Thứ Hai, 26 tháng 9, 2022

Báo Văn nghệ những tháng ngày đầu đổi mớiXXX

Báo Văn nghệ
những tháng ngày đầu đổi mới

Lời tòa soạn (Báo Văn nghệ): Bài phỏng vấn này được Phạm Đình Ân thực hiện từ quãng năm 1993 nhằm đăng vào dịp kỷ niệm 45 năm báo Văn nghệ (1948-1993), nhưng chưa hề sử dụng. Mới đây, nhà văn Ngô Ngọc Bội (nguyên trưởng ban Văn báo Văn nghệ) đã đọc lại và đồng ý công bố. Nhà văn cho biết ông không chỉ kiểm tra bằng trí nhớ mà còn đối chiếu với hồi ký do ông viết.
Phạm Đình Ân: Khi nhà văn Nguyên Ngọc được cử làm Tổng biên tập báo Văn nghệ gần hai năm, năm 1987-1988, phần văn xuôi (và cả phần lý luận, phê bình) của báo sôi động hẳn lên. Các tên tuổi như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Phùng Gia Lộc… gây xôn xao dư luận. Nhưng sau đó không lâu, tình hình trở nên phức tạp. Báo Văn nghệ nhận được nhiều ý kiến khen chê rất trái ngược và cũng bị cấp trên nhắc nhở. Rồi nhà văn Nguyên Ngọc được cử làm việc khác, cũng tại cơ quan Hội Nhà văn. Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam được tiến hành trong khoảng thời gian ấy, sau đến hơn một năm chuẩn bị. Sự việc thực hư thế nào trên trang Văn của báo hồi ấy, nhiều bạn đọc chưa rõ. Xin anh vui lòng cho biết cụ thể.
Nhà văn Ngô Ngọc Bội: Báo Văn nghệ, lâu nay, phần sáng tác phần lớn trông vào thời cuộc. Từ thăng trầm của nó bao giờ cũng trông vào thời cuộc. Từ những năm 70, phần văn xuôi đã tiêu biểu cho việc tham gia chống tiêu cực, bỏ xa các tạp chí và báo khác. “Nhát chém thề” của tôi in năm 1978. Năm 1974 anh Đào Vũ trở lại báo Văn nghệ, anh đã có công đưa tờ báo từ 12 trang lên 16 trang. Đào Vũ đã nâng các tổ chuyên môn lên thành các ban, có chế độ và chức trách pháp lý cụ thể. Tôi được đề bạt, bổ nhiệm làm Trưởng ban Văn từ đó. Những tác giả như Dạ Ngân, Nguyễn Quang Lập, Hồ Anh Thái, Nguyễn Đức Thọ, Lê Hoài Nam… lần đầu tiên xuất hiện trên báo Văn nghệ từ đó. Cái day dứt của cố nhà văn Nguyễn Minh Châu qua hai truyện ngắn tiêu biểu “Bức tranh” và “Khách ở quê ra” xuất hiện dưới thời Đào Vũ làm quyền Tổng biên tập và Hoàng Minh Châu Phó tổng biên tập. Nhưng người chọn bài và đưa in vẫn là tôi vì Nguyễn Minh Châu đưa riêng cho tôi. Lúc đầu đưa lên ông Đào Vũ, ông ấy chần chừ, tôi phải động viên ông Vũ mới mạnh bạo dùng. Khi Nguyễn Minh Châu bị bệnh nặng, tôi đến thăm. Anh nắm tay tôi cảm ơn: “Rất cảm ơn anh Ngô Ngọc Bội đưa được hai truyện ngắn của tôi lên báo Văn nghệ. Đấy là hai truyện hay nhất của đời tôi”. Khi anh Châu qua đời, tập truyện ngắn Cỏ lau do chị Doanh vợ anh đưa in. Chị Doanh đã ghi tặng tôi đầu tiên. Đây là do lời anh Châu trăn trối lại cho chị. Bút ký của Trần Huy Quang “Chuyện của ông vua lốp” gây xôn xao kiện tụng một thời cũng vào thời kỳ đó.
Anh Nguyên Ngọc làm số báo đầu tiên là số 27 năm 1987, thì “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp đã in vào số 26. Mấy số đầu anh Nguyên Ngọc phụ trách, phần văn xuôi có phần hơi chuệch choạc. Vì chưa hiểu tính nhau, chúng tôi phải dò xem Tổng biên tập có sức chịu đựng tới đâu. Thấy vậy, Nguyên Ngọc yêu cầu tôi nộp cho anh những sáng tác “gay cấn” hơn. Ông còn nói với tôi: “Ông đưa thế này không được. Không tiếp nối được “tốc độ” các ông đã làm. Thấy các ông đưa được “Tướng về hưu” lên báo, tôi sợ đấy”. Tôi hứa: “Sẽ có ngay”. Thế là tôi đem nộp những bản thảo dự trữ cho Tổng biên tập. Lúc đầu thì tôi cũng khoái, vì trước đây muốn dùng một cái gắt như “Con chó và vụ ly hôn” của Dạ Ngân, hay “Vườn cây ông Khoát” của tôi, tôi phải dàn dựng khá công phu mới đi được. Nay thủ trưởng lại trực tiếp đòi thì sung sướng nào bằng. Nguyên Ngọc vơ hết cả bản thảo tôi dự trữ. Thấy thủ trưởng “xài” dữ quá, tôi cũng sốt ruột. Phong trào sáng tác theo đà đổi mới cuồn cuộn chảy như đê vỡ. Ai bạo tay cũng có thể làm như thế. Do đó, khi sơ kết 6 tháng đầu năm 1988, tôi đã phát biểu: “Tôi và Nguyên Ngọc là anh hùng tương ngộ”, sau này người ta còn chế nhạo chuyện đó. Anh hùng tương ngộ là ý của một tích cổ người ta thường vẽ tranh, hoặc chạm khắc trên các bức hoạ tiết trang trí: Trên là con đại bàng, dưới là con hổ gặp nhau vào buổi bình minh.
Khi anh Nguyên Ngọc đi rồi, phần văn của chúng tôi vẫn không giảm đi cường độ. Nhưng cố nhiên khi cấp trên đã “thổi còi”, thì chúng tôi bình tĩnh hơn, chín chắn hơn. Những bản thảo chói gắt quá dãn cách ra. Kiểm điểm lại, văn xuôi suốt năm 1989 không hề giảm sút. Tiêu biểu thể hiện trên cuộc thi “Viết về đề tài nông thôn”. Những sáng tác đạt giải cao như: “Bà chúa đồng điền”, “Chuyện cười ở làng Tâm Tiếu” của Đoàn Ngọc Hà, “Lũ vịt giời”, “Bước qua lời nguyền” của Tạ Duy Anh, “Trạm xá làng” của Trần Văn Thước là những đóng góp cho phong trào truyện ngắn đổi mới.
Phạm Đình Ân: Sự xuất hiện những cây bút Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Phùng Gia Lộc ra sao?
Nhà văn Ngô Ngọc Bội: Báo Văn nghệ có chức năng lớn là “phát hiện những cây bút mới, và giúp đỡ những cây bút có tài”. Hàng chục cây bút mà bây giờ đã thành tác giả, là lực lượng chính của sáng tác hiện nay, phần lớn đều xuất hiện từ báo Văn nghệ. Riêng Phùng Gia Lộc không có gì đáng bàn. Chị Phạm Thị Hoài chưa xuất hiện trên báo Văn nghệ bao nhiêu. Chị được bạn đọc quan tâm là do tập tiểu thuyết Thiên sứ in bên tạp chí Tác phẩm Văn học của Hội Nhà văn. Tôi có vinh dự chăng là tôi đổi được tên cho tác giả. Từ Phạm Thị Hoài Nam tôi xin đổi sang Phạm Thị Hoài.
Vào tháng giêng năm 1987, lần đầu tiên Nguyễn Huy Thiệp tìm đến tôi, đưa cho tôi 6 truyện ngắn. Anh nói là anh được anh Hoàng Ngọc Hiến giới thiệu gặp tôi. Tôi đọc một lúc 6 truyện ngắn, trong đó có: “Chảy đi sông ơi”, “Đá chiêng” và “Cún”. Đọc xong tôi thấy người chao đảo, có cái gì rất lạ mà tôi chưa thể nhận ra ngay. Phải nói hai mươi năm biên tập báo Văn nghệ, tôi chưa gặp trường hợp nào như thế này: lạnh lùng, ấm áp, tưng tửng, khốc liệt, mông lung… Cái “biên độ tình cảm” từ dạng này sang dạng khác rất cực đoan. Đọc xong, cứ cảm thấy mình như bị “nhiễm phải một chất ma tuý”, bâng khuâng chao đảo tới hai ba ngày mà không rõ vì cái gì. Cốt truyện à, nhân vật à… không phải. Hình như nó có một thứ hào quang phát ra trên những con chữ, rất khó nói cụ thể. Tôi tạm gọi nó là “giọng điệu”, toát lên từ “vô thức” của người viết. Khi viết, nó giống như người lên đồng, nó hơi điên điên. Người đọc không tinh không thấy được. Tôi đưa cho một vài người trong bạn đọc. Họ không chịu nổi, thờ ơ và chế nhạo sự trầm trồ của tôi. Tôi gặp anh Thiệp, nói: “Đọc truyện của Thiệp mình thích lắm, nhưng bây giờ đưa lên báo ngay, thật khó. Có cái gì dễ “xài” hơn, Thiệp đưa cho mình”. Thiệp lại đưa một sấp viết ngắn, gồm 14 cái, đề chung là: “Những chuyện kể bất tận ở thung lũng Hua Tát”. Đọc lên cứ cảm giác như anh viết lại chuyện dân gian ở miền núi. Nhưng không phải. Hoàn toàn là truyện sáng tác. Hơi văn rất ấm áp, trữ tình. Tôi yên tâm và bảo Thiệp yên trí. Chúng tôi đã chọn 4 truyện in trên số Tết Nguyên đán 1987. In xong, tôi bảo Thiệp: “6 cái đưa trước, Thiệp cứ hãy tạm để đấy. Bây giờ Thiệp viết tiếp cái gì gần với thời sự một tý, để cho tên quen dần trên báo, sau hãy tính đến những truyện kia”. Thiệp đưa tôi “Vết trượt”, xoàng. Thiệp lại đưa tiếp “Huyền thoại phố phường”. Hơi dữ dằn. Nhưng vẫn chưa phải là chất của Thiệp. Sau đó Thiệp đưa tiếp liền 3 truyện: “Muối của rừng”, “Chút thoáng Xuân Hương”, “Tướng về hưu”. Đọc xong, tôi quá mừng. Nhưng lại thấy mình cô đơn. Mọi người không ủng hộ, tôi biết làm sao? Tôi bảo Thiệp: “Mình tớ, tớ không đủ quyền lực để kham nổi cậu. Phải cầu cứu các báo khác họ giúp mình. “Muối của rừng” Thiệp gửi sang cho Tác phẩm Văn học. Nghe nói bên ấy người ta thích dùng những “của mới lạ”, Thiệp gửi sang cho Người Hà Nội. Mình giữ của Thiệp “Tướng về hưu”, cũng chưa biết dùng vào lúc nào, phải chờ thời cơ. Tổng biên tập gạt mất thì mình tiếc lắm”. Người Hà Nội trích phần cuối của “Chút thoáng Xuân Hương”. Thiệp đến cằn nhằn với tôi: “Thế là người ta làm hỏng mất cái truyện của em rồi”. Tôi an ủi: “Chắc là nhân kỷ niệm ngày 8 tháng 3, trích mẩu ấy cho phù hợp. Khi nào in thành tập thì lấy lại”. Tôi cũng thấy tiếc, truyện ấy Thiệp viết gồm 3 truyện ngắn: “Tổng Cóc”, “Ông phủ Vĩnh Tường”, “Chút thoáng Xuân Hương”, gộp thành một truyện ngắn lấy tên là “Chút thoáng Xuân Hương”. Một truyện viết nhiều tìm tòi.
Tôi giữ “Tướng về hưu” cho mãi tới đầu tháng 6. Lúc đó không khí làm báo khá căng thẳng. Giá giấy tăng vọt lên hai ba giá mà giá báo lại không được tăng. In mỗi số báo lỗ mất hai triệu đồng. Lúc đó Nguyên Ngọc đã có quyết định sang thay Đào Vũ. Nhưng Nguyên Ngọc lại nhờ Đào Vũ làm hết tháng 6, Nguyên Ngọc sẽ làm số đầu tháng 7. Làm xong số 23, vì tự ái về giá giấy và giá báo, in tiếp lỗ ai chịu trách nhiệm, Đào Vũ báo cáo lên cấp trên quyết định đình bán báo Văn nghệ số 24. Anh trao lại quyền cho bốn chúng tôi: Ngọc Trai phụ trách hành chính, trị sự; Phạm Tiến Duật phần lý luận, phê bình; Võ Văn Trực phần thơ; Ngô Ngọc Bội phần văn xuôi. Được tin báo Văn nghệ đình bán, các cấp lãnh đạo báo chí nháo nhào bổ xuống gặp chúng tôi. Quốc hội khoá 8 kỳ họp đầu tiên đang sắp họp. Báo Văn nghệ đình bán thì còn ra thể thống gì nữa. Bàn đi bàn lại chúng tôi quyết định: Chập cả 3 số 24, 25, 26 lại, in 24 trang. Thế là chúng tôi “cướp” được một số của bạn đọc mua báo dài hạn để chống lỗ vốn. Làm báo với nguyên tắc: “Anh nào lo phần nào tự chịu trách nhiệm phần của mình, không ai làm Tổng biên tập cả”. Cơ hội đã đến, và tôi cũng tin chắc không khí xã hội lúc đó đưa “Tướng về hưu” lên là chắc ăn rồi. Nhưng tôi đã có lập luận mở lối thoát: Nếu cấp trên có “xoa gáy” thì tôi nguỵ biện: “Giữa lúc quân vô tướng hổ vô đầu, chúng tôi dốt nát mắc sai lầm cấp trên đại xá cho”. “Tướng về hưu” ra mắt bạn đọc được công chúng hoan nghênh rầm rộ. Nhà văn Nguyễn Khải đọc xong “Tướng về hưu” vội chạy sang toà soạn lúc buổi sáng, tuyên bố: “Nếu cả cuộc đời văn nghiệp của tôi đem đổi để được ‘Tướng về hưu’ tôi cũng đổi”. Sau một thời gian dài, “Muối của rừng” đưa sang Tác phẩm Văn học bị trả lại, tôi lại đưa tiếp vào số 38 báo Văn nghệ. Lúc đó Nguyên Ngọc đã làm Tổng biên tập. Số Tết nguyên đán 1988 tôi đưa “Con gái thuỷ thần”. Đây là những truyện ngắn hay nhất của Thiệp. Thiệp lại đưa tiếp tôi “Giọt máu”, rồi “Không có vua”. Tôi hỏi:
“Làm sao mà Thiệp viết nhanh như thế?”
“Em viết rất khiếp. Viết như điên. Viết cả đêm cả ngày.”
“Ờ, viết được thì viết. Mình rất quý cái điên điên của cậu. Điên được bao nhiêu thì cứ việc điên. Tớ sẽ chịu trách nhiệm về tất cả cái điên ấy. Nhưng cậu cũng nên hiểu rằng, cái điên ấy nó cũng rất mỏng, như hơi đốt ở vùng Thái Bình, Hà Nam Ninh. Người ta chỉ cần lấy cây tre giộng xuống một chút là đất chảy xanh lè. Nhưng làn hơi ấy nó rất mỏng. Chỉ thời gian ngắn là hết.”
Tôi đọc hai truyện ngắn “Không có vua” và “Giọt máu” cũng rất thích. Nhưng tôi bảo Thiệp:
“Hai truyện này tớ cũng rất thích, nhưng nó quá dài, lại quá khốc liệt, không thích hợp với báo Văn nghệ. Hơi văn không khác mấy với ‘Tướng về hưu’, và ‘Tướng về hưu’ thì đang sôi sục. In cái này lên thì nó phá mất ‘Tướng về hưu’ của tớ. Thôi, để lại rồi in vào tập.”
Thiệp nghe. Các truyện “Vàng lửa”, “Kiếm sắc” rồi “Phẩm tiết”, Nguyễn Huy Thiệp tự đánh máy 2 bản. Một bản Thiệp đưa cho tôi, 1 bản đưa cho Nguyên Ngọc. Nguyên Ngọc đọc xong, đưa lại cho tôi, bảo rằng bao giờ tôi đưa lại, Nguyên Ngọc mới dùng. Riêng “Phẩm tiết”, Nguyên Ngọc đưa trả lại cho tôi. Tôi hỏi: “Thế nào anh?” Nguyên Ngọc không trả lời. Tôi đọc đã bị “trượt” ba cái “tên huý” mà Thiệp đã gài rất kín. Nếu tôi phát hiện ra, tôi chỉ cần chữa dấu: Khải thành Khai, Thi thành Thí, Phương thành Phường, chắc chẳng ai bắt bẻ. “Phẩm tiết” in lên, Thiệp lánh mặt tôi một thời gian dài. Khi gặp, tôi hỏi: “Mày gài ba cái tên ấy thật phải không?”. Thiệp sôi lên:
“Em tức lắm, người làm việc như anh, tài ba như anh mà sống khổ như thế này. Chúng nó ăn hết…”
Tôi chua chát:
“Tao cần đ. gì những thứ đó. Cứ để cho… Nhưng như thế thì mày cũng hèn, trả thù vặt.”
Nói thế, nhưng tôi lại quý Thiệp hơn. Chính cái chất lắt nhắt ấy, nó cũng là chất nghệ sĩ của Thiệp.
Phạm Đình Ân: Phần văn xuôi của báo Văn nghệ kém hẳn đi, có đúng không?
Nhà văn Ngô Ngọc Bội: Cái gì cũng có “vận hội” của nó: Những năm 80 là cao trào đổi mới của văn học, được Nghị quyết 05 bảo trợ. Nó ào ạt như đê vỡ. Giờ, muốn trở lại cái không khí ấy cũng không có được, nó phải dần dần tạo ra một “vận hội” mới. Cố nhiên, vận hội ấy không ào ạt như đê vỡ. Nó thâm sâu, nó loang rộng và đa dạng hơn, đi sâu vào lòng người hơn. Đấy là quy luật của văn chương. Nó đang có sự báo hiệu trong năm 1990, mà nhà văn Hoàng Minh Tường đã có bài viết in trên báo Văn nghệ số 1 năm 1991. Tuyệt nhiên không phải là người phụ trách không có tài, hay có sự “thổi còi” hay “bật đèn đỏ” gì. Tôi thấy không khí lãnh đạo văn chương không lúc nào thoáng như những năm qua. Báo Văn nghệ đã có truyền thống lịch sử hơn 40 năm nay và có phong cách thẩm mỹ riêng biệt. Không tờ báo nào có thể bắt chước được. Người đọc báo Văn nghệ cũng là lớp người có lựa chọn. Báo chúng tôi ổn định chính là dựa vào lớp người mua dài hạn. Người ta mua báo không phải chỉ đọc xong rồi thôi. Phần lớn họ đóng thành tập. Có người chuyên chơi tranh bìa, có người chuyên chơi minh hoạ, hết năm này sang năm khác. Tuy thế, chúng tôi luôn luôn cải tiến cả nội dung cũng như hình thức.
Phạm Đình Ân: Ông cho rằng báo Văn nghệ trước đây hay, thời năm 1988 hay, và bây giờ cũng hay. Thế thì lấy cái gì làm chuẩn mực?
Nhà văn Ngô Ngọc Bội: Văn học phản ánh thực tế xã hội. Báo Văn nghệ luôn luôn đứng đầu chớp được những thời cơ biến động, cho nên lúc nào nó cũng hay. Nếu có những truyện ngắn hay nhất, những cây bút tài hoa xuất hiện - mà chúng tôi bỏ qua, đấy là sự kém cỏi của chúng tôi. Thực tình những trường hợp như thế xưa nay ít lắm.
Phạm Đình Ân: Xin cảm ơn nhà văn Ngô Ngọc Bội.
13/1/2007
Ngô Ngọc Bội
Phạm Đình Ân thực hiện
Nguồn: Báo Văn nghệ ngày 6.1.2007
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Ngô Văn Cư - Nỗi nhớ tình cũ bao giờ cũng mới

Ngô Văn Cư - Nỗi nhớ tình cũ bao giờ cũng mới Chọn thể thơ mới 1-2-3 để trình hiện cảm xúc, tư duy của mình về đề tài tình yêu cũng là “cá...