Trần Độ, Trần Trọng Tân,
Trần Bạch Đằng
Ngày 26.2. vừa qua, cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan, nhà trí thức
đối lập nổi tiếng trong cả hai chế độ (Việt Nam Cộng hòa trước 1975 và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sau 1975) đã qua đời. Báo chí tại Việt Nam cho đến
nay hầu như không nhắc đến sự kiện này, ngoài một bài báo của ông
Trần Bạch Đằng trên tờ Thanh niên. Chúng tôi xin đăng lại một bài viết
của ông Nguyễn Ngọc Lan trên tờ Tin nhà năm 1998, được in lại trong tập Hẹn
thắp lên - Lời chứng hai mươi lăm năm 1975-2000, do Trình bày xuất bản tại hải
ngoại năm 2000.
talawas
Sau ông Trần Trọng Tân [1] , đến lượt ông Trần Bạch Đằng viết bài
nghĩa vụ phản công cụ Trần Độ và các sĩ phu Bắc Hà khác. Ông cũng không nêu tên
ai cả, tránh trực diện với người bất đồng chính kiến. Nhưng ông họ Trần này
không đi vào chi tiết nội dung và "chưa nói về quan điểm" như ông họ
Trần kia. Ông chỉ đòi "định vị trong phê phán" (tiêu đề bài đăng
trên Thanh niên, Chủ nhật 25.4.1998). Lập luận của ông đơn giản đến thô
thiển:
"Có thể đôi bài viết thật sự tâm huyết và xây dựng bị các đài phát thanh ấy
trình bày theo dạng đối lập với chính thể Việt Nam của một nhân vật từng giữ một
cương vị quan trọng trong quá khứ." Nhưng các bài viết ấy "bị bán rao
qua các đài phát thanh nước ngoài". Mà "thực tế lịch sử chưa bao giờ
chứng minh các chương trình tiếng Việt của các đài phát thanh Anh, Pháp, Mỹ,
Vatican, Úc... có thiện cảm với Việt Nam". Kết luận: "Vậy thì, một ý
kiến của ai đó – có thể rất trong sáng và thiện chí - lại quảng bá bằng các đài
kiểu BBC, lòng tự trọng của người có ý kiến lẽ nào không bị tổn thương? (...) nếu
ý kiến của mình bị lợi dụng thì cần lớn tiếng nói cho rõ. Minh bạch, đó là sự định
vị đầu tiên..."
Tất cả lập luận trên đều dựa vào cả một tín điều: chống cộng là... chống Việt
Nam. Minh nhiên khi ông Trần Bạch Đằng phán quyết: "những kiến nghị này
khác mà tựu trung phù hợp với quan điểm chống cộng, chống Việt Nam" hoặc mặc
nhiên khi ông tố cáo "các chương trình tiếng Việt của các đài phát thanh
Anh, Pháp, Mỹ, Vatican, Úc" là chưa bao giờ được "thực tế lịch sử chứng
minh" là "có thiện cảm với Việt Nam". Ông vẫn còn ôm khư khư cái
tín điều trịch thượng và hủ lậu ấy thì đừng ai hỏi ông: vậy chống Việt Nam cách
"bẩm sinh" như thế thì các đài kia cứ nói mãi cho ai nghe? Ông sẽ tiếp
ngay bài giáo lý: người Việt nào khoái nghe đài BBC v.v... cũng chỉ có thể là
người Việt "chống cộng, chống Việt Nam". Tựu trung "yêu nước"
cứ phải là "yêu chủ nghĩa xã hội" (Mác-Lênin) y như hai ông họ Trần
kia mới được, mặc dù chính chế độ từ nhiều năm rồi đã biết ngượng không trưng
ra câu khẩu hiệu ấy nữa.
Say sưa theo cái đà biện chứng tín điều của mình, ông Trần Bạch Đằng uốn nắn
luôn cả cái "thực tế lịch sử" cho khớp với nó. Chẳng lẽ ông không hề
biết là những năm trước 75, BBC khách quan mà nói "có lợi" cho bên
nào? BBC hẳn không phải không biết điều ấy, càng không hẳn đã "yêu nước Việt
Nam là yêu chủ nghĩa xã hội". Nhưng cho đến những ngày cuối cùng của chế độ
cũ, BBC v.v... vẫn không ngại làm phiền lòng Tổng thống Thiệu, đơn giản có lẽ chỉ
vì quan niệm của họ về thông tin không phải như Bộ Thông tin của ông Thiệu mà
cũng không phải như Cục Tuyên huấn miền Nam của ông Trần Bạch Đằng. Hồi ấy họ
cũng không bắt buộc phải nghĩ chê hay chống ông Thiệu là chống Việt Nam, y như
bây giờ nếu có chống cộng thì họ chẳng phải lo rằng chê hay chống cộng là chống
Việt Nam. Đặc biệt những ngày tháng Tư 1975, tin tức BBC đã tiến nhanh hơn đoàn
xe tăng Bắc Việt tiến về Sài Gòn cơ đấy, và có phải là cường điệu chăng khi nhận
định rằng: có những nơi, những lúc quân lính Việt Nam Cộng hoà đã hoảng loạn bỏ
chạy vì nghe đài BBC trước khi kịp nghe tiếng đại bác của Việt cộng? Các cựu tướng,
tá của chế độ cũ hiện sống ở nước ngoài hẳn chưa hết hận BBC. Cái tên Bê
Ba Xu xuất phát từ chính Tổng thống Thiệu và báo chí chống cộng khá lâu
trước 30 tháng Tư. Ông Trần Bạch Đằng quên tuốt cái thực tế lịch sử ấy, nhưng
chính ông lại phải ghi nhận "Đài BBC được tiếng là khách quan", tuy hẳn
chỉ là "được tiếng" mà thôi. (Các đài phát thanh của Liên Xô và các
nước Đông Âu trước đây và của Trung Quốc hay của Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam bây giờ hình như chưa bao giờ "được tiếng" là khách quan cả, cho
dẫu chỉ là "được tiếng".)
Cũng về cái "thực tế lịch sử" kia, ông Trần Bạch Đằng còn viết:
"Thử hỏi có đài nào kết án Pôn Pốt - họ gán cho công chặn đứng hiểm hoạ diệt
chủng của Việt Nam thành tội xâm lược tày đình."
Ông Trần Bạch Đằng lại vo tròn cái thực tế lịch sử kia mất rồi: Cho đến khi
bùng ra cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam (chiến trnh biên giới chứ không phải
chiến tranh chống diệt chủng), các phương tiện truyền thông của CHXHCN Việt Nam
hay các đài phát thanh báo chí nước ngoài đã lên tiếng tố cáo Pôn pốt và báo động
về nạn diệt chủng?
Thương lo quá mức tình cảm cho những Trần Độ, Phan Đình Diệu "bị lợi dụng",
chẳng qua ông Trần Bạch Đằng chỉ tụng lại bài kinh của bộ máy tuyên truyền và
công an chế độ cũ: đấu tranh cho hoà bình, dân chủ có thể là "rất trong
sáng và thiện chí đấy", nhưng... cộng sản lợi dụng! Những ngày đầu năm
1969, khi kẻ viết những dòng này bị mời đến công an: người ta chỉ hạch hỏi về
những hoạt động "hoà bình" không hẳn đã xấu nhưng chắc chắn có lợi
cho cộng sản. Hạch hỏi chán không xong, đến lượt trung tá Nguyễn Mâu, an ninh đặc
biệt, đích thân chiếu cố và còn nhấn mạnh hơn: "Con biết cha hoạt động cho
hoà bình chỉ vì thiện chí thôi, nhưng như thế có lợi cho cộng sản." Trung
tá Nguyễn Mâu sốt sắng tự xưng là Công giáo và là người duy nhất trong mấy ngày
ấy đã "con con cha cha" với tôi. Ông còn hẹn chiều đến sẽ cho xem một
tài liệu... đặc biệt. Tưởng gì chứ tài liệu đặc biệt chỉ là một tờ giấy bắt được
của Việt cộng và phải xử lý bằng hoá chất thế nào đó mới đọc được. Trung tá Mâu
chỉ đọc cốt cho nghe câu quan trọng nhất: "Chúng ta phải tận dụng các
phong trào hoà bình. Kể cả phong trào hoà bình của Thích Trí Quang và linh mục
Hoàng Quỳnh là những người không bao giờ đứng về phía chúng ta." Nguyễn
Mâu đã chẳng được thêm gì với đòn tấn công cuối cùng ấy. Tôi đã trả lời ngắn gọn:
Thì các ông cứ cố làm sao đi để chính các ông "tận dụng" được các
phong trào đòi hoà bình và tự do dân chủ, tận dụng được hơn cộng sản hoặc không
còn chỗ cho cộng sản tận dụng. Còn chúng tôi, việc phải làm thì cứ làm thôi. Ngụy
tạo hay không ngụy tạo (đúng hơn phải nghĩ là không nguỵ tạo), tài liệu kia đã
vô nghĩa đối với tôi: sau vụ bị thẩm vấn vẫn tiếp tục có thái độ, nói và viết
như trước hay còn hơn trước. Và tuyệt đối không thấy "cần lên tiếng nói
cho rõ". Chẳng cần và không bao giờ mất công "định vị trong phê
phán". Nói gì đến thượng toạ Thích Trí Quang hay linh mục Hoàng Quỳnh. Và
nói gì đến thời buổi thông tin điện tử với Internet ngày nay. Dẫu sao tôi đã tưởng
là có thể quên luôn luận điệu còi hụ và dùi cui của trung tá Nguyễn Mâu. Cho đến
hôm nay khi đọc ông Trần Bạch Đằng, mới bỗng thấy luận điệu của ông này có mùi ẩm
mốc bắt nhớ tới luận điệu gần 30 năm trước của báo chí chống cộng ở Sài Gòn nói
chung và của viên trung tá nói riêng.
Thật ra các đài ngoại quốc như BBC không lợi dụng ý kiến của sĩ phu Bắc Hà cho
bằng lợi dụng sự kiện chế độ không biết lợi dụng hay không có khả năng lợi dụng
những ý kiến ấy. Các vị sĩ phu Bắc Hà này còn "cần lên tiếng nói cho
rõ", "định vị trong phê phán" cái nỗi gì nữa, khi yêu cầu đầu
tiên của họ vẫn là một "diễn đàn tự do" và các ý kiến của họ có quyền
xuất hiện trên báo chí trong nước. Hình như ông Trần Bạch Đằng cũng hiểu ra điều
ấy cho nên ông mới không quên ỡm ờ:
"Tôi hiểu báo chí của ta còn một số hạn chế có khi từ chính sách quản lý
Nhà nước hoặc từ những điều kiện cụ thể từng lúc của đất nước."
Chèn đét ơi! 1998-1954, tròm trèm nửa thế kỷ, nhất là từ 30.4.1975, toàn thắng
và "vĩnh viễn hoà bình, không thằng nào còn dám động tới lông chân của
ta" nữa, như người dân Sài Gòn từng nghe các ông Hoàng Tùng lớn bé tuyên bố.
1998-1975, 23 năm là tám ngàn bốn trăm ngày, trên 20 vạn giờ, là bao nhiêu
"từng lúc" rồi? Ru ngủ, vỗ về "hãy đợi đã" hay trấn áp, doạ
dẫm "hãy đợi đấy", hoặc vừa củ cà rốt kia vừa cây gậy này, là lối
nói… truyền kiếp của tất cả các chế độ độc tài xưa nay trên thế giới. Và riêng ở
Việt Nam, hình như ông Nguyễn Văn Thiệu đã nói y như thế, ông Ngô Đình Diệm đã
nói y như thế, chỉ không có nhiều "từng lúc" để bắt nhân dân phải đợi
lâu bằng bây giờ thôi (1954-1963, rồi 1967-1975). Ở Việt Nam nhiều "từng
lúc" hơn thì phải trở lui lại tới tận thời các ông Tây cơ. Khởi đầu người
Pháp chỉ "bảo hộ" thôi, sau này "Pháp-Việt đề huề" thời cụ
Phan Chu Trinh rồi Pháp với Chính phủ Bình dân thì đều không phải là đã thiếu
những hứa với hẹn. Chưa kể là cứ hỏi những bậc đại lão đảng viên như cụ Nguyễn
Văn Trấn xem phải chăng những năm 30, giữa Sài Gòn thuộc địa này, Nguyễn Văn Trấn
đã có nhiều cơ hội, điều kiện để làm báo hơn là nửa thế kỷ sau, giữa Thành phố
Hồ Chí Minh?
Dĩ nhiên, để biện hộ cho tình trạng không có tự do ngôn luận, người ta tránh
nói: thì thời nào cũng thế thôi, nhưng người ta lại dễ nguỵ biện: ở đâu cũng thế
thôi. Ở đây không kiểm duyệt, các tổng biên tập tự kiểm duyệt. Nhưng tổng biên
tập ở đâu mà chẳng sàng lọc bài vở, kiểm duyệt cho hợp với lọi ích của tập đoàn
làm chủ tờ báo hay với những đường lối của đảng phái mà tờ báo đại diện. Lập luận
như thế thì còn có thể thêm: không chỉ tổng biên tập, người cầm bút nào mà chẳng
"tự kiểm duyệt", thậm chí đứa con nít biết coi lại và sửa bài trước
khi nộp cho thày cô chấm cũng là "tự kiểm duyệt" rồi. Nhưng người ta
đã lờ đi cốt lõi của vấn đề: Có tự do báo chí là khi báo chí không độc đạo, khi
đằng sau các tổng biên tập không chỉ có một thế lực tài chính duy nhất và cũng
không chỉ có một quyền lực chính trị duy nhất, toàn trị và không thể thay thế.
Chỉ trong chế độ độc tài, kiểm duyệt trực tiếp hay kiểm duyệt gián tiếp thì
cũng vậy thôi. Một bài báo đã bị một tờ báo khước từ vì lý do chính trị thì đố
mà có thể được đăng trên một tờ báo khác. Trừ phi may mắn gặp lúc tổng biên tập...
ngủ gật. Có khi kiểm duyệt gián tiếp còn gắt gao hơn vì các tổng biên tập vừa
không có quyền hạn bằng một bộ trưởng văn hoá thông tin, vừa khó tránh nỗi sợ bị
hoạnh hoẹ, bị mất chức. Gương những Nguyên Ngọc, tuần báo Văn nghệ, Tô
Hoà, báo Sài Gòn Giải phóng, Kim Hạnh, báo Tuổi trẻ, Thế Thanh,
báo Phụ nữ còn sờ sờ ra đó. Không phài vô cớ mà đòi hỏi tự do báo chí
cũng là đòi hỏi dân chủ, đòi hỏi đa nguyên chính trị.
Ông Trần Bạch Đằng thay vì trước tiên lo sao giành lại phần của các đài kiểu
BBC quảng bá "một ý kiến của ai đó, có thể rất trong sáng và thiện
chí", lại chỉ sốt sắng thương lo cho "lòng tự trọng của người có ý kiến
lẽ nào không bị tổn thương."
Nếu còn cần bàn đến "lòng tự trọng", thì tôi vẫn chỉ biết nghĩ nôm na
như đã nói ra bốn năm trước, nhân ngày Tự do Báo chí Quốc tế 3.5.1994:
"Cũng có thể một số trí thức có tầm cỡ không đồng ý với Phan Đình Diệu, Hà
Sĩ Phu - điều này là chuyện bình thường thôi - nhưng trí thức có tầm cỡ thì
cũng có chút tự trọng, mà đã có chút tự trọng thì không thể tự cho phép mình muối
mặt múa bút một mình trên mặt báo. Họ có thể tranh luận với Phan Đình Diệu, Hà
Sĩ Phu trên báo chí tự do nếu có, không thể 'ăn gian’, 'xích tay đối thủ rồi
thách đấu’ trên báo chí công cụ (độc quyền) được. Múa bút như thế có khác gì tự
bêu diếu chính mình." [2]
Báo Thanh niên đã giới thiệu ông Trần Bạch Đằng là "học giả"
mà quên tự hỏi dạo sau này hai chữ "học giả" đang có ý nghĩa thời sự
gì qua nhiều bài đăng trên báo Thanh niên cũng như trên các báo khác.
Dẫu sao không nên hẹp hòi về chữ nghĩa đối với hai ông họ Trần. Học giả Trần Bạch
Đằng đã hứng thú và kiêu hãnh giương cao hai từ kép "tự trọng" và
"minh bạch" thì cũng cứ nên dành tặng hai ông họ Trần hai từ đó: ông
Trần Trọng Tân "tự trọng" và học giả Trần Bạch Đằng "minh bạch".
Âu cũng là do tiền định (prédestination) cả thôi.
Chú thích:
[1] Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung
ương Đảng, sau khi Ban Văn hóa - Văn nghệ so Trần Độ làm trưởng ban bị giải tán
và sáp nhập với Ban Tuyên huấn năm 1989 (talawas)
[2] "Báo chí tự do hay báo chí công cụ"
(bài nói trên đài RFI nhân ngày Tự do Báo chí Quốc tế 3.5.1994, đăng lại
trong Tin nhà mùa Hè, Juillet 1994, trang 1-4)
3/4/2007Nguyễn Ngọc LanNguồn: Tin nhà số 34, Juillet 1998, trang 24-25. In lại trong Hẹn thắp lên - Lời chứng hai mươi lăm năm 1975-2000, trang 299-304, Trình bày xuất bản, Strassboug - Salt Lake City, 2000
.jpg)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét