Thứ Ba, 27 tháng 9, 2022

Trao đổi tiếp với Đông LaXXX

Trao đổi tiếp với Đông La

Tôi cứ đắn đo mãi, không biết có nên tiếp tục trao đổi với Đông La nữa không. Nhưng rồi phải quyết định: đành làm phiền bản báo và độc giả bằng ít dòng nữa vậy, kẻo lại mang tiếng là thiếu trách nhiệm và thiếu tôn trọng người đối thoại. Vì qua câu mở đầu đầy tự tin này “Để talawas không tốn “giấy” và làm mất thì giờ của độc giả, tôi chỉ viết thêm vài ý với TS Chu Văn Sơn về Xuân Diệu”, tôi e rằng anh vẫn yên chí với những ý kiến chưa thoả đáng của anh xung quanh vấn đề mà cả hai cùng quan tâm.
Trong ý kiến của Đông La lần này, anh thừa nhận Xuân Diệu lớn bởi những đóng góp nghệ thuật đối với Thơ Mới, nhưng không thừa nhận Xuân Diệu lớn về tư tưởng. Vì theo những am hiểu của anh về Xuân Diệu, thì thi sĩ này chỉ đáng nói ở giai đoạn trước cách mạng, mà giai đoạn ấy là giai đoạn thơ tình, và ở đó, tư tưởng “tận hưởng, tận hiến” của Xuân Diệu chỉ bó hẹp trong tình yêu nam nữ mà thôi.
Tôi không qui kết thành những nhược điểm về kiến thức hay về phương pháp tư duy, vì đó là những thứ to tát và rất dễ oan cho người đối thoại với mình, khi toàn bộ lời phát biểu của người ấy chỉ vỏn vẹn trong một “ý kiến ngắn”. Vậy, chỉ xin nói trực tiếp vào những điểm chưa thoả đáng (và cũng chỉ vài điểm tiêu biểu) thôi.
1. Đông La viết: “Như vậy nói đến đặc trưng “tận hiến, tận hưởng” của thơ Xuân Diệu là phải nói đến giai đoạn thơ tình thời Thơ Mới của ông, kiểu “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”!
Sau cách mạng (1945), giai đoạn “Nguời thay đổi đời tôi, người thay đổi thơ tôi” (Chế Lan Viên), thơ ca từ khoảng hẹp của “cái Tôi tình yêu nam nữ” được kéo ra ngoài muôn màu muôn vẻ của cuộc sống.”
Trong hai câu này có mấy điều bất ổn. Thứ nhất, đúng là “đặc trưng ‘tận hiến, tận hưởng’ của thơ Xuân Diệu” bộc lộ rõ nhất ở thời Thơ Mới, nhưng đâu chỉ có ở thời Thơ Mới. Suốt cả đời thơ ấy, cái Tôi Xuân Diệu vẫn trung thành với chủ trương tận hưởng và tận hiến. Và không chỉ riêng trong lĩnh vực hẹp là tình yêu nam nữ, mà còn rộng lớn hơn, trong tình yêu dành cho toàn bộ cuộc đời. Không phải ngẫu nhiên mà tổng kết toàn bộ cuộc đời mình, cái Tôi ấy đã hình dung mình như một quả cam như thế này: “Ồ! Quả cam này đà vắt kiệt / Hiến cho non nước, hiến đời thân” (Chấp nhận). Thứ hai, có thể xem thơ tình (tình yêu nam nữ) là phần đặc sắc của Xuân Diệu trước cách mạng thì đúng, nhưng nếu xem toàn bộ giai đoạn thơ Xuân Diệu trước cách mạng chỉ là “giai đoạn thơ tình” không thôi là không đúng. Câu thơ anh viện dẫn để minh hoạ đó là thơ tình Xuân Diệu lại càng không đúng, thậm chí nó đã phản lại anh. Bởi, không cần có những am tường toàn bộ Xuân Diệu theo lối của Đông La, chỉ cần tìm đọc cuốn sách giáo khoa Văn lớp 11 thôi, cũng biết câu ấy trong bài “Vội vàng”, không phải bài thơ về tình yêu nam nữ, mà là về tình yêu sự sống nói chung. Câu ấy ở đoạn quen thuộc sau: “Ta muốn ôm: /Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn /Ta muốn riết mây đưa và gió lượn / Ta muốn say cánh bướm với tình yêu / Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều / Và non nước, và cây, và cỏ rạng / Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng / Cho no nê thanh sắc của thời tươi / Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!”. Có thể nói riêng giọng điệu thơ ở đây là giọng hổn hển kiểu yêu đương, nhưng không thể nói chung đó là thơ tình yêu nam nữ được. Thứ ba, xem cái Tôi trong thơ trước cách mạng chỉ là “cái Tôi tình yêu nam nữ” cũng không đúng. Không cần phải viện dẫn nhiều làm gì, chỉ đơn cử vài trường hợp quá quen thuộc. Xin được hỏi Đông La, có thể xem cái Tôi Thế Lữ trong “Nhớ rừng”, cái Tôi Vũ Đình Liên trong “Ông đồ”, cái Tôi Huy Cận trong “Tràng Giang”… là “cái Tôi tình yêu nam nữ” được sao?
Chung qui, ba điểu bất ổn này cho thấy: một là, Đông La nắm không chắc về thơ Xuân Diệu; hai là, Đông La cũng nắm chưa thật chắc về Thơ Mới.

2. Đông La cũng viết: “Còn xét về tư tưởng ‘tận hiến’ của thơ Xuân Diệu nói chung thì thơ Xuân Diệu không thể so sánh được với thơ của các thế hệ các nhà thơ trực tiếp tham gia kháng chiến. Vậy nếu coi ‘tận hiến’ với nghĩa cao cả là tiêu chuẩn để xét thơ lớn bé thì thơ Xuân Diệu thuộc loại ‘bé’ chứ không ‘lớn’”.
Ý kiến trên đây thì không ổn trong cách xem xét tư tưởng của một tác giả.
Thứ nhất, xem xét tư tưởng mà theo lối xé lẻ ra như vậy thì đâu còn là tư tưởng nguyên vẹn. Đúng là, nếu chỉ chủ trương “tận hiến” không thôi, thì Xuân Diệu thuộc loại bé, và chỉ chủ trương “tận hưởng” không thôi, thì Xuân Diệu càng bé. Đơn giản vì chỉ có một trong hai vế, thì đằng nào cũng chỉ phiến diện. Nhưng tư tưởng Xuân Diệu có phải xé lẻ ra thế đâu. Chủ trương của Xuân Diệu là “tận hưởng và tận hiến” như hai mặt biện chứng và toàn diện, làm nên một quan niệm toàn vẹn kia mà. Ông lớn chính vì sự toàn vẹn ấy. Thứ hai, “thơ của các thế hệ các nhà thơ trực tiếp tham gia kháng chiến” có thể mạnh ở vế “tận hiến”, nhưng chính vì họ thiếu cái vế “tận hưởng” nên họ không thể có sự toàn vẹn để ta đem so “lớn-bé” với Xuân Diệu.
Lối xem xét xé lẻ như vậy thì tư tưởng của một tác giả có lớn đến mấy cũng dễ thành bé.
3. Đông La còn viết: “… nhưng coi tư tưởng ‘sống mãnh liệt, tận hưởng, tận hiến’ riêng tư của ông như Chu Văn Sơn nói ở trên trong giai đoạn dân ta bị mất nước, xương thịt bao phu đồn điền phải làm phân bón cho cây cao su, là tư tưởng lớn của văn chương thì có được chăng?”.
Ý kiến này lại không ổn trong cách xem xét về hiện thực của một giai đoạn lịch sử.
Hiện thực của một giai đoạn lịch sử nào, ở bất cứ đâu cũng không bao giờ chỉ chứa đựng một vấn đề duy nhất. Trái lại, nó nảy sinh và dung chứa rất nhiều vấn đề khác nhau. Tùy hoàn cảnh cá nhân của từng nghệ sĩ mà anh ta có trải nghiệm nhân sinh về vấn đề nào của hiện thực ấy. Hiện thực trước cách mạng ở ta, có vấn đề “dân ta bị mất nước, xương thịt bao phu đồn điền phải làm phân bón cho cây cao su” như Đông La nói, nhưng cũng có vấn đề quyền sống của cá thể bị bóp nghẹt. Có những nghệ sĩ, như Tố Hữu chẳng hạn, trải nghiệm vấn đề thứ nhất, và tư tưởng của họ lớn trong loại vấn đề ấy. Còn những nghệ sĩ như Xuân Diệu lại có trải nghiệm nhân sinh về loại vấn đề thứ hai, và tư tưởng của họ lớn ở loại vấn đề này. Các tư tưởng ấy đều có giá trị riêng, không thể thay thế được cho nhau. Chính nhờ thế văn học chân chính mới có sự đa dạng.
Tóm lại, Đông La hiểu về thơ Xuân Diệu và Thơ Mới còn chưa chắc chắn, cách xem xét tư tưởng ở một nghệ sĩ chưa ổn, cách xem xét hiện thực của một giai đoạn lịch sử, một thời đại như thế cũng còn khá giản đơn. Ta hiểu vì sao Đông La lại có đánh giá chưa thoả đáng về tầm vóc tư tưởng của Xuân Diệu.
Như tôi đã thưa ở ý kiến hồi âm trước, trong trao đổi, tôi không coi trọng việc thắng-thua, cao-thấp, hơn-thiệt… mà chỉ coi trọng việc “hiểu nhau”. Qua cuộc trao đổi trực tiếp này, chúng tôi đã hiểu nhau hơn. Vậy, xin được dừng cuộc này ở đây, không dám quấy quả bản báo và bạn đọc thêm nữa.
2/12/2006
Chu Văn Sơn
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Mùa thu đã già 000000

Mùa thu đã già Chương 1 thu chưa tới sao đã già chắc đến lúc bóng nhạn sa lưng đồi   (Vô Danh) 1. Ngồi trên chiếc ghế da cũ đặt tại phòng...