Người hỏi đường cùng mây trắng
“Những buổi chiều ở Tân Định, khi đèn đường vừa lên,
có cái gì đó heo hút lạ thường; cái heo hút ở giữa phố thị đông
người nghe có vẻ nghịch lý nhưng thực sự nó hiện diện đâu đó, nó
hiện hữu bên cạnh những chiếc bóng dật dờ – Những kẻ đang đi tìm
chính mình – Chúng tụ lại ở một điểm trong cái vô cùng, chúng soi
đèn nhìn mặt nhau, ở đó nỗi đau và mất mát vút lao vào hư không…”.
Lần nào cũng thế, mỗi khi tìm đến đường Bà Lê Chân ngồi thu mình
trong một góc quán cà phê Huy Tưởng, tôi đều có cả nghĩ như thế. Đó
là vào những năm cuối thập niên 70. Chúng tôi như một lũ bơ vơ, điêu
linh giữa thành phố, cũng may còn có một góc nhỏ nhỏ, một đốm sáng
giữa lớp lụi tàn để cho những tâm hồn phiêu phất tìm đến. Tôi trở
thành bạn của Huy Tưởng chính tại nơi này, mặc dù tôi biết anh đã
từ lâu. Thật ra con đường chuyển từ chỗ quen biết sang bạn hữu không
phải dễ dàng, Huy Tưởng không hề dễ dàng trong việc kết bạn, có thể
anh quen biết rất nhiều nhưng để trở thành bạn theo đúng nghĩa bằng hữu,
tôi nghĩ còn khó hơn chọn người yêu. Với phụ nữ, ta có thể bị tiếng
sét nhưng trong tình bạn thì không. Chính vì thế tôi rất quý tình
bạn. Bạn, như Saint Exupery định nghĩa, là cùng nhìn về một hướng.
Hướng của tôi và cũng có thể của Huy Tưởng là hoàn thiện chính
mình, mãi mãi đi tìm sự hoàn thiện, dẫu phải đối diện với cái vô
cùng trong không gian, trong thời gian và cả trong tại thế. Tôi biết ơn
cái quán nhỏ nhỏ chứa đựng biết bao sự đời, bao dung biết bao tâm
hồn. Chúng tôi đến để được san chia, để sống lại, cũng để phá
phách, nhưng tựu chung trên bức tường hoen ố, rong rêu có lưu lại thêm
vài dấu tay cào – vấu chỉ làm quặn đau chính mình. Tôi đã chứng
kiến Cung Tích Biền gào khóc trong cơn say. Thấy Phạm Văn Hạng đem
thúng xôi vợ nấu đến bày biện thay vì ngồi trong xưởng nặn tượng
nhân gian, chí hướng gặm nhấm để rồi uống cà phê mà cứ ngỡ uống
rượu Tống biệt, ngâm vang bài Hành phương Nam. Tôi cũng thấy Trần Dần
ngồi run rẩy, tay chống gậy vẫn chưa đủ vững, hệ lụy của một quãng
đời nghiêng vai chỏi lại số phận. Tôi còn kịp nhìn thấy Bùi Giáng
đứng ở ngã ba Bà Lê Chân – Trần Quang Khải, trang phục bùng xòe, trên
người khoác đủ thứ “trang sức”, tay cầm “thác trượng” múa may, thỉnh
thoảng lại thò tay “chim chim” một nụ dã hoa giữa phố thị. Sau nghi
lễ phân thân, Bùi Giáng mới đủng đỉnh bước đến quán Huy Tưởng, bằng
một thứ ngôn ngữ tỉnh táo hơn bao giờ hết, ông hỏi lấy một mảnh
giấy bạc lấy từ bao thuốc hí hoáy viết mấy dòng thơ bên đường tặng
Huy Tưởng. Những hành vi trên, theo tôi, là một cuộc “trưng bày nội
tâm”. Tôi không dùng từ phản kháng dễ bị ngộ nhận và người chứng
kiến thấu hiểu không ai ngoài Huy Tưởng. Hơn 15 năm qua, hàng ngày,
hàng giờ, tại một góc phố, anh là chứng nhân cho một khoảnh khắc
chẳng dễ nói ngay, viết ngay, nó ươm hạt nảy mầm trong hồn anh. Trong
bóng tối của tâm thức, những mầm xanh nứt ra thành ngôn từ, thoạt
đầu bảng lảng, càng về sau càng đậm nét trong ngôn ngữ thi ca của
anh.
Những hôm quán trưa vắng khách, Huy Tưởng cố giữ tôi
lại, anh say sưa nói về những dòng thơ, câu chữ anh mới viết, chưa hẳn
anh coi tôi là tri kỷ, tri bỉ nhưng tôi là người biết lắng nghe giữa
những người chỉ thích nói, lặp lại những điều người ta nói quá
nhiều. Bồ Tùng Linh khi viết Liêu trai chí dị cũng trong tâm trạng
tịch mịch: “Cô vọng ngôn chi vọng thính chi”, Huy Tưởng nói chuyện thơ
có tôi ngồi “cau vò” hẳn cũng khoái, dốc túi thơ ra một cách hào
sảng. Nhờ thế tôi khám phá ra Huy Tưởng là tay chơi màu sắc rất
“magic”, anh rất ít dùng màu nguyên thủy, thảng hoặc chỉ trong trường
hợp nổ tung, vỡ vụn sau cơn dồn nén triền miền. Với Huy Tưởng không
có tính từ, trạng từ rõ ràng, vả danh từ cũng biến thể thành một
ngôn ngữ của riêng anh. Có thể một ai đó trách anh dụng công, cầu kỳ,
nhưng với Huy Tưởng điều ấy không hề có, và nếu có đó chính là sự
thăng hoa của ngôn ngữ rất riêng. Chúng tôi hãy đọc:
Im hờn
nắng thú hình hoa
bóng di
hoen lá
vàng
pha phách người…
(Hỏi đường cùng mây trắng, Trừu tượng)
hoặc:
Đêm chuyền giọt
Đêm nhã xanh
Đêm lững thững, lá
Đêm lanh lảnh, huyền.
(Hỏi đường cùng mây trắng, Đêm, Tôi đắm, Mắt như
thuyền)
Hãy thử tìm trong hội họa hoen lá – vàng
pha – nhã xanh – lanh lãnh huyền là màu gì? Phải chăng chỉ có cảm
giác mới pha nổi những gam màu “phi thực” như thế. Âm nhạc trong thơ
Huy Tưởng cũng rất tinh tế, khi lồng lộng như vòm thánh đường, lúc
dịu hiền như biển lặng. Âm nhạc trong thơ Huy Tưởng có rất nhiều dấu
thăng nửa cung, dấu giáng nửa cung, có cả dấu lặng, ngắt quảng của
ký âm pháp nhưng khi vận dụng vào thơ trở nên huyền ảo, nó chênh chếch,
vàng chanh, lam bạc trong thế giới sắc màu:
Nắng lên
Xô trắng giàn mây
Cào cào
Búng nhảy
Trên vai địa cầu…
(Hỏi đường cùng mây trắng, Ngập ngừng chiều xuống
còn đâu)
Bài này thể hiện rất rõ một dấu giáng ở cách gieo
vần, nó được lặp lại khá nhiều trong thơ Hởi đường cùng mấy trắng.
Ba yếu tố làm nên chất Huy Tưởng trong thơ hình ảnh
là một yếu tố then chốt, nhất là trong tập thơ Người nuôi lửa tịch
mịch, chưa bao giờ trong thi ca hình ảnh lại giàu có như thế, hình
ảnh bao trùm lên cảm xúc, được âm thanh màu sắc trợ lực, hình ảnh
trong Người nuôi lửa tịch mịch chiếm đoạt cảm xúc người đọc, thẩm
thấu từng li ti giác quan. Chỉ tiếc cả hai tập thơ tôi vừa nêu mới
chỉ là bản thảo trên vi tính, nó đến với một số hiếm hoi bằng hữu,
trong đó may mắn có tôi.
Hai mươi năm có dư từ chỗ quen biết trở thành bạn của
nhau, được nghe chính Huy Tưởng đọc những bài thơ anh mới sáng tác,
được tặng những tập thơ anh miệt mài ngồi bên máy vi tính tự thực
hiện, tôi cảm thấy như mình đã được đền bù, thấy mãn nguyện, thấy
lòng ấm áp.
Có thể có ý kiến thơ nào mà chả có hình ảnh, màu
sắc, âm thanh. Điều này không sai. Trong rừng thơ đang lưu hành trên báo
chí, thi phẩm, bài nào cũng đạt được ba yếu tố nêu trên. Nhưng, chính
vì thế thơ cứ lền lền, sàn sàn, giống nhau. Họa hoằn mới le lói
xuất hiện một ánh lóe lên, như sao băng rồi sau đó là khắc khoải,
lụi tàn. Vì sao? Theo tôi chúng ta đã quá dễ dãi với thơ. Cảm xúc vô
cùng cần thiết nhưng không phải là tất cả, hãy tự tỏa sáng bằng
bản sắc riêng của mình, bản sắc không phải tự nhiên ai cũng có. Hãy
tự bất mãn với chính những gì mình vừa viết xong, không lặp lại nó
vào ngày mai, may ra dưới lớp cát khô mới có hơi ẩm của suối nguồn
hướng tới bản sắc. Chỉ có tìm tòi, tìm tòi và tìm tòi, may ra mới
tìm được ngọc trong đá tảng. Có chứng kiến Huy Tưởng trong cơn đau
chữ nghĩa đi tìm cho mình một ngôn từ riêng cho thơ ta mới không hết
ngạc nhiên khi đọc Người nuôi lửa tịch mịch, ngôn từ ở dâu mà Huy
Tưởng làm cả một tập thơ hoàn toàn không trùng lắp với bất cứ ai,
không trùng lắp với cả chính anh. Xin đừng nghĩ vì là bạn tôi bốc
thơm Huy Tưởng hay cũng như chê thơ Huy Tưởng chưa đạt. Tôi chỉ toàn nói
về một Huy Tưởng luôn tự đổi mới, chỉ cái mới mới có sức thu hút
anh, chỉ có cái mới làm ta hôm nay khác với hôm qua. Điều này không
có gì bí hiểm, ai cũng có thể hiểu nhưng lại có quá ít người chịu
tự thay đổi. Đó là bi kịch của thơ bây giờ.
Mấy năm nay vì sức khỏe có phần giảm sút, quán cà
phê ở Bà Lê Chân không còn do chính chủ nhân chăm chút nữa, khách quen
mất một địa điểm. Tuy cũng như tất cả các quán cà phê khác nếu ta
chỉ đơn giản đến uống một ly cà phê, nhưng sẽ vô cùng riêng biệt nếu
có ai đã từng mười lăm năm ngồi nhìn thời gian làm phố xá tàn phai,
ta sẽ cảm nhận được vỉa hè, góc phố cũng có tiếng nói của nó, nó
cảm nhận được sự hiện hữu của ta… Đó chính là linh hồn của vô tri,
trong chừng mực nào đó cũng là hồn của thi ca.
Năm 62, Bùi Giáng giới thiệu tập thơ Nai của
Trần Tuấn Kiệt đã níu theo Trần Dạ Từ, ông viết: “Trần Tuấn Kiệt
tương ứng tha thiết với Trần Dạ Từ trong mối sầu “sầu thơ dại đã
đầy vơi một dòng. Hai họ Trần đã giúp chúng ta tin tưởng ở tuổi trẻ
và hồn thơ Việt một cách tuyệt đối”. Với những gì Huy Tưởng đã và
đang tìm tòi, thể hiện, tôi tin sau Hỏi đường cùng mấy trắng và Người
nuôi lửa tịch mịch, sẽ có một Huy Tưởng khác nữa đến với chúng ta,
một Huy Tưởng không ngừng đem lại ngạc nhiên đến cùng với nàng thơ,
cho chúng ta một bữa tiệc ngôn ngữ thịnh soạn chỉ riêng anh mới có.
12/8/2009 Trần Áng Sơn
12/8/2009


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét