Lễ hội Halloween trong Ngày
hoàng đạo của Nguyễn
Đình Chính
Không hiểu sao Nguyễn Đình Chính lại đổi Đêm thánh nhân thành Ngày
hoàng đạo [1] - tựa cuốn tiểu thuyết có quy mô đồ
sộ không thua gì Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Sóng gầm của
Nguyên Hồng, Miền Tây của Tô Hoài… xưa nay vốn được xếp hạng thành tựu
tiêu biểu của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, nếu ví mấy cuốn của các lão tiền bối kia giống như cô mậu dịch viên
thời bao cấp thì cuốn của Nguyễn Đình Chính lại là em bia ôm thời kinh tế thị
trường. Khác hẳn vẻ kênh kiệu, đơn điệu, chậm chạp của các em gái cửa hàng ăn
thời tem phiếu, các em tiếp viên bây giờ xinh đẹp, khêu gợi và “hoàn cảnh” hơn
nhiều và thật khó biết vẻ thành thạo kia là thực hay vờ, em phải hành nghề là tự
nguyện hay bó buộc, em là người đạo đức hay phi đạo đức, những tâm sự não lòng
của em là bịa đặt hay có thực?
Đọc Ngày hoàng đạo của Nguyễn Đình Chính cũng giông giống như đi… bia
ôm. Có anh mới trông thấy em đã run đây đẩy, có anh mới ngồi cạnh chưa kịp cho
em đập khăn mát lau mặt đã khăng khăng đòi về, tiếc thay, không mấy anh có gan
ngồi lại, đi đến cùng những cung bậc, những cảm xúc, những nỗi niềm mà nếu
không có sự tương đồng “hoà nhập” không dễ gì em trao tặng và dâng hiến.
Một ngày thong thả, nếu có gan cầm lên cuốn sách dầy cộp này và kiên trì đi
theo dẫn dắt của nó, bạn sẽ thấy bỗng chốc mình rơi vào một cõi nhân gian toàn
những hình nhân dị dạng, chẳng khác gì trong “nhà cười” treo những tấm gương
làm méo mó mọi gương mặt. Đi đầu đám rước rồng rắn những “hồn ma bóng quỷ” là
ông bác sĩ có cái tên trí thức: Trương Vĩnh Cần, khiến người ta tưởng dòng dõi
nhà Trương Vĩnh Ký. Hoá ra không phải, vốn thích cười cợt cõi nhân gian, đặc
tính xuyên suốt cuốn truyện, Nguyễn Đình Chính đặt ngay tên vợ ông là Ngót - “da
đen, răng vẩu hai vai vuông vức, có tật nói ngọng” - nên phải hiểu Cần đây
là “rau cần”. Tuy thế bác sĩ Cần cũng có một “nhân thân” nghiêm chỉnh; dòng dõi
nhà quan, học y, đi bộ đội làm quân y sĩ, vợ vốn cán bộ cốt cán, là tỉnh uỷ
viên, cán bộ cao cấp. Ấy thế mà ngược lại, cứ theo như bà vợ nhận xét tại toà
khi ly dị thì ông ta “bất lực về sinh lý… bất lực về ý chí, hủ bại về đạo đức
và tuyệt vọng hoàn toàn về chính trị…”
Một con người như thế tồn tại cũng không đáng, sao lại là bác sĩ y khoa xã hội
chủ nghĩa? Tuy nhiên, “vậy mà không phải vậy” lại cũng là đặc tính xuyên suốt của
đám nhân vật trong Ngày hoàng đạo. Ừ thì ông Cần “bất lực về sinh lý” đến
mức một em điếm đã từng“chọi sáu thằng xích lô lực lưỡng trong một đêm” và một ả
giang hồ “thua em có một thằng đấy. Nhưng bọn này không phải ba gác xích lô mà
là Tây ria mép đen xì” thay nhau vần vò trong suốt một đêm mà ông bác sĩ vẫn
“ngây đơ” mà chỉ nằm mơ thấy mình “làm chuyện đó”. Cứ tưởng là “vĩnh viễn buồn
thiu” ai ngờ ông bác sĩ vẫn rủ rê được cháu gái 16 tuổi, người dân tộc vào
phòng riêng và làm cháu “cười nói, rên rỉ” khiến vụ hủ hoá bị phát giác và
ông bác sĩ lãnh cái án kỷ luật khai trừ Đảng, đuổi khỏi biên chế, vợ đưa ra toà
ly dị và cơ quan đưa xuống làm việc ở nhà xác.
Mọi diễn tiến rất hợp lý, chỉ tiếc Nguyễn Đình Chính đã bỏ qua không diễn tả
cái “quá trình” chuyển đổi từ “mít ướt” sang “vòi đất nung” của ông bác sĩ
ngoài cái bình rượu bầu khô của cô Ma Thị Thảo, khiến sự việc trở nên kém thuyết
phục. Tuy nhiên cái thủ pháp thậm xưng (hyperbolique) được Nguyễn Đình Chính sử
dụng suốt từ đầu tới cuối sách khiến chuyện đó chẳng còn là cái gì. Chẳng hạn
là người “ốm yếu” nhưng ông bác sĩ vẫn có thể “khạc ra một bãi nước dãi vào lá
cây sống đời xanh biếc. Lập tức cái lá cây héo quặn lại. Lúc bước xuống xích lô
ông lại nhổ một bãi lên nắp cống xi măng. Lập tức nắp cống sủi lên nham nhở…”. Đó
là cái cách tác giả cười cợt vào cuộc đời một cách “thái hiện thực”
(hyperrealisme) chứ đâu phải “liêu trai”? Cũng được thậm xưng như thế, khi người
tố cáo chuyện hủ hoá của bác sĩ Cần, ông y sĩ Sự chết “mặc dù huyệt đã được đào
sâu tới bốn mét… đắp rất kỹ, nén rất chặt vậy mà không hiểu sao cái mùi thối khắm
tanh lợm đó vẫn cứ ngùn ngụt xông qua ván thiên xông qua bốn thước đất mà bốc
lên trời. Cái mùi ấy dữ dằn đến nỗi chỉ một tuần sau đám cỏ xanh rờn quanh ngôi
mộ cháy sém như bị hun lửa. Còn đàn chim sẻ đông nghịt ở nghĩa trang cũng rủ
nhau bay tuốt vào thị xã.…”
Nguyễn Đình Chính cứ thậm xưng như thế để mà cười cợt ở bất cứ chỗ nào - đám hội,
đám cưới, đám giỗ, đám tang… Ở đám tang cấp thành phố của ông giáo sư tiến sĩ
Bùi Thành Công,“bài ‘Hồn tử sĩ’ cử lên nghe không được u buồn sướt mướt
mà lại giật cục như loại nhạc Pop nặng về nhịp điệu và ấn tượng… Trong khi các
nhạc công đang dốc ngược các loa kèn để tống từng bãi nước dãi nước bọt chảy
ròng ròng xuống nền đá trắng thì ông trưởng ban tang lễ bước lên trước máy
mi-cơ-rô cất giọng trầm vang lâm li và oai vệ đọc bài điếu văn dài 108 trang –
một trong những bài điếu văn nổi tiếng nhất trong những bài điếu văn của thập
niên 80 và 90 viết để thương tiếc giới trí thức”. Mắc cười nhất là ông trưởng
ban tang lễ “đủ lịch lãm để đọc một cách oai vệ và lâm li tất cả là 37.800 từ của
108 trang sách in kín chữ đã được anh thư ký riêng soạn thảo hết sức công phu
chọn từng từ rất thận trọng và kín kẽ”. Ông đã “xuống giọng 90 lần thở dài 30 lần
và nghẹn ngào 108 lần…” Cứ như thế Nguyễn Đình Chính “lố bịch hoá” mọi sự
dù nghiêm trang nhất trên cái đất nước mà “luồng gió dân chủ bắt đầu thoát được
ra khỏi cái bình sành tiền kiếp lâu nay vẫn nút chặt cất giữ nó…”
Đám rước điên cuồng đi đầu là ông bác sĩ liệt dương hạ gánh xuống sân ga Thuận
Thiện để diễn một cái trò “loạn luân “khủng khiếp. Bà trưởng ga tên Nhàn đang nằm
trong quan tài kia vốn là vợ liệt sĩ, Phó Bí thư thị uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban thị
xã. Bà đã có tên trong danh sách đào tạo “hạt giống đỏ” nhưng chỉ vì cái án kỷ
luật nên bị tước hết chức vụ, đưa sang công tác ở ga xép. Nguyên bà có một thằng
cháu tên Tuấn là thương binh cụt cả hai chân tới háng; do hoàn cảnh mồ côi cả bố
mẹ bà phải đón về nuôi. Thế rồi một đêm đang ngủ bà “bỗng chồm dậy vì có tiếng
mở cửa nhè nhẹ. Một cái bóng ngắn cũn cỡn đang lộp độp hé cửa len vào. Đó không
phải là một cái bóng người mà là bóng con cóc khổng lồ. Con cóc không có hai
chân sau mà chỉ có hai chân trước. Hai cái chân trước đó bấu chặt vào hai cái
ghế gỗ con tí… cái con cóc đó lết dần về phía giường của tôi… Lên được trên giường
rồi con cóc–người thở một hơi thật dài và nó cứ ngồi chồm chỗm mở to mắt nhìn
tôi. Đó là mặt của một cái xác chết đang bốc cháy… Giờ đây chỉ còn một cái thớt
thịt rần rật toé vọt ra những tia lửa. Và những tia lửa đó bắn vọt sang mắt tôi
khiến tôi bỗng bật lên một tiếng rú nghẹn trong cổ họng rồi tung chăn ngồi phắt
dậy…”
Đó thật là một cuộc làm tình dữ dội nhất, phi luân nhất, gớm guốc nhất trong
kho tàng tiểu thuyết Việt Nam. Mặc dầu Nguyễn Đình Chính mô tả lạnh lùng như một
nhà lập trình nhưng đằng sau đoạn kịch câm đó là một tiếng thét vô thanh lên án
tất cả những ai đã xô đẩy con người tới thảm kịch đó.
Trở lại đám tang nhà đại trí thức, Nguyễn Đình Chính không chỉ giễu cợt ông trưởng
ban tang lễ mà còn để ông bác sĩ Cần lẻn vào nhà quàn thi hài, mở cái nắp thuỷ
tinh đạn bắn không thủng ra, thọc tay vào khám đầu tử thi. “Ngón tay trỏ của
ông bác sĩ Cần bỗng lọt thủm ngay xuống một cái lỗ sâu hút. Bác sĩ Cần giật bắn
người. Ông bật lên: ‘Trời ơi cái lỗ…’”
Một cái lỗ sâu hoắm trong đầu ngài đại trí thức chứng tỏ ngài không có óc.
Nhưng mà óc để làm gì, khi mọi suy nghĩ của ngài đã có người khác nghĩ hộ, chẳng
đúng như chính Nguyễn Đình Chính đã trả lời phỏng vấn
trên talawas mới đây: “Thế nên ông bố tôi, anh Thi, khi còn sống có
nói với tôi thế này: Ở mình nó có sẵn một cái đường ray rồi, mọi người chỉ còn
có một việc là chạy trên đó thôi.”
Một khi chỉ còn mỗi việc là chạy trên đó thôi thì cần gì phải nghĩ ngợi, cần gì
phải có óc. Hoá nên trong đầu thi hài nhà đại trí thức có một cái lỗ hổng to tướng.
Đến thế rồi Nguyễn Đình Chính vẫn chưa tha, ông còn bắt thi hài nhà đại trí thức
để trong quan tài kẽm chỉ sau một đêm đã tiết ra cả một khối nước làm ướt sũng
cả tấn trà khô. Thứ nước đó chính là… nước lã. Hoá ra ngoài khối óc ra, ngay cả
đến bầu máu nóng cũng không tìm thấy trong thân xác đại trí thức.
Dọc đường ăn mày ăn nhặt, bác sĩ Cần còn gặp lắm “quái kiệt”. Nào tướng cướp Thạch
vốn là đặc công bị dồn đuổi đến chỗ giết người cướp của và lãnh án tử hình. Nào
Mùi cá ngạnh lính hải quân trở về làm thuyền trưởng, lấy vợ đẻ ra… ”một cái bọc
lầy nhầy mang hình thù nửa người nửa sứa bể… và thật khủng khiếp chính giữa
cái đống vòi loằng ngoằng chân tay đang mò mẫm quờ quạng ngọ nguậy đó lồi lên một
cái dái bé xíu lành lặn xinh xắn đỏ hồng tươi roi rói. Một cái dái đích thực của
một thằng cu…”. Kỳ ngộ hơn cả là bác sĩ Cần gặp lại con gái y sĩ Sự – người
đã tố cáo chuyện hủ hoá của ông. Đứa con gái này – tên Thương Ơi, lúc mới đẻ ra
đã có “tràng hoa quấn cổ. Mầu cứt xu trắng như sữa. Mùi nước đái thơm lừng
hương quế và nhất là mớ tóc đen dài óng ả tuôn chảy như nước suối rừng…”. Cũng
còn may, Nguyễn Đình Chính vẫn còn chưa tả nước chảy ra từ âm hộ như một nữ thi
sĩ nổi tiếng thời bây giờ. Cái cô bé Thương Ơi này lớn lên gặp lại bác sĩ Cần
lúc ông đang cơ nhỡ, đưa ông về nhà nuôi nấng. Những tưởng quan hệ giữa cô
Thiên Ơi và ông bác sĩ sẽ là quan hệ giữa một thiên sứ với kẻ cùng đường cần cứu
rỗi. Vậy mà không, mặc kệ “cái Đẹp cứu chuộc thế gian”, dường như bị thúc đẩy bởi
cái “mỹ học của libido”, tác giả cho ông cụ già đè sấn cô “thiên sứ” ngay trên
“cái sân gạch bẩn thỉu ướt át tanh nồng mùi rêu non… Và trong cơn khoái cảm tột
độ mù loà ông bác sĩ vẫn còn cảm nhận được rất rõ cái tiếng động đùng đục kỳ lạ
của sự xâm nhập chiếm hữu. Tiếng va chạm khô khốc mà mềm mại của xương háng va
vào xương háng và tiếng lép nhép của da thịt đang vật lên vật xuống nền gạch ướt
sũng…”. Niềm khoái cảm tìm ra “cái Đẹp” trong bùn nhơ như vậy khiến người
ta không khỏi ngờ vực “thi pháp tiểu thuyết” của Nguyễn Đình Chính dựa trên nền
tảng của cái gọi là “mỹ học của… bùn”. Tất nhiên, việc đi tìm và nới rộng những
kích thước mới của con người khác hoàn toàn với việc hạ thấp nó, bởi vậy có một
ranh giới rất mong manh giữa “mỹ học của bùn” với lối viết kích dục nhầy nhụa
nhan nhản trong chợ văn chương hiện nay.
Gánh xiếc điên rồ của Nguyễn Đình Chính còn diễn nhiều trò kinh hãi khác, khiến Ngày
hoàng đạo gợi tới Những linh hồn chết của Gogol. Cuộc đi ăn
mày của bác sĩ Trương Vĩnh Cần có khác gì đi tìm mua “những linh hồn” chết của
Chichikov,nhân viên thu thuế nông nghiệp thời Nga hoàng trong tiểu thuyết nổi
tiếng của văn hào Nga? Những Thạch tướng cướp, Mùi cá ngạnh, y sĩ Sự, Thương
Ơi, Phạm Thị Nhàn, Phạm Văn Cổn… người còn sống, kẻ đã chết nhưng đều là những
nhân vật đeo mặt nạ hoá trang trong một ngày hội Halloween vĩ đại. Bởi lẽ cái
ma quỷ của họ cũng chỉ là cái mặt nạ bên ngoài, còn con người thực bên trong của
họ? Ai mà biết? Ngay cả Nguyễn Đình Chính cũng không biết.
Có lẽ nói như Mùi cá ngạnh - một thằng lính chiến lọc lõi già giặn nhưng lại là
một gã khờ khạo ngô nghê khi trở lại sống đời một gã thường dân… đau như chó
già bị thiến” – là có lý hơn cả. Gã nói: “Cái cuộc đời rối mù bát nháo hỗn độn
này hoá ra dễ hiểu vô cùng. Nó giống hệt cái bãi biển kia và đại dương mênh
mông xa tít dào dạt kia. Trước mũi là cứt đái bẩn thỉu khắm lặm nhưng xa hơn chỉ
một chút xa hơn bao giờ cũng là biển xanh mênh mông trong sạch lúc nào cũng dào
dạt, dào dạt vỗ sóng tới tận chân trời…”.
Có lẽ đó cũng là thông điệp Ngày hoàng đạo muốn gửi tới bạn đọc ngoài
cả ý muốn tác giả. Tuy nhiên, nếu coi tiểu thuyết là một hệ thống chặt chẽ gắn
kết bằng một thứ “ngôn ngữ riêng” thì Ngày hoàng đạo còn có những
trang dễ dãi, dàn trải, như chuyện cô bé Hà bị bán sang Tàu bị lọt ra ngoài kết
cấu của tiểu thuyết. Mặc dầu vậy, Đêm thánh nhân – Ngày hoàng đạo vẫn
là một tác phẩm lớn, hiếm hoi vì tính độc đáo của nó. Tiếc thay, người ta có thể
tâng bốc, làm ồn xung quanh hai “tiểu thuyết” (!) Tuổi hai
mươi yêu dấu và Tiểu long nữ của Nguyễn Huy Thiệp, nhưng với cuốn của
Nguyễn Đình Chính thì không?
Vì sao vậy?
Ở ta, từ thời thành lập nước đã có ba trung tâm văn học lớn là Hội Nhà văn, Viện
Văn học và Nhà xuất bản Văn học. Nửa thế kỷ qua Đảng và Nhà nước đã chi khá tốn
kém “nuôi” ba cơ quan đó. Tiếc thay những đóng góp của họ chưa xứng với đồng tiền
bát gạo của nhân dân bỏ ra. Phần lớn những tiểu thuyết được Hội Nhà văn trao giải
và tổ chức hội thảo đều là hạng hai. Việc thẩm định những giá trị mới, vạch trần
những nguy cơ tạo ra thứ giả văn chương là chức năng của Viện Văn học, tiếc
thay bao năm qua cơ quan này chỉ đẻ ra hàng loạt những Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến
sĩ, Phó Tiến sĩ uốn éo, nhảy múa xung quanh những quy phạm đã lỗi thời của chủ
nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Còn Nhà xuất bản Văn học sau thời các giám đốc
Như Phong và Lý Hải Châu đã rơi xuống địa vị nhà xuất bản… hàng tỉnh. Chính vì
thế trên bản đồ văn học đổi mới vắng bóng những giá trị thực như Đêm thánh
nhân - Ngày hoàng đạo mà đầy rẫy những giá trị giả do phe nhóm tung lên vì
những động cơ ngoài văn chương.
Phải chăng đã đến lúc nhà nước cần “kiểm toán” toàn diện những cơ quan văn học
qua những đóng góp cụ thể của họ để tiền bạc của dân khỏi bị mang ra bảo kê cho
những giá trị giả. Những “vấn nạn văn chương” trong đó có việc đánh giá và sắp
xếp lại bảng giá trị của nó tuy chưa cấp thiết như “vấn nạn tham nhũng và môi
trường”, nhưng đã đến lúc cũng cần bàn tới trong vận hội mới của đất nước.
Chú thích:
[1] Tiểu thuyết của Nguyễn Đình Chính,
Nhà xuất bản Văn học 2006.
12/1/2007Nhật Tuấn
Nhật Tuấn
.jpg)
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét