờ đợi cho tất cả mọi lương tâm, kể cả lương tâm của các người, đều hiểu thấu, cho tất cả mọi cuồng tín, kể cả cuồng tín của chúng ta, đều tiêu tan, trong khi chờ đợi nguồn ánh sáng ấy, có ai thương đến cảnh tối tăm của các người không? Ta tới với các người, nộp đầu ta cho các người; hơn nữa ta giơ tay đón các người. Ta xin các người giết ta đi để cứu các người. Ta có toàn quyền, và ta nói gì, ta làm nấy. Đây là giây phút nghiêm trọng; ta cố gắng lần cuối cùng. Phải, kẻ đang nói chuyện với các người là một công dân và trong công dân ấy có một tu sĩ. Người công dân đánh nhau với các người và tu sĩ kêu van các người. Hãy nghe ta. Số đông các người đều có vợ con. Ta che chở cho vợ con các người. Ta đứng về phía vợ con các người mà chống lại các người. Hỡi những người anh em!

- Cứ thuyết pháp đi! - Imânus cười gằn.

Cimourdain tiếp tục:

- Hỡi anh em, đừng để giờ phút ghê tởm phải đến. Sắp sửa đến lúc chém giết nhau. Số đông chúng ta ở đây sẽ không còn thấy mặt trời ngày mai nữa; phải số đông chúng ta sẽ chết, và tất cả các người sẽ chết. Các người hãy tự cứu mình. Tại sao lại đổ máu vô ích thế? Tại sao lại giết nhiều người khi chỉ cần hai người là đủ?

- Hai? - Imânus hỏi.

- Phải, hai.

- Ai thế?

- Lantenac và ta.

Và Cimourdain cất tiếng:

- Hai người thừa, Lantenac đối với chúng ta, là thừa, ta đối với các người là thừa. Đấy, ta đề nghị như thế này, và các người sẽ thoát chết cả: trao Lantenac cho chúng ta và bắt lấy ta. Lantenac sẽ bị đưa lên máy chém, còn ta, các người muốn làm gì thì làm.

- Thầy tu ơi - Imânus gào lên - Bắt được ngươi, chúng ta sẽ thui nhỏ lửa.

- Được - Cimourdain nói.

Vẫn tiếp:

- Các người sẽ bị tiêu diệt trong tháp này, chỉ trong một giờ nữa các người có thể được sống và tự do. Ta mang lại cho các người một lối thoát các người có chấp nhận không?

Imânus hét vang lên:

- Nhà ngươi không những khốn nạn mà còn điên nữa. Táo bạo thật! Đến quấy rầy người ta, đến để thương thuyết, nhân danh ai. Nộp đức ông cho các người? Như thế là nghĩa thế nào?

- Là đổi lấy đầu của Lantenac, và ta trao ta cho các người...

- Bộ da nhà ngươi. Chúng ta sẽ lột xác ngươi như lột xác một con chó. Không, bộ da ngươi làm gì bằng cái đầu đức ông được. Cút đi.

- Việc xảy ra sẽ ghê rợn. Lần cuối cùng, các người nghĩ kỹ đi.

Trong tháp cũng như bên ngoài ai nấy đều nghe rõ những lời nói ảm đạm ấy, trời đã tối. Lantenac lặng thinh và mặc kệ. Đấy là một đặc tính xấu của bọn chỉ huy và cũng là một trong những quyền hành của người có trách nhiệm.

Imânus thét to:

- Chúng ta đã nói hết ý của chúng ta, không có gì thay đổi cả. Hãy nhận đi, nếu không tai họa sẽ trút lên đầu các người! Thỏa thuận chưa? Chúng ta trao trả cho các người ba đứa trẻ và các người để tất cả chúng ta đi ra tự do, yên ổn.

- Được, cho tất cả, trừ một - Cimourdain nói.

- Ai?

- Lantenac.

- Đức ông! Nộp đức ông! Không bao giờ.

- Chúng ta cần Lantenac.

- Không bao giờ.

- Chỉ có điều kiện ấy mới thương lượng được.

- Thế thì đánh đi.

Im lặng.

Imânus sau khi thổi tù và hiệu, lại trở xuống; Lantenac cầm kiếm trong tay; mười chín người bị vây tụ lại trong căn phòng thấp phía sau góc cố thủ và quỳ cả xuống. Họ nghe tiếng bước chân nhịp nhàng của đội xung kích đang tiến dần về phía tháp trong đêm tối. Tiếng chân cứ mỗi lúc mỗi gần; bỗng chúng thấy như họ đến sát cạnh, sát lỗ tường thủng. Thế là tất cả quỳ xuống, đưa súng lên vai nhằm vào các kẽ hở ở góc cố thủ, và một người, Grand-Francoeur, tức thầy tu Turmeau, đứng lên; thanh kiếm tuốt trần trong tay phải, cây thập ác trong tay trái, trịnh trọng hô:

- Nhân danh Cha, và Con, và Thánh thần!

Họ bắn cùng một lúc, và cuộc chiến đấu mở màn.

IX
Khổng lồ chọi nhau

Cuộc chiến đấu quả là ác liệt.

Trận giáp lá cà này vượt quá sức tưởng tượng của người ta.

Muốn tìm những cảnh tương tự, có lẽ phải trở lại những cuộc đấu kiếm mà Eschyle 1 đã miêu tả, hoặc những cuộc chiến tranh thời phong kiến; những cuộc "tấn công bằng vũ khí ngắn" ấy đến tận thế kỷ mười bảy còn tồn tại, khi bên tấn công vượt thành bằng thang dây; theo lời viên đội già ở tỉnh Alentejo thì đó là những cuộc tấn công ác liệt: "Sau khi bắn đạn cháy vào thành có hiệu quả rồi, quân bao vây nhảy vào, mang theo những tấm ván đóng đầy lưỡi dao bằng sắt cùng những chiếc khiên, lá chắn, rất nhiều lựu đạn, họ xô đẩy quân bị vây và chiếm lĩnh tất cả những nơi cố thủ của họ".

Điểm tấn công thật là kinh khủng. Đó là một loại lỗ thủng mà tiếng nhà nghề gọi là hang ngầm, nghĩa là một đường thủng xuyên qua một bức tường dày chứ không phải là một kẽ nứt rộng miệng và lộ thiên. Thuốc súng đã phá tường như khoan vào đá. Mìn nổ mạnh, đến nỗi ngôi tháp bị nứt một đường cao trên mười thước, nhưng lỗ thủng ăn thông vào căn phòng thấp chỉ giống như một nhát dao đâm chứ không giống một nhát búa bổ.

Đó là một nhát đâm vào sườn tháp, một vết thương dài, như một cái giếng đặt nằm ngang, một đường hẻm nằm ngoằn ngoèo, như một khúc ruột xuyên qua một bức tường dày bốn thước, hoặc một đường ống ngổn ngang những chướng ngại vật, cạm bẫy, mìn nổ, xông vào đó thì trán đập phải đá, chân dẫm lên vôi vữa và sỏi, mắt tối như bưng.

Quân tấn công đứng trước cái cửa ngõ đen ngòm ấy, như cái miệng vực mà hàm răng trên hàm răng dưới là những tảng đá của bức tường bị xé ra; miệng cá mập cũng không nhiều răng bằng cái miệng ghê rợn ấy. Thế mà phải vào trong cái lỗ ấy rồi lại chui ra.

Phía trong, súng nổ liên hồi, phía ngoài là lũy cố thủ. Phía ngoài tức là căn phòng thấp ở tầng dưới. Mức man rợ của cuộc giao tranh ấy chỉ có thể ví với cảnh đụng độ giữa công binh đặt mìn và công binh phá mìn trong hầm kín mít, cảnh chém giết giáp lá cà bằng búa trên boong tàu trong các trận thủy chiến. Đánh nhau dưới đáy hố sâu là tột độ của sự khủng khiếp. Chém giết nhau với cái trần nhà úp trên đầu thật là kinh khủng. Giữa lúc đợt quân tấn công thứ nhất tràn vào, cả cái lũy cố thủ chớp sáng rực lên khác nào sét nổ trong lòng đất. Sấm sét phía tấn công đáp sấm sét của ổ phục kích. Gauvain hô: Xung phong! Lantenac tiếp: Chặn đứng lại! Rồi tiếng Imânus: Anh em xứ Maine, theo tôi! Rồi tiếng gươm loảng xoảng, đập vào nhau chan chát và đạn liên tiếp trút ra giết từng loạt. Bó đuốc treo trên tường chập chờn chiếu vào cảnh khiếp đảm này. Chẳng còn phân biệt được gì nữa; mọi người tràn ngập trong đêm tối tờ mờ ánh lửa đó, điếc tai, mù mắt, điếc vì tiếng ồn, mù vì khói. Những người bị loại khỏi cuộc chiến đấu nằm ngổn ngang giữa đống gạch đá; người ta bước lên xác chết, dẫm lên những vết thương, xéo nát những chân tay bị gẫy; thương binh rú lên vì đau đớn; những người hấp hối cắn vào chân những người bước lên họ. Đôi khi cả chiến trường lặng ngắt, còn ghê sợ hơn cảnh ồn ào. Người ta vật lộn nhau, thở hồng hộc, nghiến răng, rên rỉ, nguyền rủa, rồi tiếng ồn ào như sấm dậy lại trở lại. Một suối máu từ trong tháp qua lỗ thủng chảy ra ngoài, tràn trong bóng tối. Vũng máu đen ngòm ấy bốc hơi trong cỏ, ngoài trời.

Có thể nói rằng chính cái tháp khổng lồ đã bị thương và đang chảy máu.

Điều lạ nhất là bên ngoài vẫn không nghe một tiếng động. Trời tối mịt và trên cánh đồng, trong rừng, chung quanh pháo đài đang bị tấn công, yên tĩnh đến ghê rợn. Bên trong là địa ngục, bên ngoài là nhà mồ. Một khối người nhảy bổ vào nhau, tiêu diệt nhau trong bóng tối; đạn nổ từng tràng, tiếng thét, tiếng rú điên cuồng, tất cả những tiếng hỗn độn ấy chìm dưới khối tường và những vòm cuốn, thiếu không khí để cho tiếng động truyền đi, và thêm vào cảnh chém giết là cảnh ngột ngạt. Phía ngoài tháp, những tiếng ấy nghe không rõ lắm. Trong lúc này, mấy đứa trẻ vẫn ngủ yên.

Cuộc tàn sát cứ tăng dần. Lũy cố thủ vẫn giữ vững. Không có gì khó phá bằng loại chiến lũy hình chữ V này. Phía bị vây kém về số lượng, nhưng lợi thế hơn. Đội xung kích chết rất nhiều. Họ sắp thành hàng dài bên ngoài dưới chân tháp rồi từ từ chui vào lỗ tường thủng và cứ ngắn dần, như một con rắn chui vào hang.

Gauvain, với những điều khinh suất của một viên chỉ huy trẻ, đang ở trong gian phòng thấp, giữa cuộc hoảng chiến, chung quanh súng nổ loạn xạ. Ông ta có cái tự tin của con người chưa hề bao giờ bị thương.

Khi ông ta vừa quay lại để ra lệnh thì một luồng lửa đạn lóe lên, chiếu vào một khuôn mặt sát bên ông. Ông ta kêu lên:

- Cimourdain! Thầy đến đây làm gì?

Chính là Cimourdain thật. Ông ta đáp:

- Tôi đến để gần anh.

- Nhưng thầy vào đây sẽ hứng lấy cái chết.

- Vậy anh thì sao?

- Tôi cần ở đây. Thầy thì không.

- Vì anh ở đây nên tôi cũng cần ở đây.

- Không, thầy ạ...

- Có chứ, con!

Và Cimourdain vẫn đứng bên cạnh Gauvain.

Xác chết chất đống trên nền gian phòng thấp.

Lũy cố thủ chưa bị phá vỡ nhưng số đông tất nhiên cuối cùng phải thắng. Bên cố thủ nấp kín; mười người bên tấn công ngã xuống để đổi lấy một người bên bị vây, nhưng quân tấn công cứ thế nhau mà vào. Quân tấn công cứ tăng lên và bọn bị vây giảm sút dần.

Mười chín người bị vây đứng cả sau lũy cố thủ, cuộc chiến đấu đang diễn ra ở đó. Đã có người chết và bị thương. Còn chừng mười lăm người nữa đang chiến đấu. Một tên hung hãn nhất, tên Chante-en-Hiver, bị thương nặng. Đó là một người dân xứ Bretagne, thấp lùn, tóc quăn, thuộc loại bé choắt nhưng dai sức. Hắn bị thủng mắt và gãy quai hàm. Hắn còn đi được. Hắn lê dọc cầu thang xoáy ốc để lần lên tầng trên, hy vọng đến được đó mà cầu nguyện và chết.

Hắn dựa vào tường, cạnh lỗ châu mai, để gắng thở một chút.

Phía dưới, cuộc chém giết trước lũy cố thủ mỗi lúc thêm rợn. Trong một khoảng khắc, giữa hai loạt súng nổ, Cimourdain cất tiếng:

- Các người! Để cho máu chảy nữa làm gì? Các người chẳng còn hy vọng gì nữa. Hàng đi. Các người thử nghĩ, chúng ta những bốn nghìn năm trăm con người tấn công, các người chỉ có mười chín, nghĩa là hơn hai trăm người chọi một. Hãy hàng đi.

- Chấm dứt cái trò ba hoa ấy đi - Hầu tước Lantenac đáp.

Và hai mươi tiếng súng nổ trả lời Cimourdain.

Lũy cố thủ không cao lên đến trần; điều đó cho phép bọn bị vây đứng ở trên bắn xuống, nhưng cũng cho phép những người bao vây ở ngoài trèo qua được. Gauvain thét:

- Xung phong vào lũy cố thủ! Ai xung phong?

- Tôi - Đội viên Radoub trả lời.

X
Radoub

Quân tấn công bỗng ngẩn người ra. Radoub đã chui qua lỗ tường thủng cùng với những người đi đầu trong mũi xung kích: anh là người thứ sáu và trong số sáu người của tiểu đoàn Paris thì bốn người đã ngã. Sau khi anh kêu lên: tôi, người ta thấy Radoub không tiến lên mà lùi lại, cúi lom khom gần như bò giữa chân mọi người, qua lỗ tường thủng đi ra. Anh trốn chăng? Một người như thế mà trốn sao? Như thế nghĩa là thế nào?

Ra ngoài lỗ tường thủng Radoub dụi cặp mắt bị khói làm mờ đi, như muốn xua đi cảnh ghê rợn và tối tăm; rồi dưới ánh sao, anh đứng nhìn bức tường ngôi tháp. Anh gật đầu đắc ý, có ý nói ta không nhầm!

Radoub đã để ý là bức tường bị mìn nổ làm rạn nứt một đường dài từ lỗ hổng lên đến chỗ lỗ châu mai tầng thứ nhất, một viên đạn đại bác đã phá tung cái lưỡi sắt, trấn song lơ lửng; một người có thể chui lọt.

Một người có thể chui qua, nhưng ai có thể leo lên tới đó? Cứ theo đường nứt thì leo lên được nhưng phải là giống mèo.

Radoub là người như thế đấy. Anh thuộc vào loại người mà Pindare 2 gọi là "những lực sĩ lanh lợi". Người ta có thể vừa là lính kỳ cựu vừa là trang thanh niên; Radoub đã từng là quốc dân quân, tuổi chưa đến bốn mươi, một lực sĩ nhanh nhẹn.

Radoub đặt khẩu súng dài xuống đất, bỏ tấm da khoác và cởi áo ngoài, chỉ giữ lại hai khẩu súng lục ở thắt lưng và cây kiếm trần kẹp giữa hai hàm răng. Chuôi của hai khẩu súng lục nhô lên phía trên thắt lưng.

Trút hết những cái vô ích, và trước hàng trăm con mắt của đoàn quân tấn công còn đứng ngoài lỗ tường thủng theo dõi trong bóng tối, Radoub bắt đầu leo lên những tảng đá ở đường nứt rạn như trèo lên các bậc thang. Không đi giày lúc này lại hóa tốt; không gì trèo nhạy bằng chân không; anh quắp ngón chân vào kẽ đá, dùng nắm tay rút mình lên và co đầu gối lại, bặm môi trèo chẳng khác gì leo trên một hàng răng cưa. Anh nghĩ: "May mà chẳng có ma nào trong căn phòng gác một, nếu không, người ta chẳng để cho mình leo thế này".

Anh phải leo như thế suốt. Càng lên cao càng bị vướng bởi hai chuôi súng, đường nứt càng hẹp lại càng khó trèo, vực mỗi lúc một sâu thêm, nhìn xuống càng dễ choáng, dễ ngã.

Cuối cùng, anh lên đến gờ lỗ châu mai rồi gạt tấm lưới sắt đã cong lại và bật ra, kẽ hở thừa sức lọt vào; anh nhún người một cái mạnh, đầu gối dựa vào gờ tường, một tay nắm lấy khúc chấn song bên phải, một tay nắm khúc chấn song bên trái, rồi nhô nửa mình lên trước lỗ châu mai, lưỡi kiếm chắn ngang miệng, và nhờ hai nắm tay, anh treo mình lơ lửng trên vực sâu. Chỉ cần nhảy một bước và anh lọt vào gian phòng gác một.

Nhưng một mặt người xuất hiện trong lỗ châu mai. Radoub đột nhiên thấy trong bóng tối hiện ra một cái gì kinh khủng: một con mắt bị chọc thủng, một cái quai hàm bị gãy, một cái mặt nạ đầy máu.

Cái mặt nạ ấy chỉ còn một con ngươi nhìn anh.

Cái mặt nạ ấy có hai bàn tay: hai bàn tay ấy từ bóng tối giơ ra về phía Radoub, một tay giật lấy hai khẩu súng ngắn giắt ở thắt lưng, tay kia giật lưỡi kiếm cắn giữa hai hàm răng anh.

Radoub bị tước hết vũ khí. Đầu gối anh tuột trên thành cửa sổ ngả ra ngoài, hai nắm tay quắp vào trấn song hầu như không còn đủ sức giữ anh, và sau lưng anh là vực thẳm sâu mười ba mét.

Cái mặt nạ ấy và đôi bàn tay ấy, chính là Chante-en-Hiver. Chante-en-Hiver, bị khói từ dưới bốc lên làm nghẹt thở, đã cố bò lên khỏi lỗ châu mai; ở đây khí trời đã làm hắn tỉnh lại, đêm mát cũng đã làm cho máu đông lại, hắn đã hồi sức đôi chút; đột nhiên hắn thấy trước lỗ châu mai hiện lên nửa thân trên của Radoub; bấy giờ Radoub, hai tay đang bám chặt lấy song cửa, không còn cách nào khác là buông tay rơi xuống vực thẳm, hoặc để cho người kia tước khí giới, Chante-en-hiver ghê rợn và bình tĩnh đã cướp lấy súng và kiếm của anh.

Một trận đọ sức khủng khiếp bắt đầu, trận đọ sức giữa một người bị tước khí giới và một người bị thương. Tất nhiên kẻ chiến thắng chỉ có thể là kẻ đang bị thương. Một viên đạn cũng đủ ném Radoub xuống cái vực sâu đang há miệng dưới chân.

May cho Radoub, Chante-en-Hiver một tay bận nắm cả hai khẩu súng, nên đã không bóp cò được, hắn chỉ có thể sử dụng thanh kiếm. Hắn đâm một nhát vào vai Radoub. Mũi kiếm làm Radoub bị thương đồng thời cứu sống anh.

Radoub không còn khí giới nhưng còn đủ sức lực, coi thường cái vết thương không ăn sâu đến xương, liền đu về phía trước, buông song cửa nhảy vào trong.

Tại đây anh mặt đối mặt với Chante-en-Hiver, tên này đã vứt gươm ra đằng sau và hai tay hai khẩu súng. Chante-en-Hiver rướn mình, nhằm vào Radoub đang ở trước miệng súng, nhưng cánh tay hắn yếu đi đang run lẩy bẩy, hắn chưa bắn ngay.

Radoub lợi dụng phát ấy, cười vang lên.

- Nào! Đồ con trừu! Mày tưởng đem cái mặt ngoáo ộp của mày ra dọa tay chắc? Mẹ kiếp! Sao nhà người ta phá cái mặt mày ghê đến thế!

Chante-en-Hiver nhằm bắn.

Radoub tiếp:

- Chẳng phải đùa đâu, cái mặt mày bị đạn nó phá nát đẹp quá! Con ơi, chúng đã phá cái bộ mặt của mày rồi. Nào thì mày nhả đạn đi, đồ nỡm.

Tiếng súng nổ và tiếng đạn sạt sát đầu Radoub, hớt mất nửa cái tai. Chante-en-Hiver giơ khẩu thứ hai nhưng Radoub không để cho nó có thì giờ ngắm bắn nữa.

- Tao mất một cái tai đủ rồi. Mày đã làm tao bị thương hai lần. Nào, chơi vào!

Radoub nhảy xổ vào Chante-en-Hiver đẩy cánh tay nó lên thẳng cho viên đạn bay đi phía khác rồi túm lấy và vặn một vòng cái quai hàm nát của nó. Chante-en-Hiver rú lên một tiếng ngất đi.

Radoub bước qua, bỏ mặc nó nằm gần cửa.

- Bây giờ thì tao đã cho mày rõ cái tối hậu thư của tao rồi, mày đừng cựa quậy nữa. Nằm đó, đồ bò sát hung dữ. Mày cũng biết là bây giờ tao chẳng cần giết mày làm gì. Cho mày tùy ý bò dưới đất làm bạn với đôi dép của tao. Mày chết đi, đời mày cũng đến thế thôi. Chốc nữa mày sẽ biết là cha xứ của mày chỉ toàn nói nhảm với mày. Về với địa ngục, dân quê!

Rồi anh nhảy vào trong phòng ở gác một.

- Chả thấy đếch gì! - Anh lầu bầu.

Chante-en-Hiver giãy giụa và rú lên trong cơn hấp hối.

Radoub quay lại.

- Im đi! Mày làm ơn im đi. Mặc xác mày. Tao chẳng thèm kết liễu đời mày. Để cho tao yên.

Và băn khoăn, anh ta lùa tay vào trong tóc, mắt vẫn nhìn Chante-en-Hiver.

- Chà! Bây giờ ta làm gì đây? Được đấy, nhưng thế là ta mất hết vũ khí. Ta chỉ có hai viên đạn. Đồ súc sinh, mày đã làm phí đạn của ta. Lại còn cái khói làm cho mắt cay xè!

Rồi anh đụng phải cái tai rách.

- Ái! - Anh kêu lên.

Rồi anh tiếp:

- Mày tước của ông mất một tai, tưởng bở lắm đấy! Thật ra, tao cũng không quý nó bằng cái khác đâu, nó chỉ là đồ trang trí thôi. Mày cũng làm xước vai tao, nhưng chẳng sao. Tử đi, dân quê, ta tha thứ cho mày đấy.

Anh lắng nghe. Tiếng vang dội ở phòng dưới thật là kinh khủng. Cuộc chiến đấu ác liệt hơn bao giờ hết.

- Phía dưới đánh khá đấy. Thế mà chúng vẫn gào "đức vua vạn tuế". Chúng chết một cách quý phái.

Chân anh đụng phải thanh kiếm nằm dưới đất. Anh nhặt lên, nói với Chante-en-Hiver, bây giờ đã nằm im và có lẽ đã chết:

- Mày thấy không, người rừng kia, đối với tao, kiếm hay cái gì cũng thế thôi. Nhưng tao cần hai khẩu súng. Đồ man rợ, ma bắt mày đi! Chà! Mình làm gì bây giờ? Đứng đây thì chẳng được tích sự gì cả.

Anh tiến vào trong phòng, cố nhìn cho rõ và dò phương hướng. Bỗng nhiên, trong bóng tối, sau cây cột giữa nhà, anh thấy một cái bàn dài và trên bàn ấy có cái gì lấp lánh. Anh mò mẫm. Toàn là súng dài súng ngắn, đặt thành hàng ngay ngắn, như chỉ còn chờ bàn tay cầm lấy; đó là kho dự trữ mà những kẻ bị vây chuẩn bị cho đợt chiến đấu thứ hai; Cả một kho vũ khí. Radoub kêu lên:

- Tuyệt!

Rồi anh nhảy xổ tới, mặt mày rạng rỡ và dữ tợn.

Bên cạnh bàn đầy vũ khí là cửa cầu thang thông với các tầng trên và dưới mở toang. Radoub bỏ cây kiếm xuống, cầm lấy hai khẩu súng lục, mỗi khẩu có hai viên đạn, bắn bừa một lúc qua phía dưới cửa vào trong cầu thang xoắn ốc rồi anh tiếp tục nhả đạn với một khẩu súng dài và một khẩu miệng loa kèn đầy đạn. Súng này khạc ra mười lăm viên đạn cùng một lúc. Rồi Radoub lấy sức thét to vào cầu thang: Paris muôn năm!

Và nắm lấy một khẩu súng miệng loa kèn lớn hơn, anh chĩa xuống dưới vòm cầu thang quanh co và đứng đợi.

Cảnh hoảng hốt ở phòng dưới không thể tả được. Tình trạng đột biến này làm tan rã khí thế cầm cự.

Trong ba loạt đạn của Radoub, hai viên đạn đã trúng đích; một viên giết Houzard tức De Quélen. Lão hầu tước kêu lên:

- Chúng ở phía trên!

Tiếng kêu ấy làm cho bọn cố thủ bỏ chạy, tán loạn hơn một đàn chim hoảng hốt, giành nhau chạy thoát thân vào cầu thang. Lão hầu tước cũng giục bọn này tháo chạy.

- Nhanh lên! Thoát là dũng cảm. Lên tầng hai cả! Lên đó rồi sẽ đánh lại.

Lão ra khỏi phòng sau cùng. Sự can đảm ấy cứu lão.

Radoub núp trên đầu cầu thang, ngón tay để sẵn trên cò súng nhằm bắn bọn rút lui. Những tên đầu tiên chạy lên đến vòng cầu thang bị đạn quạt vào giữa mặt, lăn ra chết. Nếu lão hầu tước chạy trong số đó thì đã chết rồi. Trước khi Radoub có thì giờ cầm một khẩu súng khác thì những tên đi sau đã vượt qua, lão hầu tước đi sau cùng và chậm hơn. Chúng tưởng tầng thứ nhất đầy quân địch nên chạy thẳng lên tầng hai, tức là phòng gương. Đấy chính là nơi có cánh cửa sắt, có mồi dẫn lửa tẩm lưu hoàng, nơi Lantenac sẽ phải đầu hàng hoặc chết.

Gauvain cũng ngạc nhiên như bọn kia về tiếng súng nổ ở cầu thang, và cũng không biết sự viện trợ ấy từ đâu đến, ông ta thừa cơ, cùng đồng đội vượt qua lũy cố thủ, và thúc kiếm vào tận lưng bọn địch, dồn chúng lên tận tầng thứ nhất.

Đến đây ông gặp Radoub.

Radoub chào theo kiểu nhà binh và nói:

- Xin một phút, thưa tư lệnh. Tôi đã làm thế đấy. Tôi nhớ đến trận Dol. Tôi đã làm như tư lệnh. Tôi kẹp địch giữa hai hỏa lực.

- Học trò giỏi. - Gauvain vừa nói vừa cười mỉm.

Ở lâu trong tối, mắt đã quen bóng tối như mắt chim đêm, Gauvain bỗng nhận ra mặt Radoub đầy máu.

- Nhưng anh bạn, anh bị thương rồi.

- Xin tư lệnh đừng lo. Thêm hay bớt đi một tai thì đã hề gì? Tôi còn bị một nhát kiếm nữa, nhưng chả cần. Khi người ta đập vỡ một ô cửa kính, thế nào cũng bị sứt da một chút. Với lại, không phải chỉ có máu tôi đâu.

Họ tạm dừng lại trong gian phòng tầng thứ nhất do Radoub chiếm lĩnh được. Người ta mang tới chiếc đèn dầu. Cimourdain đã theo kịp Gauvain. Hai người hội ý. Quả thật cũng có điều phải suy nghĩ. Quân bao vây không nắm được điều bí mật của bên bị vây; họ không biết bọn kia thiếu đạn; thuốc súng cũng đã cạn; gác hai là nơi chống đỡ cuối cùng, họ còn ngại cái cầu thang có gài mìn.

Điều chắc chắn là kẻ định không thể thoát ra được. Những kẻ còn sống sót đó như đã bị khóa chặt. Lantenac đang nằm trong bẫy chuột. Tin chắc như vậy nên họ muốn giành chút thì giờ tìm một cách kết thúc tốt nhất. Đã có khá nhiều thương vong. Phải cố gắng đừng mất mát quá nhiều trong đợt tấn công cuối cùng này. Đợt tấn công sau cùng này nguy hiểm hơn nhiều. Chắc là họ sẽ phải chịu đựng một loạt đạn đầu gay go.

Cuộc chiến đấu ngừng lại. Quân bao vây đã làm chủ tầng cuối cùng và tầng gác thứ nhất, đang chờ lệnh của chỉ huy để tiếp tục. Gauvain và Cimourdain bàn bạc. Radoub lặng lẽ chứng kiến cuộc trao đổi ý kiến.

Anh đánh bạo chào lối nhà binh, dáng bẽn lẽn:

- Thưa tư lệnh!

- Gì thế, Radoub?

- Tôi có quyền được một phần thưởng nhỏ chăng?

- Được lắm, anh muốn gì?

- Tôi muốn là người lên gác trước nhất.

Người ta không thể từ chối anh. Vả lại anh có thể làm mà không cần xin phép.

XI
Những kẻ tuyệt vọng

Trong khi những người ở tầng thứ nhất đang bàn bạc thì những người ở tầng thứ hai dựng chướng ngại vật. Thắng thì hung dữ bại thì điên rồ. Hai đoàn người ở hai tầng gác sắp chạm trán nhau kịch liệt. Càng gần chiến thắng, người ta càng say sưa. Tầng dưới đầy hy vọng, đó là sức mạnh lớn nhất của con người.

Niềm tuyệt vọng đang ở tầng trên.

Một niềm tuyệt vọng lặng lẽ, lạnh lùng, bi thảm.

Bọn bao vây chạy vào phòng này, ngoài đó ra không còn đâu nữa; điều lo lắng đầu tiên đối với chúng là chặn đường vào. Đóng chặt cửa lại là vô ích, lấp lối cầu thang còn tốt hơn. Trong trường hợp này, một chướng ngại vật qua đó thấy rõ địch và đánh địch còn tốt hơn là một cánh cửa đóng kín.

Ngọn đuốc mà Imânus cắm trong giá trên tường cạnh mồi dẫn lửa tẩm lưu huỳnh chiếu sáng bọn chúng.

Trong phòng ở gác hai có một chiếc hòm gỗ sồi, to và nặng dùng để chứa quần áo trước lúc phát minh ra kiểu tủ có ngăn kéo.

Chúng kéo lê chiếc hòm ấy, và dựng đứng ở cửa cầu thang. Chiếc hòm khớp vào cửa và bịt hẳn lối vào. Phía trên chỉ còn một khoảng hẹp, một người có thể chui lọt, rất lợi để bắn tỉa bên tấn công từng người một. Chưa chắc đã có ai dám liều tiến vào đấy.

Cửa bịt rồi, chúng được nghỉ một chốc.

Chúng điểm lại con số, trong số mười chín tên chỉ còn bảy, kể cả Imânus. Trừ Imânus và lão hầu tước ra, tất cả đều bị thương.

Năm tên bị thương vẫn rất hăng máu vì trong không khí ác chiến người bị thương mà chưa chết vẫn có sức đi đi lại lại như thường, đó là Chatenay tức Robi, Guinoiseau, Hoisnard Cành-Vàng, Brin-d’Amour và Grand-Francoeur.

Còn thì chết cả.

Chúng không còn đạn dược nữa. Túi đạn đã dốc cạn. Chúng đếm đạn. Bảy người mà còn mấy viên? Bốn.

Đã đến giờ phút chúng chỉ còn ngã gục thôi. Chúng bị dồn vào một cái dốc vực thẳm, há hốc và kinh khủng. Khó lòng mà đứng vững trên bờ vực ấy. Trong khi đó, cuộc tấn công lại tiếp tục nhưng từ từ và chắc chắn. Người ta đã nghe những tiếng báng súng của quân bao vây gõ vào từng bậc thang một để dò đường lên.

Không còn đường thoát nữa. Chuồn lối thư viện ư? Sáu khẩu đại bác, nạp đạn sẵn đang chĩa vào đấy. Qua tầng trên ư? Ích gì? Các phòng ở tầng này đều dẫn ra sân thượng. Đến đó thì chỉ còn có nước nhảy từ trên đỉnh tháp xuống dưới đất mà thôi.

Bảy tên sống sót của đám yêng hùng ấy thấy mình bị cầm tù trong những bức tường đang che chở chúng nhưng sẽ nộp mạng chúng cho đối phương. Chúng chưa bị bắt; nhưng chúng đã thành tù nhân rồi.

Lão hầu tước cất tiếng:

- Các bạn, thế là hết!

Im lặng một lát, lão tiếp:

- Grand-Francoeur, hãy trở lại là thầy của Turmeau.

Tất cả quỳ xuống, tay cầm tràng hạt. Tiếng báng súng của quân bao vây tiến lại gần sát.

Grand-Francoeur, mặt đầy máu vì một viên đạn lướt qua đầu và bóc mất da sọ, đưa tay phải giơ cao cây thập ác. Lão hầu tước, vốn không tin, cũng quỳ một gối xuống.

Grand-Francoeur nói:

- Ai nấy hãy lớn tiếng xưng tội. Đức ông xưng trước.

Lão hầu tước đáp:

- Tôi đã giết người.

- Tôi đã giết người. - Hoisnard nói.

- Tôi đã giết người. - Guinoiseau nói.

- Tôi đã giết người. - Brin-d’Amour nói.

- Tôi đã giết người. - Chatenay nói.

- Tôi đã giết người. - Imânus nói.

Và Grand-Francoeur nói tiếp:

- Nhân danh Cha, và Con, và Thánh thần, ta tha tội cho các người, cho linh hồn các người được cứu rỗi.

- A-men! - Tất cả mọi người trả lời.

Lão hầu tước đứng dậy:

- Bây giờ, chúng ta cùng chết.

- Và giết. - Imânus nói.

Tiếng báng súng bắt đầu rung chuyển chiếc hòm chắn ngang cửa.

Tên thầy tu nói:

- Hãy nghĩ tới Chúa. Trần thế không còn là gì đối với các người nữa.

- Vâng - Lão hầu tước nói tiếp - Chúng ta đã xuống mồ.

Tất cả cúi đầu và lấy tay đấm ngực. Chỉ có lão hầu tước và tên thầy tu vẫn đứng thẳng. Mắt dán xuống đất, lão thầy tu cầu nguyện, những người dân quê cầu nguyện, còn lão hầu tước thì mơ màng. Chiếc hòm như bị búa nện vào, tiếng vang lên rùng rợn.

Giữa lúc ấy, một giọng nói sang sảng mạnh mẽ, bỗng vang lên sau lưng họ:

- Thưa đức ông, tôi nói có sai đâu.

Tất cả mọi người quay đầu lại, ngạc nhiên.

Một cái lỗ vừa mở ra giữa bức tường.

Một tấm đã ghép chặt với các tấm khác, nhưng không trát vữa, và phía trên phía dưới có chốt đinh, vừa xoay tròn vừa mở ra một lỗ hổng trong bức tường, để lộ hai lối đi, một lối bên phải, một lối bên trái, tuy hẹp nhưng cũng đủ cho một người chui qua. Phía sau cái cửa bất ngờ này, thoáng thấy những bậc đầu tiên của một cầu thang xoáy ốc. Một mặt người hiện ra giữa lỗ hổng.

Lão hầu tước nhận ra Halmalo.

XII
Cứu tinh

- Anh đấy à? Halmalo?

- Vâng, thưa đức ông, đức ông thấy rõ là có những tảng đá biết quay và ta có thể thoát khỏi nơi này. Tôi tới vừa kịp, nhưng cũng phải nhanh lên. Mười phút nữa, tất cả chúng ta sẽ ra giữa rừng.

- Chúa là cao cả. - Tên thầy tu nói.

- Xin đức ông thoát đi. - Tất cả mọi người đồng thanh kêu lên.

- Các người ra trước. - Lão hầu tước nói.

- Đức ông ra trước đã. - Turmeau nói.

- Tôi ra sau cùng.

Lão hầu tước nói tiếp, giọng nghiêm khắc:

- Đừng có nhường nhau nữa. Chúng ta không có thì giờ để kiểu cách. Các người đã bị thương. Ta ra lệnh cho các người phải sống và chạy thoát. Mau lên, cứ theo đường này. Cám ơn Halmalo.

- Thưa hầu tước, chúng ta chia tay nhau? - Turmeau nói.

- Ở dưới kia; hẳn rồi. Chỉ thoát ra được từng người một thôi.

- Đức ông có thể định cho một chỗ hẹn không?

- Có. Một quãng trống trong rừng. Quãng La Pierre-Gauvaine, các anh biết chỗ ấy chứ?

- Chúng tôi biết cả.

- Trưa mai, tôi sẽ ở đó. Ai còn đi được sẽ tới đó.

- Vâng, chúng tôi sẽ tới.

- Và chúng ta sẽ tiếp tục chiến đấu. - Lão hầu tước nói.

Nhưng Halmalo tì tay xuống tấm đá và nhận thấy nó không chuyển nữa. Cửa không thể đóng lại được. Anh ta nói:

- Thưa đức ông, nhanh lên, bây giờ tấm đá ì ra rồi. Tôi đã mở được lối ra nhưng không đóng lại được.

Quả thật, tấm đá lâu ngày hình như đã tê liệt trong bản lề. Từ nay không thể đẩy nó chuyển được nữa.

Halmalo tiếp:

- Thưa đức ông, tôi định đóng lại để khi bọn Xanh vào, chúng sẽ không thấy ai nữa và không hiểu gì hết, tưởng là tất cả đã tan ra khói rồi. Nhưng tấm đá lại không muốn thế. Kẻ thù sẽ thấy lối ra còn bỏ ngỏ và có thể sẽ đuổi theo chúng ta. Xin đừng chậm trễ một phút nào nữa. Mau lên, tất cả xuống cầu thang.

Imânus đặt tay lên Halmalo:

- Anh bạn, phải bao nhiêu thời giờ mới ra khỏi đường này và được yên ổn giữa rừng.

- Không ai bị thương nặng chứ? - Halmalo hỏi.

Tất cả trả lời:

- Không.

- Thế thì mười lăm phút là đủ.

Imânus hỏi lại:

- Như vậy, nếu mười lăm phút nữa bọn chúng vào tới đây thì sao?

- Chúng có thể đuổi theo ta, nhưng không kịp.

Lão hầu tước nói:

- Nhưng chỉ năm phút nữa là chúng sẽ vào đây, cái hòm cũ này chẳng vướng chân chúng được lâu đâu. Mấy báng súng là phá được ngay. Mười lăm phút! Ai có thể cản được chúng trong mười lăm phút?

- Tôi - Imânus nói.

- Anh?

- Vâng, tôi. Trong sáu người năm người đã bị thương. Tôi thì chưa sướt da.

- Tôi cũng thế - Lão hầu tước nói.

- Đức ông là chỉ huy, tôi là lính. Chỉ huy và lính khác nhau.

- Tôi biết thế, mỗi người một nhiệm vụ.

- Không, thưa đức ông, ngài và tôi, chúng ta cùng chung một nhiệm vụ! Thoát khỏi nơi này.

Imânus ngoảnh lại đồng đội:

- Các bạn, trước hết là phải đánh bại kẻ địch và cản chúng đuổi theo chúng ta chậm chừng nào hay chừng ấy, Tôi còn đầy đủ sức lực, tôi chưa mất một giọt máu nào, không bị thương, tôi sẽ chống đỡ lâu dài hơn một người nào khác.

Các bạn đi hết đi, để khí giới lại cho tôi. Tôi sẽ sử dụng tốt đấy. Tôi bảo đảm ngăn chúng trong nửa tiếng đồng hồ. Có tất cả mấy súng lục nạp đạn?

- Bốn.

- Bỏ hết xuống đất.

Cả bọn làm theo.

- Tốt. Tôi ở lại. Chúng sẽ chạm trán với tôi. Bây giờ thì các bạn đi đi, mau lên.

Trong tình thế căng thẳng đến cực độ những câu cảm ơn cũng bằng thừa. Chỉ vừa đủ thì giờ để họ bắt tay Imânus.

- Sẽ chóng gặp nhau. - Lão hầu tước nói với Imânus.

- Không, thưa đức ông, tôi mong rằng không. Khó gặp lại nhau. Vì tôi sẽ chết.

Tất cả theo nhau đi vào cầu thang chật hẹp, người bị thương đi trước. Trong khi đoàn người vẫn đi xuống, lão hầu tước rút bút chì trong sổ tay ra và viết vài chữ lên tấm đá bây giờ không chuyển động được nữa và để lộ lối đi ra rộng hoác.

- Thưa đức ông, mời ngài đi, chỉ còn ngài nữa thôi. - Halmalo nói.

Và Halmalo bước xuống.

Lão hầu tước đi theo anh ta.

Một mình Imânus ở lại.

XIII
Đao phủ

Bốn khẩu súng lục đặt trên đá lát phòng, vì phòng này không có sàn gỗ. Imânus cầm hai khẩu, mỗi tay một khẩu.

Hắn né mình đi về phía cầu thang có chiếc hòm chắn ngang và che kín.

Quân bao vây sợ một điều bất ngờ, một cái gì cuối cùng sẽ nổ tung ra, tai họa cho bên thắng cũng như bên bại. Đợt tấn công lúc đầu càng sôi nổi bao nhiêu thì đợt cuối cùng này càng từ từ thận trọng bấy nhiêu. Họ không thể, và có lẽ họ không muốn phá mạnh chiếc hòm; họ đã dùng báng súng phá hỏng đáy và dùng lưỡi lê đâm hỏng nắp, và qua những lỗ thủng ấy, họ cố quan sát gian phòng trước khi đánh liều xông vào.

Ánh đèn của họ chiếu sáng cầu thang xuyên qua những lỗ ấy.

Qua một lỗ, Imânus thấy một tròng mắt đang nhìn. Hắn chĩa nòng súng ngay vào chỗ ấy và bóp cò. Súng nổ và Imânus sung sướng nghe một tiếng kêu rùng rợn. Viên đạn đã chọc thủng mắt, xuyên qua đầu, và người lính vừa nhìn vào phòng ngã lộn xuống cầu thang.

Quân bao vây đã phá rộng hai chỗ phía dưới nắp hòm và đã khoét ra hai lỗ châu mai, Imânus lợi dụng một lỗ ấy, luồn cánh tay vào và bắn nhào vào quân bao vây một phát thứ hai. Có lẽ phát đạn này xuyên qua nhiều người vì có nhiều tiếng kêu lên như thể có ba hay bốn người chết hoặc bị thương, và trên cầu thang, có tiếng người lộn xộn ngã xuống và chạy lùi về phía sau. Imânus vắt hai khẩu súng đã hết đạn, lấy hai khẩu còn lại, rồi mỗi tay một khẩu, bắn vào lỗ thủng ở chiếc hòm.

Hắn quan sát hiệu quả của hai phát đạn vừa rồi. Quân bao vây ở cầu thang đã lùi xuống. Những người sắp chết đang quằn quại trên các bậc. Cầu thang cuốn xoáy ốc nên hắn chỉ nhìn thấy được ba hoặc bốn bậc.

Imânus chờ xem.

"Lợi thời gian đấy". Hắn nghĩ.

Cùng lúc đó, hắn thấy một người nằm sấp, bò lên theo các bậc cầu thang, và phía dưới một đầu người khác hiện ra sau chiếc cột giữa. Imânus nhằm vào cái đầu này và bắn. Một tiếng kêu, người lính ngã xuống, và Imânus chuyển từ tay trái qua tay phải khẩu súng cuối cùng có lắp đạn.

Vừa lúc ấy, hắn thấy đau nhói lên, và đến lượt hắn rú lên. Một lưỡi kiếm thọc vào ruột hắn. Nắm tay, chính nắm tay của người lính bò khi nãy vừa thọc qua lỗ châu mai phía dưới hòm và ấn lưỡi kiếm vào bụng Imânus.

Vết thương thật ghê rợn. Bụng bị xẻ ra từ bên này qua bên kia.

Imânus chưa ngã. Hắn nghiến răng và nói:

- Được!

Rồi, lảo đảo, hắn lê người, lùi đến chỗ có ngọn đuốc đang cháy bên cửa sắt, bỏ súng xuống, nắm lấy bó đuốc, tay trái nâng mớ ruột đã sổ ra, tay phải hạ đuốc xuống, hắn châm lửa vào mồi tẩm lưu huỳnh.

Lửa bén mồi bắt đầu cháy. Imânus thả ngọn đuốc vẫn còn cháy ra giữa nhà, rồi cầm lại khẩu súng và ngã xuống sàn, nhưng hắn gượng lại và lấy hết hơi thở tàn ghé miệng thổi vào mồi lửa. Ngọn lửa bén nhanh, luồn qua dưới tấm cửa sắt, và bắt vào tòa nhà xây trên cầu.

Sau cái thành công ghê tởm ấy, thích thú với tội ác hơn là tự hào về hành động anh dũng của hắn, vừa rồi là anh hùng, lúc này chỉ còn là một tên sát nhân đang hấp hối và cười mỉm.

Hắn lẩm bẩm:

- Chúng sẽ nhớ mãi đến ta. Giết mấy đứa trẻ của chúng, ta sẽ trả thù cho ấu chúa của ta đang bị giam ở ngục Temple.

XIV
Imânus cũng thoát kiếp

Trong khoảnh khắc đó, một tiếng động lớn vang lên. Chiếc hòm bị đẩy mạnh đổ xuống và nhường lối đi cho một người cầm kiếm, nhảy xổ vào trong phòng.

- Ta Radoub đây; ai muốn thử tí nào? Chờ đợi chán lắm. Ta liều thôi. Chẳng sao, ta vừa đâm thủng ruột một đứa rồi. Bây giờ, ta đánh tất cả chúng mày. Có ai theo ta hay không, ta chẳng cần biết. Chúng mày bao nhiêu người?

Quả là Radoub, và chỉ có một mình anh. Sau việc Imânus bắn ở lối cầu thang, Gauvain, sợ có mìn ngầm, đã cho lui quân và hội ý với Cimourdain.

Radoub đứng ở bậc cửa phòng, tay cầm kiếm, trong cảnh tối mò mà cây đuốc sắp tắt còn chiếu le lói, lặp lại câu hỏi:

- Ta có một mình thôi, chúng mày bao nhiêu?

Không nghe trả lời, anh tiến vào. Một tia sáng từ mồi lửa tàn chốc chốc bùng lên, có thể nói đó là những tiếng nấc của ánh lửa, chiếu sáng cả gian phòng.

Radoub soi mặt vào một tấm gương nhỏ treo trên tường:

mặt mày đẫm máu, vành tai gần đứt lòng thòng bên má:

- Khiếp quá! - Anh thốt ra.

Rồi anh ngoảnh lại, ngạc nhiên vì thấy căn phòng trống rỗng.

- Chẳng có ai! Quân số không.

Anh nhìn thấy tấm đá quay ngang, lỗ hổng và cầu thang.

- À ta hiểu rồi. Chúng chuồn rồi. Các bạn ơi vào đây tất cả; chúng biến cả rồi. Chúng đã tháo chạy hết, chuồn rồi, vù rồi, cút rồi. Cái tháp cũ rích như một chiếc hũ, đã rạn nứt rồi. Đấy, cái lỗ chúng nó đã chui ra, quân súc sinh. Với những trò như thế này thì biết đến bao giờ mới tiêu diệt hết bọn Pitt và Cobourg 3 . Quỷ sứ đã cứu chúng! Chẳng còn đứa nào cả.

Một phát súng nổ, một viên đạn trượt qua cùi tay Radoub và đập bẹt vào tường.

- À, còn có người. Cậu nào chào mình lịch sự thế?

- Ta - Một tiếng cất lên.

Radoub nhô đầu ra trước và nhận thấy trong cảnh tranh tối tranh sáng một vật gì, đấy là Imânus.

- A ta túm được một thằng. Lũ kia trốn rồi, nhưng còn mày, mày trốn đằng trời.

- Chắc không? - Imânus đáp.

Radoub tiến lên một bước, rồi dừng lại.

- Hè, cái tên nằm dưới đất kia, mày là đứa nào?

- Tao là người nằm dưới đất và khinh thường tất cả những đứa đang đứng.

- Cái gì trong tay phải mày?

- Súng lục.

- Còn tay trái?

- Ruột tao.

- Tao bắt mày.

- Tao đố mày.

Nói xong Imânus cúi xuống mồi lửa đang cháy, thổi hơi cuối cùng vào đám lửa, rồi tắt thở.

Một lát sau Gauvain, Cimourdain và mọi người đều đã vào trong phòng. Tất cả nhìn thấy lỗ hổng. Họ lục soát các ngõ ngách, quan sát cái cầu thang, dẫn ra một lối thoát theo đường hào. Họ xác nhận là bọn giặc đã trốn. Họ lay xác tên Imânus. Tên này đã chết. Gauvain tay cầm chiếc đèn xem xét tấm đá đã mở đường cho bọn bị vây. Ông ta đã nghe nói đến tấm đá xoay này, nhưng vẫn cho đó là chuyện bịa.

Bỗng ông ta thấy mấy chữ viết bằng bút chì; ông ta ghé đèn lại và đọc:

Tạm biệt, ngài tử tước. Lantenac.

Guéchamp đã tới bên Gauvain. Đuổi theo bọn địch dĩ nhiên là vô ích, bọn chúng đã thoát từ lâu rồi; xứ sở, bờ bụi, hào rãnh, dân cư ủng hộ chúng; chắc chúng đã đi xa; chẳng có cách nào tìm ra chúng, và cả cánh rừng Fougères là một nơi trú ẩn mênh mông. Làm gì bây giờ. Phải làm lại tất cả. Gauvain và Guéchamp trao đổi với nhau nỗi thất vọng và những điều ức đoán.

Cimourdain lắng nghe, nét mặt nghiêm nghị không nói một lời.

- À này, Guéchamp, còn chiếc thang? - Gauvain hỏi.

- Thưa tư lệnh, thang chưa tới.

- Nhưng chúng ta đã thấy một chiếc xe có lính cảnh sát hộ tống kia mà?

Guéchamp trả lời.

- Xe không mang thang tới.

- Thế nó mang gì tới?

- Máy chém. - Cimourdain trả lời.

XV
Không nên bỏ đồng hồ và chìa khóa vào cùng một túi

Lão hầu tước Lantenac không phải đã đi xa như họ tưởng. Tuy nhiên, lão ta cũng đã hoàn toàn yên ổn và ngoài vòng truy nã của họ.

Lão đi theo Halmalo.

Cầu thang mà Halmalo cùng lão bước xuống, theo sau những kẻ chạy trước, nối sát với đường hào và mấy vòm cầu bằng một ngách hẻm có mái khum khum. Ngách dẫn tới một chỗ mặt đất tự nhiên nứt sâu, chia làm hai ngả, một ngả ra hào, một ngả ra rừng. Con đường nứt dưới đất ấy tuyệt nhiên không thể nhận ra được, vì nó lượn quanh co dưới cây cối kín mít, không thể lùng bắt được một người đã lọt xuống đó. Một người vượt ngục lọt vào con đường nứt ấy chỉ cần đi ngoằn ngoèo như một con rắn là không tìm thấy nữa. Lối vào con đường hẻm bí mật gai góc mọc dầy chi chít đến mức những người xây dựng con đường hầm này cũng thấy không cần phải che kín bằng cách khác nữa.

Bây giờ lão hầu tước cứ ung dung bước. Lão ta cũng không phải lo trá hình nữa. Từ khi trở về xứ Bretagne, lão ta không bao giờ rời bộ quần áo dân quê, lão cho rằng phục sức ấy làm tăng vẻ uy nghi của lão. Lão ta không đeo kiếm nữa và vứt bỏ cả dây lưng da.

Khi Halmalo và lão hầu tước bước từ ngách hẻm đi vào con đường nứt dưới đất, thì năm người kia, Guinoiseau, Hoisnard Cành-Vàng, Brin-d’Amour, Chatenay và Turmeau đã đi qua chỗ đó rồi.

- Mấy ông kia chẳng mấy chốc mà đã cao chạy xa bay rồi - Halmalo nói.

- Anh cũng làm như họ đi - Lão hầu tước nói.

- Đức ông muốn tôi từ giã đức ông?

- Đúng thế, tôi đã bảo anh như thế rồi. Trốn một mình là tốt nhất. Chỗ nào một người vượt được thì hai người không lọt được. Đi cặp đôi sẽ làm người ta để ý. Anh sẽ làm tôi bị bắt hoặc tôi sẽ làm anh bị bắt.

- Đức ông thuộc vùng này chứ?

- Thuộc.

- Đức ông vẫn giữ nơi hẹn ở Pierre-Gauvaine?

- Ngày mai, buổi trưa.

- Tôi sẽ tới đó. Chúng ta sẽ tới đó.

Halmalo ngừng lại.

- À, thưa đức ông, tôi cứ nghĩ lại hồi ngài và tôi ở giữa biển, chỉ có hai người, tôi muốn giết ngài là chúa đất của tôi, đáng lẽ ngài có thể nói ra cho tôi rõ, thế mà ngài cũng không nói! Ngài thật là con người khác thường.

Lão hầu tước nói tiếp:

- Nước Anh. Không còn con đường nào khác nữa. Trong mười lăm ngày nữa, người Anh phải có mặt tại đất Pháp này.

- Tôi còn nhiều điều phải trình lại với đức ông. Tôi đã hoàn thành những việc đức ông ủy thác.

- Ngày mai chúng ta sẽ bàn tới tất cả những cái đó.

- Vâng, ngày mai, kính chào đức ông.

- À! Anh có đói không?

- Có lẽ, thưa đức ông. Tôi hối hả đi tới nơi cho kịp đến nỗi quên không biết hôm nay đã ăn chưa.

Lão hầu tước rút trong túi ra một thỏi sô-cô-la bẻ đôi đưa cho Halmalo một nửa, và ăn ngay một nửa kia.

Halmalo nói:

- Thưa đức ông, bên phải là đường hào, bên trái là rừng.

- Được. Anh để mặc tôi. Anh đi đi.

Halmalo vâng lệnh, và lao vào trong bóng tối. Nghe có tiếng bụi cây sột soạt rồi lại vắng ngắt. Vài giây sau, đã không thể tìm được ra dấu vết anh ta. Đất vùng Bocage này lởm chởm và chằng chịt cây cối hỗ trợ cho người đi trốn. Vào đấy không phải là ẩn nấp, mà là biến đi. Chính vì chúng trốn tránh nhanh nhẹn và dễ dàng như vậy cho nên quân đội ta rất ngần ngại trước bọn phiến loạn ở Vendée, chúng luôn luôn chạy dài và đến là tài trốn tránh.

Lão hầu tước đứng yên lặng. Lão thuộc hạng người luôn luôn cố gắng để không rung cảm gì cả; nhưng lão không thể tránh được xúc động khi được thở không khí tự do, sau khi đã thở cái không khí sặc sụa mùi máu và chém giết. Thấy mình hoàn toàn thoát nạn sau khi đã cầm chắc cái chết trong tay; thấy mình an toàn sau khi đã sát miệng lỗ, thoát khỏi cái chết và trở lại cuộc sống, ngay đối với một người như Lantenac, cũng là một xúc cảm mạnh mẽ; và tuy lão đã trải qua nhiều phen tương tự, tâm hồn bình thản ấy cũng không khỏi bị lay chuyển trong khoảnh khắc. Lão tự thú với mình là rất hài lòng. Lão kìm ngay cái tình cảm gần giống như một niềm vui ấy.

Lão rút đồng hồ ra. Mấy giờ rồi?

Lão rất ngạc nhiên, vì thấy mới mười giờ. Khi người ta vừa trải qua một biến cố, trong đó phải giải quyết rất nhiều vấn đề, thì người ta hay sửng sốt vì thấy những giây phút đầy sự việc ấy, cũng chẳng dài hơn những giây phút khác. Tiếng súng cảnh cáo đã nổ trước lúc mặt trời lặn một chút; và nửa giờ sau, tháp Tourgue đã bị quân tiến công vây chặt, khi ấy vào khoảng từ bảy đến tám giờ, trời đã chập choạng tối. Thế là cuộc chiến đấu khổng lồ đó, bắt đầu từ tám giờ, và đến mười giờ thì đã kết thúc. Tất cả thiên anh hùng ca ấy đã xảy ra trong thời gian một trăm hai mươi phút. Đôi khi một tốc độ chớp nhoáng chen lẫn vào các tai vạ. Những biến cố thường rút ngắn một cách kỳ lạ như vậy.

Nghĩ cho kỹ thì chỉ trái lại thế mới đáng làm cho chúng ta ngạc nhiên; trong hai tiếng đồng hồ sự chống chọi của một nhóm người hết sức ít ỏi đối với một số đông như vậy thật là phi thường, và đúng là cuộc chiến đấu của mười chín người chống với bốn nghìn người ấy, không phải là ngắn, mà cũng không kết thúc một cách chóng vánh.

Nhưng đã đến lúc phải đi, Halmalo có lẽ đã đi xa, lão hầu tước thấy không cần phải đứng lại đó lâu như vậy. Lão lại bỏ đồng hồ vào trong túi áo; nhưng không bỏ vào trong cái túi lúc nãy, vì lão vừa để ý rằng chiếc đồng hồ đụng phải chiếc chìa khóa cửa sắt mà Imânus đã đưa cho lão. Mặt kính đồng hồ có thể vỡ; rồi lão sẵn sàng lẩn vào rừng. Vừa lúc sắp rẽ sang phía trái lão thấy hình như có một tia ánh sáng mờ mờ xuyên tới.

Lão quay lại và qua những bụi cây in rõ nét lên trên một nền lửa đỏ lão thấy cả một vùng ánh sáng lớn rọi trong đường hào. Lão chỉ cách đường hào có vài bước. Lão đi tới đó. Nhưng nghĩ lại, thấy phơi mình ra chỗ ánh sáng ấy chẳng ích gì, bất kể là ánh sáng gì cũng không có lợi cho lão. Theo hướng mà Halmalo đã chỉ, lão bước mấy bước về phía rừng.

Bỗng nhiên, đang ở dưới đống gai góc sâu kín lão nghe thấy trên đầu một tiếng kêu rất lớn; tiếng kêu ấy hình như phát ra từ mép cao nguyên, phía trên đường hào. Lão hầu tước ngước mắt lên và dừng lại.

--------------------------------

1

Eschyle (525 - 426 TCN : Thi hào người Hy Lạp.

2

Pindare (521 - 441 TCN : Thi hào cổ Hy Lạp chuyên ca ngợi các lực sĩ.

3

Pitt (1759 - 1806 , Thủ tướng nước Anh và Cobourg (1737 - 1815 , Hoàng thân, Thống chế nước Áo; là những kẻ thù của Cách mạng Pháp.

Quyển năm

Quỷ dữ cũng có thiện chí



I
Tìm thấy con mà như mất con

Khi Michelle Fléchard nhìn thấy tòa tháp đỏ chói dưới ánh mặt trời thì chị còn cách đó hơn một dặm đường. Lúc đó, tưởng chừng như chị không thể bước thêm một bước nữa. Vậy mà chị không ngần ngại trước dặm đường cuối cùng ấy. Đàn bà yếu đuối nhưng các bà mẹ lại rất khỏe. Chị ta đã đi tiếp.

Mặt trời đã lặn; hoàng hôn xuống rồi tối sẫm; vừa đi chị vừa nghe từ một gác chuông bị che khuất vọng lại tiếng chuông điểm tám giờ rồi chín giờ. Có thể đó là gác chuông nhà thờ Parigné. Chốc chốc, chị dừng chân lắng nghe những tiếng nổ bùng bục lắng chìm trong đêm khuya.

Chị ta nhằm thẳng phía trước mà đi, đôi bàn chân đẫm máu dẫm nát gai nhọn. Chị hướng theo luồng ánh sáng yếu ớt tỏa ra từ vọng lầu xa xa, như một tia sáng huyền bí phát ra từ ngôi tháp chìm trong bóng tối. Khi những tiếng nổ nghe rõ hơn thì luồng ánh sáng lóe sáng rồi tắt ngấm.

Michelle Fléchard đang đi trên một cao nguyên mênh mông không có nhà cửa, cây cối, chỉ có cỏ và bụi dại; cao nguyên cao dần lên và ở tận chân trời in lên nền đầy sao một vệt dài. Trên con đường dốc ấy tòa tháp trông thấy trước mắt giúp cho chị rảo bước.

Chị thấy tòa tháp đó to dần lên.

Những tiếng nổ văng vẳng và đứt quãng, những luồng ánh sáng mờ nhạt từ tòa tháp phát ra, khi ẩn khi hiện, làm cho người mẹ khốn khổ, tuyệt vọng càng thấy có cái gì thật là bí ẩn xót xa. Đột nhiên, tất cả đều ngừng hẳn; tiếng nổ và ánh sáng cùng tắt; hoàn toàn im lặng, im lặng đến ghê rợn.

Vừa lúc đó Michelle Fléchard đặt chân tới rìa cao nguyên.

Dưới chân chị là một cái khe, không trông thấy đáy trong bóng đêm dày đặc; gần đó, trên cao nguyên nhấp nhô những ụ đất, bánh xe, thùng xe; đó là một khẩu đội pháo, và trước mặt chị những mồi lửa chuẩn bị để bắn đại bác soi sáng lờ mờ một dinh cơ đồ sộ in hình thù đen ngòm lên bóng tối chung quanh.

Dinh cơ ấy gồm mấy nhịp cầu chìm dưới khe, và một tòa nhà xây ngay trên cầu đó, nhà và cầu tựa vào ngôi tháp đen ngòm mà người đàn bà này từ xa nhắm bước tới.

Ánh sáng lấp lóe sau các cửa tò vò trên tháp và qua tiếng ồn ào vọng ra ngoài người ta đoán là có một đám đông trong tháp; mấy bóng người nhấp nhô trên sân thượng.

Gần khẩu đội pháo là một chỗ trú, chị Fléchard nhìn rõ cả lính đứng gác; nhưng không ai nhìn thấy chị vì chị lẫn trong bụi rậm và bóng tối.

Chị đến rìa cao nguyên: sát cầu, tưởng chừng đưa tay ra là có thể với tới. Nhưng khe sâu đã ngăn chị lại. Trong bóng tối, chị nhận thấy tòa nhà trên cầu gồm ba tầng. Chị đứng lại một lúc, quên cả thời gian, đăm đăm và im lặng trước cái khe sâu há hoác và ngôi nhà tối tăm. Đây là đâu? Cái gì đã xảy ra? Có phải tháp Tourgue không? Chị thấy choáng váng giống như cảm giác của một người lúc ra đi và lúc tới đích. Chị tự hỏi vì sao lại đến đây.

Chị nhìn, chị nghe ngóng.

Đột nhiên, chị chẳng thấy gì nữa.

Giữa chỗ chị đứng và ngôi tháp một màn khói bốc lên. Một cảm giác cay sè làm chị nhắm nghiền mắt lại. Vừa nhắm mắt thì mi mắt chị đỏ rực lên. Chị lại mở mắt ra.

Trước mắt chị, không còn là đêm tối nữa mà sáng như ban ngày; nhưng đây là một thứ ánh sáng bi đát, ánh sáng phát ra từ lửa. Một đám cháy vừa bắt đầu bùng lên trước mắt chị.

Đám khói đang từ màu đen chuyển sang màu đỏ tươi, giữa đám khói ấy là một ngọn lửa lớn, khi ẩn, khi hiện, ngoằn ngoèo, hung hãn như ánh chớp và rắn bò.

Ngọn lửa ấy như một cái lưỡi thè ra từ một cái gì giống như một cái mõm, đó chính là cái cửa sổ rực lửa có chấn song sắt đã nung đỏ là một trong những cửa sổ ở tầng dưới tòa lầu xây trên cầu. Trên dinh cơ ấy, chỉ còn nhìn thấy cái cửa sổ này. Khói đen bao phủ tất cả, cả cao nguyên, mắt chỉ nhìn thấy bờ khe màu đen nổi lên trên nền lửa đỏ rực.

Michelle Fléchard nhìn, ngơ ngác. Khói là mây, mây là mộng; chị không biết mình đang nhìn cái gì. Nên chạy đi hay ở lại? Chị cảm thấy gần như thoát ra khỏi thực tại.

Một ngọn lửa thổi qua, rạch tấm màn khói, và lúc ấy, ngôi nhà ngục bi thảm bỗng phơi trần ra, rõ mồn một, vọng lâu, cầu, tòa nhà, chói lọi, kinh khủng giữa đám lửa vàng tươi lộng lẫy, phản chiếu suốt từ trên xuống dưới. Qua ánh lửa bi thảm. Fléchard thấy rõ cả.

Tầng dưới lâu đài xây trên cầu bốc cháy.

Lửa chưa bén tới hai tầng trên, nhưng nom như đặt vào một cái lẵng lửa. Từ mép cao nguyên qua lửa và khói quyện vào nhau người ta có thể nhìn thấp thoáng vào bên trong. Tất cả các cửa sổ đều mở toang.

Qua các cửa sổ lớn ở tầng thứ nhì, Michelle Fléchard nhìn thấy những chiếc tủ hình như đựng đầy sách kê dọc tường và trước một khung cửa sổ, ở dưới đất, trong bóng tối chập chờn, có một đám lộn xộn trông không rõ như một tổ chim hoặc một ổ trứng đang ấp, chốc chốc lại cựa quậy.

Chị dán mắt vào cái đó.

Đám bóng đen lộn xộn ấy là gì vậy?

Có lúc trong óc chị lại nảy ra ý nghĩ rằng những bóng đen đó giống hình người; chị đang lên cơn sốt, từ sáng chị chưa ăn, đi miết không nghỉ, mệt lả, chị cảm thấy như đang trong cơn mê sảng; tuy thế mắt chị như dán chặt không thể rời khỏi cái đống đen ngòm có vẻ không cử động, nằm sóng soài trên sàn gian phòng trên đám cháy.

Bỗng nhiên, lửa bén vào cây dây leo đã chết khô phủ kín bức tường mà chị Fléchard đang nhìn. Có thể nói rằng ngọn lửa vừa mới phát hiện ra cái cành khô đó. Một tia lửa vồ vập chiếm lấy rồi leo dọc đám dây khô, nhanh nhẹn, đáng sợ như một dây thuốc súng. Trong nháy mắt lửa bắt lên tầng thứ nhì và từ đấy soi sáng phía trong gác một. Một tia chớp chói lọi soi rõ ba đứa bé đang ngủ, một đống nhỏ nhoi đáng yêu, chân tay quấn lấy nhau, mi mắt nhắm lại, đầu tóc vàng hoe, nét mặt tươi cười.

Người mẹ nhận ra các con mình.

Chị thét lên một tiếng hãi hùng.

Chỉ có các bà mẹ mới có tiếng thét kinh hoàng khó tả đó. Không còn gì ghê sợ và xúc động hơn. Khi một người đàn bà thét lên, người ta liên tưởng như tiếng kêu của sói cái; sói cái thét lên người ta tưởng như tiếng một người đàn bà.

Tiếng kêu của chị Fléchard là một tiếng rú. Như là Homère viết: Hecube rú lên 1 .

Chính lão hầu tước De Lantenac vừa nghe tiếng rú đó.

Lão đã dừng chân lại.

Lão đang đứng ở quãng giữa lối ra của con đường hầm mà Halmalo đã chỉ cho lão và cái khe. Qua những bụi rậm trên đầu lão, lão thấy cái cầu bốc cháy, tháp Tourgue phản chiếu ánh sáng đỏ rực, và qua một kẽ giữa hai cành cây lão nhìn thấy phía trên đầu lão, ở mé bên kia, dưới chân cao nguyên, đối diện với lâu đài đang rực cháy, và trong ánh lửa sáng lóe một bộ mặt rã rời và thảm thương, một người đàn bà đang nhoài xuống khe sâu.

Chính tiếng rú của người này đã khiến cho Lantenac dừng lại.

Bộ mặt đó không còn là của Michelle Fléchard nữa mà là của Gorgone 2 . Những kẻ cùng cực là những kẻ đáng sợ. Người đàn bà quê mùa bỗng biến thành một nữ hung thần. Người đàn bà thôn quê, tầm thường, dốt nát, vô ý thức ấy bỗng nhiên có tầm vóc hùng tráng của cơn tuyệt vọng. Những nỗi đau khổ to lớn làm cho tâm hồn lớn lên phi thường; người mẹ ấy là hiện thân của tình mẫu tử; tất cả cái gì kết tinh của nhân loại đều là siêu phàm; người mẹ đứng đó, trên bờ khe, trước đám cháy, trước tội ác, như một sức mạnh rùng rợn; tiếng thét của chị là tiếng rú của con thú nhưng dáng điệu là dáng điệu của một nữ thần; trong khi chị nguyền rủa, mặt chị như một chiếc mặt nạ rực lửa. Không gì oai nghi bằng cặp mắt đẫm lệ của chị, cái nhìn của chị trút sấm sét vào đám cháy.

Lão hầu tước lắng tai nghe. Tiếng thét ấy trút lên đầu lão. Lão nghe như cái gì không thành tiếng mà xé ruột, không phải là tiếng nói mà là những tiếng nức nở.

- A! Trời ơi! Các con tôi! Các con tôi đó! Cứu! Cháy! Cháy! Cháy! Các người là kẻ cướp hẳn! Không có ai đấy à? Các con tôi sắp chết cháy rồi! A! Lạ chưa kìa! Georgette! Các con ơi! Gros-Alain! René-Jean! Thế này là thế nào? Ai bỏ con tôi vào đó? Chúng còn ngủ. Tôi điên lên mất! Không thể thế được. Cứu chúng nó!

Lúc ấy trong tháp và trên cao nguyên đang nhốn nháo. Mọi người lao đến quanh đám lửa mới bùng lên. Quân bao vây sau khi bận rộn với súng đạn, lại phải đối phó với đám cháy. Gauvain, Cimourdain, Guéchamp liên tiếp ra lệnh. Làm gì bây giờ? Trong con suối dưới khe không đủ múc vài gầu nước. Nỗi lo âu càng tăng lên. Ở ven cao nguyên, những bộ mặt hốt hoảng ngây ra nhìn.

Cảnh trước mặt thật là kinh khủng.

Ngọn lửa theo dây leo đã bén lên tầng thượng. Trên đó, nó lao vào cái vực đầy rơm khô. Bây giờ thì cả vựa rơm bùng cháy. Ngọn lửa nhảy múa, vui đùa một cách ghê rợn. Hình như có một hơi thở tàn ác đang thổi vào đống củi ấy. Có thể nói rằng toàn thân tên Imânus kinh khủng đã biến thành cơn bão lửa, nó sống lại trong ngọn lửa tàn khốc và kinh hồn; con quỷ ấy đã biến thành đám cháy. Tầng gác thư viện chưa bắt lửa vì có trần cao và tường dày, những cái phút định mệnh đang đến dần; lửa tầng dưới đã bén lên, lửa tầng trên sà xuống. Thần chết như sắp đặt lên tầng giữa một cái hôn ghê tởm. Ở dưới là một cái hầm lửa, ở trên là một vòm than hồng; sàn và trần đều có thể thiêu ra tro với tất cả những cái gì ở tầng giữa. Ba đứa bé vẫn chưa thức giấc; chúng ngủ say sưa và bình dị; qua các cửa sổ mở toang, người ta có thể nhìn thấy chúng nằm trong cái hang lửa, bình thản, duyên dáng, im lặng, như ba đứa con của Chúa yên tâm nằm ngủ dưới địa ngục; đến một con hổ khi thấy những bông hoa hồng kia vứt vào cái lò lửa ấy, và những chiếc nôi bỏ trong mồ như vậy cũng phải rơi nước mắt.

Trong lúc đó người mẹ vật vã, kêu lên:

- Cháy! Tôi kêu cháy mà! Điếc cả hay sao mà không ai tới thế này! Người ta thiêu con tôi! Tới đi, những ông đứng kia kìa. Đã bao ngày tôi đi tìm, bây giờ tôi gặp con tôi như thế này. Cháy! Cứu chúng nó với! Chúng nó là những thiên thần! Bọn trẻ thơ ấy, đã làm gì? Tôi, thì họ đã đem bắn, còn chúng nó, họ lại thiêu! Kẻ nào làm điều đó? Cứu với! Cứu con tôi với! Các ông không nghe tôi kêu ư? Cái thân khốn khổ này, các ông rủ lòng thương với! Các con tôi kia! Chúng vẫn ngủ! A! Georgette, tôi nhìn thấy cái bụng đáng yêu của nó kia! René-Jean! Gros-Alain! Tên chúng như thế đấy. Các ông thấy rõ chính tôi là mẹ chúng. Việc xảy ra lúc này đến là kinh tởm. Tôi đã đi bao ngày đêm rồi. Cả sáng nay, tôi còn nói chuyện với một người đàn bà. Cứu với! Cứu với! Cháy! Các người là bọn quỷ chăng! Thật là kinh khủng! Đứa lớn chưa được năm tuổi, đứa bé chưa được hai tuổi. Tôi trông rõ chân chúng trần trụi kia! Chúng đang ngủ, lạy Đức mẹ Đồng trinh! Bàn tay Chúa đem chúng lại cho tôi, bàn tay quỷ lại cướp chúng đi mất. Tôi đi mất bao nhiêu ngày rồi! Con tôi đó. Tôi đã nuôi nấng chúng bằng sữa của tôi! Tôi khổ sở bao nhiêu, cứ tưởng là không được thấy chúng! Hãy thương tôi! Tôi cần con tôi, phải trả con cho tôi! Thật rõ ràng là chúng đang nằm trong lò lửa kia! Xem đôi chân tôi đầy máu đây này! Cứu với! Không có người trên mặt đất nữa sao! Mà lại để con trẻ chết như vậy ư? Cứu với! Bắt lấy kẻ giết người! Thật không thấy chuyện thế này bao giờ. A! Đồ kẻ cướp! Cái nhà ghê tởm này là nhà nào? Họ cướp con tôi để đem đi giết! Lạy Chúa! Tôi muốn đòi lại các con tôi. Ôi! Tôi đến điên mất! Tôi không muốn các con tôi chết! Cứu với! Cứu với! Cứu với! Ôi! Nếu chúng phải chết như thế này thì tôi sẽ giết cả Chúa!

Trong lúc người mẹ cất lên tiếng van lơn đáng sợ, thì trên cao nguyên và dưới khe tiếng người vang lên.

- Cho một cái thang!

- Không có thang!

- Nước!

- Không có nước!

- Ở tầng hai, có cái cửa!

- Cửa bằng sắt.

- Phá đổ nó đi!

- Không thể được!

Và người mẹ lại càng gào lên tuyệt vọng:

- Cháy! Cứu với! Nhanh lên các ông ơi! Này giết tôi đi! Các con ơi! Các con ơi! A! Ngọn lửa ghê tởm kia! Có ai dập tắt nó đi, không thì nốt tôi vào đó!

Trong khoảng cách những tiếng kêu la ấy, đám cháy lặng lẽ nổ tí tách.

Lão hầu tước lần túi và sờ thấy chiếc chìa khóa tấm cửa sắt. Thế rồi, lão lại lom khom chui qua vòm cây để trở lại con đường lão vừa đi ra.

II
Từ cánh cửa đá đến cánh cửa sắt

Cả một đoàn quân bất lực, cuống cuồng quanh một trường hợp cấp cứu không thể thực hiện được, bốn nghìn con người mà không cứu được ba đứa trẻ; tình hình là như vậy.

Bởi vì họ không có thang; cái thang lấy ở Javené không về đến nơi; đám cháy lan rộng như một cái miệng núi lửa mở ra; tính chuyện dập tắt với rãnh nước dưới khe hầu như cạn khô thật là mơ hồ; khác nào đổ một cốc nước lên một hỏa diệm sơn.

Cimourdain, Guéchamp và Radoub đều đã xuống dưới khe; Gauvain đã đi lên tầng lầu thứ hai nơi có cánh cửa đá xoay, lối thoát bí mật, và có cánh cửa sắt của thư viện. Đó là chỗ đặt cái mồi diêm sinh do Imânus đốt; đám cháy bốc lên từ chỗ đó.

Gauvain đã dẫn theo hai chục công binh. Chỉ còn cách phá đổ tấm cửa sắt bị đóng chặt một cách kinh khủng.

Họ bắt đầu bổ những nhát rìu. Rìu gãy hết. Một công binh nói:

- Đối với thứ sắt này, rìu thép dòn như thủy tinh.

Cánh cửa đúng là loại sắt nện, làm bằng hai tấm bắt đinh ốc chặt vào nhau, mỗi tấm dày tới tám phân mét.

Họ lấy mấy thanh sắt thử bẩy tấm cửa lên. Mấy thanh sắt gãy hết.

- Giòn như que diêm. - Anh công binh nói.

Gauvain cau mặt, lẩm bẩm:

- Chỉ có bắn một phát đại bác mới phá được cái cửa này. Khéo phải chuyển một khẩu đại bác lên đây.

- Cũng chưa chắc. - Anh công binh nói.

Giây phút căng thẳng. Tất cả những cánh tay bất lực ấy cùng ngừng lại. Im lặng, thất bại, ngán ngẩm, họ ngắm nhìn tấm cửa sắt ghê rợn, không tài nào lay chuyển được. Ánh lửa đỏ rực từ bên trong hắt ra qua kẽ hở dưới chân cửa. Đằng sau cửa đám cháy to dần.

Xác chết ghê tởm của tên Imânus vẫn nằm đó. Nó đã thắng một cách độc ác.

Có lẽ chỉ vài phút nữa là tất cả sẽ sụp đổ.

Làm gì bây giờ? Không còn mảy may hy vọng nào nữa.

Gauvain mắt dán vào cái cửa đá xoay ở tường và con đường bọn giặc trốn thoát ra, tức giận kêu lên:

- Đúng là lão hầu tước De Lantenac đã đi ra lối này!

- Và lão đã trở lại - Một giọng nói cất lên.

Rồi một cái đầu bạc hiện lên trong khung cửa đá, cửa lối đi bí mật.

Đó là lão hầu tước.

Đã bao nhiêu năm rồi Gauvain không giáp mặt lão gần sát như lúc này. Gauvain lùi lại.

Mọi người có mặt ở đó đứng ngây cả ra.

Lão hầu tước cầm một chiếc thìa khóa lớn, lão đưa mắt nhìn mấy công binh đứng phía trước với dáng kẻ cả, khiến họ dạt sang một bên, rồi lão bước thẳng tới chỗ cửa sắt, khom lưng dưới vòm cửa và tra khóa vào ổ. Ổ khóa rít lên, cửa mở ra, mọi người nhìn thấy một vực thẳm đầy lửa, lão hầu tước bước vào trong đó.

Lão đi vào, bước vững chắc, đầu ngẩng cao.

Mọi người nhìn theo lão, rùng mình.

Lão vừa đi được vài bước trong phòng thì cả cái sàn nhà đã bị lửa đốt lại bị bước chân lão làm rung chuyển bỗng sụt xuống đằng sau lão, làm thành một vực sâu giữa lão và tấm cửa sắt. Lão không quay đầu lại, vẫn tiếp tục bước đi. Lão biến mất trong làn khói.

Không ai trông thấy gì nữa.

Lão có đi xa được hơn không? Liệu có mảnh sàn nào lại sụt ngay dưới chân lão và ném lão vào lửa hồng không? Liệu lão có làm được gì hay chỉ dấn thân vào chỗ chết? Không ai có thể biết được. Trước mặt mọi người, chỉ có một bức thành khói và lửa. Lão hầu tước ở bên kia bức thành chết hoặc sống.

III
Thấy các con thức giấc

Vừa lúc đó bọn trẻ đã mở choàng mắt.

Đám cháy chưa lan vào trong thư viện, mới hắt ánh sáng hồng lên trần nhà. Bọn trẻ chưa từng thấy cái rạng đông như thế bao giờ. Chúng nhìn, Georgette ngắm nghía.

Tất cả vẻ lộng lẫy của đám cháy đều phơi bày ra; con mãng xà đen cùng con rồng đỏ tươi hiện ra trong đám khói dị hình đen ngòm và đỏ tía một cách lộng lẫy, những tàn lửa dài bay ra xa, rạch màn đêm như những ngôi sao chổi đuổi theo nhau. Lửa thật là phong phú; những đốm than hồng như những nắm châu báu vãi trong gió; than đá cùng loại với kim cương, đúng thế. Lửa làm nứt rạn bức tường thứ ba qua các kẽ nứt than hồng đổ xuống khe những thác ngọc thạch; rơm và lúa mạch cháy trong vựa bắt đầu đổ qua cửa sổ từng trận mưa bụi vàng, lúa mạch biến thành ngọc tím, và cọng rơm cháy khác nào ngọc đỏ.

- Đẹp quá! - Georgette kêu lên.

Cả ba đứa bé cùng nhỏm dậy.

- A! - Người mẹ kêu lên - Chúng thức dậy rồi kia!

René-Jean đứng dậy, rồi Gros-Alain và Georgette vùng đứng dậy.

René-Jean vươn vai, đi tới bên cửa sổ và nói:

- Nóng quá.

- Óng - Georgette lặp lại.

Bà mẹ lên tiếng gọi chúng:

- Các con ơi! René, Alain, Georgette!

Bọn trẻ nhìn xung quanh chúng. Chúng đang tìm hiểu xem có chuyện gì. Chỗ nào người lớn hốt hoảng thì trẻ con lại tò mò. Ai dễ ngạc nhiên thì không hay sợ. Điếc thì dạn súng. Trẻ thơ chẳng đáng được xuống âm phủ, mà nếu chúng có xuống đấy, chúng lại thích thú không biết chừng.

Bà mẹ lặp lại:

- René! Alain! Georgette!

René-Jean quay đầu lại; tiếng nói đó làm cho nó chú ý; trẻ thơ có trí nhớ ngắn ngủi nhưng hồi ức lại nhạy bén; tất cả quá khứ đối với chúng như mới xảy ra hôm qua; René-Jean nhìn thấy mẹ nó, coi như một điều rất đơn giản, và với bao nhiêu sự lạ kỳ chung quanh nó, nó cảm thấy cần được che chở, nó kêu lên:

- Mẹ!

- Mẹ! - Gros-Alain gọi.

- M...ẹ! - Georgette gọi.

Rồi con bé chìa hai cánh tay nhỏ nhắn ra.

Thế là người mẹ lại gào lên:

- Các con ơi!

Cả ba đứa tới bên cửa sổ; may sao, đám cháy chưa lan tới chỗ đó.

- Nóng quá! - René-Jean nói.

Rồi nó nói thêm:

- Nóng rát quá.

Nó đưa mắt tìm mẹ nó.

- Mẹ ơi, lại đây.

- Mẹ, đây. - Georgette lặp lại.

Người mẹ tóc xõa rối bù, áo quần rách bươm, thân thể rớm máu, lăn nhào xuống dưới hào, từ bụi này qua bụi khác. Cimourdain đứng dưới hào với Guéchamp, cũng bất lực như Gauvain đứng ở trên lầu. Binh lính nhộn nhạo xung quanh, đều tuyệt vọng vì thấy không làm được gì. Nóng không thể chịu được nhưng chẳng ai để ý. Họ quan sát chiếc cầu chiều cao của các nhịp cầu, chiều cao của các tầng lầu, chiều cao cửa sổ không thể với tới được. Phải hành động mau lẹ. Phải vượt ba tầng lầu. Không có cách nào lên tới trên cao. Viên đội Radoub bị thương, một nhát kiếm chém vào vai, một tai cụt, máu và mồ hôi lênh láng, chạy tới; Anh ta nhìn thấy chị Fléchard.

- Kìa! Cái chị bị bắn chết! Sống lại ư?

- Các con tôi! - Người mẹ nói.

- Đúng rồi - Radoub trả lời - Thôi, không có thì giờ nói chuyện với ma nữa.

Rồi, anh cố leo lên cầu, nhưng vô ích, anh bấu móng tay vào đá, nhưng các lớp đá xây rất nhẵn, không có chỗ nứt nẻ, không có chỗ lồi ra, bức thành cũng đã được trét lại như mới, và Radoub lăn xuống. Đám cháy vẫn tiếp tục, ghê rợn; qua khung cửa sổ đỏ rực, người ta nhìn rõ ba cái đầu tóc vàng hoe. Radoub chĩa nắm đấm lên trời, hình như anh ta tìm ai trên đó, và nói: Xử sự như thế hở Chúa! Còn người mẹ thì quỳ xuống ôm trụ cầu, kêu lên:

- Lạy Chúa!

Những tiếng nổ răng rắc âm ỉ xen lẫn tiếng than hồng tí tách. Mặt kính ở các tủ sách của thư viện rạn nứt ra, rơi xuống loảng xoảng. Tường nhà sắp sập. Sức người không còn làm gì được. Chỉ giây lát nữa tất cả sẽ sụp đổ. Người ta chỉ còn chờ đợi tai họa. Người ta nghe thấy những tiếng nói bé bỏng lặp lại: Mẹ! Mẹ! Sự hãi hùng đã đến cực độ.

Đột nhiên, giữa cảnh lửa cháy đỏ rực, một người cao lớn hiện ta ở khung cửa sổ bên cạnh cửa sổ có bọn trẻ đứng. Mọi người ngẩng lên, mọi con mắt nhìn chăm chắm. Có một người trên đó, một người đang ở trong thư viện, đang ở trong lò lửa. Bộ mặt ấy in hình đen trên nền lửa đỏ, tóc bạc phơ. Người ta nhận ra lão hầu tước De Lantenac.

Lão biến mất, rồi lại hiện ra.

Lão già rùng rợn đó đứng lên cửa sổ, chuyển một cái thang lớn. Đó là cái thang cấp cứu vẫn đặt trong thư viện, lão đã nhìn thấy bên chân tường, và lão lôi ra tận cửa sổ. Lão cầm một đầu thang, rồi với vẻ lanh lẹ tuyệt vời của một lực sĩ, lão luồn cái thang qua cửa sổ, ghếch vào cái gờ tường bên ngoài, xuống tận dưới khe. Ở dưới đó viên đội Radoub cuống quít chìa tay đón chiếc thang, ôm chặt lấy nó và hô to:

- Cộng hòa muôn năm!

Lão hầu tước đáp lại:

- Đức vua muôn năm!

Radoub làu bàu:

- Lão muốn hô gì thì hô, nói bậy cũng được, lão là Chúa nhân từ đấy.

Thang đã đặt; gian phòng đang cháy đã được nối liền với dưới đất, hai chục người chạy lại, Radoub dẫn đầu; nhanh như cắt họ leo lên thang sắp thành hàng dọc như thợ nề chuyển đá. Như vậy là liền với chiếc thang gỗ là một chiếc thang người. Đầu thang, Radoub đứng sát cửa sổ. Anh ta quay mặt vào đám cháy.

Đám quân tản mác trong bụi rậm và các bờ dốc, xúc động, cụm lại trên cao nguyên, dưới khe, trên mái bằng tòa tháp.

Lão hầu tước lại biến đi, rồi hiện ra, bế theo một đứa bé.

Tiếng vỗ tay vang cả lên.

Đó là đứa thứ nhất, mà lão hầu tước vớ được. Gros-Alain.

Gros-Alain kêu lên:

- Sợ quá!

Lão hầu tước đưa thằng bé cho Radoub, anh chuyền xuống phía dưới cho một người lính, người này lại chuyền tiếp xuống nữa, thế rồi trong khi thằng bé này sợ sệt kêu lên và được chuyền tay xuống đất thì lão hầu tước lại biến đi một lát rồi lại trở lại cửa sổ với René-Jean, chú này cứ khóc vang lên và cưỡng lại, đánh cả Radoub lúc lão hầu tước trao chú cho viên đội.

Lão hầu tước trở lại trong phòng rực lửa. Còn lại một mình Georgette. Lão đi lại phía em. Em cười. Con người bằng đá kia bỗng thấy mắt mình có cái gì ươn ướt. Lão hỏi:

- Tên cháu là gì?

- Orgette. - Em bé nói.

Lão bế em lên tay, em bé vẫn cười, và lúc lão đưa em cho Radoub, thì cái lương tâm rất cao thượng và đen tối ấy bỗng xúc động trước sự thơ ngây, lão già hôn đứa trẻ.

- Con bé đấy! - Binh lính đồng thanh nói.

Và Georgette lại được chuyền xuống qua tay từng người giữa những tiếng reo quý mến. Họ vỗ tay, họ dẫm chân; những người lính già nức nở khóc, em bé mỉm cười với họ.

Người mẹ đứng ở chân thang, hổn hển, mê man, ngây ngất vì cái chuyện bất ngờ ấy như nhảy thẳng từ địa ngục lên thiên đường. Nỗi vui thái quá thường làm tê tái lòng. Chị giơ tay ra, đón Gros-Alain trước, rồi René-Jean, rồi Georgette, hôn lấy hôn để, rồi chị ta phá ra cười và ngã lăn bất tỉnh.

Một tiếng kêu lớn cất lên:

- Thoát cả rồi!

Thoát cả rồi thật, trừ lão già.

Nhưng không ai nghĩ đến chuyện đó, có lẽ cả lão nữa.

Lão đứng lại bên cửa sổ một lát mơ màng như muốn dành thì giờ cho cái vực lửa kia định đoạt. Rồi, ung dung, từ từ, kiêu hãnh, lão bước qua bực cửa sổ, và không ngoảnh lại, ngay ngắn, đứng thẳng, tựa vào bậc thang, sau lưng là đám cháy, đối diện là vực sâu, lão lặng lẽ bước xuống thang đường hoàng như một bóng ma. Những người còn đứng trên thang vội nhào xuống, mọi người rùng mình, chung quanh cái con người từ trên cao bước xuống, người ta phải dãn ra kinh sợ như trước một ảo ảnh linh thiêng nào đó. Còn lão vẫn đĩnh đạc giấu vào bóng tối trước mặt; họ càng lùi, lão càng tiến lại gần họ; sắc mặt lão xanh xao lạnh lùng không một nếp nhăn, đôi mắt ma của lão không một ánh chớp; mỗi bước lão tới gần những người đang nhớn nhác nhìn lão trong bóng tối, lão như to lớn thêm lên, chiếc thang rung lên cót két dưới bàn chân ghê rợn của lão tựa như tượng của hiệp sĩ trở xuống mồ.

Khi lão hầu tước xuống đến bậc thang cuối cùng và đặt chân xuống đất, một bàn tay chít lấy cổ lão. Lão quay lại.

- Ta bắt ngươi. - Cimourdain nói.

Lantenac nói.

- Tán thành.

--------------------------------

1

Bà Hecube, vợ của vua Priam, có 19 con; chồng con bà đều chết trong cuộc chiến tranh chiếm thành Troie, dưới mắt bà. Thi hào Homère đã kể chuyện này trong truyện thơ của ông.

2

Quái vật hoang đường; trong văn học, tượng trưng cho một sức mạnh đáng sợ, một thứ hỗn hợp ám muội, độc ác tàn bạo, ghê tởm.

Quyển sáu

Sau chiến thắng nổ ra cuộc đấu tranh



I
Lantenac bị bắt

Quả thật, lão hầu tước đã bước trở lại xuống mồ.

Họ điệu lão đi.

Cái hầm xây ngầm dưới tầng cuối cùng của tòa tháp Tourgue lại mở ngay ra dưới con mắt nghiêm ngặt của Cimourdain; họ đặt vào trong đó một cái đèn, một bình nước lã và một chiếc bánh mì nhà binh, vứt vào đó một bó rơm, và chưa đầy mười lăm phút, sau khi bàn tay ông thầy tu đã chộp được lão hầu tước thì cánh cửa hầm giam Lantenac đóng lại.

Xong xuôi rồi, Cimourdain đi tìm Gauvain; giữa lúc ấy, nhà thờ Parigné xa xa đánh chuông mười một giờ đêm; Cimourdain bảo Gauvain:

- Tôi sẽ triệu tập tòa án quân sự, anh sẽ không tham dự phiên tòa đó. Anh và Lantenac cùng dòng họ Gauvain. Họ hàng gần quá không ngồi xử nhau được, và tôi không tán thành cái việc Egalité xử Capet 1 . Tòa án quân sự sẽ gồm ba người, một sĩ quan, đại úy, Guéchamp, một hạ sĩ quan, đội Radoub, và tôi sẽ chủ tọa. Việc đó không quan hệ gì tới anh nữa. Chúng tôi sẽ làm đúng sắc luật của Viện Quốc ước, chỉ có việc xác nhận căn cước tên nguyên hầu tước De Lantenac. Ngày mai mở phiên tòa, ngày kia đưa hắn lên máy chém. Thế là loạn Vendée bị tiêu diệt.

Gauvain không đáp một lời nào. Còn Cimourdain bỏ đi vì đang bận một việc tối quan trọng. Ông ta còn phải sắp xếp giờ giấc, lựa chọn địa điểm. Cũng như Lequinio ở Granville, Tallien ở Bordeaux, Châlier ở Lyon, Saint-Just ở Strasbourg, Cimourdain có thói quen thân hành dự các cuộc hành hình, một thói quen được tiếng là gương tốt. Quan tòa trực tiếp xem đao phủ hành hình, đó là tục lệ mà chính quyền thời khủng bố năm 93 học theo các tòa án ngày xưa và tòa án của nhà thờ Tây Ban Nha.

Gauvain cũng rất bận tâm.

Một cơn gió lạnh thổi trong rừng. Gauvain để mặc Guéchamp điều khiển các công việc cần thiết, đi về lều của mình ở bãi cỏ ria rừng, dưới chân tháp Tourgue, vào

đó lấy chiếc áo khoác có chiếc mũ chụp và mặc vào người. Áo khoác ấy đính một lon giản dị theo thời trang cộng hòa, lon tư lệnh trưởng. Anh bắt đầu đi tản bộ trên bãi cỏ đẫm máu, nơi đã mở đầu cuộc tấn công. Anh chỉ có một mình. Đám cháy còn tiếp diễn, nhưng chẳng ai để ý đến nữa; đội Radoub thì quấn quít bên lũ trẻ và người mẹ, ân cần như một người mẹ; tòa nhà xây trên cầu đang cháy nốt, công binh lợi dụng còn lửa sáng, đào hố chôn người chết, băng bó thương binh, phá hủy hầm cố thủ, dọn xác chết đầy các phòng và cầu thang, lau chùi nơi vừa chém giết, quét dọn đống rác rưởi kinh khủng, hậu quả của chiến thắng, binh sĩ thu dọn chiến trường nhanh gọn, như con nhà lính vẫn quen làm. Gauvain không chú ý tí gì đến những việc đó.

Trong lúc mơ màng chắc anh hơi liếc nhìn phía bốt canh ở chỗ tường thủng mà lực lượng đã được tăng gấp đôi theo lệnh của Cimourdain.

Trong bóng tối, anh nhận ra lỗ tường thủng đen ngòm ấy cách chỗ anh đứng như lẩn tránh trên bãi cỏ độ hai trăm bước. Đó là nơi đã mở đầu cuộc tấn công cách đây ba tiếng đồng hồ, qua đó Gauvain đã lọt vào tầng dưới của tòa tháp, nơi có hầm cố thủ và cửa hầm giam lão hầu tước. Bốt gác được đặt ở chỗ tường thủng để canh giữ hầm giam.

Cùng lúc mắt Gauvain mơ màng nhận ra lỗ tường thủng ấy, thì anh nghe lại như tiếng chuông chiêu hồn lời nói: Ngày mai mở phiên tòa, ngày kia đưa lên máy chém.

Đám cháy mà người ta đã cách ly được và trên đó công binh trút lên tất cả khối lượng nước có thể kiếm được, vẫn chưa chịu tắt hẳn và chốc chốc lại bùng lên; thỉnh thoảng lại nghe thấy trần nhà răng rắc và các tầng gác theo nhau tụt xuống; những đám tia lửa bay lên theo hình xoắn ốc, như thoát ra từ một bó đuốc bị lắc mạnh, một luồng ánh sáng như ánh chớp làm sáng tỏ chân trời xa, và đột nhiên bóng tháp Tourgue trở nên đồ sộ kéo dài đến tận cánh rừng.

Gauvain đi đi lại lại, rải bước trong bóng tối đó, trước chỗ tường thủng. Thỉnh thoảng anh lại vòng hai tay ra sau chiếc mũ trận chụp trên đầu. Anh nghĩ ngợi.

II
Gauvain tư lự

Niềm suy tưởng của Gauvain khó mà dò được.

Một sự thay đổi vừa xảy đến, thật lạ lùng.

Lão hầu tước De Lantenac đã biến dạng.

Gauvain đã chứng kiến sự biến dạng ấy.

Anh ta chưa bao giờ ngờ những chuyện như thế lại dẫn đến những sự việc phức tạp như thế. Ngay trong giấc mơ anh ta chưa bao giờ tưởng tượng là có thể xảy ra những việc tương tự. Cái bất ngờ, một cái gì kiêu kỳ đùa giỡn với con người, đã chi phối Gauvain. Trước mặt Gauvain, cái không có thể xảy ra đã trở nên thực tế, trông thấy được, sờ mó được, không tránh được, không cưỡng lại được.

Gauvain nghĩ gì về cái đó?

Không chần chừ được nữa; phải kết luận.

Một câu hỏi đã đặt ra; anh ta không thể trốn tránh trước câu hỏi đó.

Ai đặt ra?

Các biến cố.

Và không phải chỉ các biến cố.

Vì khi sự cố là cái luôn luôn biến chuyển đặt ra câu hỏi nào đó, thì công lý là cái bất di bất dịch thúc bách ta phải trả lời.

Đằng sau đám mây tỏa bóng đen, có ngôi sao tỏa ra ánh sáng.

Không thể tránh được ánh sáng cũng như không thể thoát khỏi bóng đen.

Gauvain đang bị thẩm vấn.

Anh ta đang đối diện trước người nào đó.

Trước người nào đó rất đáng sợ.

Lương tâm anh.

Gauvain cảm thấy tất cả đang lung lay trong anh ta. Những ý định vững vàng nhất, những hứa hẹn chắc chắn nhất, những quyết đoán bất di bất dịch của anh, tất cả đang lảo đảo trong đáy sâu nghị lực của anh.

Tâm hồn có những rung chuyển.

Càng nghĩ đến những việc mắt anh vừa thấy, lòng anh càng bồn chồn.

Gauvain, con người cộng hòa, nghĩ rằng mình đang ở trong cái tuyệt đối; anh đã thật sự ở trong cái tuyệt đối. Một cái tuyệt đối cao hơn vừa xuất hiện.

Việc đã xảy ra, không thể lẩn tránh được; sự việc thật nghiêm trọng; Gauvain có dính líu vào đó; đã dính líu, anh không thể tự rút ra được và mặc dầu Cimourdain đã nói với anh: "Việc đó không can gì tới anh nữa". Anh tự cảm thấy một cái gì giống như cảm giác của cái cây lúc bị bứt ra khỏi rễ.

Mọi người đều có một cơ sở; lay chuyển đến cơ sở ấy thì gây ra một sự rối loạn sâu sắc; Gauvain cảm thấy sự rối loạn ấy.

Anh lấy hai tay bóp chặt đầu như muốn cho chân lý vọt ra. Xác định rõ một tình huống như vậy không phải là dễ; có gì khó bằng đơn giản hóa cái phức tạp, trước mặt anh có những con số đáng sợ mà phải tìm ra tổng số; làm cái tính cộng của số mệnh ư, thật là choáng váng! Anh làm thử; anh cố tìm hiểu; anh gắng tập trung tư tưởng, ghìm những phản ứng trong bản thân và tổng hợp các sự kiện.

Anh tự vấn mình.

Ai chẳng có lúc phải tự vấn mình, tự đặt câu hỏi với chính mình, trong một hoàn cảnh trọng đại để tìm hướng đi, để tiến hoặc lùi?

Gauvain vừa chứng kiến một chuyện thần kỳ.

Cùng lúc với cuộc chiến đấu trần tục, đã xảy ra một cuộc chiến đấu siêu phàm.

Cuộc chiến đấu của cái thiện chống lại cái ác.

Một trái tim dữ tợn vừa thất bại.

Con người vốn dĩ xấu xa, hung hãn, dễ phạm sai lầm, mù quáng, cố chấp, kiêu ngạo, ích kỷ, vậy mà Gauvain lại vừa chứng kiến một phép màu.

Nhân đạo chiến thắng con người.

Nhân đạo chiến thắng bất nhân.

Mà thắng bằng phương tiện nào? Bằng cách nào? Làm sao quật ngã được con vật khổng lồ hiện thân của hung hãn và hằn thù? Nhân đạo đã sử dụng loại vũ khí nào? Phương tiện chiến tranh nào? Chiếc nôi.

Một cái gì chói lọi vừa soi vào Gauvain. Giữa lúc xã hội đang xâu xé gắt gao, giữa lúc mọi thứ oán cừu và thù hận đối địch nhau, giữa lúc hỗn độn, tối tăm và điên cuồng nhất, giữa lúc tội ác và căm hờn thả sức gieo rắc lửa hồng và ám muội, giữa lúc mà vật gì cũng thành tên đạn, giữa lúc hỗn loạn tang tóc khiến ta không phân biệt được đâu là công lý, đâu là trung thực, đâu là chân lý, đột nhiên một thế lực huyền bí tỏa luồng ánh sáng vĩnh cửu lên con người với những cái vinh và cái nhục của kiếp người.

Bên trên cuộc xung đột âm thầm, giữa cái giả và cái tương đối thì bộ mặt của cái chân thật bỗng hiện lên trong cõi sâu thẳm.

Đột nhiên sức mạnh của những kẻ yếu đã can thiệp vào.

Người ta đã thấy ba đứa trẻ tội nghiệp, vất vưởng, côi cút, cô đơn, tươi cười, mà đã phải đương đầu với nội chiến, với phục thù, giết chóc tàn sát, và ba trẻ đó đã thắng; người ta được chứng kiến một đám cháy nhen lên để gây tội ác, nhưng đã thất bại; người ta được thấy những mưu mô tàn khốc bị vỡ lở; người ta đã thấy tính chất tàn bạo của xã hội phong kiến, mớ kinh nghiệm giả tạo về những tất yếu của chiến tranh, lợi ích tối cao của nhà nước, những thiên kiến kiêu căng của tuổi già hung hãn, tiêu tan trước ánh mắt xanh của trẻ thơ; và điều đó rất đơn giản, bởi vì những trẻ chưa bước vào đời thì chưa làm điều ác, chúng tiêu biểu cho công lý, chân lý, cho sự trong trắng, chúng là những thiên thần.

Cảnh tượng hữu ích; một lời khuyên, một bài học; những kẻ cuồng chiến tàn khốc bỗng thấy hiện lên - đối diện với những tội ác, những cảnh cuồng tín, tàn sát dã man đang nhen thêm lửa hận thù vào các dàn thiêu; đối diện với thần chết xuất hiện với bó đuốc trong tay trên các xác chết do tội ác gây nên - một thế lực tuyệt đối, sự thơ ngây.

Và thơ ngây đã thắng.

Và ta có thể nói rằng: nội chiến, man rợ, hằn thù, tội ác, bóng tối đều không tồn tại được; muốn xua tan những bóng ma ấy, chỉ cần có ánh rạng đông này: tuổi thơ.

Không bao giờ, trong một cuộc chiến đấu, Satan và Chúa Trời cùng thể hiện rõ ràng như thế.

Cuộc chiến đấu đã diễn ra trong lương tâm của một con người.

Lương tâm của Lantenac.

Giờ đây nó lại tái diễn, có lẽ còn dữ dội và quyết liệt hơn trong một lương tâm khác.

Lương tâm của Gauvain.

Còn chiến trường nào gay go hơn con người!

Chúng ta bị tư tưởng của chúng ta, những vị thần ấy, những yêu quái ấy, những động vật khổng lồ ấy trói buộc chúng ta.

Những chiến binh dữ tợn ấy dày xéo tâm hồn chúng ta.

Gauvain ngẫm nghĩ.

Lão hầu tước De Lantenac, bị bao vây, bị uy hiếp, bị kết án, bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, bị xiết chặt như con thú trong trường đấu, như cái đinh trong hai gọng kìm, bị nhốt trong nhà của lão đã biến thành nơi giam lão, giữa bốn bức tường thành sắt và lửa, rồi tìm được cách thoát thân. Lão đã thành công một cách kỳ lạ. Lão đã làm nên một kiệt tác, một kiệt tác khó thực hiện nhất trong một cuộc chiến tranh như thế: tẩu thoát. Lão đã chiếm lại được rừng núi để trốn tránh, trở về với làng mạc để chiến đấu, lấy lại bóng tối để dễ biến đi. Lão lại trở thành kẻ ngược xuôi đáng sợ, kẻ lang thang ghê rợn, kẻ cầm đầu đoàn quân vô hình, thủ lĩnh bọn người sống dưới mặt đất, vị chúa rừng. Gauvain thắng trận, nhưng Lantenac vẫn tự do. Từ nay, lão được yên ổn, mặc sức tung hoành, tha hồ chọn nơi trú ẩn. Không ai bắt được lão, tìm ra lão, đụng đến lão nữa. Con sư tử đã sa bẫy rồi lại thoát ra.

Thế mà con sư tử ấy lại trở vào bẫy.

Lão hầu tước De Lantenac đã hoàn toàn chủ động, hoàn toàn tự ý từ bỏ núi rừng, bóng tối, yên ổn, tự do, dũng cảm quay trở lại những cảnh ngộ cực kỳ nguy hiểm: lần thứ nhất, Gauvain đã trông thấy lão liều thân nhảy bổ vào đám cháy, lần thứ hai Gauvain lại thấy lão bước xuống thang nộp mình cho kẻ thù, cái thang cứu mạng cho kẻ khác đã thành cái thang nộp mạng lão.

Tại sao lão hành động như vậy?

Để cứu ba đứa trẻ.

Và bây giờ người ta định làm gì lão?

Chém đầu lão.

Ba đứa trẻ kia phải chăng là con lão? Không. Họ hàng lão? Không. Cùng đẳng cấp với lão? Không; vì ba đứa trẻ nghèo khổ, cầu bơ cầu bất, bỏ rơi bên đường, xa lạ, rách rưới, đi chân đất, mà con người quý tộc kia, vị hoàng thân kia, người già cả kia, đã được cứu thoát, đã thắng thế - vì thoát thân là thắng thế - một lần nữa liều lĩnh rước lấy hiểm nghèo, đảo lộn tình thế, và kiêu hãnh biết bao khi đem trả lại bọn trẻ lão cũng đồng thời nộp cả cái đầu lão, cái đầu trước đây thật ghê gớm, bây giờ lại thật là cao cả.

Và người ta sẽ làm gì?

Nhận cái đầu ấy.

Lão hầu tước De Lantenac đã lựa chọn giữa cái sống của kẻ khác với cái sống của mình; trong cuộc lựa ấy, lão đã chọn cái chết cho lão.

Và người ta sắp cho lão được chết.

Người ta sắp giết lão.

Cử chỉ hào hùng được đền đáp như thế đấy!

Đáp lại một hành vi hào hiệp bằng một hành vi man rợ!

Hạ thấp cách mạng như thế đấy!

Làm cho chính thể cộng hòa nhỏ bé đến như thế!

Trong lúc con người của thành kiến và nô lệ, đột nhiên đổi thay, trở về với nhân đạo thì họ, những con người của tự do và giải phóng lại hãm mình trong cảnh nội chiến, giết chóc và huynh đệ tương tàn!

Không giành lấy phần cao thượng được ư? Chịu thua cuộc để đang là kẻ mạnh nhất trở thành kẻ yếu nhất, đang là kẻ chiến thắng trở thành kẻ giết người, và để cho thiên hạ nói được rằng phe bảo hoàng có những người cứu con trẻ, còn phe cộng hòa có những kẻ giết người già!

Người ta sẽ chứng kiến người quân nhân vĩ đại kia, lão già tám mươi hùng mạnh kia, người chiến sĩ tay không kia, bị chộp trộm hơn là bị bắt, bị tóm trong khi đang làm một việc nghĩa cử, trán còn đẫm mồ hôi của một sự hy sinh cao cả, bước lên đoạn đầu đài như bước lên bậc thang hiển thánh! Thế rồi người ta đặt đầu lão dưới lưỡi máy chém, xung quanh cái đầu đó sẽ có ba linh hồn, những thiên thần bé nhỏ được cứu sống, bay lượn, khẩn cầu! Và trước cảnh hành hình nhục nhã cho bọn đao phủ người ta sẽ thấy trên mặt của con người ấy nở một nụ cười và bộ mặt nền cộng hòa đỏ ửng!

Và cảnh đó sẽ diễn ra trước mặt Gauvain, người chỉ huy!

Và đáng lẽ có thể ngăn cản được việc đó anh lại sẽ làm thinh! Và anh ta sẽ đành lòng với sự ngăn chặn kiêu hùng: "Chuyện đó không can hệ gì đến anh nữa!" Và anh cũng sẽ không nghĩ rằng trong trường hợp này im lặng là đồng lõa! Và anh ta sẽ không nhận thấy rằng trong một việc lớn như thế, giữa người thực hiện và người để mặc cho kẻ khác thực hiện thì người thứ hai thật xấu xa hơn nhiều, vì như vậy là kẻ hèn nhát!

Nhưng chính anh ta đã tán thành việc giết Lantenac cơ mà? Gauvain, con người khoan hồng ấy chẳng đã tuyên bố phải đặt Lantenac ra ngoài chính sách khoan hồng, và anh sẽ nộp Lantenac cho Cimourdain xử trí đó sau?

Anh ta nợ cái đầu ấy, vậy anh ta phải trả. Thế thôi.

Nhưng có phải vẫn là cái đầu ấy chăng?

Cho đến nay, Gauvain chỉ thấy ở Lantenac kẻ chiến đấu man rợ, kẻ cuồng tín của nền quân chủ và chế độ phong kiến, kẻ tàn sát tù binh, kẻ khát máu giết người bừa bãi. Anh ta không sợ con người đó; đối với kẻ bạo ngược đó, anh ta sẽ dùng bạo ngược để xử sự, kẻ ác nghiệt đó sẽ gặp sự ác nghiệt của anh. Không còn gì đơn giản hơn, con đường đã vạch ra như thế thật là dễ theo mọi điều đã được dự đoán, phải giết kẻ giết người, cứ việc đi theo con đường thẳng kinh khủng ấy. Không ngờ, con đường thẳng đó bị gãy, một khúc ngoặt đột ngột mở ra một chân trời mới, một biến động đã xảy ra. Một Lantenac mới lạ bước lên sân khấu. Một anh hùng thoát ra từ con quái vật; còn hơn một anh hùng một con người còn hơn một linh hồn, một trái tim, không còn là kẻ giết người trước mặt Gauvain nữa mà là kẻ cứu người. Gauvain bị khuất phục trước một luồng ánh sáng cao siêu. Lantenac vừa giáng cho Gauvain một đòn sấm sét, lòng nhân từ.

Lẽ đâu Lantenac biến đổi mà không ảnh hưởng đến Gauvain. Lẽ nào luồng ánh sáng ấy lại không có tác dụng phản quang! Lẽ nào con người của quá khứ tiến lên phía trước mà con người của tương lai lại lùi về phía sau! Lẽ nào con người của man di và mê tín dị đoan bỗng mọc lên đôi cánh rộng lớn và bay lượn trên không trung để nhìn xuống con người của lý tưởng bò lê trong bùn lầy và đêm thẳm! Lẽ đâu Gauvain chịu nằm ép trong cái vết xe cũ rích trong lúc Lantenac vẫy vùng ở cõi cao siêu!

Lại còn chuyện khác nữa.

- Dòng họ.

Dòng máu mà Gauvain sắp để cho chảy ra - vì để mặc cho nó chảy thì có khác nào chính mính làm cho nó chảy ra - há chẳng phải là dòng máu của chính mình? Ông nội đã chết, nhưng ông chú còn sống; ông chú chính là lão hầu tước De Lantenac. Liệu người anh nằm trong mồ có đứng dậy ngăn không cho người em xuống đấy? Lẽ nào ông nội lại chẳng ra lệnh cho đứa cháu trai phải kính trọng từ nay vành tóc bạc ấy, chị em của vành hào quang của chính ông? Tại sao cái nhìn bất bình của một bóng ma lại không thể len vào giữa Gauvain và Lantenac?

Lẽ nào mục đích của cách mạng lại làm cho con người biến chất? Phải chăng cách mạng xuất hiện để phá hoại gia đình, để bóp nghẹt nhân loại? Đâu phải thế. Cách mạng 89 vùng lên là để khẳng định chứ không phải để phủ nhận những thực tế cao cả ấy. Lật đổ các ngục tù chính là giải thoát nhân loại, hủy bỏ chế độ phong kiến chính là thiết lập gia đình. Đấng sinh thành là khởi điểm của quyền lực và quyền lực nằm trong tay đấng sinh thành, cho nên không có quyền lực nào khác ngoài cha mẹ; tính chất hợp pháp của ong chúa là ở đó; vì là mẹ đẻ ra cả bầy, nên mới được công nhận là chúa, tính chất bất hợp lý của cha là ở đó, vì không phải là cha đẻ thì không thể là chủ nhân. Do đó phải phế vua; phải thành lập nền cộng hòa. Tất cả những cái đó là gì? Là gia đình, là nhân loại, là cách mạng. Cách mạng là nhân dân cầm quyền; và nhân dân chính là người.

Bây giờ chúng ta hãy xét xem khi Lantenac trở về với nhân loại thì Gauvain có trở về với gia đình không.

Hai ông cháu sẽ gặp nhau ở nơi xán lạn cao cả hay là khi người ông tiến một bước thì người cháu lùi một bước.

Trong cuộc tranh luận bi đát giữa Gauvain với lương tâm mình câu hỏi sẽ đặt ra như vậy và phương pháp giải quyết sẽ là cứu Lantenac.

Được, nhưng còn nước Pháp thì sao?

Đến đây, vấn đề bỗng thay đổi.

Lúc này nước Pháp đã lâm nguy! Nước Pháp đang bị dâng cho địch, biên thùy bỏ ngỏ, nội địa chia cắt! Không còn hào sâu để ngăn chặn quân Đức vượt qua sông Rhin nữa; không còn thành lũy nữa, nước Ý vượt qua dãy núi Alpes và nước Tây Ban Nha dãy Pyrénées. Chỉ còn lại vực thẳm rộng lớn là đại dương. Nước Pháp có thể dựa lưng vào đó và, vốn là một nước rộng lớn, nước Pháp có thể dựa vào cả đại dương để chống lại cả lục địa. Cái thế ấy suy đến cùng là không thể nào xâm phạm. Nhưng không, nó sắp mất nốt rồi. Đại dương ấy không còn là của nước Pháp nữa. Trên đại dương đó đã có nước Anh. Thật ra, nước Anh chưa biết qua đại dương ra sao. Tuy nhiên có một người sắp bắc cầu cho họ qua, giơ tay đón họ, nói với bọn kẻ cướp Pitt, Craig, Cornwallis, Dundas: Xin mời qua! Có một người sắp kêu lên: Hỡi người Anh, hãy chiếm lấy nước Pháp! Và người ấy là lão hầu tước De Lantenac.

Người ấy đã bị bắt. Sau ba tháng săn đuổi người ta đã chộp được hắn. Bàn tay của cách mạng, vào thời điểm 93, đã chẹt lấy cổ tên sát nhân bảo hoàng. Kẻ vong tổ giờ đây đang chờ hình phạt ngay trong nhà ngục của tổ tông hắn; con người phong kiến đang bị nhốt trong cái hầm giam phong kiến; đá xây lâu đài đứng lên chống lại hắn, vây kín hắn, và kẻ mưu toan bán nước phải nộp mạng ngay trong nhà mình. Giờ phút công minh đã điểm, cách mạng đã cầm tù tên hại dân hại nước; hắn không còn chiến đấu được nữa, không còn chống cự được nữa, không còn phá phách được nữa; trong cái vùng Vendée đông tay chân này, hắn là khối óc duy nhất; mất hắn là nội chiến tan; người ta đã tóm được hắn, kết cục bi đát nhưng đáng mừng. Sau bao cuộc tàn sát giết chóc, hắn đã ở đây, đến lượt kẻ giết người phải đền tội.

Thế mà lại còn có kẻ muốn cứu hắn!

Cimourdain, tức là cao trào 93, đã chộp được Lantenac, tức là chế độ quân chủ, thế mà có một kẻ toan gỡ cái mồi ấy khỏi cái vuốt kia! Lantenac, người tiêu biểu cho cái quá khứ đầy tai họa, lão hầu tước De Lantenac đã nằm trong mồ, cánh cửa nặng nề vĩnh cửu đã khép lại, thế mà có kẻ toan đến kéo chốt cửa ra! Kẻ phá hoại xã hội đã chết, cùng với cái chết của hắn là sự chấm dứt cuộc nổi loạn, cuộc huynh đệ tương tàn, cuộc chiến tranh thú vật, thế mà có kẻ muốn hắn sống lại!

Ôi! Rồi cái đầu lâu ấy sẽ cười ngất nghểu!

Rồi con ma đó sẽ nói: Tốt lắm, ta sống lại đây rồi, đồ ngốc.

Rồi hắn lại tiếp tục sự nghiệp ghê tởm của hắn. Rồi tàn nhẫn và vui sướng, Lantenac lại ngụp vào trong cái vực sâu của hằn thù và chiến tranh! Rồi từ ngày mai cảnh cháy nhà, tàn sát tù binh, thương binh, phụ nữ lại tiếp diễn!

Mà nói cho cùng, liệu Gauvain có khuếch đại quá mức cái hành vi đã làm anh ta mê muội không?

Ba đứa bé bị nguy khốn; Lantenac đã cứu chúng. Nhưng ai đã làm cho chúng nguy khốn?

Há chẳng phải là Lantenac?

Ai đã đem những cái nôi ấy đặt vào trong đám cháy?

Há chẳng phải là Imânus?

Imânus là ai?

Người thừa hành của lão hầu tước.

Trách nhiệm là ở người cầm đầu.

Vậy kẻ đốt nhà và giết người chính là Lantenac.

Hắn đã làm gì đáng khâm phục đến thế?

Hắn đã chùn tay. Có thế thôi.

Sau khi đã gây nên tội ác, hắn đã lùi bước. Hắn đã kinh tởm chính bản thân hắn. Tiếng kêu của người mẹ đã thức tỉnh trong lòng hắn cái tình thương người cố hữu, cái kết tinh của cuộc sống muôn thuở, vốn có trong mọi tâm hồn, kể cả những tâm hồn tàn ác nhất. Nghe tiếng kêu đó, hắn đã quay lại. Từ chỗ đang dấn sâu vào đêm tối, hắn đã trở về với ánh sáng. Sau khi gây nên tội ác hắn đã gỡ ra. Tất cả ưu điểm của hắn chỉ là thế này: hắn đã không làm con quái vật cho đến cùng.

Không lẽ vì một chút ít như thế mà phải trả lại cho hắn tất cả! Trả lại không gian, đồng ruộng, không khí, ánh sáng, trả lại núi rừng để cho hắn đeo đuổi nghề cướp bóc, trả lại tự do để cho hắn đẩy người vào vòng nô lệ, trả lại kiếp sống để cho hắn gây ra chết chóc!

Còn như có thương lượng với hắn, muốn điều đình với cái đầu óc kiêu ngạo ấy, hứa tha hắn có điều kiện muốn hỏi hắn có chịu đổi mạng bằng cách từ bỏ mọi hành động thù địch và phiến loạn; thì đó là một chủ trương sai lầm chỉ có lợi cho hắn, sẽ bị hắn miệt thị, và đập lại một cách thích đáng; hắn sẽ trả lời như tát vào mặt đối phương. Hắn sẽ bảo: Các anh hãy giữ lấy phần ô nhục cho các anh! Giết ta đi!

Thật vậy, đối với hắn chỉ có giết hoặc thả, không còn cách nào khác nữa. Con người ấy rất ngang ngạnh. Lúc nào cũng sẵn sàng cất cánh bay hoặc chịu chết; tự mình hoặc là đại bàng, hoặc là vực thẳm. Một tâm hồn kỳ dị.

Giết hắn ư? Tàn nhẫn! Thả hắn ư? Trách nhiệm lớn lao!

Lantenac thoát chết, tình hình Vendée sẽ trở lại như cũ, như con mãng xà chưa bị chặt đầu. Chỉ trong nháy mắt, nhanh như chớp, ngọn lửa đã hoàn toàn bị dập tắt khi mất con người ấy lại bùng lên. Lantenac sẽ không ngừng tay nếu như hắn chưa hoàn thành cái mưu đồ đáng nguyền rủa là đem cái nắp mồ quân chủ chụp lên nền cộng hòa và đem nước Anh chụp lên đầu nước Pháp. Cứu Lantenac tức là hy sinh nước Pháp; Lantenac sống thì vô số người vô tội, đàn ông, đàn bà, con trẻ sẽ chết, vì nội chiến sẽ tái diễn, quân Anh sẽ đổ bộ, cách mạng sẽ lùi bước, các đô thị sẽ bị cướp phá, dân chúng sẽ bị xâu xé, xứ Bretagne sẽ đẫm máu, và Gauvain, giữa những nguồn tư tưởng mung lung và ngược chiều nhau, thấy mang máng phác họa trong suy tư và đặt ra trước mình vấn đề này: thả hổ về rừng.

Thế rồi, vấn đề trở lại như lúc đầu; không có gì nặng nề bằng mình tự chất vấn mình; vậy Lantenac có phải là con hổ không?

Có thể trước kia lão là con hổ, nhưng giờ đây lão còn có là con hổ nữa không? Đầu óc Gauvain cứ lẩn quẩn xung quanh câu hỏi ấy. Xét cho cùng liệu người ta có thể phủ nhận sự tận tụy của Lantenac, sự xả thân và vô tư cao quý của lão không? Lão đã chẳng thể hiện lòng nhân đạo trước cảnh xâu xé của cuộc nội chiến, đem chân lý cao siêu đặt lên trên những chân lý tầm thường của cuộc xung đột ư! Lão đã chẳng chứng minh rằng bên trên các vua chúa, bên trên các cuộc cách mạng, trên các vấn đề trần tục còn có sự rung động bao la của tâm hồn con người, còn có trách nhiệm của kẻ mạnh phải che chở kẻ yếu, của kẻ đã thoát nạn phải cứu vớt những kẻ đang lâm nguy, còn tình phụ tử của tất cả người già với tất cả các trẻ em ư! Lão đã chẳng hiến cái đầu của lão để chứng minh những khả năng phi thường của con người ư! Mặc dù là tướng, lão đã chẳng từ bỏ chiến lược, chiến cuộc, mưu đồ phục thù đó sao? Là một người bảo hoàng, lão đã đặt lên cán cân một bên là vua nước Pháp, nền quân chủ đã tồn tại mười lăm thế kỷ, những luật lệ phục hồi một xã hội cũ phải hưng phục, và bên đia cân kia là ba đứa trẻ dân quê tầm thường, và lão đã thấy rằng vua, ngai vàng, quyền trưởng và mười lăm thế kỷ quân quyền nhẹ hơn ba tuổi thơ kia! Lẽ nào tất cả những cái đó không đáng kể! Và kẻ đã hành động như thế vẫn chỉ là một con hổ và phải được đối xử như một con thú dữ ư! Không! Không! Không! Con người vừa lấy hành động thần thánh soi sáng cái vực nội chiến không phải là con quái vật! Kẻ cầm kiếm đã biến thành kẻ cầm đuốc soi đường. Quỷ Satan đã trở lại là Lucifer 2 trên thiên đường. Lantenac đã chuộc lại mọi hành vi man rợ bằng một hành động hy sinh; mất phần thể xác, lão đã cứu vãn được phần hồn; lão đã trở thành trong trắng; lão đã tự ân xá cho lão. Liệu con người có quyền tự xá tội cho mình không? Từ nay lão thật đáng kính.

Lantenac vừa trở nên phi thường. Bây giờ đến lượt Gauvain.

Gauvain có nhiệm vụ phải đối chọi với lão.

Cuộc xung đột giữa những ước mơ cao đẹp và những dục vọng xấu xa lúc đó đang làm rối loạn cả thế giới; Lantenac, vượt lên trên cuộc hỗn loạn đó, đã cứu vãn được tình nhân loại; đến lượt Gauvain bây giờ phải cứu vãn tình gia đình.

Anh ta sẽ làm gì?

Liệu Gauvain có phụ lòng tin của Chúa không?

Không. Và anh ta tự nhủ:

- Phải cứu Lantenac.

Thế thì được. Hãy làm tay sai cho bọn Anh đi. Đảo ngũ đi. Hãy đầu hàng địch. Cứu Lantenac và phản bội nước Pháp đi.

Và Gauvain rùng mình.

Hỡi con người mơ mộng! Giải pháp của anh chẳng giải quyết được gì cả! Gauvain như thấy trong bóng tối cái nụ cười ghê rợn của con nhân sư 3 .

Tình huống ấy như một ngã ba đường đáng sợ, nơi đó các chân lý xung đột nhau dữ dội, nơi đó ba khái niệm lớn của con người, nhân loại, gia đình, tổ quốc chạm nhau nảy lửa.

Ba khái niệm ấy, ba tiếng nói ấy đều lần lượt nói lên chân lý. Chọn sao đây? Cả ba đều nói lên lẽ phải và công lý: Hãy làm như thế này. Có phải nên làm như vậy không? Nên. Không nên. Lý lẽ nói một đường; tình cảm bảo một nẻo hai lời khuyên trái ngược nhau. Lý lẽ chỉ là lẽ phải; tình cảm thường là lương tâm; lý lẽ từ con người mà ra, tình cảm từ trên cao dội xuống.

Điều đó làm cho tình cảm kém sáng suốt nhưng lại mãnh liệt hơn.

Song lẽ phải khắc nghiệt cũng không kém phần sức mạnh.

Gauvain do dự.

Những dằn vặt đáng sợ dày vò anh.

Hai vực thẳm mở ra trước mặt Gauvain. Bỏ mặc lão hầu tước? Hay là cứu lão? Thế nào cũng phải lao xuống vực này hoặc vực kia.

Hai bên vực thẳm ấy, bên nào là nghĩa vụ?

III
Chiếc mũ chụp của người chỉ huy

Vì chính là vấn đề nghĩa vụ. Nghĩa vụ khủng khiếp đối với Gauvain, bi thảm đối với Cimourdain.

Giản đơn đối với người này, phức tạp, khúc khuỷu, quanh co đối với người kia.

Chuông điểm nửa đêm, rồi một giờ sáng.

Gauvain bất giác đi tới lỗ tường thủng.

Đám cháy chỉ còn hắt xuống ít ánh sáng lờ mờ rồi tắt hẳn.

Khu cao nguyên bên kia lâu đài, khi ẩn khi hiện dưới ánh sáng chập chờn rồi biến mất dưới làn khói trùm lên ngọn lửa. Ánh lửa vụt sáng vụt tắt làm méo mó các hình thù và làm cho những người lính gác trông chẳng khác gì những con sâu. Gauvain mơ màng nhìn cái cảnh khói lửa khi tỏ khi mờ ấy. Ánh sáng khi ẩn khi hiện trước mắt thật giống như chân lý lúc hiện lúc ẩn trong tâm trạng anh ta lúc bấy giờ.

Chợt giữa hai cột khối, một ngọn lửa nhỏ, vụt lên từ đống than hồng đang lụi dần, soi sáng đỉnh cao nguyên và làm nổi bật hình thù đỏ sẫm của một chiếc xe ngựa. Gauvain nhìn chiếc xe đó; xung quanh xe có những kỵ binh đội mũ cảnh sát. Gauvain cảm thấy hình như đây là chiếc xe mà Guéchamp đã chỉ cho anh nhìn qua ống nhòm ở ngoài xa mấy giờ trước đây, lúc mặt trời lặn. Có nhiều người trên xe, và hình như họ đang chuyển đồ trên xe xuống. Đồ đạc họ chuyển xuống có vẻ nặng nề và khi va chạm nhau lại nẩy lên tiếng kim khí; khó mà nói rõ được đấy là vật gì; nó giống như những rương nhà; hai người trong bọn đặt xuống đất một cái hòm, căn cứ vào hình thù của cái hòm thì vật đựng trong đó có hình tam giác. Ngọn lửa nhỏ tắt, mọi vật lại tối om. Gauvain chăm chú nhìn và có vẻ nghĩ ngợi về cái vật nằm trong bóng tối ấy.

Đèn xách tay đã thắp lên, người ta đi đi lại lại trên cao nguyên, nhưng những hình thù di động trên đó chỉ trông thấy lờ mờ; vả lại Gauvain ở chân cao nguyên và phía bên kia hào nên chỉ có thể nhìn được những vật ở ngay rìa cao nguyên mà thôi. Có nhiều tiếng người nói, nhưng không nghe rõ. Đó đây, có tiếng gõ lên gỗ. Có cả tiếng sắt rít lên nghe như tiếng giũa lưỡi hái.

Có tiếng chuông điểm hai giờ, Gauvain đi từ từ về phía lỗ tường thủng, có vẻ như tiến hai bước lại lùi ba bước. Khi anh ta tới gần, người lính gác nhận ra trong bóng tối nhập nhoạng cái áo choàng và cái mũ có đính lon của tư lệnh trưởng, liền bồng súng chào. Gauvain đi vào gian nhà ở tầng dưới bây giờ đã bố trí thành trạm gác. Trên vòm trần có treo một chiếc đèn kính. Ánh sáng chỉ đủ để cho người đi qua khỏi dẫm lên những người lính gác đang nằm ngổn ngang trên lớp rơm trải dưới đất; phần lớn đã ngủ say.

Họ nằm đó, ở nơi cách đây mấy giờ họ đã chiến đấu; những mảnh sắt rải rác và chì đạn ghém quét chưa sạch làm cho họ canh cánh khó ngủ; nhưng họ đều mệt và ngủ ngon lành. Gian phòng ấy trước đây là nơi kinh khủng, nơi họ đã tấn công, nơi họ đã gầm thét, nghiến răng nghiến lợi, chém giết và trút hơi thở cuối cùng; rất nhiều đồng đội của họ đã chết trên cái thềm nhà giờ đây họ đang ngủ mê mệt; lớp rơm họ nằm đã từng thấm máu bạn bè của họ; bấy giờ thế là hết, máu đã ngừng chảy, gươm đã lau sạch, kẻ chết đã chết, còn họ, họ ngủ yên lành. Chiến tranh là như thế đấy. Và mai đây, thiên hạ ai cũng được ngủ bình yên như thế cả.

Lúc Gauvain vào, vài người đang thiu thiu vội vùng dậy, trong đó có viên sĩ quan chỉ huy đơn vị canh gác. Gauvain chỉ cửa hầm giam và nói:

- Mở cho tôi.

Chốt cửa rút ra và cửa mở.

Gauvain vào trong hầm.

Cửa khép lại sau lưng anh.

--------------------------------

1

Egalité là một hoàng thân cùng họ Capet với Louis XVI.

2

Nhân vật thần thoại cầm đầu nhóm thiên thần nổi dậy.

3

Con vật đầu người, mình sư tử, được tạo thành tượng lớn ở sa mạc Ai Cập. Theo truyền thuyết, con quái vật đó hay đề ra cho người ta những câu đố bí hiểm.

Quyển bảy

Phong kiến và cách mạng



I
Người ông

Ở dưới hầm, một ngọn đèn đặt trên nền lát đá, bên cạnh khung cửa sổ vuông.

Ngoài ra, còn có một bình nước đầy, miếng bánh quân lương và bó rơm. Cái hầm ấy khoét sâu trong đá tảng, người tù nếu có ngông cuồng đốt rơm phóng hỏa thì cũng chỉ toi công; nhà giam không cháy được, còn tù nhân chắc chắn sẽ chết ngạt.

Lúc cánh cửa xoay xoay trên bản lề, lão hầu tước đang đi lại trong hầm như cái máy, giống như con thú bị nhốt trong chuồng.

Nghe tiếng động của cánh cửa mở ra rồi khép lại, lão hầu tước ngẩng đầu, và ngọn đèn đặt dưới đất giữa Gauvain và lão soi rõ mặt cả hai người.

Họ nhìn nhau, và cái nhìn đó làm cho cả hai cùng đứng yên.

Lão hầu tước phá lên cười và nói to:

- Chào ngài. Đã bao nhiêu năm rồi, tôi không được cái diễm phúc gặp mặt ngài. Bây giờ ngài lại hạ cố tới gặp tôi. Xin cảm ơn ngài. Được nói chuyện một lát, thật tôi không mong gì hơn. Tôi bắt đầu thấy buồn. Các bạn ngài mất nhiều thời giờ quá, nào thẩm tra căn cước, nào mở phiên tòa quân sự, những cung cách thật nhiêu khê quá. Phải tay tôi, tôi làm nhanh hơn nhiều. Đây là nhà tôi. Xin ngài quá bộ vào trong. Vậy thưa ngài, những chuyện đang xảy ra, ngài thấy thế nào? Thật là độc đáo, phải không ngài? Ngày xưa có một ông vua và một bà hoàng hậu; ông vua là ông vua, hoàng hậu là nước Pháp. Người ta đã chặt đầu vua, rồi gả hoàng hậu cho ông Robespierre; hai ông bà ấy có được một cô con gái mà người ta gọi là cái máy chém, mà hình như sáng mai tôi sẽ được làm quen với nó. Thật là thú vị. Cũng như được gặp ngài vậy. Ngài đến vì việc đó ư? Ngài đã được thăng cấp chưa? Ngài sẽ là đao phủ? Nếu chỉ là một cuộc gặp gỡ thân mật thì tôi hết sức cảm động. Thưa ngài tử tước, chắc ngài không còn biết thế nào là một nhà quý tộc. Vậy thì ở đây có một nhà quý tộc; đó là tôi. Ngài nhìn xem. Lạ lắm; hắn tin ở Chúa, hắn tin vào truyền thống, hắn tin vào dòng họ, hắn tin vào tổ tiên, hắn tin vào lòng ngay thẳng, tin vào nghĩa vua tôi, tôn trọng các cổ lệ, tin vào đạo đức, tin vào công lý; và hắn sẽ thích thú được bắn chết ngài. Xin ngài vui lòng ngồi chơi. Ngồi xuống nền thôi; vì phòng khách này không có ghế đệm; nhưng mà kẻ nào sống trong bùn thì ngồi đất cũng được. Tôi nói điều đó không phải để xúc phạm ngài, bởi vì cái mà chúng tôi gọi là bùn thì các ngài gọi là quốc dân. Chắc ngài không ép tôi phải hô Tự do, Bình đẳng, Bác ái chứ? Đây là một phòng cũ của nhà tôi, ngày xưa là nơi các lãnh chúa nhốt bọn dân quê hủ lậu; bây giờ bọn hủ lậu ấy lại giam các lãnh chúa. Những trò trẻ con ấy mệnh danh là một cuộc cách mạng. Hình như trong vòng ba mươi sáu tiếng đồng hồ nữa họ sẽ chặt đầu tôi. Tôi chẳng thấy gì phiền cả. Nhưng giá họ lịch sự hơn một chút thì họ đã chuyển cho tôi cái hộp thuốc để trong phòng gương kia, căn phòng mà hồi còn nhỏ ngài vẫn chơi ở đó và tôi vẫn bế ngài nhảy lên đùi tôi. Thưa ngài, và điều lạ là trong mạch máu ngài, có dòng máu quý tộc, cùng một dòng máu với tôi; tiếc thay, dòng máu ấy biến tôi thành một con người danh dự thì lại biến ngài thành một kẻ hèn hạ. Đó là những đặc thù. Ngài sẽ bảo đó không phải là lỗi của ngài. Cũng không phải là lỗi của tôi. Khốn nạn, người ta làm điều ác mà không biết. Đấy là tại cái không khí người ta thở; trong những thời kỳ như chúng ta đang sống, không ai chịu trách nhiệm về hành vi của mình, vì cách mạng bất lương đối với tất cả mọi người; và tất cả những kẻ phạm những tội nặng nhất của các ngài đều là bọn người ngây thơ nhất. Một lũ ngu dốt! Bắt đầu từ ngài. Cho phép tôi được bái phục ngài. Vâng, tôi vẫn phục một trang thanh niên như ngài, một con người quý phái, có địa vị trong nước, có một dòng máu cao quý để hy sinh cho đại nghĩa, tử tước của cái tháp Gauvain này, hoàng thân xứ Bretagne, một người có quyền trở thành quận công và có thể thừa hưởng chức vị nguyên lão nước Pháp, đại khái tất cả những cái mà một kẻ có trí khôn ở trên đời này có thể thèm khát, nhưng con người như thế lại đâm đi làm con người như ngài hiện nay, dưới con mắt kẻ thù, ngu si, dưới dưới con mắt bạn bè. A, nhân thể, xin ngài cho tôi gửi lời chào cha xứ Cimourdain.

Lão hầu tước nói thoải mái, bĩnh tĩnh, không cần nhấn mạnh chỗ nào cả, với một giọng thân mật, mắt sáng và lặng lẽ, hai tay đút túi. Lão ngừng lại, thở một hơi dài rồi lại tiếp:

- Tôi chẳng giấu ngài rằng tôi đã cố hết sức giết ngài. Chính tôi đây đã ba lần đích thân chĩa đại bác bắn ngài. Cung cách ấy không lịch sự, tôi xin thừa nhận, nhưng nếu tưởng rằng trong chiến tranh, kẻ thù tìm cách làm vui lòng ta thì thật là ngờ nghệch. Vì rằng, thưa ông cháu của tôi, chúng ta đang ở trong tình trạng chiến tranh. Tất cả đều là máu và lửa. Đúng là người ta đã giết vua. Thế kỷ đẹp thật.

Lão ngừng lại một chút rồi lại tiếp luôn:

- Nghĩ cho cùng thì những chuyện thế này chẳng bao giờ xảy ra nếu trước đây người ta đem treo cổ Voltaire và bắt Rousseau 1 đi khổ sai chèo thuyền! Trời! Những nhà trí thức, thật là tai họa! Nào, các ngài chê trách gì về cái chế độ quân chủ? Đúng là người ta đã để cho cha Pucelle tùy tiện sử dụng phương tiện và thời gian cần thiết để đi đến nhà xứ Corbigny; đối với lão Titon, một tên phóng đãng, đi chơi gái trước khi xem phép lạ của thầy trợ tế Pâris, người ta đã thuyên chuyển lão từ lâu đài Vincennes sang lâu đài Ham ở Picardie, một địa phương hủ lậu đến thế. Đấy là những việc đáng chê trách. Tôi còn nhớ. Thời tôi còn trẻ tôi cũng đã phản đối; tôi cũng đã từng ngu ngốc như ngài vậy.

Lão hầu tước sờ túi như thể muốn tìm hộp thuốc, rồi tiếp:

- Nhưng không độc ác như các ngài. Thời trước chúng tôi nói chỉ để mà nói thôi. Hồi ấy cũng có những cuộc điều tra khiếu nại ồn ào, thế rồi các ngài triết gia xen vào; đáng lẽ phải thiêu chết bọn tác giả thì người ta chỉ thiêu hủy sách vở thôi, các cuộc âm mưu chống đối ở trong triều cũng phụ họa vào; lại còn bọn ngờ nghệch như Turgot, Quesnay, Malesherbes 2 , bọn chủ trương chủ nghĩa trọng nông, và vân vân, rồi thế là các vụ lộn xộn bắt đầu. Vạn sự khởi đầu từ bọn văn sĩ dở, thi sĩ cùn. Phái Bách khoa! Diderot! D’Alembert! 3 Chà! Một bọn vừa độc hại vừa đần độn. Một người thông minh như vua nước Phổ mà cũng bị chúng lôi cuốn! Phải tay tôi, tôi đã trừ tiệt hết cái bọn cạo giấy đó. Đúng! Chúng tôi là những người phán xét. Người ta có thể thấy ở đây, trên tường, vết những bánh xe xé xác. Chúng tôi không đùa. Không, không, không thể có bọn thợ văn ấy được! Còn có bọn Arouet 4 thì còn có bọn Marat. Còn có bọn văn sĩ tồi bôi bác thì còn có bọn du côn giết người; còn mực thì còn nhem nhuốc; còn có người quắp trong mấy ngón tay cây bút lông ngỗng thì những chuyện dại dột phù phiếm sẽ đẻ ra những chuyện dại dột tàn khốc. Sách vở gây ra tội ác. Từ chimère bao hàm hai nghĩa, một nghĩa là ảo mộng, một nghĩa là quái vật. Người ta khéo bày bao nhiêu trò hão huyền. Các ngài muốn nói gì khi nói về cái gọi là quyền lợi của chúng ta? Nhân quyền! Dân quyền! Thật là rỗng tuếch, ngu dại, mơ hồ, vô nghĩa! Tôi đây, khi tôi nói: Havoise, chị của Conan II đem của hồi môn là lãnh địa Bretagne về cho Hoën bá tước vùng Nantes và Cornouailles, ông này truyền ngôi lại cho Alain Fergant, chú của Berthe, bà này kết duyên với Alain Le Noir, lãnh chúa vùng Laroche-sur-Yon và sinh ra Conan Con 5 , tổ tiên của Gauvain de Tour, tổ tiên chúng ta, là tôi đã nói ra một việc cụ thể, đó là một cái quyền. Nhưng còn bọn vô lại, bọn đểu giả, bọn làm loạn của các ngài họ gọi quyền của họ là cái gì? Quyền giết chúa, quyền giết vua. Quả là ghê tởm! Bọn khốn kiếp! Tôi lấy làm buồn cho ngài, nhưng ngài vốn thuộc dòng máu kiêu hãnh của xứ Bretagne, ngài và tôi, hai ta cùng có tổ nội là Gauvain de Thouars, trong số tổ tiên của chúng ta còn có Quận công De Montbazon, nguyên lão nước Pháp, đã được tặng thưởng bội tinh vàng, người đã tấn công vào ngoại ô thành Tours và bị thương trong trận Arques, thọ tám mươi tuổi, mất tại lâu đài của ngài ở Touraine. Tôi còn có thể nói với ngài về nhiều vị quý tộc trong họ ta nữa. Nhưng để làm gì? Ngài đã có vinh dự được làm thằng ngốc; ngài thích được bình đẳng với tên giữ ngựa của tôi. Xin ngài biết cho điều này, lúc ngài còn là một đứa trẻ thì tôi đã luống tuổi rồi. Tôi đã vắt mũi cho ngài và đáng lẽ tôi còn vắt mũi cho ngài nữa. Càng lớn lên, ngài lại càng tìm cách co rúm lại. Từ khi hai chúng ta xa cách nhau, mỗi người đi một đường, tôi đi theo con đường danh giáo, ngài đi con đường ngược lại. Tôi chẳng biết rồi những chuyện đó sẽ kết thúc như thế nào; nhưng những ông bạn của ngài đều là những quân khốn nạn kiêu căng. Phải, đẹp lắm, tôi đồng ý, nhiều tiến bộ huy hoàng trong quân đội, người ta đã bỏ chế độ phạt người lính say rượu phải uống nước trừ bữa trong ba ngày liền; ta có hình phạt tối đa, Viện Quốc ước, giám mục Gobel, ngài Chaumette và ngài Hébert, và người ta diệt trừ ồ ạt tất cả quá khứ, từ ngục Bastille đến cuốn thông lịch. Người ta lấy rau cỏ thay cho các thánh. Được, thưa các ngài công dân, các ngài cứ làm chủ, tất cả những chuyện đó không ngăn nổi tôn giáo vẫn là tôn giáo, nền quân chủ vẫn có một nghìn năm trăm năm lịch sử và hàng ngũ quý tộc lâu đời của nước Pháp mặc dầu bị mất đầu vẫn còn cao hơn các ngài. Còn như các ngài không thừa nhận đặc quyền có tính chất lịch sử của tầng lớp quý tộc thì chúng tôi hoài hơi mà cãi vã với các ngài. Đó không phải là vấn đề. Vấn đề là sự tồn tại của một vương quốc lớn, một nước Pháp cổ kính, một quốc gia có tổ chức quy củ tuyệt vời, trong đó trước hết người ta coi trọng vai trò thần thánh, nhà vua, chúa tể tối cao của nhà nước, rồi đến các hoàng thân, các quan chức trong thủy quân lục quân, pháo binh, ngân khố. Ngoài ra còn có tòa án tối cao và hạ thuộc, các tổ chức quản lý thuế muối và tổng thu nhập quốc gia, cuối cùng là ngành cảnh sát ở trung ương, địa phương và cơ sở. Như thế đấy, thật là đẹp và sắp đặt chững chạc; các ngài đã phá hủy hết. Các ngài đã xóa bỏ hệ thống tỉnh cũ, dốt nát đến thế là cùng, các ngài chẳng hiểu gì về ý nghĩa của hệ thống tỉnh. Tinh hoa của nước Pháp là kết tinh của tinh hoa lục địa, và mỗi một tỉnh của nước Pháp tiêu biểu cho một đức tính của châu Âu; tính cương trực của nước Đức thể hiện ở Picardie, tính độ lượng của Thụy Điển ở Champagne, cái tinh xảo của Hà Lan ở Bourgogne, tính chất linh lợi của Ba Lan ở Languedoc, tính chất nghiêm nghị của Tây Ban Nha ở Gascogne, cái khôn ngoan của Ý ở Provence, cái tế nhị của Hy Lạp ở Normandie, truyền thống trung thực của Thụy Sĩ ở Dauphiné. Các ngài không biết mảy may về tất cả cái đó; các ngài phá vỡ, đập nát, hủy hoại, và các ngài cứ thản nhiên như những con vật vô tri. A ha! Các ngài không muốn có quý tộc nữa! Được, các ngài sẽ không có họ nữa. Các ngài sẽ được vừa ý. Các ngài sẽ không có hiệp sĩ, không có anh hùng. Kính chào những vang bóng một thời. Hãy tìm xem cho tôi một Assas 6 của ngày nay! Tất cả các ngài chỉ sợ chết. Các ngài sẽ không thể có những người như các hiệp sĩ ở Fontenoy 7 kính cẩn chào nhau trước khi nổ súng, cũng không thể có những chiến sĩ đi bít-tất lụa để chiến đấu, trong trận bao vây Lérida, các ngài không thể có những cuộc diễu hành hùng vĩ với các chùm lông cắm trên mũ các binh sĩ lướt như sao bay trên bầu trời, các ngài là một dân tộc kiệt quệ, một dân tộc sẽ bị ngoại bang đè đầu cưỡi cổ, nếu Alaric II trở lại sẽ không có Clovis nào chặn đường hắn; nếu Abdérame trở lại thì cũng không còn Charles Martel nào đón đánh, nếu giặc Saxon trở lại cũng không còn ai như Pépin chặn chúng nữa; các ngài sẽ không bao giờ có Agnadel, Rocroy, Lens, Staffarde, Nerwinde, Steinkerque, La Marsaille, Raucoux, Lawfeld, Mahon; các ngài sẽ không có những chiến thắng như François I ở Marignan; các ngài sẽ không có Bouvines với Philippe Auguste một tay tóm cổ bá tước De Boulogne và tay kia bá tước De Flandre. Các ngài có thể có một Azincourt, nhưng các ngài sẽ không có một đội viên giữ cờ vĩ đại như Bacqueville lấy quốc kỳ quấn thân mình mà chết! Mà thôi! Các ngài là những con người mới. Các ngài muốn làm gì cứ làm, muốn trở thành nhỏ mọn, cũng tùy.

Lantenac im lặng một lát rồi lại tiếp:

- Muốn gì thì muốn, chúng tôi vẫn là những kẻ cả. Các ngài giết vua, giết quý tộc, giết tu sĩ, cứ đạp đổ, tàn phá, sát hại, dày xéo tất cả, cứ dẫm lên các châm ngôn cổ kính, đánh đổ ngai vàng, xéo lên bàn thờ, tiêu diệt Chúa! Đó là việc của các ngài. Các ngài là bọn phản trắc và hèn nhát, những con người không thể biết đến tận tụy, hy sinh. Tôi nói hết rồi. Thưa tử tước, ngài cho chặt đầu tôi đi. Tôi rất vinh hạnh được hầu ngài.

Rồi lão nói thêm:

- Tôi đã nói tất cả sự thật về các ngài! Tôi chết đến nơi rồi, còn sợ gì nữa.

- Ông được tự do - Gauvain nói.

Rồi Gauvain tiến đến gần hầu tước, cởi chiếc áo choàng của mình ra khoác lên vai lão và kéo sụp cái mũ chụp xuống trước mắt lão. Tầm vóc hai người bằng nhau.

- Này, làm gì vậy? - Hầu tước hỏi.

Gauvain cất cao giọng nói:

- Trung úy, mở cửa cho tôi.

Cửa mở ra.

Gauvain vẫn cao giọng nói:

- Tôi ra khỏi thì anh đóng cửa lại.

Rồi Gauvain đẩy lão hầu tước, đang sửng sốt, ra ngoài.

Gian phòng thấp, biến thành trạm gác, như ta còn nhớ, chỉ có một ngọn đèn chao nhỏ, ánh sáng chập chờn, hắt ra nhiều bóng tối hơn ánh sáng. Trong ánh sáng mờ nhạt ấy những người lính còn thức nhìn thấy một người cao lớn mặc áo choàng có mũ chụp gắn lon chỉ huy trưởng đi qua chỗ họ để ra cửa; họ chào nhau theo kiểu nhà binh và người này đi qua.

Lão hầu tước từ từ đi qua tốp lính canh, chui qua lỗ tường thủng, nhiều lần đụng vào tường, và ra ngoài.

Người lính gác phía ngoài, tưởng là Gauvain, bồng súng chào.

Ra ngoài rồi, chân đã dẫm lên cỏ, chỉ còn đi hai trăm bước nữa là ra đến rừng, trước mắt là không gian, là đêm tối, là tự do, là cuộc sống, lão dừng lại và đứng lặng một lúc như một người bị động, sau giây lát ngỡ ngàng đã thừa cơ thoát thân, nay muốn điểm lại xem làm như vậy có đúng không, ngập ngừng trước khi đi xa hơn và suy nghĩ lần cuối cùng. Sau vài giây thẫn thờ lão giơ bàn tay phải lên, bật ngón tay giữa vào ngón tay cái, rồi nói.

- Đành vậy thôi!

Rồi lão bước đi.

II
Tòa án quân sự

Cánh cửa hầm giam đã khép lại. Gauvain ở trong đó.

Hồi đó, trong các tòa án binh, gần như mọi việc còn do vị chánh án tùy tiện quyết định. Ở Quốc hội lập pháp, Dumas đã phác thảo một bản dự luật về pháp chế trong quân đội, về sau Talot trong Hội đồng năm trăm người có tu chỉnh lại, nhưng đạo luật chính thức về các hội đồng quân sự thì mới được thảo ra trong thời đế chính 8 . Xin nói thêm là đến thời kỳ đế chính mới có quy định bắt buộc các tòa án binh khi quyết án phải lấy biểu quyết từ cấp dưới. Dưới thời Cách mạng, luật này chưa hề có.

Năm 1793, viên chánh án tòa án binh nắm cả quyền hành; ông ta chọn các thành viên của phiên tòa án xếp đặt thứ tự cấp bậc, định ra phương thức quyết án; vừa là quan tòa, vừa là chúa tể.

Cimourdain quyết định phiên tòa mở ngay tại gian phòng ở tầng dưới cùng, trước đó là hầm cố thủ và bây giờ là trạm gác. Ông ta muốn rút gọn tất cả lại, cả con đường từ nhà tù tới tòa án và từ tòa án đến đoạn đầu đài.

Đến trưa, theo lệnh của ông, phiên tòa mở với hình thức long trọng như sau: ba ghế tựa bằng rơm, một bàn gỗ thông, hai cây nến thắp sáng, một cái ghế đầu ở trước bàn.

Các quan tòa ngồi ghế tựa, bị can ngồi ghế đẩu. Ở hai đầu bàn còn có thêm hai ghế đẩu nữa, một cái cho ủy viên dự thính, một hạ sĩ quan quân nhu, một cái cho viên lục sự đeo lon cai.

Trên bàn có một thỏi xi đỏ, một con dấu của chính phủ cộng hòa bằng đồng, hai giá bút mực, mấy chiếc cặp đựng giấy trắng và hai tờ thông cáo in trải rộng trên bàn, một tờ là lệnh đặt tội nhân ra ngoài vòng pháp luật, tờ kia là bản sắc luật của Viện Quốc ước.

Ghế chính giữa tựa vào một cụm cờ tam tài; trong thời kỳ hết sức giản đơn ấy việc trang trí giải quyết hết sức nhanh gọn và chỉ cần một ít thời giờ để chuyển một trạm gác thành một phòng xử án.

Ghế giữa là ghế chánh án ngồi nhìn thẳng vào cửa hầm giam. Công chúng dự phiên tòa là binh sĩ.

Hai cảnh binh đứng canh ghế bị can.

Cimourdain ngồi ghế giữa, bên phải là đại úy Guéchamp, hội thẩm thứ nhất, bên trái là viên đội Radoub, hội thẩm thứ hai.

Ông ta đội mũ có chùm lông màu tam tài, bên cạnh đặt thanh kiếm, ở thắt lưng giắt hai khẩu súng lục. Cái sẹo đỏ thắm làm cho vẻ mặt ông ta dữ tợn thêm.

Radoub rốt cuộc rồi cũng đã để cho người ta băng bó. Đầu ông ta buộc chiếc khăn tay có vết máu thấm ra từ từ và loang rộng.

Đến trưa, phiên tòa vẫn chưa mở, một liên lạc viên đứng chờ bên bàn các quan tòa; người ta thấy ngựa của anh ta giậm móng ở bên ngoài.

Cimourdain đang viết, ông ta viết thế này:

Các công dân ủy viên Ủy ban cứu quốc,
Đã bắt được Lantenac. Sáng mai sẽ hành hình.

Ông ta để ngày tháng, ký tên, gấp lại, niêm bức thư, rồi trao cho người liên lạc, người này vội vã đi ngay. Xong, Cimourdain tuyên bố dõng dạc.

- Mở cửa ngục.

Hai người cảnh binh kéo chốt, mở cửa ngục rồi đi vào.

Cimourdain ngoảnh đầu lên, khoanh tai lại, nhìn cánh cửa nói to:

- Giải phạm nhân ra đây!

Một người đàn ông hiện ra giữa hai người cảnh binh, dưới khung bán nguyệt của cái cửa mở.

Đó là Gauvain.

Cimourdain giật mình, kêu lên:

- Gauvain!

Rồi ông nói tiếp:

- Tôi đòi phạm nhân kia mà.

- Chính là tôi - Gauvain đáp.

- Anh?

- Chính tôi.

- Thế Lantenac?

- Thoát rồi.

- Thoát?

- Vâng.

- Trốn?

- Trốn.

Cimourdain run lên, miệng lẩm bẩm:

- Đúng rồi, tòa tháp này là của hắn, hắn biết hết mọi ngóc ngách, dưới ngục chắc là có đường thông ra ngoài, lẽ ra ta phải để ý đến điều đó, có lẽ hắn tìm được cách trốn thoát, chẳng cần ai giúp đỡ.

- Có người giúp hắn - Gauvain nói.

- Giúp hắn trốn?

- Giúp hắn trốn.

- Ai giúp hắn?

- Tôi.

- Anh?

- Tôi.

- Anh ngủ mê!

- Tôi vào ngục, chỉ có tôi với phạm nhân, tôi cởi áo của tôi khoác lên người hắn, tôi kéo sụp mũ xuống che mặt cho hắn, hắn thay tôi đi ra, tôi thay hắn ở lại. Và bây giờ thì tôi đây.

- Anh không làm như vậy!

- Tôi đã làm như vậy.

- Giải Lantenac ra đây!

- Hắn không còn đây nữa. Binh sĩ thấy hắn mặc áo khoác của người chỉ huy nên tưởng lầm là chính tôi và để cho hắn đi. Lúc đó còn là đêm.

- Anh điên rồi.

- Tôi nói sự thật.

Im lặng một lát, Cimourdain lắp bắp:

- Thế thì anh đáng...

- Tội chết - Gauvain nói.

Cimourdain tái nhợt đi như một cái đầu chết chém. Ông ta lặng đi như người vừa bị sét đánh. Hình như ông ta không thở nữa. Một giọt mồ hôi to tướng long lanh trên trán.

Ông ta lấy giọng đĩnh đạc rồi nói:

- Cảnh binh, cho bị can ngồi xuống.

Gauvain ngồi xuống chiếc ghế đẩu.

Cimourdain lại ra lệnh.

- Cảnh binh, tuốt gươm ra.

Đó là nghi thức thời ấy khi bị can đáng tội xử chém. Cảnh binh tuốt gươm ra.

Giọng Cimourdain trở lại bình thường. Ông nói:

- Bị can, đứng dậy.

Ông ta không xưng hô thân mật với Gauvain nữa.

III
Quyết án

Gauvain đứng dậy.

- Tên họ là gì? - Cimourdain hỏi.

Gauvain trả lời:

- Gauvain.

Cimourdain tiếp tục hỏi cung:

- Anh là ai?

- Tôi là tư lệnh trưởng quân đoàn chinh phạt Bờ Biển Phía Bắc.

- Anh có họ hàng thân thích gì với tên phạm nhân vượt ngục không?

- Tôi là cháu gọi phạm nhân bằng ông.

- Anh đã biết sắc lệnh của Viện Quốc ước chứ?

- Tôi trông thấy tờ in sắc lệnh để trên bàn kia.

- Anh có ý kiến gì về sắc lệnh đó?

- Chính tôi đã ký tiếp vào đó, chính tôi đã ra lệnh thi hành, chính tôi đã cho yết lên và dưới tờ cáo thị đó có tên tôi.

- Anh hãy chọn người bào chữa.

- Tôi tự bào chữa lấy.

- Cho anh nói.

Cimourdain đã trở lại lạnh lùng. Có điều là vẻ lạnh lùng ấy giống cái im lìm của một tảng đá hơn là sự bình thản của một con người.

Gauvain im lặng một lát và có vẻ trầm mặc.

Cimourdain lại hỏi:

- Anh muốn nói gì?

Gauvain từ từ ngẩng lên, không nhìn ai cả, trả lời.

- Tôi muốn nói thế này: một việc này đã ngăn tôi không thấy việc kia; một nghĩa cử nhìn quá gần đã che mắt tôi không trông thấy hàng trăm tội ác; một bên là một ông già, một bên là lũ trẻ thơ, những cái đó đã ngăn cách tôi với nhiệm vụ. Tôi đã quên mất những xóm làng bị đốt cháy, những cánh đồng bị xéo nát, những tù binh bị tàn sát, những thương binh bị hạ thủ, những người đàn bà bị bắn, tôi đã quên cả nước Pháp đang bị đem bán cho nước Anh; tôi đã phóng thích cho một kẻ sát hại tổ quốc. Tôi có tội. Nói như vậy hình như tôi buộc tội tôi; nhưng không. Tôi nói để bênh vực tôi. Khi một kẻ phạm tội đã nhận ra lỗi của mình thì kẻ đó cứu vãn được một điều duy nhất đáng cứu vãn, đó là danh dự.

- Đó là tất cả những điều anh tự bào chữa? - Cimourdain hỏi lại.

- Tôi xin nói thêm, là chỉ huy, tôi phải làm gương, và các ngài cũng vậy, là quan tòa, các ngài cũng phải làm gương.

- Anh muốn làm gương bằng cách nào?

- Bằng cái chết của tôi.

- Anh cho thế là đúng?

- Và cần thiết nữa.

- Anh ngồi xuống.

Viên hạ sĩ quan quân nhu, ủy viên dự thính, đứng dậy đọc, thứ nhất quyết nghị đặt nguyên hầu tước Lantenac ra ngoài vòng pháp luật; thứ hai sắc lệnh của Viện Quốc ước kết án tử hình bất cứ ai giúp cho kẻ phản nghịch thoát ngục. Ông ta đọc cả mấy câu sắc lệnh in ở dưới tờ cáo thị "cấm cứu giúp che chở" cho tên phản nghịch có tên trên đây, "ai vi phạm sẽ bị xử tử", và ký tên: Tư lệnh trưởng quân đoàn chinh phạt, Gauvain.

Đọc xong, ông ủy viên dự thính lại ngồi xuống.

Cimourdain khoanh tay lại, nói:

- Bị cáo, chú ý. Công chúng, hãy lắng nghe, nhìn cho rõ và giữ im lặng. Trước mắt các người là pháp luật. Bây giờ đến lúc quyết án. Tòa tuyên án theo đa số tương đối. Mỗi vị quan tòa sẽ lần lượt nói lên ý kiến của mình và nói to trước mặt bị cáo, vì công lý không có gì phải giấu giếm.

Cimourdain nói tiếp:

- Mời ông hội thẩm thứ nhất nói. Đại úy Guéchamp, xin mời ông.

Đại úy Guéchamp hình như không thấy Cimourdain, cũng không thấy Gauvain. Mí mắt ông hạ xuống, che lấp đôi tròng mắt đang chăm chú nhìn tờ cáo thị in sắc lệnh như nhìn một vực thẳm. Ông ta nói:

- Bản chất pháp luật là cứng rắn. Một quan tòa hơn một con người bình thường mà cũng là một con người thường; kém một con người thường vì quan tòa không có trái tim; ông ta hơn người thường vì ông ta có thanh kiếm. Năm 414 thời đế chế La Mã, Manlius đã hạ lệnh giết con trai chỉ vì con ông đã thắng trận nhưng không được ông cho lệnh đánh. Người vi phạm kỷ luật phải bị trừng phạt. Ở đây chính pháp luật bị vi phạm mà pháp luật còn cao hơn kỷ luật. Vì một phút thương người mà Tổ quốc lại bị lâm nguy. Lòng thương hại có thể gây tác hại như tội ác. Tư lệnh Gauvain đã để cho tên phiến loạn Lantenac vượt ngục. Gauvain đã phạm tội. Tôi biểu quyết tử hình.

- Lục sự, ghi vào. - Cimourdain nói.

Gauvain cất cao giọng nói:

- Guéchamp, quyết nghị của ông rất đúng, xin cám ơn.

Cimourdain lại cất tiếng:

- Mời vị hội thẩm thứ hai phát biểu. Ông đội Radoub, xin mời ông.

Radoub đứng dậy, quay lại Gauvain và chào bị cáo theo lối nhà binh. Rồi anh ta nói to:

- Nếu vậy, hãy chém đầu tôi. Tôi xin nói ở đây rằng nếu tôi ở trong trường hợp này tôi rất muốn hành động, trước hết như lão già, sau như tư lệnh của tôi. Khi tôi thấy con người tám mươi tuổi đầu kia nhảy vào lửa cứu ba đứa trẻ thơ, tôi đã bảo rằng: Tốt đấy! Và khi tôi được biết rằng chính tư lệnh của tôi đã cứu lão già khỏi cái máy chém chết tiệt của các ngài thì xin thề là tôi đã nói rằng: Thưa tư lệnh, đáng lẽ ngài phải làm vị tướng của tôi, ngài thật là một con người chân chính và tôi, nếu có quyền, tôi sẽ tặng ngài huân chương Thánh Louis, nếu còn có huân chương, còn có thánh, và còn có Louis. Trời! Tại sao chúng ta có thể ngu xuẩn đến thế? Nếu chỉ để có những trò như thế này mà ta đã thắng trận Jemmapes, trận Valmy, trận Fleurus và trận Wattignies, thì phải nói ra. Chính tư lệnh Gauvain trong bốn tháng qua đã trống giong cờ mở đánh đuổi bọn bảo hoàng chó đểu chạy dài, chính ông ta đã vung gươm lên cứu nền cộng hòa, đã chiến thắng ở Dol với một tài trí phi thường, ấy thế mà khi đã có một con người như vậy, các ngài lại cố tình làm cho không còn con người ấy nữa! Và đáng lẽ phải đưa ông lên làm tướng, các ngài lại đem chém đầu! Tôi xin nói thẳng: như vậy ai mà chịu được và người ta có thể đâm đầu xuống sông mà tự tử đi được. Còn ông, công dân Gauvain, thưa tư lệnh, nếu ông không là tướng của tôi mà là cai của tôi, thì tôi xin nói với ông rằng lúc nãy ông đã nói bậy. Lão già cứu lũ trẻ là đúng, ông cứu lão cũng là đúng, và nếu người ta chặt đầu những người có những nghĩa cử như vậy, chẳng còn hiểu ra sao nữa. Không có lý gì để người ta dừng lại ở đấy. Có đúng thế không? Tôi tự véo vào mình xem tôi tỉnh hay mê. Tôi chẳng hiểu gì cả. Vậy lẽ ra phải để cho lão già mặc cho lũ trẻ bị thiêu sống, phải để cho tư lệnh của tôi mặc cho lão bị chém cổ. Thưa các ngài, tôi nói thật; cứ chém cổ tôi đi. Tôi thích thế hơn đấy. Nói ví thử, nếu như lũ trẻ kia chết đi thì tiểu đoàn Mũ Đỏ chúng ta tiêu ma danh dự. Có phải ta muốn thế chăng? Nếu thế thì ta ăn thịt lẫn nhau đi. Tôi hiểu biết chính trị cũng như các ngài ở đây, trước kia tôi cũng có chân trong câu lạc bộ đội xung kích. Mẹ kiếp! Cuối cùng là chúng ta đâm ra đần độn cả! Tôi xin tóm tắt quan điểm của tôi. Tôi không ưa thích những cái làm cho người ta chẳng biết đường nào mà lần. Tại sao chúng tôi lại phải vào sinh ra tử? Để cho các ngài giết chỉ huy của chúng tôi ư? Đừng làm thế, Lisette 9 ! Tôi đòi lại chỉ huy của tôi! Phải trả chỉ huy lại cho tôi! Hôm nay, tôi yêu chỉ huy hơn hôm qua. Đưa chỉ huy ra chặt đầu, các ngài làm tôi buồn cười quá mất. Những việc như thế, chúng tôi không muốn. Tôi đã nghe tất. Ai muốn nói gì thì nói. Nhưng trước hết là không thể như thế được.

Rồi Radoub ngồi xuống. Vết thương của ông ta lại vỡ ra. Một dòng máu từ chỗ cái tai bị cắt đứt thấm qua băng chảy xuống cổ.

Cimourdain quay lại Radoub:

- Ý ông muốn biểu quyết cho bị can được miễn tố?

- Tôi biểu quyết nâng ông ta lên cấp tướng.

- Tôi muốn hỏi ông, có phải ông muốn bị can được tha bổng không?

- Tôi biểu quyết đưa ông ta đứng đầu nước cộng hòa.

- Đội Radoub, ông có biểu quyết cho tư lệnh Gauvain được tha hay không?

- Tôi biểu quyết người ta cắt đầu tôi thế cho ông ấy.

- Tha bổng, ông lục sự, ghi như thế. - Cimourdain nói.

Viên lục sự ghi: "Đội Radoub: tha bổng".

Rồi viên lục sự nói:

- Một ý kiến xử tử. Một ý kiến tha bổng. Ngang nhau.

Đến lượt Cimourdain biểu quyết.

Ông ta đứng dậy. Ông bỏ mũ, đặt xuống bàn.

Ông ta không còn tái xanh, cũng không còn tím bầm như trước. Sắc mặt ông ta thành màu đất.

Tất cả mọi người im lặng như nằm trong áo liệm.

Cimourdain nói, giọng nghiêm nghị, chậm rãi và chắc nịch:

- Bị can Gauvain, tội đã rõ ràng. Nhân danh chính phủ cộng hòa, tòa án quân sự, với đa số là hai phiếu thuận và một phiếu chống...

Ông ta ngừng lại, như muốn nghỉ hơi; ông ngần ngừ trước cái chết? Ông ngần ngừ trước cái sống? Bao nhiêu lồng ngực đều thở dốc. Cimourdain nói tiếp:

- Tuyên án tử hình.

Trên khuôn mặt của ông hiện lên nỗi dày vò của một thắng lợi thảm khốc. Có lẽ khi thánh Jacob xin vị thiên thần mà thánh đã quật ngã ban phúc cho, thánh cũng có nụ cười ghê rợn như thế.

Nụ cười đó thoáng hiện lên và tắt ngay. Cimourdain lại trơ như đá, lại ngồi xuống cầm mũ đội lên đầu, rồi nói thêm:

- Gauvain, anh sẽ bị hành hình ngày mai, khi mặt trời mọc.

Gauvain đứng dậy, chào rồi nói:

- Xin cám ơn tòa.

- Dẫn tội nhân đi. - Cimourdain nói.

Ông ra hiệu, cửa hầm lại mở, Gauvain bước vào, cửa hầm đóng lại. Hai cảnh binh đứng gác hai bên, gươm tuốt trần.

Radoub ngã bất tỉnh, được khiêng đi...

IV
Sau Cimourdain quan tòa là Cimourdain thầy giáo

Trại lính là một cái tổ ong bàu vẽ. Nhất là trong thời cách mạng. Trong con người lính có cái nọc của người công dân sẵn sàng thò ra nhanh chóng, và chẳng nề hà gì mà không chích vào người chỉ huy ngay khi đánh đuổi được quân thù. Trong đoàn quân dũng cảm đã chiếm lĩnh tháp Tourgue có những tiếng xôn xao rất khác nhau. Mới đầu họ chê trách tư lệnh Gauvain khi biết tin Lantenac vượt ngục. Tới khi thấy Gauvain ở trong hầm bước ra chứ không phải là Lantenac như người ta ta tưởng, thì chỉ trong phút chốc cả đoàn quân đã biết tin ấy, nhanh như điện. Tiếng thì thầm nổi lên khắp hàng quân. Tin đầu tiên là: "Họ đang xử Gauvain. Vờ đấy thôi. Cứ tin tưởng vào bọn quý tộc hết thời và bọn thầy tu! Chúng ta đã thấy một bá tước cứu một hầu tước, rồi chúng ta sẽ thấy một thầy tu miễn tội cho một tên quý tộc!" Đến lúc tin kết án Gauvain lan truyền thì trong hàng quân lại có ý kiến thứ hai: "Thế thì quá lắm! Kết tội chỉ huy của chúng ta, chỉ huy dũng cảm của chúng ta, chỉ huy trẻ tuổi của chúng ta, một vị anh hùng! Là tử tước mà theo cộng hòa càng đáng khen chứ! Làm sao có thể kết tội người giải phóng Pontorson, Villedieu, Pont-au-Beau! Người chiến thắng ở Dol và tháp Tourgue! Người đã làm cho chúng ta trở nên vô địch! Người như mũi kiếm cộng hòa đâm vào vùng Vendée! Người đã năm tháng nay đương đầu với bọn phiến loạn và sửa chữa mọi sai lầm của Léchelle và các tướng khác! Một người như thế mà ông Cimourdain dám kết án tử hình! Tại sao? Tại vì ông ta cứu một lão già đã có công cứu sống ba đứa trẻ! Một thầy tu giết một quân nhân!"

Tiếng phẫn nộ dậy lên khắp hàng quân chiến thắng. Một làn sóng giận dữ bao vây Cimourdain. Bốn nghìn người chống lại một người, có vẻ như một lực lượng áp đảo, nhưng không phải. Bốn nghìn con người là một đám đông, Cimourdain là một ý chí. Người ta biết rằng Cimourdain thường hay cau mày lại, và chỉ riêng cái đó cũng khiến cho quân đội phải kính nể ông ta. Trong thời kỳ nghiêm ngặt ấy chỉ cần có bóng dáng của Ủy ban cứu quốc sau lưng một người là đủ cho người đó trở nên đáng sợ và đủ biến dư luận phẫn nộ thành những lời xì xào và dẫn lời xì xào đến im lặng. Trước và sau những lời xì xào Cimourdain vẫn là người cầm vận mệnh Gauvain cũng như vận mệnh những người khác. Người ta đều biết không thể cầu xin gì được ở ông ta, ông chỉ tuân theo tiếng gọi của lương tâm, mà chỉ riêng ông nghe được. Mọi việc do ông định đoạt. Điều ông đã làm với chức trách chủ trì tòa án quân sự, ông có thể hủy bỏ với tư cách là đại diện của chính phủ. Chỉ riêng ông có quyền ân xá. Ông có toàn quyền hành động; chỉ ra hiệu một cái là ông có thể tha Gauvain; ông nắm quyền sinh quyền sát; ông là người ra lệnh chém đầu. Trong giờ phút bi thảm này, ông là nhân vật tối cao.

Người ta chỉ còn biết chờ đợi.

Đêm đến.

V
Hầm giam

Phòng xử án lại trở thành trạm gác; cũng như hôm qua, vẫn gác đôi. Hai người đứng canh cửa hầm giam đóng kín.

Lúc nửa đêm, một người tay cầm đèn đi qua trạm gác, xưng danh và ra lệnh mở cửa hầm.

Đó là Cimourdain.

Ông ta vào và cánh cửa vẫn để hé đằng sau lưng ông.

Hầm giam tối tăm và lặng lẽ. Cimourdain bước một bước trong bóng tối, rồi dừng lại, đặt cây đèn xuống đất. Có tiếng người ngủ thở đều đều. Cimourdain lắng nghe tiếng thở bình thản ấy, nghĩ ngợi.

Gauvain nằm trên ổ rơm trong góc hầm giam. Nghe rõ ràng anh ta thở. Anh ta đang ngủ say.

Cimourdain tiến lại hết sức nhẹ nhàng, đến gần bên và nhìn Gauvain; một người mẹ nhìn đứa con nhỏ của mình ngủ cũng không có cái nhìn dịu hiền và khó tả hơn thế. Cái nhìn ấy có lẽ còn mạnh hơn cả Cimourdain; như đôi khi trẻ con vẫn làm, Cimourdain ấn hai nắm tay vào mắt mình rồi đứng im lặng trong giây lát. Rồi ông ta quỳ gối xuống khẽ nâng tay Gauvain và áp môi vào.

Gauvain cựa quậy. Anh mở mắt ra với cái vẻ ngỡ ngàng của người đang ngủ bỗng giật mình tỉnh giấc. Chiếc đèn rọi ánh sáng yếu ớt trong gian phòng. Anh nhận ra Cimourdain.

- Kìa, thầy đấy à.

Cimourdain bỗng rùng mình như khi người ta bị một ý nghĩ đột ngột ám ảnh, như một cơn bão táp ập vào tâm hồn, lòng rối bời, ông chẳng biết nói sao. Ông chỉ thốt ra: Gauvain!

Rồi hai người nhìn nhau, Cimourdain, mắt trào ra những giọt nước mắt nóng bỏng, Gauvain với nụ cười dịu dàng.

Gauvain chống khuỷu tay nhấc mình dậy và nói:

- Cái sẹo trên mặt thầy đó là nhát gươm mà thầy đã nhận lấy thay tôi. Mới hôm qua đây, trong lúc hỗn chiến, thầy ở bên tôi và vì tôi. Nếu số mệnh không đưa thầy đến bên nôi tôi thì hôm nay tôi ở đâu? Trong đêm tối. Nếu tôi có được ý thức về nghĩa vụ chính là nhờ thầy. Tôi bị trói buộc từ khi ra đời. Thầy đã vứt bỏ cho tôi những giây rợ thành kiến, thầy đã giúp tôi lớn lên trong tự do, và từ một cái chỉ là xác ướp thầy đã tái tạo thành một đứa trẻ. Trong thằng bé thầy đã đặt vào một lương tâm. Không có thầy, tôi lớn lên với một tâm hồn nhỏ nhen. Nhờ thầy mà tôi sống như ngày nay. Tôi chỉ là một lãnh chúa, thầy đã biến tôi thành một công dân, một công dân thầy đã biến tôi thành một tâm hồn; thầy đã làm cho con người trần tục của tôi và linh hồn của tôi xứng đáng với kiếp thiên đường. Thầy đã cho tôi cái chìa khóa chân lý để đi vào cuộc sống thực tại và cái chìa khóa ánh sáng để đi lên chốn cao siêu kia. Xin cám ơn thầy. Chính thầy là người sáng tạo ra tôi.

Cimourdain ngồi lên ổ rơm cạnh Gauvain và nói:

- Tôi tới ăn bữa tối cùng anh.

Gauvain bẻ miếng bánh mì đen rồi đưa cho Cimourdain. Cimourdain cầm lấy một mẩu; rồi Gauvain lại đưa cho ông bình nước.

- Anh uống trước. - Cimourdain nói.

Gauvain uống rồi chuyển bình nước cho Cimourdain uống sau. Gauvain chỉ uống một ngụm. Cimourdain uống hàng hơi dài.

Trong bữa tối đó, Gauvain ăn, Cimourdain uống, hiện tượng ấy chứng tỏ một người thì bình thản, và một người thì nôn nao.

Có cái gì yên tĩnh ghê sợ trong căn hầm ấy. Hai người trò chuyện.

Gauvain nói:

- Những việc lớn lao đang được phác họa ra. Cái mà cách mạng đang làm lúc này thật là bí ẩn. Đằng sau cái sự nghiệp nhìn thấy được còn có cái sự nghiệp không thể thấy được. Việc này che khuất việc kia. Cái có thể thấy được thì tàn nhẫn, cái không thấy được thì cao cả. Trong giây phút này, tôi nhìn nhận ra mọi việc rất rõ ràng. Thật lạ lùng và đẹp đẽ. Cần phải dùng đến những chất liệu của quá khứ. Do đó mới có cái năm 93 phi thường này. Dưới cái dàn giáo man rợ đang xây dựng lên một đền đài văn minh.

Cimourdain trả lời:

- Đúng. Từ cái tạm thời này sẽ thoát ra cái hoàn chỉnh. Cái hoàn chỉnh, nghĩa là quyền lợi và nghĩa vụ song song, thuế tỉ lệ và lũy tiến, chế độ cưỡng bách quân dịch chính sách san bằng, không thiên lệch, và bên trên mọi người và trên tất cả, là một đường thẳng tắp, pháp luật. Là thể chế cộng hòa tuyệt đối.

- Tôi muốn nền cộng hòa lý tưởng. - Gauvain nói.

Anh dừng lại rồi tiếp luôn:

- Thầy ạ, trong tất cả những điều thầy vừa nói, thầy định đặt vào chỗ nào lòng tận tụy, đức hy sinh, sự tiết chế dục vọng, nhân đức, tình yêu? Làm cho cân bằng tất cả là tốt; làm cho hòa hợp tất cả, còn tốt hơn nữa. Bên trên cán cân còn có cây đàn lia 10 . Nền cộng hòa của thầy ghép con người vào chừng mực, vào khuôn phép; nền cộng hòa của tôi cuốn con người lên tít trời xanh. Đó là sự khác biệt giữa một định lý và một con đại bàng.

- Anh ngập trong mây.

- Thầy ngập trong con tính.

- Có mơ mộng trong sự hài hòa.

- Cũng có mơ mộng trong đại số.

- Tôi mong ước con người do Euclide 11 tạo ra.

- Còn tôi - Gauvain nói - tôi ước mơ con người do Homère 12 tạo ra.

Cimourdain nhìn Gauvain với nụ cười nghiêm khắc như muốn chặn đứng tâm hồn kia lại.

- Thơ mộng. Hãy coi chừng các ông thi sĩ.

- Vâng tôi biết. Hãy coi chừng gió thổi, hãy coi chừng tia sáng, hãy coi chừng hương thơm, hãy coi chừng bông hoa, hãy coi chừng các chùm sao.

- Tất cả những cái đó không làm cho con người ta no bụng.

- Thầy biết đâu đấy? Tư tưởng cũng là thức ăn. Suy tưởng chính là ăn.

- Đừng trừu tượng. Nền cộng hòa là hai lần hai thành bốn. Khi tôi đem lại cho mỗi người phần quyền lợi của họ.

- Như vậy, nghĩa là thế nào?

- Nghĩa là sự nhân nhượng lẫn nhau vô bờ bến, một người nhân nhượng mọi người và mọi người nhân nhượng một người, và đó chính là tất cả đời sống xã hội.

- Ngoài quyền lợi sát nút không còn gì nữa.

- Có tất cả.

- Tôi chỉ thấy có công lý.

- Tôi, tôi nhìn cao hơn nữa.

- Vậy, trên công lý là gì?

- Công bằng.

Thỉnh thoảng hai người dừng lại, tưởng như có những luồng ánh sáng lướt qua.

Cimourdain tiếp:

- Nói cụ thể xem nào, tôi đố anh đấy?

- Được. Thầy chủ trương cưỡng bách quân dịch chống ai? Chống lại những người khác. Tôi, tôi không muốn có quân dịch. Tôi muốn có hòa bình. Thầy muốn những người khốn khổ được cứu giúp, tôi muốn xóa bỏ sự nghèo khổ. Thầy muốn có thuế má theo tỷ lệ, tôi không muốn có chút thuế má nào nữa. Tôi muốn sự chi tiêu chung được giảm đến độ thấp nhất, và do giá trị thặng dư xã hội đài thọ.

- Như vậy, nghĩ là thế nào?

- Thế này: trước hết là xóa bỏ chế độ ăn bám; chế độ ăn bám của thầy tu, của quan tòa, của binh lính. Sau đó, khai thác những tài nguyên của đất nước; phân bón đổ xuống cống rãnh thì đem đổ lên luống cầy. Ba phần tư đất đai còn bỏ hoang, hãy vỡ hoang đất nước ta, xóa bỏ những đồng cỏ vô dụng; hãy chia công điền công thổ. Làm sao cho người nào cũng có đất, đất nào cũng có người. Do đó, của cải xã hội sẽ được nhân lên gấp trăm lần. Nước Pháp hiện nay chỉ cấp cho nông dân mỗi năm được bốn ngày thịt; được cày cấy tốt, nước Pháp nuôi nổi ba trăm triệu người nghĩa là toàn châu Âu. Hãy sử dụng tốt thiên nhiên, lực lượng vô tận còn bị bỏ phí. Hãy làm cho tất cả các luồng gió, các nguồn nước, các nguồn điện phục vụ con người. Địa cầu có một hệ thống tĩnh mạch dưới mặt đất, trong đó có một cơ cấu lưu thông kỳ diệu của nước, dầu và lửa; hãy chọc thủng tĩnh mạch ấy và làm cho nước đó vọt lên cho các máy nước, dầu đó cho các ngọn đèn và lửa cho các bếp lò. Hãy suy nghĩ về sự chuyển vận của sóng, của con nước, và thủy triều lên xuống. Đại dương là gì? Là một lực lượng khổng lồ bị mất mát. Không sử dụng đại dương! Quả đất này quả là ngu xuẩn.

- Anh đang ngập trong mơ.

- Tức là trong thực tế.

Gauvain lại nói:

- Còn đàn bà? Thầy cho họ làm gì?

Cimourdain trả lời:

- Như hiện nay. Phục vụ cho đàn ông.

- Vâng. Với một điều kiện.

- Gì vậy?

- Là đàn ông cũng sẽ là tôi tớ của đàn bà.

- Chả đời nào! - Cimourdain kêu lên - Đàn ông làm tôi tớ ư? Không thể thế được. Đàn ông là người chủ. Tôi chỉ chấp nhận một vương quyền, cái vương quyền của gia đình. Trong gia đình người đàn ông là vua.

- Vâng. Với một điều kiện.

- Gì vậy?

- Là người đàn bà trong gia đình sẽ là hoàng hậu.

- Nghĩa là anh muốn cho đàn ông và đàn bà...

- Bình đẳng.

- Bình đẳng! Thôi xin anh. Hai bản chất khác nhau.

- Tôi nói bình đẳng, tôi không nói đồng nhất.

Đến đây lại một lát im lặng, như một cuộc đình chiến giữa hai luồng tư tưởng chọi nhau như tia chớp. Cimourdain phá tan cái im lặng đó.

- Còn trẻ con. Anh giao nó cho ai?

- Trước hết cho người bố sinh ra nó, rồi đến người mẹ đẻ ra nó, rồi đến thầy giáo dạy dỗ nó, rồi đến xã hội nuôi dưỡng nó rồi đến tổ quốc, người mẹ cao cả, rồi đến nhân loại, tổ tiên vĩ đại của nó.

- Anh không nói đến Chúa.

- Mỗi một cấp đó, cha, mẹ, thầy giáo, xã hội, tổ quốc, nhân loại, là một bậc của cái thang dẫn tới Chúa.

Cimourdain im lặng, Gauvain tiếp tục:

- Khi lên đến bậc thang cuối cùng thì tới Chúa. Chúa mở lòng ra và con người chỉ việc bước vào trong lòng Chúa.

Cimourdain cử động như một người vẫy gọi một người khác.

- Gauvain, hãy trở về trái đất. Chúng tôi muốn thực hiện cái có thể thôi.

- Hãy bắt đầu bằng cách đừng biến nó thành cái không có thể.

- Cái có thể bao giờ cũng thực hiện được.

- Không phải bao giờ cũng được. Nếu người ta ngược đãi ước mơ thì chính là người ta bóp chết nó. Còn có cái gì không có khả năng tự vệ bằng quả trứng.

- Tuy nhiên, phải nắm lấy ước mơ, kiềm chế nó trong thực tế. Ý nghĩ trừu tượng phải biến thành ý nghĩ cụ thể; mất phần hào nhoáng lợi về phần hữu ích, kém đi nhưng tốt hơn. Phải đưa quyền lợi vào trong pháp luật; và khi quyền lợi đã vào trong pháp luật thì nó trở thành tuyệt đối. Đó là cái có thể.

- Cái có thể còn hơn thế.

- A! Anh lại mơ rồi.

- Cái có thể là một con chim bí ẩn lúc nào cũng bay lượn trên con người.

- Phải bắt lấy con chim ấy.

- Bắt sống.

Gauvain tiếp:

- Tôi nghĩ là: phải luôn luôn đi tới. Nếu Chúa muốn cho con người đi thụt lùi thì Chúa đã cho con người một con mắt đằng sau gáy. Chúng ta phải luôn luôn nhìn về phía rạng đông, phía nảy nở, phía phát sinh. Cái rụng xuống cổ vũ cái đi lên. Tiếng gãy răng rắc ở cây già là tiếng gọi cây non mọc lên. Mỗi thời đại sẽ làm sự nghiệp của nó. Hiện nay là vấn đề quyền lợi, mai đây là vấn đề tiền công. Tiền công và quyền lợi về căn bản là một. Con người không phải sống để không được đền công; khi Chúa ban cho sự sống là chưa mắc một món nợ; quyền lợi, đó là tiền công bẩm sinh; tiền công, đó là quyền lợi giành được.

Gauvain nói với vẻ trầm mặc của một nhà tiên tri. Cimourdain lắng nghe. Vai trò đã đảo lộn, và bây giờ hình như người học trò là thầy.

Cimourdain lẩm bẩm:

- Anh đi mau quá.

- Đó là vì có lẽ tôi hỏi vội. - Gauvain trả lời, miệng mỉm cười.

Rồi anh tiếp:

- Thầy ạ, đây là sự khác biệt giữa hai ước mơ. Thầy muốn quân dịch cưỡng bách, còn tôi, tôi muốn học đường cưỡng bách. Thầy mơ con người quân nhân, tôi mơ con người công dân. Thầy muốn con người đó dữ tợn, tôi muốn con người giàu suy tưởng. Thầy xây dựng một nền cộng hòa gươm đao, tôi xây dựng...

Anh ta dừng lại:

- Tôi sẽ xây dựng một nền cộng hòa trí tuệ.

Cimourdain nhìn xuống nền hầm giam và nói:

- Trong lúc chờ đợi, anh muốn gì?

- Như hiện nay.

- Vậy anh tha thứ cho hiện tại?

- Vâng.

- Vì sao?

- Vì đó là một cơn bão táp. Bão táp bao giờ cũng có chủ tâm. Chỉ một cây sồi bị sét đánh, biết bao rừng cây được lành mạnh! Cơn gió mạnh đó sẽ cứu thoát nền văn minh đang bệnh hoạn. Nó không kén chọn kỹ, có lẽ thế. Nó có thể làm gì khác chăng? Nhiệm vụ quét dọn của nó quá là nặng nề! Phải có một luồng gió cực mạnh để xua sạch chướng khí.

Gauvain lại tiếp:

- Vả chăng, bão táp có can hệ gì nếu tôi đã có kim chỉ nam và các biến cố có làm gì được tôi nếu tôi có lương tâm?

Rồi anh nói tiếp với giọng trầm và trang trọng:

- Bao giờ cũng cứ phải để cho vị đó an bài.

- Ai? - Cimourdain hỏi.

Gauvain giơ ngón tay lên quá đầu. Cimourdain nhìn theo hướng ngón tay chỉ lên và qua vòm hầm giam, ông như thấy bầu trời đầy sao.

Hai người lại im lặng.

Cimourdain tiếp:

- Một xã hội lớn hơn thực tế hiện tại. Đó không còn là cái có thể nữa mà là giấc mơ.

- Đó là mục đích. Nếu không, cần gì phải có xã hội? Cứ sống theo thiên nhiên. Cứ làm người man rợ. Otaïti là một chốn thiên đường. Có điều là ở chốn thiên đường ấy người ta không suy nghĩ. Thà một âm phủ thông minh còn hơn là một thiên đường ngu xuẩn. Nhưng không, không âm phủ nào cả. Hãy sống cái xã hội loài người. Nó lớn hơn thiên nhiên. Đúng thế. Nếu không thêm được gì cho thiên nhiên thì vượt ra ngoài làm gì? Nếu thế thì cứ bằng lòng với công việc của con ong, cái kiến. Cứ làm con ong thợ cục mịch, còn hơn làm con ong chúa thông minh. Nếu ta thêm được gì vào thiên nhiên, nhất thiết ta sẽ lớn hơn thiên nhiên; thêm tức là tăng, tăng tức là lớn lên. Xã hội tức là thiên nhiên được vĩ đại hơn. Tôi muốn những cái gì còn thiếu ở tổ ong, tổ kiến, tôi muốn đền đài, nghệ thuật, thơ ca, anh hùng, thiên tài. Mang gánh nặng đời đời không phải là quy luật của kiếp người. Không, không, không, tôi muốn không còn cùng khổ, không còn nô lệ, không còn khổ sai, không còn đày đọa! Tôi muốn rằng mỗi một đặc trưng của con người là một tượng trưng của văn minh, một mẫu mực của tiến bộ; tôi muốn tư tưởng tự do, tình cảm bình đẳng, tâm hồn bác ái. Không! Không còn gông cùm! Con người sinh ra không phải để kéo lê xiềng xích mà để mở rộng đôi cánh. Không còn con người bò sát nữa. Tôi muốn sâu bọ biến thành cánh bướm; tôi muốn con giun đất biến thành bông hoa tươi và biết bay. Tôi muốn...

Anh ngừng lại. Mắt sáng long lanh.

Môi mấp máy. Anh thôi không nói nữa.

Cửa vẫn để ngỏ. Một vài tiếng ồn ào bên ngoài lọt vào trong hầm giam. Người ta thoáng nghe thấy tiếng kèn đồng, có lẽ là kèn báo thức; rồi có tiếng báng súng nện xuống đất, đó là tiếng lính đổi gác, rồi gần sát lâu đài, từ trong bóng tối có tiếng gì như tiếng chuyển ván gỗ và tiếng động chắc nịch và ngắt quãng như tiếng búa nện.

Cimourdain nghe, mặt tái nhợt. Gauvain không nghe thấy gì. Giấc mơ của anh mỗi lúc càng lắng sâu. Hình như anh không thở nữa, tâm trí hoàn toàn bị chi phối bởi những ảo ảnh hiện lên trong đầu óc. Người anh rung động nhẹ nhàng. Trong tròng mắt của anh, hiện lên ánh bình minh mỗi lúc một sáng hơn.

Một khoảng thời gian trôi qua như vậy. Cimourdain hỏi anh:

- Anh nghĩ gì đó?

- Nghĩ đến tương lai. - Gauvain đáp.

Rồi anh lại trầm mặc, Cimourdain đứng lên khỏi ổ rơm, nơi hai người ngồi. Gauvain vẫn không nhận thấy, Cimourdain, mắt vẫn ấp ủ người trai trẻ đang suy tưởng, lùi dần cho tới cửa, rồi ra ngoài. Cửa hầm giam khép lại.

VI
Nhưng rồi mặt trời mọc

Chẳng bao lâu trời hửng sáng.

Vừa lúc đó, ở cao nguyên Tourgue. Trên cánh rừng Fougères, hiện lên một vật kỳ dị, không động đậy, hết sức đột ngột mà những con chim trời ở đấy chưa từng thấy.

Vật ấy vừa được đặt lúc đêm, được dựng lên hơn là được xây đắp. Trông từ xa đó là một hình thù in trên chân trời thành những đường thẳng và cứng, giống như hình dạng một chữ Hê-brơ hoặc một chữ tượng hình Ai Cập trong bộ chữ cái bí ẩn thời xưa.

Thoạt nhìn có vẻ vô dụng. Nó đứng đó, giữa những bụi thạch thảo rộ hoa. Người ta tự hỏi cái vật ấy có thể dùng để làm gì. Rồi người ta cảm thấy rùng mình. Nó như một cái mễ mà bốn chân là bốn cột. Ở một đầu mễ lại có hai cột cao dựng đứng, đỡ ở phía trên một đà ngang và có treo một vật hình tam giác như in màu đen lên trời xanh ban mai. Đầu mễ kia, có một cái thang, giữa hai cột cao, dưới phía cái vật hình tam giác, có một miếng ván gồm hai phần tách rời nhau và nếu đem ghép lại thì người ta sẽ thấy một lỗ tròn gần bằng cái cổ người. Phần nửa trên miếng ván chạy trong rãnh, có thể nâng lên hạ xuống được. Lúc này, hai vành bán nguyệt mà khi ghép lại thì thành cái vòng cổ, hãy còn tách rời ra. Dưới chân hai cột cao treo cái vật hình tam giác còn có một tấm ván xoay đi xoay lại trên bản lề nom giống như một cái bàn cân. Cạnh tấm ván đó có một cái sọt dài và ở phía trước giữa hai cột cao, ở đầu mễ có một cái rổ vuông. Tất cả sơn màu đỏ. Tất cả bằng gỗ trừ cái vật hình tam giác là bằng sắt. Người ta cảm thấy như cái đó do con người làm ra, vì nó xấu xí, ti tiện, nhỏ bé; và hình như phải có quỷ thần mang tới đó vì trông nó thật là kinh khủng. Cái công trình kỳ dị ấy là cái máy chém.

Đối diện cái máy chém, cách đó vài bước, sau đường hào là một quái vật khác, tháp Tourgue. Một quái vật bằng đá sánh đôi với con quái vật bằng gỗ. Mà phải nói rằng khi con người đã đụng vào gỗ đá thì gỗ đá không còn là gỗ đá nữa mà đã mang chút gì của con người. Một lâu đài là một tín điều, một công cụ là một ý niệm. Tháp Tourgue là kết tinh tất yếu của quá khứ, cũng như ngục Bastille ở Paris, tháp Luân Đôn ở Anh, thành Spielberg ở Đức, lâu đài Escurial ở Tây Ban Nha, điện Kremlin ở Mát-xcơ-va, lâu đài Saint-Ange ở La Mã.

Trong tháp Tourgue chung đúc lại một ngàn năm trăm năm, thời trung cổ, chế độ hôi thần, chế độ nông nô, chế độ phong kiến; trong cái máy chém chỉ là một năm, năm 93; và mười hai tháng này đã cân bằng với mười lăm thế kỷ kia.

Tháp Tourgue là nền quân chủ; cái máy chém là cách mạng.

Sự đối chọi bi thảm.

Một bên là nợ, một bên là thời điểm trả nợ. Một bên là kiểu thức Gô-tích pha tạp, là nông nô, lãnh chúa, nô lệ, chủ nô, bần dân, quý tộc, là luật lệ rắc rối đã biến thành tập tục, là quan tòa và thầy tu cấu kết với nhau, là vô số những ràng buộc, là thuế má, tài sản bị khống chế, đặc cách, đặc quyền, đặc lợi, thành kiến, cuồng tín, chuyên chế, là quyền trượng, ngai vàng, là độc đoán, là thần quyền; còn bên kia, chỉ một vật đơn giản, một lưỡi dao. Một bên là cái dây thòng lọng; một bên là lưỡi búa.

Đã từ lâu, tháp Tourgue đứng một mình ở nơi hoang vu này, với những lỗ châu mai qua đó đã từng chảy không biết bao nhiêu là dầu sôi sùng sục, nhựa thông chảy và chì lỏng, với những con đường ngầm ngổn ngang xương người; với phòng hành hình xé xác tội nhân; tất cả là một tấm thảm kịch khổng lồ; bộ mặt tang tóc của nó ngất ngưởng trên cái khu rừng này; trong cái bóng tối ấy nó đã sống mười lăm thế kỷ yên ổn, rùng rợn; trong xứ này nó đã là thế lực duy nhất, đối tượng trọng vọng duy nhất và mối hãi hùng duy nhất; nó đã thống trị cả một vùng; một mình nó nắm độc quyền tiêu biểu cho man rợ; bỗng nhiên, giờ đây sừng sững trước mặt, và đối địch với nó, một vật gì - còn hơn một vật nữa - một đối phương cũng kinh tởm như nó; đó là máy chém.

Đôi khi nó hình như có đôi mắt kỳ dị. Nó như một pho tượng đang quan sát, một tòa tháp đang rình mò, một ngôi nhà với mặt trước đang ngắm nhìn. Tháp Tourgue có vẻ xem xét tỉ mỉ chiếc máy chém.

Nó có vẻ đang suy nghĩ.

Cái gì đó nhỉ?

Hình như vật đó từ đất chui lên.

Thật vậy, vật đó từ đất đã chui lên.

Từ lớp đất tàn khốc, đã nẩy mầm thân cây bi thảm. Từ lớp đất này, đã từng tưới biết bao mồ hôi, và máu, từ lớp đất này ở đó người ta đã từng đào biết bao nhêu hầm hố, mồ mả, hang hốc cạm bẫy, từ lớp đất này trong đó đủ các loại xác chết đã mục nát do đủ các lại người tàn bạo gây ra, từ lớp đất này, trong đó chồng chất biết bao vực thẳm, chôn vùi biết bao tội lỗi, biết bao mầm mống ghê tởm, từ lớp đất này, tới ngày đã định, đã mọc lên cái vật xa lạ kia, cái vật báo oán kia, cái công cụ tàn ác mang lưỡi sắc bén, và năm 93 đã nói với thế giới cũ: "Ta đây".

Và cái máy chém có quyền nói với cái vọng lâu: "Ta là con đẻ của người".

Và cũng lúc đó, cái vọng lâu cảm thấy mình bị giết bởi đứa con kia, và các vật tàn khốc ấy sống một đời sống tối tăm và bí ẩn. Tháp Tourgue trước sự xuất hiện đáng sợ kia có vẻ hoảng hốt, sợ hãi. Khối đá khổng lồ đường bệ nhưng nhơ nhuốc, tấm ván với lưỡi dao tam giác lại còn nhơ nhuốc gấp bội. Uy quyền tuyệt đối đã thất thế khiếp đảm trước uy quyền tuyệt đối mới xuất hiện. Thời lịch sử đầy tội ác đối diện thời lịch sử mang sứ mệnh trừng phạt. Bạo lực ngày xưa đọ với bạo lực ngày nay; cái pháo đài xưa, cái nhà tù xưa, cái lãnh địa xưa, nơi đã vang lên tiếng rú của những kẻ bị hành hình xé xác, cái công sự chiến tranh và giết người kia mất tác dụng và mất sức chiến đấu, bị uy hiếp, bị đánh tơi tả, đống đá chỉ còn như đống tro, gớm ghiếc, nguy nga, điêu tàn, cái lâu đài đã từng say sưa trong bao nhiêu thế kỷ kinh thiên động địa đang nhìn cái thời khắc kinh khủng hiện tại diễu qua. Hôm qua run sợ trước hôm nay, bạo tàn thời xưa chịu lép trước làn sóng bạo tàn mới, cái giờ đây chỉ còn là hư vô giương đôi mắt tối om nhìn cảnh đang lan tràn, con ma đang nhìn con quỷ.

Thiên nhiên vẫn tàn nhẫn; trước cảnh tàn khốc trên thế gian, thiên nhiên không hề rút bớt đi một bông hoa, một điệu nhạc, một làn hương, một tia nắng; thiên nhiên bắt con người phải chịu đựng cảnh tương phản giữa vẻ đẹp thần thánh và những cái xấu xa của xã hội, không miễn cho con người một cánh bướm, một tiếng chim ca, bắt con người, giữa lúc chém giết, giữa phút trả thù, giữa cảnh man rợ, vẫn phải chiêm ngưỡng những cái thiêng liêng; bắt con người phải ngập trong không gian dịu dàng bao la, dưới bầu trời trong xanh yên tĩnh. Luật lệ thô lỗ của con người phải phơi bày trần truồng giữa sự rạng rỡ, vĩnh cửu của thiên nhiên. Con người cứ phá phách, con người làm cho mọi vật cằn cỗi, con người cứ giết chóc; mùa hè vẫn cứ là mùa hè, hoa huệ vẫn cứ là hoa huệ, sao trời vẫn cứ là sao.

Sáng hôm đó, chưa bao giờ lại có một buổi sáng tươi mát dễ chịu đến thế. Ngọn gió ấm lay động những lùm cây dại, hơi sương chuyền êm dịu trong cành lá, cảnh rừng Fougères đầy hơi nước suối bốc lên buổi rạng đông như một chiếc lư lớn tỏa hương thơm. Trời xanh lơ, mây trắng xóa, nước trong veo, lá xanh rờn, sắc màu hòa hợp chuyển từ tím nhạt sang màu ngọc bích, những cụm cây quyện vào nhau, những thảm cỏ, những cánh đồng xa vời, đâu đâu vạn vật cũng đều có cái vẻ trong sáng như muốn răn, nêu gương cho người đời. Giữa cảnh đó bẩy ra bộ mặt xấu xa, ghê tởm của loài người. Giữa cảnh đó hiện lên pháo đài và đoạn đầu đài, chiến tranh và nhục hình, hai bộ mặt của thời đại khát máu và thời khắc đổ máu, con cú của đêm quá khứ đối diện với con dơi của hoàng hôn tương lai. Trước tạo vật đầy hoa nở và ngào ngạt hương thơm, hữu tình và dễ thương, ánh rạng đông lộng lẫy chan hòa tháp Tourgue và chiếc máy chém, hình như muốn nói với loài người: Các người hãy xem ta đang làm gì và các người đang làm gì.

Ánh mặt trời có tác dụng lớn lao như thế đấy.

Cảnh ấy có những khán giả.

Bốn nghìn người trong đoàn quân chinh phạt xếp hàng thành đội hình chiến đấu trên khu đồi cao. Họ quây ba mặt máy chém, theo đường hình học làm thành chữ E, khẩu đội pháo đặt giữa hàng quân làm thành cái nấc của chữ E.

Cỗ máy chém màu đỏ như bị vây trong ba trận tuyến, một thành lũy xây bằng binh lính mà hai cạnh kéo dài đến bờ cao nguyên. Còn phía bỏ trống, cạnh thứ tư chính là đường hào, nhìn sang tháp Tourgue.

Tất cả đó hợp thành một đội hình gần vuông, chính giữa là đoạn đầu đài. Mặt trời càng lên, bóng cỗ máy chém trên nền cỏ càng thu ngắn lại.

Pháo thủ phục dịch bên các cỗ súng của họ, mồi lửa đã đốt lên...

Từ hào sâu tỏa lên một làn khói xanh mờ nhạt. Đó là khói bốc lên từ đám cháy trên cầu đang tàn lụi.

Làn khói mờ nhạt không che khuất tháp Tourgue với cái mái bằng trên tháp án ngữ cả chân trời. Mái bằng và cỗ máy chém chỉ cách nhau con đường hào. Đứng ở hai bên, người ta có thể nói chuyện được với nhau.

Trên sân thượng ấy, người ta đã đặt chiếc bàn của tòa án và chiếc ghế tựa dưới mấy lá cờ tam tài, mặt trời mọc sau ngôi tháp làm cho pháo đài ấy nổi lên đen ngòm, trên cùng là hình thù một người ngồi khoanh tay, không nhúc nhích trên chiếc ghế tòa án, dưới bóng cờ.

Người đó là Cimourdain. Cũng như hôm qua, ông vẫn mặc bộ quần áo ủy viên đại diện chính phủ, đội chiếc mũ có chùm lông tam tài, thanh gươm đeo bên hông và hai khẩu súng lục đeo nơi thắt lưng.

Ông ta ngồi im lặng, mọi người đều im lặng. Binh lính cầm súng theo tư thế đứng nghỉ, mặt nhìn xuống đất, đứng sát nhau, nhưng không ai nói với ai một lời. Họ nghĩ lộn xộn về cuộc chiến tranh này, nghĩ tới bao nhiêu trận đánh, bao nhiêu lần xông pha dũng cảm vào những hàng rào quân địch, nghĩ đến bao nhiêu đám dân quê nổi loạn bị sức mạnh của họ thổi quấn đi, nghĩ đến những tòa thành chiếm được, những trận thắng, những chiến công, và cho đến lúc này thì tất cả các vinh quang đó lại làm cho họ hổ thẹn. Bấy nhiêu bộ ngực như bị thắt lại trong cảnh chờ đợi âm thầm. Trên bục máy chém, đao phủ đi đi lại lại. Ánh sáng ban mai mỗi lúc càng rạng rỡ làm cho bầu trời thêm hùng vĩ.

Bỗng vang lên tiếng bùng bục của những chiếc trống bọc nhiễu đen. Tiếng trống thảm đạm càng tiến lại gần, hàng quân dãn ra nhường lối cho một đoàn đi vào giữa đội hình và tiến lại đoạn đầu đài.

Dẫn đầu là những chiếc trống đen, một đại đội lính xung kích súng chúc xuống đất, rồi đến một tiểu đội cảnh binh gươm tuốt trần, sau đó là tội nhân - Gauvain.

Gauvain đi tự do, không bị trói. Anh mặc binh phục thường mang gươm.

Sau anh là một tiểu đội cảnh binh nữa.

Trên mặt Gauvain vẫn còn rạng lên cái vẻ vui trầm ngâm như khi anh ta nói với Cimourdain: Tôi nghĩ đến tương lai. Không gì khó diễn tả và cao siêu bằng nụ cười bất tuyệt ấy.

Đến nơi buồn thảm này, thoạt tiên anh nhìn lên phía trên tòa tháp. Anh không buồn ngó đến cỗ máy chém.

Anh biết Cimourdain có nhiệm vụ phải dự cuộc hành hình. Anh đưa mắt tìm trên sân thượng và thấy Cimourdain ở đó.

Mặt Cimourdain xanh nhợt và lạnh lùng. Những người ngồi gần cũng không nghe được hơi thở của ông ta.

Khi thấy Gauvain, ông cũng không rung động chút nào.

Trong khi ấy Gauvain vẫn tiến dần đến đoạn đầu đài.

Vừa đi anh vừa nhìn Cimourdain và Cimourdain cũng nhìn anh. Hình như tất cả tinh thần Cimourdain đã tập trung vào cái nhìn này.

Gauvain đã tới chân đoạn đầu đài. Anh ta bước lên. Viên sĩ quan khinh binh đi theo. Anh tháo gươm trao lại cho viên sĩ quan, tháo cà-vạt ra trao cho đao phủ. Trông Gauvain như một nhân vật siêu phàm. Chưa lúc nào anh đẹp đến thế. Làn tóc nâu phất phơ trước gió; thời đó, người ta chưa cắt tóc của phạm nhân trước khi lên máy chém. Cổ anh nõn nà như cổ đàn bà, cặp mắt đượm vẻ hào hùng và vương giả làm ta nghĩ đến một vị thiên thần. Anh đứng trên đoạn đầu đài mơ màng. Đó cũng là một đỉnh cao. Gauvain đứng đó, oai nghi và bình thản. Ánh mặt trời bao bọc lấy anh như một vòng hào quang.

Nhưng dù sao cũng phải trói phạm nhân. Đao phủ tiến đến, tay cầm một sợi dây.

Tới lúc đó, binh sĩ thấy người chỉ huy trẻ tuổi của họ rất kiên quyết đi vào dưới lưỡi dao, họ không chịu nổi nữa, trái tim của những con người quen chinh chiến ấy trào lên. Người ta nghe thấy một thứ tiếng ghê gớm, tiếng nức nở của tất cả đoàn quân; một tiếng vang cất lên: "Xin tha! Xin tha!"

Một số người đã quỳ xuống; nhiều người khác vứt súng, tay chới với lên sân thượng, chỗ Cimourdain ngồi. Một khinh binh kêu lên, tay chỉ vào máy chém: "Có cho người vào thay không? Có tôi đây". Mọi người lại gào lên, điên loạn: "Xin tha! Xin tha!" Và giá có những con sư tử nghe thấy cũng phải cảm kích hoặc run sợ vì những giọt nước mắt của người lính đáng sợ.

Đao phủ dừng tay lúng túng.

Lúc đó, từ trên thành cao cất lên một tiếng nói ngắn gọn và trầm, nhưng mọi người đều nghe thấy vì nó thảm đạm quá sức tưởng tượng:

- Tôn trọng pháp luật!

Mọi người đã nhận ra cái giọng nói đanh thép. Cimourdain đã nói. Cả đoàn quân rùng mình.

Đao phủ không còn chần chừ nữa, tiến lại, tay cầm dây trói.

- Khoan! - Gauvain nói.

Anh ta quay lại Cimourdain, giơ cánh tay phải còn tự do ra chào vĩnh biệt, rồi sau đó đưa hai tay ra chịu trói.

Tay đã bị trói rồi, anh ta nói với đao phủ:

- Xin lỗi, cho tôi một phút nữa.

Rồi Gauvain hô to:

- Cộng hòa muôn năm!

Người ta đặt anh nằm trên bàn chém, cái đầu kiêu hãnh và đáng yêu bị gò vào cái vòng cổ nhục nhã; người đao phủ nâng nhẹ tóc anh lên, ấn lò xo; cái lưỡi dao hình tam giác tuột ra, lướt xuống, mới đầu chầm chậm, rồi nhanh như chớp. Người ta nghe một tiếng phập ghê tởm...

Cùng lúc đó, người ta nghe thấy một tiếng nổ khác. Một phát đạn súng nổ đáp lại tiếng lưỡi dao chém. Cimourdain vừa rút một trong hai khẩu súng vẫn đeo bên thắt lưng, và đúng vào lúc đầu Gauvain lăn vào hòm thì ông ta cũng tự bắn một viên đạn xuyên tim. Máu trào ra nơi miệng, ông ngã ra chết.
Và đôi linh hồn đồng điệu đau thương ấy cùng cất cánh bay, bóng đen của linh hồn này hòa trong ánh sáng của linh hồn kia.
Chú thích:

1.

Voltaire (1694 - 1728) và Rousseau (1712 - 1778) là những nhà văn và nhà tư tưởng vĩ đại của nước Pháp trong thời tiền cách mạng tư sản.

2.

Turgot (1727 - 1781), Quesnay (1694 - 1774) và Malesherbes (1721 - 1794) là những nhà kinh tế học Pháp, cùng theo chủ nghĩa trọng nông do Quesnay thủ xướng. Thuyết này tuy gọi là "trọng nông" nhưng trong nội dung lại bao hàm tính chất chống phong kiến như bỏ thuế quan ở nội địa, tự do thương mại và công nghệ v.v...

3.

Diderot (1713 - 1784), D’Alembert (1717 - 1783), những nhà khoa học và tư tưởng sáng lập phái Bách Khoa.

4.

Arouet, tên thật của Voltaire.

5.

Xứ Bretagne xưa có bốn quận công Conan I, II, III và IV.

6.

Louis D’Assas: Sĩ quan chỉ huy thuộc trung đoàn Auvergne. Trong một cuộc hạ trại ngày 10-10-1760, ông ta đi một mình ra rừng thăm dò địch và bất chợt bị địch vây. Chúng bắt ông im lặng, dọa giết. Nhưng ông ta vẫn hô hoán cho binh sĩ biết và do đó bị địch giết tại trận.

7.

Một thị trấn ở nước Bỉ. Ở đó quân Anh và Hà Lan đã bị quân Pháp đánh thua ngày 11-05-1745. Trong trận đó quân Anh và Pháp dàn trận cách nhau năm mươi mét. Họ chào nhau và nhường nhau nổ súng trước. Rốt cuộc, bên nổ súng trước là quân Anh.

8.

Thời đế chính do Napoléon thành lập sau một cuộc đảo chính năm 1804. Hai cơ quan lập pháp của thời kỳ này là Hội đồng kỳ cựu (2050 đại biểu) và Hội đồng năm trăm người (500 đại biểu).

9.

Nhân vật phụ nữ trẻ trung trong các vở hài kịch, trong các bài thơ, bài hát dân gian. Do quen miệng, nên giữa phiên tòa viên đội Radoub cũng gọi tên đó ra. Ý nói: Không thể như thế được đâu, em ạ. Em đùa dai quá!

10.

Đàn cổ có tính cách tượng trưng cho sự hài hòa, tượng trưng cho âm nhạc.

11.

Nhà toán học cổ Hy Lạp.

12.

Nhà thơ trứ danh cổ Hy Lạp.

Victor Hugo
Người dịch: Châu Diên
Theo https://vietmessenger.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...