Thứ Ba, 27 tháng 9, 2022

Về bài phỏng vấn ông Đào Thái Tôn trên talawas 21-11-2006

Về bài phỏng vấn ông
Đào Thái Tôn trên
talawas 21-11-2006

Tôi xin trả lời về bài phỏng vấn của ông Văn Chinh với Đào Thái Tôn trên talawas 21-11-2006, như sau:
1. Về “vụ tham nhũng” ở Trung tâm Nghiên cứu Quốc học mà ông Đào Thái Tôn đã rêu rao bấy lâu nay khiến cho ông Văn Chinh “rất bất ngờ”; để trả lời cho các nghi vấn của ông Tôn về Trung tâm thì tại Công văn số 121/HNV, Hà Nội ngày 5-6-2006, do Phó Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam, nhà văn Nguyễn Trí Huân ký, nói rõ như sau:
“Ngay sau khi nhận được đơn thư của nhà văn Đào Thái Tôn nêu một số vấn đề nghi vấn hoạt động của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, cơ quan cấp II của Hội Nhà văn Việt Nam, Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam đã chỉ đạo Ban Kiểm tra của Hội nghiên cứu đơn thư của nhà văn Đào Thái Tôn, làm việc trực tiếp với Ban Tổ chức-Hội viên, Ban Tài chính của Hội và Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc Học: nhà văn giáo sư Mai Quốc Liên. Căn cứ kết quả các buổi làm việc của Ban kiểm tra, thường trực Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam xin thông báo:
Về tài chính:
Kinh phí hoạt động của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học được cấp từ ngân sách nhà nước theo các dự án khoa học hàng năm. Từ năm 2002, khi Trung tâm chuyển về cơ quan Hội Nhà văn Việt Nam, việc sử dụng tài chính đều được quyết toán từng năm với cơ quan tài chính của Hội, và của các cơ quan quản lý tài chính của Nhà nước, không có sự vi phạm nguyên tắc tài chính, không thất thoát”.
Biên bản đánh giá công tác tài chính 2002-2005 của đại diện Hội Nhà văn Việt Nam: ông Vũ Xuân Hàm, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tài chính; bà Trần Thị Ân, Kế toán trưởng Ban Tài chính và Đại diện Trung tâm Nghiên cứu Quốc học vào ngày 28-02-2006, tóm lược như sau:
“Sau khi xem xét chứng từ, sổ sách kế toán, báo cáo quyết toán các năm 2002, 2003, 2004, 2005; Ban Tài chính Hội Nhà văn nhất trí kết luận về vấn đề thu chi tài chính phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học của Trung tâm như sau:
1. Nguồn thu:
1.1. Ngân sách nhà nước cấp: năm 2002: 800.000.000 đồng, năm 2003: 750.000.000 đồng, năm 2004: 1.000.000.000 đồng, năm 2005: 1.000.000.000 đồng; Tổng cộng: 3.550.000.000 đồng.
1.2. Tiền bán sách: năm 2002: 47.551.300 đồng, năm 2003: 117.864.100 đồng, năm 2004: 115.323.210 đồng, năm 2005: 47.863.200 đồng; Tổng cộng: 328.601.810 đồng.
2. Chi cho nghiên cứu, in ấn, xuất bản: chi tiết tại Phụ lục đính kèm
3. Nhận xét và kiến nghị:
3.1. Nhận xét:
a. Công tác khoa học
Phần lớn kinh phí của Trung tâm dành cho công tác nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, dịch thuật và in ấn.
Trung tâm đã in ấn, xuất bản, giới thiệu các công trình khoa học, đánh thức kho tàng văn hoá của dân tộc đã bị lưu lạc, lãng quên, khai thác di sản của cha ông để phục vụ cho công tác nghiên cứu, được các cơ quan có trách nhiệm, dư luận, báo chí đánh giá cao và ủng hộ.
Thành quả nghiên cứu của Trung tâm to lớn, hoạt động khoa học đạt hiệu quả cao nhưng Trung tâm chưa giới thiệu rộng rãi để các cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu và đánh giá đúng mức hoạt động của mình.
b. Công tác tài chính
Thực hiện tốt chế độ, nguyên tắc tài chính. Tổ chức hệ thống sổ sách, chứng từ kế toán rất khoa học, đầy đủ, rõ ràng, báo cáo quyết toán đúng quy định.
Trung tâm đã xây dựng được định mức chi. Việc sưu tầm các nguyên bản tài liệu bị lưu lạc trong và ngoài nước có khi là vô giá nhưng Trung tâm đã tính toán chi hợp lý để thực hiện nhiệm vụ của mình.
Tuy nhiên tỉ lệ chi cần giữ ở mức cân đối, cố gắng hạn chế chi phí quản lý để giảm giá thành in ấn…
3.2. Kiến nghị:
Trung tâm có nghĩa vụ đóng góp một phần kinh phí cho hoạt động của Hội Nhà văn.
Ấn phẩm khoa học của Trung tâm có giá trị nghiên cứu song lại rất khó bán. Với số tiền bán sách không nhiều, Trung tâm xin chi bổ sung cho việc nghiên cứu, xuất bản các công trình khoa học. Hội Nhà văn đã đồng ý và báo cáo với Bộ Tài chính cho phép Trung tâm giữ lại chi và quyết toán đúng nguyên tắc Nhà nước quy định.
Báo cáo tình hình hoạt động của Hội Nhà văn 6 tháng đầu năm 2006 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Hội Nhà văn khoá VII (2005 - 2010) có đoạn về Trung tâm Nghiên cứu Quốc học như sau: “Đây là đơn vị cấp 2 của Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam có đủ tư cách pháp nhân, được chuyển về Hội Nhà văn từ 2002 với chức năng nghiên cứu, phổ biến, phát huy các giá trị văn hoá dân tộc. Trung tâm được Bộ Khoa học Công nghệ duyệt đề tài, duyệt kinh phí nghiên cứu. Hàng năm được đánh giá tốt, người ít, huy động được nhiều tài năng khoa học trong nước và ngoài nước, có hiệu quả cao. Ban Tài chính đã được giao nhiệm vụ kiểm tra lại toàn bộ quyết toán kinh phí của Trung tâm từ 2002 đến nay và kết luận không có dấu hiệu tiêu cực”.
Biên bản Hội đồng Khoa học thẩm định Dự án nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học 2006-2010 do GS Vũ Khiêu và 9 thành viên khác là các GS-TS, trong phần nhận xét của các uỷ viên phản biện có một số nhận xét như sau: “Dự án 5 năm 2006-2010 với dự trù kinh phí 10 tỉ đồng so với các công trình khoa học khác là quá khiêm tốn. Trung tâm ít người, bộ máy gọn nhẹ, nhưng có giám đốc nhiệt tình, tâm huyết nên hoạt động rất có hiệu quả. Cái chính là tâm huyết và biết cách làm việc” (GS Vũ Khiêu); “Trung tâm đã làm được nhiều việc, hoạt động tốt, sản phẩm có uy tín rất cao. Dự án cũ đã làm tốt, có cơ sở để tin dự án mới làm tốt hơn” (GSTS Trần Đăng Xuyền); “Kinh phí ít, làm được nhiều việc đúng như GS Vũ Khiêu nói về hoạt động của Trung tâm” (TSKH Phan Hồng Giang); “Dựa vào dĩ vãng, suy ra tương lai. Sách của Trung tâm đã làm có chất lượng, đầu tư xứng đáng. Trước đầu tư một tỉ đã làm tốt nay đầu tư 1,5 tỉ càng cần làm tốt hơn. Nội dung cần chú ý mở rộng hơn” (nhà văn hoá Hữu Ngọc) v.v…
Còn có thể kể ra rất nhiều những tư liệu, ý kiến về hoạt động, về tài chính của Trung tâm. Nhưng tôi tưởng như thế là đủ rõ. Ông Đào Thái Tôn có thể nghi ngờ, khiếu nại…, nhưng ông Đào Thái Tôn không phải là quan tòa xét xử để đưa ra kết luận mà đó là việc của các cơ quan chức năng. Cho nên những lời lẽ của ông Đào Thái Tôn chẳng có giá trị gì. Theo chúng tôi sở dĩ ông Tôn dựng chuyện vu cáo là xuất phát từ một động cơ cá nhân, vì ông Tôn muốn tranh in trước các bản Kiều Nôm cổ (1870, 1866…) và khi Trung tâm Nghiên cứu Quốc học in 3 bản Kiều Nôm cổ này do nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân sưu tầm, phiên âm và chú giải thì ông Tôn tức tối chửi ông Nguyễn Quảng Tuân là “làm bìa giả” “đạo văn”… Ông Tôn đã dùng nhiều lời lẽ thô bỉ để hạ nhục, xúc phạm ông Nguyễn Quảng Tuân, một học giả 81 tuổi ở Sài Gòn cũ, rồi sau đó ông Tôn quay sang vu cáo tôi và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học. Không thể nhẫn nhịn trước thái độ lăng loàn, hỗn xược của ông Đào Thái Tôn, ông Nguyễn Quảng Tuân khởi kiện ông Đào Thái Tôn tại Tòa án Hà Nội về tội xâm phạm tác quyền, chính ông Tôn lấy không xin phép của ông Tuân nguyên văn 4 bài, 72 trang để in vào sách của mình, bình chú rồi còn vu cáo ông Tuân và cầm luôn nhuận bút 2 lần in. Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, con trai nhà thơ Huy Cận, người đại diện cho ông Tuân trước tòa đã có ba bài báo trên các báo Sức Khỏe và Đời Sống, Tuổi Trẻ Thủ đô…. nói rõ về tính chất vi phạm pháp luật của ông Tôn. Đây mới là vụ “đạo văn” theo nghĩa đen, theo nghĩa chính xác nhất của từ ngữ. Hiện nay ông Tôn đang hầu tòa về vụ này. Ông Nguyễn Quảng Tuân cũng đã có bài đăng trên Kiến thức ngày nay và Sức Khoẻ và Đời Sống vạch ra những sai lầm hiển nhiên, ấu trĩ của ông Tôn, trong cuốn Nghiên cứu văn bản Truyện Kiều mới ra của ông. Ông Tôn đến nay vẫn không trả lời được về những sai lầm nghiêm trọng, hiển nhiên của mình về cái gọi là công trình nghiên cứu cấp Bộ đó.
2. Về vụ ông Đào Thái Tôn vu cáo tôi “đạo văn”
Không cần chứng cứ, không cần lý lẽ, ông Đào Thái Tôn la lối lên rằng tôi “đạo văn” khi dịch Thơ chữ Hán Nguyễn Du (cùng với sự cộng tác của Nguyễn Quảng Tuân, Ngô Linh Ngọc, Lê Thu Yến trong dịch nghĩa, và với bản dịch thơ của hàng chục nhà thơ, nhà Hán học nổi tiếng khác).
Đây là bản dịch mới của chúng tôi, khác biệt với tất cả các bản dịch mà ông Đào Thái Tôn nêu ra từ từ ngữ, cách diễn đạt, cách lý giải ý nghĩa triết học và hình tượng thơ. Không có một bài thơ nào, câu nào… là giống hệt với bài, câu… của các bản dịch kia. Việc tuyển chọn thơ dịch được làm rất cẩn trọng, thu hút hầu hết các bản dịch hay nhất của các danh gia, các nhà Hán học sành dịch thơ như Quách Tấn, Giản Chi, Ngô Linh Ngọc, Khương Hữu Dụng… để có được một “liên văn bản” tiện dùng cho người đọc. Chú thích là của chúng tôi tra cứu để làm rõ tối đa ý thơ chữ Hán súc tích, đa nghĩa. Hễ chỗ nào dùng lại, tham khảo các chú thích đã có, chúng tôi đều ghi rõ.
Cuốn sách xuất bản năm 1996, đến nay đã hơn 10 năm; chúng tôi đang sửa chữa những sai lầm về in ấn, nâng cấp các chú thích cho kỹ hơn, xứng đáng với việc chú thích một áng thơ lớn của đại thi hào, tuyển chọn mới các bản dịch thơ, cân nhắc lại cách hiểu một số câu chữ còn nhiều ý kiến khác nhau, để tái bản. (Bản dịch Thơ chữ Hán Nguyễn Du mới nhất – 2006 - do Nhà xuất bản Giáo Dục ấn hành, Vũ Đăng Bình dịch ra thơ lục bát, đã dùng lại nguyên văn toàn bộ lời dịch nghĩa của chúng tôi). Ông Đào Thái Tôn không hề đọc công trình của chúng tôi, vì nếu đọc ông đã phát hiện được nhiều điều hơn là sự lăng loàn cho một đòn không cần lý lẽ, dẫn chứng, cứ liệu: “xoá tên” và “đạo văn”! Đã kết tội thì phải có bằng chứng, phải có chứng minh. Khi chúng tôi đòi hỏi thống kê đối chiếu cụ thể thì Đào Thái Tôn cho đó là: “đòi hỏi ngược” (?!). Nói như vậy thì đơn giản quá trong một công việc rất phức tạp và tinh tế là việc dịch một áng văn. Người ta có thể dịch đi, dịch lại, thế hệ này dịch, thế hệ sau và sau nữa nếu chưa thích, chưa vừa ý thì làm lại. Dĩ nhiên là phải biết chữ, thông chữ nghĩa để đọc nguyên bản và phải rành tiếng Việt để đưa câu thơ sang cái tương đương. Và trong việc dịch này, cũng có nhiều cách khác nhau. Có người trực dịch, có người dịch như dịch thơ – văn xuôi, có người phối hợp cả hai cách, vừa đưa lại chính xác hình tượng gốc – nguyên thuỷ, vừa đưa lại cảm hứng tình cảm nữa… Văn chương, mỗi người một cách; làm sao anh bắt bẻ người ta. Bản dịch nghĩa Thơ chữ Hán Nguyễn Du để rõ là Mai Quốc Liên phiên âm, dịch nghĩa, chú thích với sự cộng tác của Nguyễn Quảng Tuân, (81 tuổi) học giả, nhà thơ; nhà Hán học Ngô Linh Ngọc (đã mất) và Lê Thu Yến (nay là PGS-TS cũng như ông Đào Thái Tôn, và là Phó chủ nhiệm Khoa Ngữ văn ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh) thì hẳn không còn ai dị nghị vì sở học và tài năng dịch của các vị ấy nữa, còn tôi thì sao? Thú thật, nói về mình là chẳng hay, nhưng tôi bất đắc dĩ phải trình ra trước bạn đọc: tôi tốt nghiệp khoa Văn ĐHTH Hà Nội 1963, học đại học Hán học 1965-1970, học chuyên tu Hán Nôm trên đại học 1972-1975 (khi tốt nghiệp, có cụ bảo: “Tôi lấy anh thủ khoa” – chẳng phải tôi giỏi hơn các anh chị trong lớp vốn có một quá trình học tập rất đáng nể, mà vì “may” – nhưng sự thực là thế!). Rồi tôi công tác ở Ban Hán Nôm (sau khi ở Viện Văn học), dịch thơ đi sứ, văn bang giao, dịch chiếu biểu thơ Ngô Thì Nhậm (đến nay còn bút tích các cụ Trần Duy Vôn, Hoa Bằng, Cao Xuân Huy chữa vào các bản dịch của tôi và đã công bố trong Ngô Thì Nhậm, t.I), dịch Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát… Quá trình dịch và học, rèn luyện tiếp đi đôi với nhau mấy chục năm, tuy biển học vô bờ, nhưng không thể cho tôi là kém, dốt như Đào Thái Tôn chỉ học có mỗi một lớp đại học Hán học 4 năm, rồi đi bộ đội, rồi chuyển làm Nôm – Truyện Kiều. Nói như người ta nói “thế thì tôi lép cái nỗi gì mà không dịch được Thơ chữ Hán Nguyễn Du!” Thơ chữ Hán của Ngô Thì Nhậm, của Cao Bá Quát còn khó hơn nhiều hỏi sao ông Tôn không vào đó mà vu cáo! Còn nữa: “văn mình vợ người”, nếu tôi nói bản dịch của chúng tôi hay hơn, tốt hơn, chính xác hơn… so với các bản dịch trước, thì có được không? Thưa rằng: được! Còn nếu ai không chịu, thì cứ từng chữ, từng câu, từng bài mà ghè, chứ không được la toáng lên không chứng từ. La như thế, thì nói tôi lừa đảo ăn trộm, ăn cướp gì mà chẳng được. Đó là cái cung cách hàng khoai Đồng Xuân: “bọn lưu manh ở chợ Đồng Xuân - chợ Bắc Qua nó sợ em, vì em sẵn sàng chơi đểu”. Có phải ông Đào Thái Tôn đã nói như thế với ông Nguyễn Tiến Đoàn là người giúp ông dịch Hán–Nôm ở thôn 7, Vũ Trung, Kiến Xương, Thái Bình? Và ở Thái Bình có câu: “Họ Đào vốn chẳng có vua / Thái Tôn - Tôn Thái muốn lừa ai chăng?/ Thái Tôn – Tôn Thái lăng nhăng/ Với tao tao vẫn gọi thằng Thái Tôn”. Theo tôi, nên đổi Thái Tôn thành Chí Tôn. Cái cung cách “chơi đểu” đó của ông, ông đã thực hành với ông Nguyễn Quảng Tuân và tôi, làm tôi nhớ lại lời của một nhà văn: “Trên đời này, lòng tốt là có giới hạn; chỉ có sự đểu cáng là vô giới hạn”. Thật là nhỏ nhen khi đi tranh tài, “khoe chữ”, dù sao tôi cũng đã được Nhà nước phong làm giáo sư và được cử làm giám đốc một trung tâm nghiên cứu (quyết định do nhà văn Nguyễn Đình Thi, Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT ký). Để làm một đối chứng, tôi thử nêu ra một việc: Vừa qua ông Đào Thái Tôn phiên âm và nghiên cứu bản Kiều Nôm 1871, đề tài cấp Bộ, tốn hàng trăm triệu đồng và đã in. Nhưng trước đó mấy năm, bản Kiều này đã được Nguyễn Quảng Tuân phiên âm, chú thích, đối chiếu và đã in (NXB Văn học, 2002). Và bản Kiều Nôm này cũng chỉ khác các bản người ta vẫn dùng ở một số câu chữ nhất định. Nay nếu có người cho là ông Đào Thái Tôn “đạo văn”, bằng cách lấy lại phiên âm của các bản Kiều kia, còn một số chữ ông đọc khác đi (như "Thân tàn gạn đục khơi trong", ông đọc: "chặn đục khơi trong", hay "Tiền Đường thả (hoặc đến) một bè lau rước người", ông đọc: điển (là một từ Hán lọt vào Nôm) thì người ta không chịu, người ta cho là sai, người ta cho ông nghiên cứu Nôm mà không rành Nôm, thì ông có chịu không? Dĩ nhiên là ông không chịu rồi. Thế mà cái việc phiên âm Nôm và việc phiên dịch Hán cứ tạm cho là giống nhau đi, thì việc “la làng” lên là chúng tôi “đạo văn” là việc ông thích thú có dụng tâm thì cứ làm, chứ bản dịch của chúng tôi còn đó, đem đối chiếu là rõ ngay, việc gì phải cãi.
Sau khi viết hai bài trên Văn nghệ Trẻ, ông Đào Thái Tôn viết tiếp một bài để: “trả lời bài trả lời của Mai Quốc Liên”. Văn nghệ Trẻ không đăng, cho là đã đăng của hai người mỗi người hai bài. Trong bài đó, ông Đào Thái Tôn vạch ra 17 điểm chúng tôi sai để nói là chúng tôi biến “lợn lành thành lợn què”, kém, dốt chữ Hán. Chúng tôi đã viết lại 22 trang A4, bác bỏ lại tất cả 17 điểm ấy. Nhưng chẳng cần tranh luận câu chữ, nếu chúng tôi đi “sao” lại, “chụp” lại, “đạo” lại văn của các cụ như ông Tôn vu thì sao chúng tôi lại sai? Chí ít thì qua đó, cũng thấy là chúng tôi đã nghiên cứu rất kỹ văn bản và đã có lập luận riêng, cách hiểu riêng của của chúng tôi. Chỉ xin nêu một vài ví dụ nhỏ: Nguyễn Du viết: “Kỳ trung áo chỉ đa bất minh”. Đây là Nguyễn Du đang nói về Kinh Kim Cương của Phật giáo. Chúng tôi dịch áo chỉ là sâu kín; các bản khác dịch sâu xa: Ông Đào Thái Tôn viết: “Các cụ dịch một cách thanh nhã là sâu xa. Mai Quốc Liên chữa thành “sâu kín”, làm cho chị em ở Viện Hán Nôm chỉ còn biết thưởng thức bằng cách… đỏ mặt mà bấm nhau cười”. Nhưng tiếc thay áo chỉ dịch sâu kín lại hoàn toàn đúng. Chỉ cần tra Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh cũng thấy chú: Áo: chỗ sâu-kín kín-ý tứ hay (tr. 11, Nxb TP.HCM, 1996). Các mục từ có chữ "Áo" là rõ thêm nghĩa đó như: áo bí: sâu kín, áo diễn: văn chương sâu kín khó hiểu, áo tàng: sâu kín, áo tích: vết tích kín sâu…
Như vậy, để thấy rằng, ông Đào Thái Tôn đã rất chủ quan và có động cơ riêng khi phán xét bản dịch. Động cơ đó được ông bộc lộ khi tranh luận về văn bản Truyện Kiều trên Tạp chí Văn học “họ hè nhau săn lùng bản chụp (Truyện Kiều) để làm vội vàng như giành giật miếng cơm manh áo, khổ sở đến thế (Tạp chí Văn học số 03-2005). Chúng tôi đã in ba bản Kiều Nôm cổ của ông Nguyễn Quảng Tuân (1866, 1870, 1871) và cả ba bản đó ông Tuân đều có được một cách hoàn toàn chính đáng, đâu có và đâu cần “săn lùng”, “giành giật” “bát cơm manh áo” của ai! Ông Đào Thái Tôn cứ việc in ra bản của mình, việc gì phải tức tối như thế, còn hay dở, xấu tốt đã có học giới công luận.
Từ sự tức tối như thế mà ông Đào Thái Tôn đã ra sức viết bài, gởi đơn, thậm chí tung ra cả nước, trên mạng… để nói xấu, nói khống cho chúng tôi. Chúng tôi đang làm việc, không hơi sức đâu mắc mưu chạy theo vụ việc do ông Đào Thái Tôn tưởng tượng, dàn dựng và lôi chúng tôi vào. Và tôi đã viết rằng đó là sự dối trá lớn nhất của Đào Thái Tôn. Đào Thái Tôn rất nổi tiếng về sự vu cáo, sự la làng, sự ngang ngược, lăng loàn như thế lâu nay, đối với nhiều người, nhiều vụ việc.
Đào Thái Tôn không chứng minh được, chỉ to mồm la lối lên như thế để ăn vạ, để rửa hận, tức là với một động cơ đen tối. Sự vu khống đó của Đào Thái Tôn đáng bị xét xử theo các điều 122-121 Luật hình sự về tội vu khống, tội làm nhục người khác; hơn nữa, đây là “người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt” (Luật Hình sự, chương I, điều 3). Về những điều này, sớm muộn Đào Thái Tôn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Vụ án mà ông Nguyễn Quảng Tuân khởi kiện ở Tòa án Hà Nội chỉ mới là vụ án đầu tiên.
Cũng phải nói rằng, ông Đào Thái Tôn chỉ nói bừa, chứ chưa chắc ông đã đọc bản dịch của chúng tôi. Bằng chứng là, nếu đã đọc thì ông đã phát hiện ra hàng loạt lỗi in, chú thích… mà nay khi chuẩn bị tái bản chúng tôi đã phát hiện. Hơn nữa, là người gọi là nghiên cứu Nguyễn Du, nếu đã đọc thơ chữ Hán của ông, lẽ nào không biết rằng trong bài thơ về tượng Tần Cối, Nguyễn Du đã viết câu “Thiên niên sinh thiết phụ kỳ oan” (Nghìn năm cục sắt sống kia phải mang nỗi oan kỳ lạ - là phải dùng để đúc tượng Tần Cối). Tức là, tượng Tần Cối làm bằng sắt. Thế mà ông Tôn cho là tượng Tần Cối làm bằng đá, để cho nhân dân Trung Quốc đến đánh vào tượng! Hài hước hết chỗ nói!
Đã không đọc, không chứng từ, chỉ vu vạ, với mục đích “ngậm máu phun người”, không chỉ với Thơ chữ Hán Nguyễn Du, mà đối với tất cả. Ví như Nguyễn Trãi toàn tập của chúng tôi được giới chuyên gia đánh giá là: “Ở bản này, nguyên bản Nôm mới được in ấn minh bạch đến từng bài thơ, việc khảo dị văn bản, giải mã chữ nghĩa cũng được tiến hành nghiêm túc, khá phong phú về cứ liệu, rất chú mục tính hệ thống, nên vừa tiếp thu được nhiều thành tựu của người đi trước, vừa có thêm được một số phát hiện mới đáng ghi nhận” (GS Bùi Duy Tân - Đại học Quốc gia Hà Nội: Khảo và luận một số thể loại tác gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, T. 2, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001, tr. 214-216). TS Nguyễn Thị Lâm trong bài “Góp ý thêm về một số trường hợp phiên âm trong Quốc âm thi tập - bản tân biên, Tạp chí Hán Nôm 5/2006, viết: “Phiên âm, chú thích một tác phẩm lớn viết bằng chữ Nôm cách đây trên năm thế kỷ như Quốc âm thi tập quả là công việc khó khăn phức tạp, đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải không ngừng tìm tòi, khám phá mới có thể “giữ nguyên được về hình thức và nội dung, ý đồ sáng tác của người xưa cũng như màu sắc lịch sử của bản thân tác phẩm”. Nhờ có sự cố gắng không mệt mỏi của các nhà nghiên cứu hàng đầu mà khá nhiều vấn đề văn bản học của tác phẩm đã được giải quyết. Đọc Quốc âm thi tập trong Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, chúng ta vui mừng nhận thấy các chuyên gia Mai Quốc Liên, Kiều Thu Hoạch, Vương Lộc, Nguyễn Khuê đã cung cấp cho độc giả yêu thích thơ Nôm Nguyễn Trãi một công trình phiên khảo quý giá “hơn hẳn các ấn phẩm cùng loại trước đây về diện mạo, tính chất”.
Ấy thế nhưng đối với Đào Thái Tôn thì đấy cũng chỉ là “đạo văn”, “đạo văn còn bạo hơn nữa”.
Tranh cãi mà làm gì với một con người, với một động cơ như thế! Có phải anh ta vì khoa học, vì văn hoá gì đâu. Đây là chuyện nằm ngoài những cái đó. Rồi chuyện anh ta đánh nhau với hết người này người khác, chuyện anh ta uống rượu say bí tỉ chửi người khác, gây chuyện, cản đường, đánh nhau với ông Bùi Bình Thi rồi lại đi vu cáo “ông Mai Quốc Liên vừa cho ông Bùi Bình Thi tái hồi cái “chức” Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc học là muốn dùng cái ông to đùng to đoàng này để “trị” tôi” thì thật là nực cười! Chuyện bổ nhiệm ông Bùi Bình Thi là do Ban Chấp hành Hội Nhà văn, và ông Bùi Bình Thi xin nghỉ để viết tiểu thuyết Xiêng Khoảng mù sương 901 trang, nay trở lại làm việc, làm sao gán cho cái động cơ tầm thường vô nghĩa như thế. Cũng như chuyện ông đi kiện cái giải của tôi, theo tôi biết, chẳng ai người ta xét một cái đơn mà khi họp Hội đồng ông mới đưa đến (theo lệ, phải đưa trước 20 ngày để còn xem xét). Nên cái chiến công tưởng tượng của ông theo phép “thắng lợi tinh thần” “kiểu AQ”, nó cũng tội nghiệp. Nếu khi người ta xét (mà Giải này chưa công bố), mà hàng chục người khác cũng không đủ phiếu, không được giải, thì có phải cũng là do ông Đào Thái Tôn đâu?
Tóm lại, bài phỏng vấn đã nêu một cái titre rất lớn về tôi mà không có bằng chứng gì.
Theo thông lệ văn hóa, tôi đề nghị talawas đăng lại ý kiến phản hồi của tôi. Xin cảm ơn.
2/12/2006
Mai Quốc Liên
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Mùa thu đã già 000000

Mùa thu đã già Chương 1 thu chưa tới sao đã già chắc đến lúc bóng nhạn sa lưng đồi   (Vô Danh) 1. Ngồi trên chiếc ghế da cũ đặt tại phòng...