Về ý kiến của
Đông La và Cao Tôn
Tôi đã đọc các ý kiến của
Đông La và Cao Tôn về
bài viết “Tác
phẩm lớn, tại sao chưa?” của tôi trên talawas. Vốn tâm niệm rằng “trong lẽ
phải có người có ta”, nên tôi đều tôn trọng mọi ý kiến phản hồi, dù chúng được
xuất phát từ động cơ nào. Cũng từ lòng tôn trọng, tôi có vài lời thưa lại để hiều
nhau hơn (trong tranh luận, tôi coi “hiểu nhau” quan trọng hơn mọi thắng-thua,
hơn-thiệt, cao-thấp…).
Trước hết là với Đông La [1], tôi xem những ý kiến đứng đắn của anh
như những phản biện thiện chí để tôi củng cố ý tưởng của mình. Tuy cũng đồng
tình với quan niệm của tôi về “tác phẩm lớn”, nhưng anh chưa đồng tình với một
vài dẫn chứng tôi viện dẫn, vì theo anh, chúng chưa xứng với quan niệm tôi nêu.
Về trường hợp Xuân Diệu, anh viết: “khi Chu Văn Sơn dẫn chứng tôi thấy lại
không thỏa đáng: ‘Xuân Diệu đã có những băn khoăn triết học về cái chết và sự sống .
Nỗi ám ảnh về uy lực của cái chết đã khiến Xuân Diệu bừng ngộ một giá trị sống:
tận hưởng và tận hiến’. Như vậy cái ‘cảm niệm triết học của Xuân Diệu’ không
ghê gớm như định nghĩa ở trên mà lại quá thông thường, thậm chí nếu coi con người
sống chỉ để tận hiến cho tình yêu nam nữ và tận hưởng đời thì còn là thứ tư tưởng
tầm thường”.
Ở đây, có hai khía cạnh cần làm rõ. Thứ nhất, xem tận hiến ở Xuân Diệu
chỉ là “tận hiến cho tình yêu nam nữ” là ý của Đông La, tôi đâu viết thế, và
quan niệm của Xuân Diệu cũng đâu bó hẹp như thế. Ai cũng thấy rằng “tận hưởng
và tận hiến” là hai phía biện chứng và toàn diện trong chủ trương sống mãnh liệt
của cái Tôi Xuân Diệu, cả khi sống với tình cả khi sống với đời kia mà. Thứ
hai, việc coi một tác giả lớn hay không còn tuỳ cách xem xét của mỗi người,
nhưng để đánh giá cho khoa học, không thể không đặt tác giả vào thời đại của
ông ta. Với Xuân Diệu cũng thế. Trong thời đại của ông, thời mà quyền sống của
cá thể bị bóp nghẹt, thì chủ trương mỗi cá thể phải được sống mãnh liệt, cụ thể
là được tận hưởng và tận hiến chẳng nhẽ lại là tư tưởng tầm thường được sao?
Trái lại, có thể nói, chừng nào thời đại như thế còn ngự trị, chừng ấy tư tưởng
kia còn giữ nguyên giá trị của nó.
Về vài trường hợp khác, Đông La cũng trích tôi: “Nam Cao đau đáu về phần người
bên trong con người… Nguyễn Bính khắc khoải về nỗi tha hương của phận người…
Hàn Mặc Tử day dở khôn cầm về nỗi đơn côi trần thế… Tất thảy những cảm niệm triết
học ấy đã là nền tảng của những sự nghiệp lớn, làm nên tầm vóc tư tưởng cho những
tác phẩm lớn của các bậc thầy đó”, rồi phát biểu: “Tôi thấy những cái này đều
là những thuộc tính cơ bản của văn chương, có gì mà “độc sáng”; “bừng ngộ”,
“được thiên khải”, tác giả nào mà không thể hiện hoặc ít hoặc nhiều, dạng này dạng
khác”.
Đông La nói đúng, “phần người bên trong con người”, “nỗi tha hương”, “nỗi đơn
côi” đều là những vấn đề quen và chung của văn chương. Đơn giản vì chúng đều là
những vấn đề thiết cốt của con người trong cõi nhân sinh này, nó thuộc cái mẫu
số chung của văn chương muôn thuở. Tuy nhiên, điều đáng nói là ở chỗ: không phải
ai cũng “đau đáu”, không phải ai cũng “khắc khoải” và không phải ai cũng “day dở
khôn cầm” về chúng bằng trải nghiệm nhân sinh của chính thân phận mình. Bởi, cảm
niệm triết học của nghệ sĩ, trước hết là từ trải nghiệm cá nhân về những lẽ đời
chung. Nghệ sĩ phát giác về nó chủ yếu không phải bằng nhận thức lí tính qua
sách vở, mà bằng sự trả giá của một thân phận. Chính vì thế, ở mỗi vấn đề quen
kia, từng tác giả đó lại phát giác ra một khía cạnh mới, một chiều sâu mới, một
tầm vóc mới mà chỉ họ mới thấy, và thấy bằng máu thịt của mình. Sự phát giác ấy
đã quyết định cả một đời sáng tạo. Cho nên, với từng tác giả ấy, việc phát giác
về chúng vẫn là những “bừng ngộ” và có ý nghĩa như “được thiên khải” chứ sao!
*
Còn ý kiến của Cao Tôn, từ toàn bộ những gì trong bài viết, tôi thấy rằng cách
đặt vấn đề của ông khác tôi. Trong bài của tôi, sau khi đề cập trách nhiệm của
xã hội đối với việc sáng tạo, tôi muốn nhìn toàn diện hơn, nên đã bàn sâu vào
trách nhiệm nghệ sĩ như một vấn đề thuộc bản thể luận của sáng tạo nghệ thuật.
Còn Cao Tôn thì chỉ muốn dừng lại ở trách nhiệm của xã hội như một vấn đề chính
trị thuần tuý. Vì thế, không có gì để trao đổi tranh luận. Thêm nữa, xem ra,
khi Cao Tôn dùng những lời kiểu “hương nguyện trường quy”, thì ai cũng thấy rằng
talawas hoàn toàn có lý do để rút thẻ đỏ đối với ông vì đã khiếm nhã trong văn
hóa tranh luận vậy.
Chú thích:
[1] Trong ý kiến của mình, Đông La có một
ý phụ (không liên quan đến tranh luận) là phê phán việc “luyện thi trên tivi”.
Tôi đồng ý với anh. Song, cái chương trình mà anh nói không phải là “Luyện thi”
mà là chương trình “Bổ trợ kiến thức”. Mục đích của nó là nâng cao kiến thức và
năng lực cho người dạy và học. Tôi đã nhận lời tham gia trình bày một số chuyên
đề nâng cao năng lực cảm thụ văn chương và trả lời trực tuyến vì nhận thấy đây
không phải là chương trình không có ích, nhất là trong tình hình dân trí còn
chưa cao và chưa đồng đều giữa các vùng miền. Tiếc rằng, không phải người tham
gia nào cũng quán triệt được mục đích chân chính này, nên không ít buổi đã bị
biến tướng thành “luyện thi”. Ấy là con sâu làm dầu nồi canh vậy.
29/11/2006Chu Văn Sơn
Chu Văn Sơn
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét