Thứ Hai, 26 tháng 9, 2022

XXXXLễ hội Halloween trong Ngày hoàng đạo của Nguyễn Đình Chính

Lễ hội Halloween trong Ngày
hoàng đạo của Nguyễn Đình Chính

Không hiểu sao Nguyễn Đình Chính lại đổi Đêm thánh nhân thành Ngày hoàng đạo [1] - tựa cuốn tiểu thuyết có quy mô đồ sộ không thua gì Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Sóng gầm của Nguyên Hồng, Miền Tây của Tô Hoài… xưa nay vốn được xếp hạng thành tựu tiêu biểu của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, nếu ví mấy cuốn của các lão tiền bối kia giống như cô mậu dịch viên thời bao cấp thì cuốn của Nguyễn Đình Chính lại là em bia ôm thời kinh tế thị trường. Khác hẳn vẻ kênh kiệu, đơn điệu, chậm chạp của các em gái cửa hàng ăn thời tem phiếu, các em tiếp viên bây giờ xinh đẹp, khêu gợi và “hoàn cảnh” hơn nhiều và thật khó biết vẻ thành thạo kia là thực hay vờ, em phải hành nghề là tự nguyện hay bó buộc, em là người đạo đức hay phi đạo đức, những tâm sự não lòng của em là bịa đặt hay có thực?
Đọc Ngày hoàng đạo của Nguyễn Đình Chính cũng giông giống như đi… bia ôm. Có anh mới trông thấy em đã run đây đẩy, có anh mới ngồi cạnh chưa kịp cho em đập khăn mát lau mặt đã khăng khăng đòi về, tiếc thay, không mấy anh có gan ngồi lại, đi đến cùng những cung bậc, những cảm xúc, những nỗi niềm mà nếu không có sự tương đồng “hoà nhập” không dễ gì em trao tặng và dâng hiến.
Một ngày thong thả, nếu có gan cầm lên cuốn sách dầy cộp này và kiên trì đi theo dẫn dắt của nó, bạn sẽ thấy bỗng chốc mình rơi vào một cõi nhân gian toàn những hình nhân dị dạng, chẳng khác gì trong “nhà cười” treo những tấm gương làm méo mó mọi gương mặt. Đi đầu đám rước rồng rắn những “hồn ma bóng quỷ” là ông bác sĩ có cái tên trí thức: Trương Vĩnh Cần, khiến người ta tưởng dòng dõi nhà Trương Vĩnh Ký. Hoá ra không phải, vốn thích cười cợt cõi nhân gian, đặc tính xuyên suốt cuốn truyện, Nguyễn Đình Chính đặt ngay tên vợ ông là Ngót - “da đen, răng vẩu hai vai vuông vức, có tật nói ngọng” - nên phải hiểu Cần đây là “rau cần”. Tuy thế bác sĩ Cần cũng có một “nhân thân” nghiêm chỉnh; dòng dõi nhà quan, học y, đi bộ đội làm quân y sĩ, vợ vốn cán bộ cốt cán, là tỉnh uỷ viên, cán bộ cao cấp. Ấy thế mà ngược lại, cứ theo như bà vợ nhận xét tại toà khi ly dị thì ông ta “bất lực về sinh lý… bất lực về ý chí, hủ bại về đạo đức và tuyệt vọng hoàn toàn về chính trị…”
Một con người như thế tồn tại cũng không đáng, sao lại là bác sĩ y khoa xã hội chủ nghĩa? Tuy nhiên, “vậy mà không phải vậy” lại cũng là đặc tính xuyên suốt của đám nhân vật trong Ngày hoàng đạo. Ừ thì ông Cần “bất lực về sinh lý” đến mức một em điếm đã từng“chọi sáu thằng xích lô lực lưỡng trong một đêm” và một ả giang hồ “thua em có một thằng đấy. Nhưng bọn này không phải ba gác xích lô mà là Tây ria mép đen xì” thay nhau vần vò trong suốt một đêm mà ông bác sĩ vẫn “ngây đơ” mà chỉ nằm mơ thấy mình “làm chuyện đó”. Cứ tưởng là “vĩnh viễn buồn thiu” ai ngờ ông bác sĩ vẫn rủ rê được cháu gái 16 tuổi, người dân tộc vào phòng riêng và làm cháu “cười nói, rên rỉ” khiến vụ hủ hoá bị phát giác và ông bác sĩ lãnh cái án kỷ luật khai trừ Đảng, đuổi khỏi biên chế, vợ đưa ra toà ly dị và cơ quan đưa xuống làm việc ở nhà xác.
Mọi diễn tiến rất hợp lý, chỉ tiếc Nguyễn Đình Chính đã bỏ qua không diễn tả cái “quá trình” chuyển đổi từ “mít ướt” sang “vòi đất nung” của ông bác sĩ ngoài cái bình rượu bầu khô của cô Ma Thị Thảo, khiến sự việc trở nên kém thuyết phục. Tuy nhiên cái thủ pháp thậm xưng (hyperbolique) được Nguyễn Đình Chính sử dụng suốt từ đầu tới cuối sách khiến chuyện đó chẳng còn là cái gì. Chẳng hạn là người “ốm yếu” nhưng ông bác sĩ vẫn có thể “khạc ra một bãi nước dãi vào lá cây sống đời xanh biếc. Lập tức cái lá cây héo quặn lại. Lúc bước xuống xích lô ông lại nhổ một bãi lên nắp cống xi măng. Lập tức nắp cống sủi lên nham nhở…”. Đó là cái cách tác giả cười cợt vào cuộc đời một cách “thái hiện thực” (hyperrealisme) chứ đâu phải “liêu trai”? Cũng được thậm xưng như thế, khi người tố cáo chuyện hủ hoá của bác sĩ Cần, ông y sĩ Sự chết “mặc dù huyệt đã được đào sâu tới bốn mét… đắp rất kỹ, nén rất chặt vậy mà không hiểu sao cái mùi thối khắm tanh lợm đó vẫn cứ ngùn ngụt xông qua ván thiên xông qua bốn thước đất mà bốc lên trời. Cái mùi ấy dữ dằn đến nỗi chỉ một tuần sau đám cỏ xanh rờn quanh ngôi mộ cháy sém như bị hun lửa. Còn đàn chim sẻ đông nghịt ở nghĩa trang cũng rủ nhau bay tuốt vào thị xã.…”
Nguyễn Đình Chính cứ thậm xưng như thế để mà cười cợt ở bất cứ chỗ nào - đám hội, đám cưới, đám giỗ, đám tang… Ở đám tang cấp thành phố của ông giáo sư tiến sĩ Bùi Thành Công,“bài ‘Hồn tử sĩ’ cử lên nghe không được u buồn sướt mướt mà lại giật cục như loại nhạc Pop nặng về nhịp điệu và ấn tượng… Trong khi các nhạc công đang dốc ngược các loa kèn để tống từng bãi nước dãi nước bọt chảy ròng ròng xuống nền đá trắng thì ông trưởng ban tang lễ bước lên trước máy mi-cơ-rô cất giọng trầm vang lâm li và oai vệ đọc bài điếu văn dài 108 trang – một trong những bài điếu văn nổi tiếng nhất trong những bài điếu văn của thập niên 80 và 90 viết để thương tiếc giới trí thức”. Mắc cười nhất là ông trưởng ban tang lễ “đủ lịch lãm để đọc một cách oai vệ và lâm li tất cả là 37.800 từ của 108 trang sách in kín chữ đã được anh thư ký riêng soạn thảo hết sức công phu chọn từng từ rất thận trọng và kín kẽ”. Ông đã “xuống giọng 90 lần thở dài 30 lần và nghẹn ngào 108 lần…” Cứ như thế Nguyễn Đình Chính “lố bịch hoá” mọi sự dù nghiêm trang nhất trên cái đất nước mà “luồng gió dân chủ bắt đầu thoát được ra khỏi cái bình sành tiền kiếp lâu nay vẫn nút chặt cất giữ nó…”
Đám rước điên cuồng đi đầu là ông bác sĩ liệt dương hạ gánh xuống sân ga Thuận Thiện để diễn một cái trò “loạn luân “khủng khiếp. Bà trưởng ga tên Nhàn đang nằm trong quan tài kia vốn là vợ liệt sĩ, Phó Bí thư thị uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban thị xã. Bà đã có tên trong danh sách đào tạo “hạt giống đỏ” nhưng chỉ vì cái án kỷ luật nên bị tước hết chức vụ, đưa sang công tác ở ga xép. Nguyên bà có một thằng cháu tên Tuấn là thương binh cụt cả hai chân tới háng; do hoàn cảnh mồ côi cả bố mẹ bà phải đón về nuôi. Thế rồi một đêm đang ngủ bà “bỗng chồm dậy vì có tiếng mở cửa nhè nhẹ. Một cái bóng ngắn cũn cỡn đang lộp độp hé cửa len vào. Đó không phải là một cái bóng người mà là bóng con cóc khổng lồ. Con cóc không có hai chân sau mà chỉ có hai chân trước. Hai cái chân trước đó bấu chặt vào hai cái ghế gỗ con tí… cái con cóc đó lết dần về phía giường của tôi… Lên được trên giường rồi con cóc–người thở một hơi thật dài và nó cứ ngồi chồm chỗm mở to mắt nhìn tôi. Đó là mặt của một cái xác chết đang bốc cháy… Giờ đây chỉ còn một cái thớt thịt rần rật toé vọt ra những tia lửa. Và những tia lửa đó bắn vọt sang mắt tôi khiến tôi bỗng bật lên một tiếng rú nghẹn trong cổ họng rồi tung chăn ngồi phắt dậy…”
Đó thật là một cuộc làm tình dữ dội nhất, phi luân nhất, gớm guốc nhất trong kho tàng tiểu thuyết Việt Nam. Mặc dầu Nguyễn Đình Chính mô tả lạnh lùng như một nhà lập trình nhưng đằng sau đoạn kịch câm đó là một tiếng thét vô thanh lên án tất cả những ai đã xô đẩy con người tới thảm kịch đó.
Trở lại đám tang nhà đại trí thức, Nguyễn Đình Chính không chỉ giễu cợt ông trưởng ban tang lễ mà còn để ông bác sĩ Cần lẻn vào nhà quàn thi hài, mở cái nắp thuỷ tinh đạn bắn không thủng ra, thọc tay vào khám đầu tử thi. “Ngón tay trỏ của ông bác sĩ Cần bỗng lọt thủm ngay xuống một cái lỗ sâu hút. Bác sĩ Cần giật bắn người. Ông bật lên: ‘Trời ơi cái lỗ…’”
Một cái lỗ sâu hoắm trong đầu ngài đại trí thức chứng tỏ ngài không có óc. Nhưng mà óc để làm gì, khi mọi suy nghĩ của ngài đã có người khác nghĩ hộ, chẳng đúng như chính Nguyễn Đình Chính đã trả lời phỏng vấn trên talawas mới đây: “Thế nên ông bố tôi, anh Thi, khi còn sống có nói với tôi thế này: Ở mình nó có sẵn một cái đường ray rồi, mọi người chỉ còn có một việc là chạy trên đó thôi.”
Một khi chỉ còn mỗi việc là chạy trên đó thôi thì cần gì phải nghĩ ngợi, cần gì phải có óc. Hoá nên trong đầu thi hài nhà đại trí thức có một cái lỗ hổng to tướng. Đến thế rồi Nguyễn Đình Chính vẫn chưa tha, ông còn bắt thi hài nhà đại trí thức để trong quan tài kẽm chỉ sau một đêm đã tiết ra cả một khối nước làm ướt sũng cả tấn trà khô. Thứ nước đó chính là… nước lã. Hoá ra ngoài khối óc ra, ngay cả đến bầu máu nóng cũng không tìm thấy trong thân xác đại trí thức.
Dọc đường ăn mày ăn nhặt, bác sĩ Cần còn gặp lắm “quái kiệt”. Nào tướng cướp Thạch vốn là đặc công bị dồn đuổi đến chỗ giết người cướp của và lãnh án tử hình. Nào Mùi cá ngạnh lính hải quân trở về làm thuyền trưởng, lấy vợ đẻ ra… ”một cái bọc lầy nhầy mang hình thù nửa người nửa sứa bể… và thật khủng khiếp chính giữa cái đống vòi loằng ngoằng chân tay đang mò mẫm quờ quạng ngọ nguậy đó lồi lên một cái dái bé xíu lành lặn xinh xắn đỏ hồng tươi roi rói. Một cái dái đích thực của một thằng cu…”. Kỳ ngộ hơn cả là bác sĩ Cần gặp lại con gái y sĩ Sự – người đã tố cáo chuyện hủ hoá của ông. Đứa con gái này – tên Thương Ơi, lúc mới đẻ ra đã có “tràng hoa quấn cổ. Mầu cứt xu trắng như sữa. Mùi nước đái thơm lừng hương quế và nhất là mớ tóc đen dài óng ả tuôn chảy như nước suối rừng…”. Cũng còn may, Nguyễn Đình Chính vẫn còn chưa tả nước chảy ra từ âm hộ như một nữ thi sĩ nổi tiếng thời bây giờ. Cái cô bé Thương Ơi này lớn lên gặp lại bác sĩ Cần lúc ông đang cơ nhỡ, đưa ông về nhà nuôi nấng. Những tưởng quan hệ giữa cô Thiên Ơi và ông bác sĩ sẽ là quan hệ giữa một thiên sứ với kẻ cùng đường cần cứu rỗi. Vậy mà không, mặc kệ “cái Đẹp cứu chuộc thế gian”, dường như bị thúc đẩy bởi cái “mỹ học của libido”, tác giả cho ông cụ già đè sấn cô “thiên sứ” ngay trên “cái sân gạch bẩn thỉu ướt át tanh nồng mùi rêu non… Và trong cơn khoái cảm tột độ mù loà ông bác sĩ vẫn còn cảm nhận được rất rõ cái tiếng động đùng đục kỳ lạ của sự xâm nhập chiếm hữu. Tiếng va chạm khô khốc mà mềm mại của xương háng va vào xương háng và tiếng lép nhép của da thịt đang vật lên vật xuống nền gạch ướt sũng…”. Niềm khoái cảm tìm ra “cái Đẹp” trong bùn nhơ như vậy khiến người ta không khỏi ngờ vực “thi pháp tiểu thuyết” của Nguyễn Đình Chính dựa trên nền tảng của cái gọi là “mỹ học của… bùn”. Tất nhiên, việc đi tìm và nới rộng những kích thước mới của con người khác hoàn toàn với việc hạ thấp nó, bởi vậy có một ranh giới rất mong manh giữa “mỹ học của bùn” với lối viết kích dục nhầy nhụa nhan nhản trong chợ văn chương hiện nay.
Gánh xiếc điên rồ của Nguyễn Đình Chính còn diễn nhiều trò kinh hãi khác, khiến Ngày hoàng đạo gợi tới Những linh hồn chết của Gogol. Cuộc đi ăn mày của bác sĩ Trương Vĩnh Cần có khác gì đi tìm mua “những linh hồn” chết của Chichikov,nhân viên thu thuế nông nghiệp thời Nga hoàng trong tiểu thuyết nổi tiếng của văn hào Nga? Những Thạch tướng cướp, Mùi cá ngạnh, y sĩ Sự, Thương Ơi, Phạm Thị Nhàn, Phạm Văn Cổn… người còn sống, kẻ đã chết nhưng đều là những nhân vật đeo mặt nạ hoá trang trong một ngày hội Halloween vĩ đại. Bởi lẽ cái ma quỷ của họ cũng chỉ là cái mặt nạ bên ngoài, còn con người thực bên trong của họ? Ai mà biết? Ngay cả Nguyễn Đình Chính cũng không biết.
Có lẽ nói như Mùi cá ngạnh - một thằng lính chiến lọc lõi già giặn nhưng lại là một gã khờ khạo ngô nghê khi trở lại sống đời một gã thường dân… đau như chó già bị thiến” – là có lý hơn cả. Gã nói: “Cái cuộc đời rối mù bát nháo hỗn độn này hoá ra dễ hiểu vô cùng. Nó giống hệt cái bãi biển kia và đại dương mênh mông xa tít dào dạt kia. Trước mũi là cứt đái bẩn thỉu khắm lặm nhưng xa hơn chỉ một chút xa hơn bao giờ cũng là biển xanh mênh mông trong sạch lúc nào cũng dào dạt, dào dạt vỗ sóng tới tận chân trời…”.
Có lẽ đó cũng là thông điệp Ngày hoàng đạo muốn gửi tới bạn đọc ngoài cả ý muốn tác giả. Tuy nhiên, nếu coi tiểu thuyết là một hệ thống chặt chẽ gắn kết bằng một thứ “ngôn ngữ riêng” thì Ngày hoàng đạo còn có những trang dễ dãi, dàn trải, như chuyện cô bé Hà bị bán sang Tàu bị lọt ra ngoài kết cấu của tiểu thuyết. Mặc dầu vậy, Đêm thánh nhân – Ngày hoàng đạo vẫn là một tác phẩm lớn, hiếm hoi vì tính độc đáo của nó. Tiếc thay, người ta có thể tâng bốc, làm ồn xung quanh hai “tiểu thuyết” (!) Tuổi hai mươi yêu dấu và Tiểu long nữ của Nguyễn Huy Thiệp, nhưng với cuốn của Nguyễn Đình Chính thì không?
Vì sao vậy?
Ở ta, từ thời thành lập nước đã có ba trung tâm văn học lớn là Hội Nhà văn, Viện Văn học và Nhà xuất bản Văn học. Nửa thế kỷ qua Đảng và Nhà nước đã chi khá tốn kém “nuôi” ba cơ quan đó. Tiếc thay những đóng góp của họ chưa xứng với đồng tiền bát gạo của nhân dân bỏ ra. Phần lớn những tiểu thuyết được Hội Nhà văn trao giải và tổ chức hội thảo đều là hạng hai. Việc thẩm định những giá trị mới, vạch trần những nguy cơ tạo ra thứ giả văn chương là chức năng của Viện Văn học, tiếc thay bao năm qua cơ quan này chỉ đẻ ra hàng loạt những Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Phó Tiến sĩ uốn éo, nhảy múa xung quanh những quy phạm đã lỗi thời của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Còn Nhà xuất bản Văn học sau thời các giám đốc Như Phong và Lý Hải Châu đã rơi xuống địa vị nhà xuất bản… hàng tỉnh. Chính vì thế trên bản đồ văn học đổi mới vắng bóng những giá trị thực như Đêm thánh nhân - Ngày hoàng đạo mà đầy rẫy những giá trị giả do phe nhóm tung lên vì những động cơ ngoài văn chương.
Phải chăng đã đến lúc nhà nước cần “kiểm toán” toàn diện những cơ quan văn học qua những đóng góp cụ thể của họ để tiền bạc của dân khỏi bị mang ra bảo kê cho những giá trị giả. Những “vấn nạn văn chương” trong đó có việc đánh giá và sắp xếp lại bảng giá trị của nó tuy chưa cấp thiết như “vấn nạn tham nhũng và môi trường”, nhưng đã đến lúc cũng cần bàn tới trong vận hội mới của đất nước.
Chú thích:
[1] Tiểu thuyết của Nguyễn Đình Chính, Nhà xuất bản Văn học 2006.
12/1/2007
Nhật Tuấn
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cõi người ta 0000000

Cõi người ta TỰA Nguyên tác Terre Des Hommes Henri Guillaumet Tôi tặng bạn cuốn sách này Saint Exupéry Câu chuyện kể, là chuyện phi công v...