Thứ Hai, 26 tháng 9, 2022

XXXNhịp cầu tri âm văn nghệ: Góp ý với anh Nguyễn Đình Chính

Nhịp cầu tri âm văn nghệ: Góp ý
với anh Nguyễn Đình Chính

Trượng phu không ai xé gan bẻ cật
Phù cương thường hà tất tiêu dao
Bốn bề luân lạc tha phương
Trời Nam nghìn dặm thẳm
Non nước một màu sương
Mộng chẳng thành, danh chẳng toại
Trai trẻ bao năm mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương
Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi
Trời đất mang mang
Ai người tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ trường
Hồ trường hồ trường
Ta biết rót về đâu
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng loạn
Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt
Có người quá chén như điên như cuồng
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút, cát chạy đá bay
Nào ai tỉnh, nào ai say
Chí ta ta biết, lòng ta ta hay
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ
Trời đất cùng sầu với cỏ cây!
("Hồ trường", Nguyễn Bá Trác, 1946)
Thưa anh Nguyễn Đình Chính,
Đọc bài trả lời phỏng vấn và những tâm sự của anh với nhà văn Nhật Tiến, tôi cảm nhận được nhiều hơn những điều anh không (chưa) nói và phải tự hỏi: sắp đến lúc chúng ta tỉnh thoát khỏi cơn hôn mê chưa, và đến bao giờ người Việt mới có thể nói thẳng với nhau trên một diễn đàn công cộng như talawas này mà không sợ hệ lụy? Chẳng nhẽ đến thế kỷ 21 rồi mà chúng ta phải mượn ý những bài thơ từ giữa thế kỷ trước để thốt lên: "Chí ta ta biết, lòng ta ta hay" sao?
Mẹ tôi là một người bạn thâm niên của bố anh. Hơn sáu mươi năm trước, vào thời tiêu thổ kháng chiến chống Pháp, ông Nguyễn Đình Thi cùng 17 anh em khác thay vì về quê tránh bom, còn nán lại ở nhà ông ngoại tôi ở Hà Nội: 68 phố Hàng Bông. Năm 2000, khi mẹ tôi về Hà Nội, bà và ông cụ thân sinh anh cùng nhà thơ Huy Cận đã gặp nhau ở Nhà hát Lớn. Khi ông Huy Cận hỏi mẹ tôi: "Bây giờ bà làm gì?", mẹ tôi không trả lời mà lại nửa đùa nửa thật quay sang hỏi "anh" Thi: "Thế anh có trả lại Nhà hát Lớn cho chúng tôi không?".
Mẹ tôi bây giờ đã 83 tuổi, gần đất xa trời, thật là tình cờ khi tôi gọi điện vấn an bà và đọc cho bà nghe bài viết của anh thì bà không khỏi bùi ngùi nhắc lại giai thoại về bố anh cùng với chuyện văn nghệ vang bóng một thời ở Nhà hát Lớn. Muà Đông năm 1942, bà có chân trong Ban kịch Thế Lữ, được ông Cousseau, Giám đốc Văn hóa Toàn quyền Đông Dương, rất thâm Hán học lại sành Quốc văn, dành cho cả một năm trình diễn (Saison Théâtrale) miễn phí ở Nhà hát Lớn. Sinh viên, học sinh thời ấy, theo lời một người ái mộ kể lại, phải nhao nháo lên: "Có Giáng Kiều diễn hôm nay đúng không?" Khi hết vé họ đánh cả người soát vé, trèo lên máng xối xem cọp. [1]
Tôi thuộc thế hệ đi sau (các đàn anh) mà ngày trước người ta còn gọi là "thành phần mất gốc", đã "trốn chạy theo đế quốc Mỹ" hơn ba mươi năm nay. Như những người tha hương sinh sau đẻ muộn, chúng tôi tuy không góp phần (hay có trách nhiệm gì) trong cuộc huynh đệ tương tàn đó nhưng trong nỗi đau bất lực của mình, chúng tôi vẫn trăn trở theo vận nước nổi trôi và mong ước rằng các thế hệ đàn anh, nếu không soi sáng dẫn đường thì cũng minh giải cho những thế hệ sau những giai đoạn, những biến cố lịch sử mà họ đã sống qua. Về điểm này anh viết: "Về trách nhiệm đối với các thế hệ sau, tôi nghĩ thế hệ chúng ta không hề có đủ tư cách được trao một trách nhiệm minh giải nào cả, khi mà cái thế hệ oái oăm của chúng ta chính là thủ phạm đã tương ra một đống những cái đó. Chúng ta chỉ có quyền xấu hổ và tủi nhục trong im lặng."
Chao ôi, không lý nào bao nhiêu năm sống dưới chế độ cộng sản, con người Việt (không kể những người cộng sản chính tông) đã đánh mất hết bản chất và nhân phẩm của mình, không ai tìm ra một bản vị, một lẽ sống cho riêng họ để một nhà văn như anh phải cay đắng nhận thức mà phán rằng: "Chúng ta chỉ có quyền xấu hổ và tủi nhục trong im lặng"? Trong câu trả lời này, không biết anh có hàm ý nói đến những văn nghệ sĩ của miền Nam không, nhưng theo thiển ý của tôi, họ đã có ít nhiều tự do để nói lên những bức xúc của mình, điển hình trong số này có nhà văn Nhật Tiến, các nhạc sĩ Phạm Duy, Trịnh Công Sơn và nhiều người nữa. Họ không như ông cụ thân sinh anh nói: "Có sẵn một cái đường ray rồi, chỉ còn có một việc là chạy trên đó thôi."
Dĩ nhiên thuộc thế hệ trẻ, tôi không có cơ hội đọc nhiều tác phẩm của miền Nam thời đó, chỉ nhớ một số những tác phẩm miền Bắc tiêu biểu, giá trị của Tự Lực Văn Đoàn mà lớp trẻ chúng tôi được học trong Kim văn, để đến gần đây Hà Nội mới bắt đầu cho tìm lại chỗ đứng. Vở kịch Người kéo màn của Nhật Tiến (viết vào thập niên 60) nói lên mặt trái xã hội miền Nam, với cảnh con rơi và thế thái nhân tình của văn nhân kịch sĩ thuở giao thời bấy giờ, chẳng khác gì mấy với tình huống Hà Nội thời nay, tất bật với đồng Mỹ kim, thời trang, ca nhạc, ái tình và ly dị phóng túng.
Trong thời chiến, khi miền Bắc còn sắt máu với những bản quân ca thì miền Nam ủy mị và hiện thực hơn với những loại nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn như: Khi đất nước tôi thanh bình tôi sẽ đi thăm... Tôi sẽ đi thăm cầu gẫy vì mìn, đi thăm hầm chông và mã tấu..., hay bài thơ "Kỷ vật cho em" do Phạm Duy phổ nhạc: Em hỏi anh bao giờ trở lại, anh trả lời mai mốt anh về... anh trở về bằng chiếc băng ca... Anh trở về bại tướng cụt chân. Ngay cả lời nhạc trong bài "Mấy dặm sơn khê" của đại tá quân lực Việt Nam Cộng hoà, ông Nguyễn Văn Đông, cũng mang tính chất rất thực của chiến tranh: Anh đến thăm áo anh màu thuốc súng, ngoài kia mưa lê thê qua ngàn chốn sơn khê... Mấy ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên... chít lên vành tang trắng.
Thời trai tráng, nhiều lúc thay vì học những dòng thơ tình diễm tuyệt, tôi mê mải nghe "Lời ru đêm": Đại bác đêm đêm vọng về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe. Cho nên tôi còn nhớ mãi lời mở đầu của nhà văn Nguyễn Đình Toàn trong băng nhạc (vàng) "Ca khúc da vàng" của Trịnh Công Sơn do Khánh Ly hát: Đáng nhẽ tất cả những bài hát có trong cuốn băng này đều phải là những bản tình ca, nhưng đó là những bản tình ca không có hạnh phúc... Vì trong suốt 30 năm gió tanh mưa máu đó, còn có chỗ nào cho người ta yêu nhau?
Theo lời anh, có phải đây là một cách "làm văn nghệ ôn hòa và mơ mộng của ông bà tổ tiên chúng ta" không, hay đó chính là di sản của lớp đàn anh để lại cho chúng tôi? Vì chúng tôi là lớp thanh niên sống và lớn lên giữa bom đạn, trong khi thế hệ các anh theo lý tưởng hoang đường của cách mạng đã lỡ làm vỡ tan giấc mơ ôn hòa, đánh mất tuổi trẻ hồn nhiên và lãng mạn của chúng tôi.
Đúng ra, tôi không nên than vãn về phần số "trai trẻ bao năm mà đầu bạc" của mình, vì tôi nhận thức rằng biết bao người miền Bắc trẻ tuổi còn xấu số gấp bội phần khi tóc còn xanh mà họ đã ngủ yên trong lòng mộ tối [2] như Đặng Thùy Trâm hay Nguyễn Văn Thạc. ̣
Có phải vì thế cho nên tuổi trẻ chúng tôi đã quên đi mình đang bước vào buổi xế trưa của cuộc đời và vẫn âu lo đi tìm những vần thơ, những chất trữ tình của thời bố mẹ xa xưa. Tôi tìm về Hà Nội và nghe vang vọng đâu đây mấy câu thơ của Quang Dũng viết hộ cho người bạn thân là Chiêu Dương [3] :
"Mắt trừng gởi mộng ngoài biên ải
Đêm mơ Hà Nội Giáng Kiều thơm"
để rồi bị trù dập cũng vì mấy câu ấy. Tôi tìm về Hà Nội như để tìm câu trả lời như trong một bài hát của Trịnh Công Sơn: "Sẽ có một ngày Hà Nột trả lời cho tôi". Tôi tìm về Hà Nội như tìm về cái đẹp một thời của tài tử giai nhân, tôi hình dung đến thời văn nghệ vàng son của Hà thành, của Nhà hát Lớn khi Ban kịch Thế Lữ trình diễn vở kịch có Giáng Kiều thủ vai chính, làm những tao nhân mặc khách say mê. Nhưng than ôi thời oanh liệt nay còn đâu, vì thay vào chất hoa nhài của văn nhân nghệ sĩ ngày xưa, có phải - như anh Nguyễn Đình Chính nói - nay đã tàn úa?
Tuổi trẻ trong nước hôm nay không ít người vọng ngoại, họ không thích và không cần biết văn nghệ đích thực hay thuần túy Việt Nam là gì; họ bài bác những loại văn hóa cổ truyền; ngay cả những cố gắng trung thực, những tác phẩm văn nghệ có giá trị của lớp đàn anh, họ cũng gọi là dở hơi; có phải vì lớp đàn anh đã lỡ bán đi tính sáng tạo văn nghệ của mình trong thời bao cấp, để bây giờ vẫn có mặc cảm đổi lấy những đơn đặt hàng thực tiễn của kinh tế thị trường theo định hướng cũ rích của chủ nghĩa xã hội? Trong khi đó chúng tôi vẫn cố tìm về cội, nhưng cội đang ở đâu?
Như vậy tôi có lỗi thời không, khi tôi vẫn thích tìm gặp những văn nghệ sĩ trong nước, những người còn kiên trì sắt son với văn hóa Việt, những người còn tìm về ý nghĩa và lẽ sống của dân tộc? Tôi không biết có phải thời cuộc đã làm nhiều sĩ phu Bắc Hà yếm thế không, nhưng tôi vẫn hy vọng rằng những người cầm bút sẽ không quay mặt vào tường, tách xa khỏi cái cõi trần lụy này, và nếu không viết được lên giấy, họ sẽ viết lên trời xanh.
Chú thích:
[1] Giáng Kiều trong Mùa kịch Hà Nội năm 1942 đã đóng những vở sau đây: Tục lụy, Lọ vàng, Khóc lên tiếng cười, Kim tiền (đóng chung với nhà văn Nguyễn Tuân), Kinh Kha.
[2] Hai câu trong bài thơ "Tình sầu" của Huyền Kiêu: Em ơi, chị đẹp đâu/ Chị tôi hoa trắng đầy đầu đã ngủ yên trong lòng mộ tối
[3] Ông Chiêu Dương nhà ở ngoại ô Hà Nội gần hãng dệt, đã mất vào năm 2003, thuở thiếu thời còn là sinh viên đã yêu thầm nhớ trộm mẹ tôi. Ông là bạn thân của nhà thơ Quang Dũng đã nhờ nhà thơ làm thơ Giáng Kiều.

16/1/2007
Nguyễn Khoa Thái Anh
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cõi người ta 0000000

Cõi người ta TỰA Nguyên tác Terre Des Hommes Henri Guillaumet Tôi tặng bạn cuốn sách này Saint Exupéry Câu chuyện kể, là chuyện phi công v...