Vài lời nói lại
với ông Hòa Nguyễn
Trong bài “Vài lời
trao đổi với ông Lữ Phương” (talawas 3-10-2006), tác giả Hòa Nguyễn cho rằng
“ông Lữ Phương không bác bỏ được, ít ra bằng lập luận rõ ràng, thuyết phục, các
lý lẽ ông Đinh Từ Thức đưa ra là miền Bắc đã không tôn trọng hiệp định
Genève, hay đúng hơn cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam đều không tôn trọng hiệp định
này, và miền Nam không bội ước vì không hề ký kết giao ước về việc tổ chức
tổng tuyển cử để quyết định chế độ chính trị (duy nhất) trên phạm vi cả nước”.
Những ai đã đọc kỹ ý kiến của
tôi đều thấy rất rõ cái khía cạnh của vấn đề mà tôi đặt ra để thảo luận
với bài
viết của ông Đinh Từ Thức không phải là như vậy: không phải là miền
Nam hay là miền Bắc bội ước Hiệp định Genève, cũng không phải là vấn đề miền Bắc
có “ý đồ” dùng võ lực để giải phóng miền Nam hay không mà vấn đề là miền Bắc
có toan tính dùng võ lực để thôn tính miền Nam ngay khi Hiệp định Genève vừa ký
kết xong (với sự lén lút quay về của Lê Duẩn khi tập kết ra Bắc) như ông Đinh Từ
Thức đã lập luận hay không.
Tôi cho rằng ngay từ khởi điểm, cách đặt vấn đề kiểu “ông nói gà, bà nói vịt”
như vậy là rất khó trao đổi, nếu không nói là không thể nào trao đổi được.
Ông Hòa Nguyễn đã cố tình bẻ quặt vấn đề cần thảo luận sang một chiều hướng
khác để có thể kể với tôi về cái gọi là “câu chuyện cũ về lịch sử” theo một kịch
bản chính trị đã được ông trình bày như một cuộc độc thoại nội tâm hoàn toàn xa
lạ với tinh thần nghiên cứu, khách quan, có dựa vào tư liệu thực tế để biện luận.
Tôi mong ông hiểu rằng bài thuyết minh ấy chỉ có ý nghĩa với ông thôi. Còn với
tôi thì nó lại chứa đựng rất nhiều khẳng định chủ quan, suy diễn, có thể phản
bác dễ dàng bằng tài liệu, nhưng ở đây tôi không muốn làm việc ấy, chỉ với lý do
đơn giản như đã nói ở trên: tất cả đều lạc đề, cho nên không cần lao vào tranh
cãi, chỉ làm mất thêm năng lượng và thì giờ [1].
Nếu có gì đáng được tôi quan tâm trong điều ông gọi là “câu chuyện cũ về lịch sử”
của ông thì đó là việc ông đã vài lần đụng chạm đến bản thân tôi, không phải ở
bên trong mà là ở bên ngoài vấn đề đang bàn cãi: từng chặp từng chặp ông
đã lôi sự dấn thân chính trị một thời trong quá khứ của tôi vào đó (không biết
qua nguồn thông tin nào) với một thái độ thù địch không giấu giếm. Điều này chẳng
đã bộc lộ khá rõ rệt trong câu ông viết sau đây hay sao: “Khi không sử dụng được
các thế mạnh chính trị, ngoại giao để buộc miền Nam phải chấp nhận tổng tuyển cử,
miền Bắc đã ra lệnh cho các cán bộ còn lại trong Nam "đồng khởi" qua
Mặt trận mà về sau ông Lữ Phương tham gia, và đưa cán bộ, quân chính
quy từ miền Bắc vào, mở đầu cho cuộc chiến khốc liệt, lâu dài”?
Chú ý đến chuyện đó, tôi không thấy cần phải giãi bày với ông lúc nào và với lý
do nào tôi tham gia “Mặt trận” và cũng với lý do nào, vào lúc nào tôi từ giã “Mặt
trận” (và đã làm gì bấy lâu khi từ giã cái gọi là “Mặt trận” ấy), nhưng chỉ muốn
bày tỏ sự nghi ngờ về tính chất nghiêm chỉnh trong cái cung cách gọi là “trao đổi”
của ông thôi. Nói thật, tôi không cho đó là sự trao đổi có tác dụng làm sáng tỏ
một vấn đề đã trở thành lịch sử mà chỉ là dịp để ông phô diễn lập trường chính
trị một cách hằn học với những gì ông cho là không phù hợp với những xác tín
trước sau của mình về chủ nghĩa cộng sản. Tôi hiểu tại sao những điểm cốt yếu
trong bài viết của tôi, với chủ đề “Đàng sau
một câu trả lời…”, nói về quan điểm chống cộng cực đoan của ông Đinh Từ Thức
lại chẳng hề được ông chú ý thảo luận, vì thế tôi cho rằng những điểm cốt yếu
đó nay vẫn còn nguyên ý nghĩa với ông. Nếu ông muốn tiếp tục trao đổi thì hãy
trao đổi về điều đó trước hết.
Chuyện các tài liệu tôi viện dẫn được ông nhắc đến, theo tôi, cũng chỉ với tinh
thần nói trên của ông và vẫn có tác dụng như vậy: chỉ đủ để ông tiếp tục bộc lộ
lập trường chính trị chủ quan đặc biệt của mình, mỗi khi có dịp. Thú thật với
ông, khi đọc những gì ông viết về việc nhà văn Nhất Linh uống thuốc độc tự sát
với những dòng sau đây, tôi không hiểu rõ ý ông là gì: “đối với luật pháp thời
đó, khi thất bại Nhất Linh không nói mình vô tội, nhưng ông chỉ không thể chịu
được chuyện người khác kết án mình vì hành động ông cho là đáng”? Chẳng lẽ theo
ông thì nhà văn Nhất Linh đã nhận là mình có tội vì đã chống đối chính quyền
Ngô Đình Diệm nhưng chỉ vì không muốn bị người khác xử nên đã tự xử?
Phải chăng qua thí dụ này ông muốn biện hộ cho sự chính đáng của đường lối “độc
tài” (mà ông cũng thừa nhận) của chế độ Ngô Đình Diệm trong việc trấn áp và giết
hại những đối thủ không cộng sản của mình? Nhưng giả sử (giả sử thôi) trường hợp
Nhất Linh là đúng đi nữa thì đâu phải vì đó mà ông có thể coi như là không có,
không đáng kể cả một phong trào chống đối đồng tính chất dấy lên mạnh mẽ trong
những năm 1959-1960, tiếp diễn sau đó một cách cực kỳ căng thẳng với phong trào
Phật giáo, cuối cùng tạo ra hợp lực đưa đến sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm
trong cuộc đảo chính 1963? Chẳng lẽ ông muốn khẳng định dứt khoát rằng những
mâu thuẫn, thối nát của chế độ Ngô Đình Diệm đã không góp phần gì vào sự nổi dậy
của cộng sản như tình báo Mỹ đã báo cáo và được khẳng định trong Hồ sơ mật của
Ngũ Giác đài?
Việc ông khuyên tôi không nên “sử dụng cái chết của Thích Quảng Đức và Nhất Chi
Mai” để biện minh cho hoạt động của mình chống lại chính quyền miền Nam thời đó
– vì cho rằng hai người này đã chết vì niềm tin tôn giáo riêng của họ không cùng
đường với tôi – thật sự chỉ là một thứ lập luận hết sức giả tạo và bè phái. Nếu
tôi nói với ông rằng trước tôi và nhiều bạn bè hồi đó đã qua con đường đấu
tranh của phong trào Phật giáo mà đến với phong trào cộng sản thì chẳng lẽ ông
cho là không thể được? Và với những thanh niên trí thức khởi đầu chẳng biết cộng
sản là gì nhưng qua cái chết của Nhất Chi Mai (người theo gương mục sư Morisson
tự thiêu) – tất nhiên không một mình Nhất Chi Mai là đủ – để phản đối cuộc chiến
tranh huỷ diệt của Mỹ ở Việt Nam, đã dần dà xáp lại gần rồi đi đến chỗ cùng
hành động chung với những người cộng sản đòi Mỹ rút quân khỏi đất nước, chẳng lẽ
ông cho rằng điều đó không phải là một thực tế và do đó không thể viện dẫn như
chứng liệu của một thời?
Hiển nhiên trước những câu hỏi ấy ông vẫn có thể đưa ra lý do này nọ để trả lời.
Nhưng về việc ông tỏ ra là một nhà nghiên cứu uyên bác để phê bình việc tôi sử
dụng tài liệu thì cho tôi được bày tỏ sự nghi ngờ không dè dặt. Ông cho rằng vì
tôi “chỉ lấy từ các tài liệu của Ngũ Giác đài, hay Bộ Ngoại giao Mỹ là những cơ
quan thừa hành, thực hiện theo chức năng đã định cho các sách lược do tòa Bạch ốc
đề ra về cuộc chiến ở Việt Nam” cho nên những tài liệu mà tôi sử dụng đó
là “không có giá trị bao nhiêu”, từ đó ông đưa ra lời khuyên nên “sử dụng
các tài liệu cho thấy nhiều đời tổng thống Mỹ, từ Truman đến Nixon (từ 1949 đến
1973) đã có chính sách gần như nhất quán về Việt Nam và Đông Dương để dễ thuyết
phục hơn khi nói về bản chất của cuộc chiến Việt Nam trong suy tính của người Mỹ
(như Mỹ có chủ trương "xâm lược" Việt Nam hay không). Tôi không hề
khước từ lời khuyên phải tìm đọc thêm nhiều tài liệu khác để hiểu rõ thêm “câu
chuyện về lịch sử” đã qua của ông, nhưng riêng về việc nói trên thì tôi xin được
nói thẳng với ông rằng những nhận định ấy của ông, xét về mặt nghiên cứu, là
quá chủ quan và liều lĩnh.
Tôi dám khẳng định điều đó là vì tôi đoán chừng có lẽ ông chưa rờ tới cái cuốn
sách mang nội dung Hồ sơ mật của Bộ Quốc phòng Mỹ mà tôi đã sử dụng trong bài
tranh luận với ông Đinh Từ Thức. Nếu trực tiếp lật vào bên trong cuốn sách dày
677 trang đó, ông sẽ thấy sự liều lĩnh của ông là như thế nào: tuy chủ yếu dựa
vào kho tài liệu của Bộ Quốc phòng để viết nên Hồ sơ mật, nhưng (như Heindrich
Smith đã viết trong lời tựa của cuốn sách) trong cái kho tài liệu của Bộ Quốc
phòng ấy vẫn có vô số những tài liệu tràn về từ Nhà Trắng, Bộ Ngoại giao, Cục
Tình báo Trung ương, Bộ Tham mưu liên quân… tuy còn thiếu sót nhiều mảng, nhưng
vẫn đủ tin cậy để dựng lại toàn bộ đường lối can thiệp của Mỹ vào Việt Nam từ
1950 đến bấy giờ (giữa năm 1967), đặc biệt nhất là thời kỳ Mỹ bắt dầu dính líu
đến Đông Dương.
Có một điều cần nói thêm về Hồ sơ này. Những gì tôi biết được về nó là qua cuốn
sách mang tên The Pentagon Papers, do The New York Times sưu tập,
bình luận (kèm theo một số tài liệu nội bộ chủ yếu của các cơ quan trực thuộc
Nhà nước Mỹ, liên quan đến vấn đề), xuất bản dưới hình thức phổ thông bìa mỏng
vào tháng 7-1971 [2]. Tất nhiên dưới hình thức xuất hiện này,
nội dung cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, dù đã hiện ra với những nét chính
yếu nhưng vẫn còn thiếu sót. Tuy vậy, những ai quan tâm đến tư liệu về cuộc chiến
tranh Việt Nam đều biết rằng sự thiếu sót ấy ban đầu của Hồ sơ ấy đã được khắc
phục bằng sự đăng tải toàn bộ nội dung của nó trong những năm sau đó (bây giờ
có thể tìm thấy trên mạng toàn cầu). Đề nghị ông hãy tìm đọc đầy đủ để thấy cần
thận trọng hơn.
Còn nhiều sai lầm khác trong bài viết của ông, có thể kể thêm để bổ sung cho
“vài lời nói lại” này, nhưng thiết tưởng bao nhiều đó cũng tạm đủ rồi. Nếu ông
muốn tiếp tục thì tôi sẽ chiều ý ông bàn luận thêm. Chỉ với một vài đề nghị
tiên khởi. Trước hết đề nghị ông chú ý bám sát khía cạnh của vấn đề đặt ra để tránh
bớt lạc đề đi một chút! Thứ nữa, ông hãy dằn bớt sự hằn học quá đáng với những
người cộng sản (nhất là mấy ông “cựu” chiến binh) để nhìn lại những chuyện đã
qua một cách nhiều mặt hơn, thanh thản hơn – bây giờ tình thế đã khác xưa lắm rồi.
Cuối cùng, đề nghị ông tỏ ra chính xác hơn trong vấn đề tư liệu để tránh được
chừng nào hay chừng đó những sai lầm sơ đẳng trong những trao đổi mà chúng ta đều
mong muốn được gọi là nghiêm chỉnh, dù cách nhìn khác nhau, vẫn có thể mang lại
bổ ích cho hai bên - quan trọng hơn nữa - cho những người đọc không đứng về bên
nào cả.
Chú thích:
[1] Cách lập luận của ông Hòa Nguyễn làm
tôi liên tưởng đến một khái niệm được ông Phạm Quang Tuấn gọi là "luận cứ
người rơm" (strawman arguments ) bị giới nghiên cứu phương Tây xem là “thủ
đoạn thông thường nhất của những người tranh luận kém cỏi”, “không ‘đánh’ thẳng
vào luận lý của đối thủ mà làm một người nộm thay thế rồi đánh vào đó cho... chắc
ăn”. Xem Phạm Quang Tuấn, “Alexandre
de Rhodes: Tổng kết và trả lời ông Bùi Kha” (talawas 22-5-2006).
[2] Xin được dẫn lại một chú thích về tài liệu mật
này trong một bài viết của tôi mang tên “Chiến
tranh Việt Nam: Chủ quyền quốc gia, xung đột ý thức hệ và hoà giải dân tộc” (talawas
30-5-2005): “The Pentagon Papers do Bentam Books xuất bản năm 1971
theo bản của The New York Times. Đây là công trình của 36 tác giả giấu
tên (do Mc. Namara, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ thời Johnson chỉ thị thực hiện),
đa số là nhân viên dân sự và quân sự trong trong chính quyền Mỹ, khởi đầu từ giữa
1967, mất một năm rưỡi mới xong và mang tên là Lịch sử tiến trình tạo lập
và quyết định của Hoa Kỳ về chính sách Việt Nam, dài hơn 7000 trang, gần một
triệu rưỡi chữ về phần kí sự lịch sử cộng thêm một triệu rưỡi chữ tài liệu. Phúc
trình đã vạch rõ chính sách của Hoa Kỳ với Đông Nam Á từ những lời tuyên bố của
Tổng thống Roosevelt tới giai đoạn khai diễn cuộc hòa đàm về Việt Nam vào mùa
hè 1968. Hồ sơ bí mật này đã bị Daniel Ellsberg, một nguời góp phần soạn thảo,
tiết lộ, được The New York Times, The Times, The Washington Post thay
nhau đăng tải vào khoảng giữa tháng 6-1971. Nhà thơ Diễm Châu (lúc bấy giờ cũng
có bút hiệu Võ Hồng Ngự) của tạp chí Trình bày ở Sài Gòn đã dịch một
phần (từ thời Truman, sau lá bài Bảo Đại cho đến thời Kennnedy, sau khi Diệm đổ),
đăng liên tục từ số 26 tháng 8-1971 đến số tháng 9-1972. Đây là một tài liệu phải
có cho bất cứ ai muốn nghiên cứu về chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.”
[Ghi chú thêm: có tin cho biết Daniel Ellsberg (sinh năm 1931), người tiết lộ Hồ
sơ mật của Ngũ giác đài cho báo chí Mỹ năm 1971, đã được Hội đồng giải thưởng
Alternative Nobel của Thụy Điển ngày 28-9-2006 quyết định trao giải này cho
ông, với lý do Daniel là người “đã chấp nhận những rủi ro đáng kể để đặt sự thật
và hoà bình lên trên hết và đã cống hiến đời mình tạo ra nguồn cảm hứng để người
khác noi theo” (Xem http://www.ellsberg.net/)].
Sài Gòn, 5/10/2006Lữ Phương


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét