Thứ Hai, 26 tháng 9, 2022

Những hành trình qua trống rỗngXXX

Những hành trình
qua trống rỗng

Về tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương
Chúng tôi thấy cần nhắc lại một điều rằng các cuốn tiểu thuyết trước hết là những sản phẩm có ý thức, của ý thức và có tính mục đích xác định - đó là những hành vi nhận thức. Người ta thường coi điều trên là quá hiển nhiên đến nỗi gần như mất cả ý nghĩa, kiểu như “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. Nhưng vẫn xảy ra tình trạng người ta công khai nói về một cuốn tiểu thuyết một cách thiếu tôn trọng, làm như đó là một thứ thuộc loại “tiên thiên bất túc”, làm như đó không phải là một trong những biểu thị quan trọng nhất của cái vận động tối cao - vận động nhận thức.
Chúng tôi thấy rằng có một mối quan tâm về ý thức xuyên suốt các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương cho đến nay. Tác giả này cho thấy anh cố gắng nắm bắt và mô tả ý thức thông qua kinh nghiệm và suy tưởng. Các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương là những suy tưởng nhiều hơn là những câu chuyện, trong khi những câu chuyện ở đó thường đặc trưng với những yếu tố tượng trưng, huyền hoặc - mà những yếu tố tượng trưng và huyền hoặc đó đều xuất sinh từ tín ngưỡng dân gian. Cái “logic” dẫn truyện của Nguyễn Bình Phương do đó là “logic” của cái tượng trưng huyền hoặc - chính là tính hợp lý của huyền thoại với tư cách là các tập hợp những lớp trầm tích văn hoá quá khứ. Chẳng hạn như hình ảnh con cú trôi sông trong tiểu thuyết Thoạt kỳ thuỷ (năm 2004); theo đó, Nguyễn Bình Phương đưa cả câu chuyện lịch sử tưởng tượng của một cái làng và mấy cuộc đời kỳ lạ ở đó vào khoảng thời gian từ lúc con cú bị bắn bị thương rơi xuống sông, trôi qua bên cạnh làng, đến lúc nó chết ở cái đập nước ngay phía dưới cái làng ấy. Thời gian là một hiện thân của logic hay tính hợp lý, và thời gian huyền thoại lại là biểu tượng về chính bản thân thời gian - dù ở cấp độ nào, hay với cả hai cấp độ biểu tượng đó thì, như nhà triết học Pháp Paul Ricoeur đã nói, thời gian luôn là cái thời gian có nhân chứng, thời gian do một ý thức trải nghiệm; rốt cục, đó không gì hơn là một chứng từ về ý thức. Bên cạnh đó thì hình ảnh con cú có thể xem là dẫn xuất từ ý niệm về thời gian ấy, mặc dù thực tế có vẻ là hình ảnh con cú gợi lên nhiều hơn về tính biểu tượng. Con cú ở đó là một biểu tượng tín ngưỡng dân gian, xét theo ngữ cảnh của cuốn tiểu thuyết đó, và có ý nghĩa tượng trưng cho Điềm báo, hơn nữa, là một điềm gở. Với ý nghĩa ấy, hoàn toàn có thể thấy rằng nó cũng tượng trưng cho ý thức, bởi lẽ nó mang đến khả năng hay lời cảnh báo - tức là khả năng nhận biết hay tiên đoán - thuộc về số những năng lực tiêu biểu nhất của ý thức.
Chúng tôi nhắc lại đôi chút về cấu trúc tượng trưng trong cuốn tiểu thuyết trước của Nguyễn Bình Phương là bởi nhận thấy tác giả vẫn sử dụng cái mô hình cấu trúc đó trong cuốn tiểu thuyết mới đây của anh, cuốn Ngồi (Nxb Đà Nẵng, 2006).
Cũng cần phải nói thêm rằng tất cả những cái tượng trưng huyền hoặc mà tác giả tiểu thuyết sử dụng đến thì đều đã được tiểu thuyết hóa, ở đây có nghĩa là đã được nhào nặn thay đổi bởi một ngữ cảnh cụ thể của một câu chuyện cụ thể; được cấp cho một tính mục đích mà không phải lúc nào cũng phù hợp với ý hướng vốn có trong những mẫu gốc của huyền thoại bị/được sử dụng (thí dụ hình ảnh con cú đã nêu trên). Cùng lúc thì việc đưa lại các lớp tích tụ đặc thù của văn hóa quá khứ đó vào các ngữ cảnh truyện cũng là việc làm cho chúng tươi mới lại, hoạt động lại trong một môi trường hư cấu - chính là cái môi trường đã hình thành nên huyền thoại qua các thời xưa. Sự khác biệt quan trọng nhất nằm ở đó: huyền thoại hay các hình ảnh tượng trưng, các motif huyền hoặc đều đã có hàng ngàn năm trải nghiệm của ý thức, trong khi một văn bản cụ thể sử dụng lại những tượng trưng và huyền hoặc ấy chỉ là một trải nghiệm cho nên không bao giờ thâu tóm hết được các ý nghĩa vốn có. Tình trạng đa nghĩa thật sự ở các hình ảnh tượng trưng cổ xưa mà văn chương nay dùng lại - cụ thể như các tượng trưng có nguồn gốc tín ngưỡng dân gian - là rất hiếm có. Thường thì chỉ có một vài ý nghĩa khái quát nhất sẽ thực sự được làm sống động lại. Chính trên chiều hướng đó mà chúng tôi cho rằng những tượng trưng và huyền hoặc trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương là biểu thị về mối quan tâm, về một nỗ lực nắm bắt cái ý thức trong những tình huống của thực tại đương thời.
Tiểu thuyết Ngồi có một cấu trúc tượng trưng đặc thù: mở đầu là hình ảnh một người ngồi trong tư thế suy tưởng như một pho tượng La Hán dưới chân một cây cột đồng cao ngất; người này nhìn thấy hình bóng già nua của mình trong mắt của một con chim chèo bẻo đã chết; phong cảnh xung quanh người này được mô tả như thuở khai thiên lập địa trong huyền thoại; người này thoạt đầu không có tên (các đại từ chủ ngữ chỉ y đều là dấu “...”); rồi những đàn chim đi trên phù sa non để những dấu chân như chữ viết; thế rồi cái tên của y bỗng hiện dần lên, từng âm từng chữ một, sau những loạt hình ảnh tượng trưng dẫn đến sự xuất hiện cái tên Giao Chỉ; từng chữ xuất hiện, từ phụ âm cuối, lấp vào các khoảng “...” khiến hình thành cái tên nhân vật là Khẩn; ngay sau đó là một câu được trình bày như câu thơ, rất mơ hồ, tạo ấn tượng như tất cả bị cuốn đi, không rõ đi đâu, nhưng rất xa; thế rồi, đến cảnh cuối của tiểu thuyết, nhân vật Khẩn ngồi xổm xuống bên gốc một cây cột đèn tín hiệu giao thông ở một đầu phố, lần lượt nhìn vào những khuôn mặt người đi qua, thấy ở họ những gương mặt tượng trưng cho thế giới người “hỉ nộ ai lạc” và cuối cùng thấy lại hình ảnh của mình như đã mô tả ở phần 1, với cái tên cứ mất dần từng chữ để lại chỉ còn là dấu “...”.
Toàn bộ được chia thành 49 phần, với Phần 1 như đã nói ở trên. Nhân vật trung tâm chính là nhân vật Khẩn, luôn bị phân tâm bởi những cơn đau đầu bí ẩn thường gắn với một giấc mơ - ký ức về mối tình đầu với một cô gái tên Kim. Bắt đầu được kể ngay từ Phần 2, giấc mơ này xuyên suốt câu chuyện cho đến lúc người vợ không giá thú của Khẩn là nhân vật Minh quyết định mặc vào một chiếc áo kỳ lạ mà cô biết rằng sẽ làm cô biến mất. Tất cả những lần xuất hiện của giấc mơ này đều trải ra trong những khung cảnh như là tiền kiếp và như huyền thoại, trong đó rõ nhất là đoạn Khẩn và Kim nhập vào vai Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa. Trường đoạn huyền thoại này là gợi ý rõ ràng nhất về ý tưởng rằng họ - các nhân vật ở đây - đều dường như là những hậu thân của Ai đó trong quá khứ, rất trực tiếp, nhưng xa xăm mờ mịt chẳng biết đâu mà lường.
Có thể thấy cái bộ khung cấu trúc như một gợi ý không chút khách sáo: hình ảnh cây cột đồng với đống đá quanh chân (cột đồng Mã Viện chăng?- nhân vật Khẩn cũng bê một hòn đá đập vào cái cột này nhưng thấy chẳng “xi-nhê” gì!); hình ảnh con người già nua lão thực ngồi như một vị La hán - chứ không phải ngồi theo kiểu pho tượng “Người tư duy” nổi tiếng của ông Rodin - tức là thế ngồi suy tưởng cũng nổi tiếng của những bức tượng phía sau chính điện chùa Tây Phương; và 49 phần câu chuyện gợi đến khoảng thời gian thiêng “thất tuần” hay 49 ngày - thời gian để cho một sinh linh chuyển hóa sang cõi khác/ kiếp khác hay siêu thoát sau khi đã chết đi.
Trong phần đương đại của câu chuyện, tức thời hiện tại của nhân vật Khẩn, còn có một loạt những chi tiết gợi ý khác về những mối liên hệ xuyên không - thời gian tương tự như thế từ các nhân vật bạn bè, tình nhân của nhân vật Khẩn, từ những motif tín ngưỡng dân dã như “tinh rồng” (ở Hồ Tây), bướm - hồn ma, v.v... Tất cả khiến ta thấy rằng cái cấu trúc tượng trưng của câu chuyện này được phát triển trên tiền đề luận thuyết về Luân hồi và Đầu thai của nhà Phật - một thế giới quan hết sức đặc thù và đã ăn sâu vào, tạo nên màu sắc triết lý nhân sinh và hội tụ rất nhiều những biểu hiện của tín ngưỡng dân gian cả ngàn năm nay, sẽ rất phức tạp nếu muốn phân định các ranh giới của cội nguồn và ảnh hưởng. Chính vì thế mà không thể xem các mối liên hệ giữa cấu trúc tượng trưng huyền hoặc của Ngồi với các truyền thuyết, huyền thoại và luận thuyết tôn giáo hữu quan ở đây theo kiểu các liên hệ nhân quả hay lý tính. Những luận thuyết về Luân hồi hay Đầu thai đều đưa ra những suy luận chặt chẽ không thể bác bỏ trong ngữ cảnh niềm tin riêng của mình, và những suy luận ấy nói cho cùng sẽ mô hình hóa thực tại cũng rất chặt chẽ, theo các nhà toán học là kiểu mô hình ánh xạ 1 - 1. Tín ngưỡng dân gian về hồn ma, về quỉ thần cũng hội tụ về đường chân trời tôn giáo ấy. Trong khi đó, tiểu thuyết Ngồi sử dụng ba yếu tố cấu trúc tượng trưng (ở mức gợi ý) là Đầu thai, Hồn/ Ma/ Thần và Vật linh nhưng đã không (hay không thể) hội tụ các yếu tố đó lại. Chưa kể, trong cấu trúc đó còn có phần nửa cổ sử nửa huyền thoại hay truyền thuyết - những biểu tượng có sức gợi rất lớn, nhưng cũng chỉ mới dừng ở đó thôi.
Hãy hình dung toàn bộ khối sức nặng tâm linh đó trút vào những hình hài “người trần mắt thịt”, mà trong phạm vi câu chuyện này, không ai trong số họ tỏ ra nhận thức được cái di sản vừa đồ sộ vừa hữu cơ xác thịt vừa mờ ám như thế.
Trong tiểu thuyết này, chỉ có một mình nhân vật Khẩn có vẻ lờ mờ đoán nhận được những dấu hiệu tượng trưng về tiền thân tiền kiếp của mình (mà cũng chỉ giả sử là thế !). Quá trình Nhận ra ấy mang một dáng vẻ đầy tham vọng, ngụ ý Giác ngộ. Nhưng điều đó đã tới hay chưa? có đến hay không? - hoàn toàn chỉ có câu trả lời của những âm thanh trống rỗng “cốc cốc cốc” (những đoạn “cốc cốc” dài và ngắn nối nhau ở những kết đoạn của mười tám phần trong cuốn sách).
Nhân vật Khẩn đã có một hành trình tượng trưng qua thân phận và hiện kiếp của mình cho đến lúc anh ta bải hoải ngồi xuống chỗ đầu đường, tự nhủ biết thế này thì cứ ngồi luôn từ trước… Sự phủ nhận đó đối với hiện kiếp hiện tại không phải là điểm kết thúc. Đó là sự khởi đầu một hành trình khác với niềm mong muốn khá mơ hồ rằng nó sẽ không trống rỗng về ý nghĩa như toàn bộ câu chuyện đã được kể. Anh ta bác bỏ toàn bộ câu chuyện đó, bác bỏ tư cách hiện thực của cả chính mình.
2/2/2007
Nguyễn Chí Hoan
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cõi người ta 0000000

Cõi người ta TỰA Nguyên tác Terre Des Hommes Henri Guillaumet Tôi tặng bạn cuốn sách này Saint Exupéry Câu chuyện kể, là chuyện phi công v...