Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2022

Gặp trắc trở vì chống quan thamXXXX

Gặp trắc trở vì chống quan tham

Trong chuyện công bố tiểu thuyết Giông tố của Vũ Trọng Phụng có một vài điều chưa được giới nghiên cứu làm sáng tỏ: vì sao tác phẩm đang được đăng tải đều kỳ trên tờ Hà Nội báo thì lại bị tạm ngưng, sau đó tuy được đăng tiếp nhưng phải đổi tên (thành tiểu thuyết Thị Mịch), coi như một tác phẩm khác, và chỉ trở lại toàn vẹn là Giông tố khi được in thành sách riêng?

Người ta biết rằng Giông tố được khởi đăng ngay từ số ra mắt (số 1, ngày 1 Janvier 1936) của tuần san Hà Nội báo (báo của tư nhân Lê Cường; toà soạn ở 88 Phố Huế, Hà Nội, do Lê Tràng Kiều chủ trì) và có mặt đều đặn trên tờ này đến số 11 (18 Mars 1936); bỗng đến số 12 (25 Mars 1936) không thấy truyện được đăng tiếp nữa, chỉ có thông báo của toà soạn Hà nội báo:
GIÔNG TỐ KHÔNG CÒN RA ĐƯỢC NỮA
Vì một lẽ riêng, truyện Giông tố của Vũ Trọng Phụng, từ số này phải vĩnh biệt với các bạn độc giả thân yêu. Đăng một truyện xã hội - hiểu theo nghĩa chặt chẽ của nó - chúng tôi biết ngay từ lúc đầu là một việc khó khăn… Quả vậy, chúng tôi đã đoán không sai. Giông tố nửa chừng phải dứt đoạn.
Trong lúc vội vàng, không kịp dự bị, chúng tôi hẵng tạm đăng cái phóng sự Cơm thầy cơm cô, đợi ông V.T.P. có thì giờ làm một cuộc điều tra khác hiến độc giả.
Gần hai tháng sau trên Hà Nội báo (từ số 18, ra ngày 6 Mai 1936) xuất hiện chương I của thiên xã hội tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng nhan đề Thị Mịch và dưới dạng này tác phẩm được đăng liên tục đến hết (số 39, ra ngày 30 Septembre 1936). Cuối năm 1937 cuốn sách nhan đề Giông tố, xã hội tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, Nxb. Văn Thanh (94 Cầu Gỗ, Hà Nội) xuất bản, tất nhiên bao gồm cả 10 chương đầu từng đăng dưới tên Giông tố lẫn 20 chương sau đã đăng dưới nhan đề Thị Mịch.
Sự kiện toà soạn Hà Nội báo ngừng đăng Giông tố rõ ràng là chuyện không muốn nhưng buộc phải làm; chỗ đáng lưu ý là không phải bị sở kiểm duyệt của chính quyền thực dân cấm, nhưng lại chịu một sức ép nào đó hẳn là khá mạnh. Sức ép nào đã khiến tờ tuần báo này phải tự tuyên bố ngừng hẳn việc đăng tải tác phẩm này, và hai tháng sau dù đăng lại nhưng phải làm như thể đăng một tác phẩm hoàn toàn khác?
Có một suy đoán dễ nảy sinh ở người nghiên cứu, dựa vào sự kiện nhiều người biết: vì văn của Vũ Trọng Phụng hay bị coi là khiêu dâm, nên phải chăng toà soạn Hà Nội báo đã bị sức ép của luồng dư luận chống văn chương khiêu dâm?
Nếu vậy, trong 10 chương đăng dưới nhan đề Giông tố chỉ có chương đầu với cảnh nghị Hách cưỡng bức Mịch là đáng lưu ý. Vậy mà đoạn này vẫn được giữ nguyên vẹn không chút cắt xén khi in thành sách. (Một số câu chữ bị cắt, chỉ còn để những dòng chấm lửng, ở các bản in phổ biến hiện nay, là do Nxb Mai Lĩnh in năm 1951 và bị Sở Kiểm duyệt vùng “quốc gia” cắt bỏ).
Trong khi đó, khi so sánh bản đăng Hà nội báo với bản in thành sách, tôi thấy rất đáng chú ý một đoạn ở chương VIII, cảnh họp làng Quỳnh Thôn trước khi lên dự phiên toà do quan huyện mới về thay, chủ trì. Đó là khi giữa đám chức dịch, câu chuyện về khả năng được thua của việc làng đứng ra kiện kẻ hiếp dâm gái làng đã khó đoán trước thì có ý kiến một người khác. Trong bản Giông tố của Nxb Văn Thanh (Hà Nội 1937) cũng như các bản in sách Giông tố của Nxb Mai Lĩnh (Hà Nội 1951, Sài Gòn 1958), của Nxb Văn nghệ (Hà Nội 1956) và các bản in Giông tố phổ biến hiện nay, đoạn ấy khá ngắn ngủi:
Lúc ấy có một ông ra vẻ thạo đời, từ chỗ ngồi nghển cổ nói lên:
“Dám chắc thể nào cũng xử hòa là cùng.”
Tức thì cái bè đảng ông chánh hội nhao nhao lên hỏi vặn cái người táo tợn ấy. Trước những câu hỏi vặn, người kia điềm nhiên cãi:
“Thì các cụ phải cho tôi nói mới được chứ! Ai cũng hỏi, cũng bắt trả lời một lúc thì tôi còn biết trả lời ai và không trả lời ai? Tôi tin trước vụ kiện này chỉ đến hòa là cùng, là vì tôi đã được biết ông huyện, từ khi tôi còn bán kẹo ở huyện Lô. Một phần vì lẽ cái làng này vừa rồi bị cái họa truyền đơn cờ đỏ nên lý dịch của làng đã là có lỗi to với nhà nước. Hai nữa là vì quan đến nhậm huyện Lô mới có sáu tháng mà trong huyện có đến tám chín nhà giàu bị cướp vu cho là tòng đảng, rồi thì quan tậu ngay xe ô tô.”
Câu nói ấy khiến cho ngần ấy người nhao nhao lên. Vì chưng dân quê có cái chứng nói chuyện mà như cãi nhau nên người ta tưởng đến vỡ mất phòng hội đồng làng.
Thế nhưng xem lại bản đăng Hà Nội báo thì lời của cái nhân vật được gọi là “ông thạo đời” lại khá dài, gần như một thứ truyện kể xen trong tác phẩm.
Ta hãy đọc đoạn đó (những chữ in nghiêng chỉ có ở bản đăng báo):
“Một phần vì lẽ cái làng này vừa rồi bị cái họa truyền đơn cờ đỏ nên lý dịch của làng đã là có lỗi to với nhà nước. Hai nữa là vì quan đến nhậm huyện Lô mới có sáu tháng mà trong huyện có đến tám chín nhà giàu bị cướp vu cho là tòng đảng, rồi thì quan tậu ngay xe ô tô. Úi chà, quan ăn của cả con mẹ mò cua một con cá quả ấy. Một mớ rau diếp quan cũng không từ. Một hôm có một con mẹ nhà quê vào huyện nộp một cái phạt vi cảnh, lúc cởi ruột tượng đã để rơi xuống đất mất một hào… Thế mà nó lúi húi cúi xuống tìm thì quan quát mắng nó, sai lính đuổi cổ nó ra. Đến khi con mẹ ấy bị đuổi ra được mươi phút rồi, quan huyện mới cúi xuống nhặt đồng hào ở dưới đế giầy của ngài, từ lúc đồng hào rơi thì rơi ngay gần chân quan nên quan dận ngay giầy lên che đi cho con mẹ ấy không trông thấy.”
Cả làng đương hãi hùng kinh ngạc lắng tai nghe cái chuyện không thể tưởng tượng được ấy thì bỗng có người thốt ra một câu: “Đ. mẹ kiếp!!!”. Dư luận sôi nổi một hồi rồi một ông cụ quát phải im cả để cái người tò mò ấy kể nốt những câu chuyện có duyên của quan.
Người kia nói tiếp:
“Ngay trước cửa huyện Lô có một thằng chủ hàng cơm, thì quan lại là cánh hẩu của thằng cha ấy. Mỗi khi nó thấy một người nào có vẻ ngơ ngác như muốn vào huyện thì nó lập tức gọi vào hàng, nháy người ấy mấy cái mà bảo rằng nếu không có hai bao chè thì lính nó sẽ vụt cho mấy cái và đuổi cổ ra. Người kia cố nhiên phải bỏ đồng bạc ra lấy hai bao chè mang vào huyện. Sau lúc ấy thì thằng bếp nhà quan huyện đã lẻn ra cửa sau huyện đường, bưng một cái liễn trong có hai bao chè để trả anh chủ hàng cơm. Quan ông đã thế, quan bà cũng chả kém mấy tí. Cả cái chợ huyện Lô đã phải khổ sở vì quan bà. Thúng gạo đáng giá năm hào thì bà lớn chỉ trả có ba. Con gà đáng hai hào chỉ trả có một. Hôm quan đổi đi, mấy cái xe ô-tô chở đồ đi trước. Đến lúc chính xe quan ra thì có một số đông dân cứ ném đá theo xe và chửi rủa quan! Bây giờ về vùng này, nghĩa là cái dân cả vùng này đến ngày xấu số. Ta còn ngu gì mà tin cái ngọn đèn trời ấy. Vì thế mà tôi dám nói quyết rằng về vụ này may ra thì hòa, mà không khéo thì có khi cả làng cùng ông đồ sẽ bị thua!”
Câu nói ấy khiến cho ngần ấy người nhao nhao lên. Vì chưng dân quê có cái chứng nói chuyện mà như cãi nhau nên người ta tưởng đến vỡ mất phòng hội đồng làng.
Nhẩm tính sẽ thấy đoạn chỉ có ở bản đăng Hà Nội báo trên đây dài đến trên 430 từ, nó là phác hoạ chân dung của viên quan mà ngày hôm sau sẽ đứng ra xử vụ kiện của dân chúng và lý dịch Quỳnh Thôn. Đoạn này đăng ở Hà Nội báo số 9 (4 Mars 1936). Ngay sau đó Hà nội báo số 10 (11 Mars 1936) đăng chương X Giông tố, mô tả buổi xét xử của chính ông huyện này, ở đó ông gọi đám dân đến huyện đường là “mày”, “chúng mày”, ông bảo Mịch về việc bị cưỡng hiếp: “trước pháp luật việc mày như thế là việc làm đĩ không môn bài…”, ông doạ lý dịch Quỳnh Thôn nếu không chịu hoà thì sẽ bị tố là vu cáo, ông đuổi cổ một nhà báo muốn tường thuật phiên xử của ông, hơn thế còn gọi lính giam nhà báo ấy lại đến hết buổi xử án!
Và, như ta biết, sau đó Giông tố chỉ còn đăng thêm được trong 1 kỳ nữa (số 11, ngày 18 Mars 1936) mà thôi!
Đoạn truyện bị bỏ nêu trên ngay khi in thành sách (1937), cùng với chương truyện tả một cách châm biếm không che giấu phiên xử của một viên tri huyện, với nội dung công nhiên chống nạn tham quan ô lại của nó, theo tôi, là lý do khiến giới quan lại Bắc Kỳ đương thời bị chạm nọc. Có thể có những viên quan cảm thấy đoạn truyện đó ám chỉ mình; nhưng nếu không phải là một vài cá nhân trong số các bậc “phụ mẫu chi dân” cảm thấy bị ám chỉ, thì giới quan chức thuộc hệ quan lại Nam triều (ăn lương của Triều đình Huế) cũng cảm thấy bị báng bổ không ít. Kiểm duyệt của chính quyền thực dân hẳn là không quan tâm lắm đến chuyện này, nhưng sức ép của giới quan lại Nam triều ở Bắc Kỳ lên giới báo chí trong chuyện này hẳn là khá lớn. Người ta có thể đọc ra điều này trong mấy lời thông báo của tòa soạn Hà Nội báo.
Tóm lại, từ việc so sánh văn bản, ngày nay ta có thể khẳng định rằng, tiểu thuyết Giông tố khi đăng báo lần đầu đã gặp trắc trở là do nó có chỗ chống các quan tham quá nặng lời, dù chỉ là lời của tiểu thuyết, lời của văn hư cấu!.
13/2/2007
Lại Nguyên Ân
Nguồn: Thể thao-Văn hóa số Tân niên 2007
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tiếng phổ thông và ngôn ngữ vùng miền

Tiếng phổ thông và ngôn ngữ vùng miền Lắng nghe ý kiến của Thành Lộc, mới thấy băn khoăn về ngôn ngữ lai tạp không chỉ là chuyện của người...