"Sợ" và "lớn"
Bạn thân mến!
Bạn hỏi tôi nghĩ gì về văn học Việt Nam hiện đại, nhất là qua bài “Tác phẩm
lớn, tại sao chưa?” của Chu Văn Sơn mới đây. Tôi bây giờ mới trả lời
được vì chỉ hôm nay mới nhận được Thư talawas số 377.
Có lẽ giản dị nhất là nhắc bạn nên đọc bài “Sợ”
của Cao Việt Dũng cũng trong số 377 này. Cao Việt Dũng, theo tôi hiểu, còn là
sinh viên du học, sinh sau 1975. Thuộc về lớp “tuổi trẻ vàng son”, gia
đình cán bộ cao cấp, cựu trào“cách mạng”, được hưởng cơ hội hội nhập tư bản
phát triển kinh tế phồn vinh của nước nhà. Nhưng Cao Việt Dũng nói lên sự ngột
ngạt âm thầm trong đời sống tư duy của cả thế hệ mình. Cảm nhận lớp cha ông đã
sống tự đè nén với cái “sợ” trong một xã hội chuyên chế ý thức hệ, chính trị độc
tài bạo lực, cấm đoán ngay cả những suy tư thầm kín cá nhân ngoài lề những chỉ
thị tuyên huấn của tập đoàn... Và bây giờ thuộc tầng lớp người hưởng thụ “vàng
son” với thế giới tiện nghi giàu sang, chỉ có một mối lo duy nhất là làm
sao học được cái khả năng máy móc kỹ thuật chuyên nghiệp để làm nhân viên
chuyên gia cho một công ty tư bản, bao đảm cuộc sống đầy đủ vật chất.
Đối với Cao Việt Dũng, nếu trước kia cha ông chỉ biết “sợ”, thì thế hệ của anh
là thế hệ hời hợt và trắng bệch. Thế hệ của anh không bận tâm đọc một quyển
sách hay tự đặt một câu hỏi nào về “lịch sử”, về “sự thật”, tuy nhiên theo anh,
thế hệ này vô tư nhưng thật vẫn nặng trong đầu vấn đề: “xây dựng tái thiết (xã
hội) trả nợ giùm và kiếm đủ tiền mua xe Ford Escape”. Trả nợ giùm cho
cha chú mình… trả nợ những món nợ đối với những tài phiệt và những món nợ xã hội
nhân sinh mà không ai nói tới! Không nghĩ tới nhưng theo Cao Việt Dũng, thế hệ
anh rồi sau thế nào cũng phải trả nợ cho sự thật, sự thật thầm kín mà người ta
vẫn hằng ngày che giấu! Có lẽ anh nghĩ đến những giả dối còn đầy trên sách báo.
Nguyễn Văn An, cựu chủ tịch Quốc hội, một năm trước thôi vẫn nói: “Thành tích đầu
tiên và lớn nhất của công an Việt Nam là giải tố vụ án Ôn Như Hầu”, khi chưa
bao giờ công khai một tố trạng nào của công an trước quần chúng và luật pháp,
khi ai cũng biết nạn nhân bị tra tấn trong ngôi nhà ở đường Ôn Như Hầu (Hà Nội)
là những đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng hay của đảng Đại Việt, với xác vứt
ra hồ Thiền Quang hay chôn sống trong hầm nhà. Nhà văn cựu thành Tô Hoài (trong
quyển tự truyện Cát bụi chân ai) sau khi kể rằng mình đã chứng kiến đội
ngũ Việt Nam Quốc dân Đảng bị Vệ Quốc quân hành hình sao ở Yên Báy, vội tự chống
đỡ ngay bằng nói tới những tội ác khác như chính mình đã chứng kiến giặc Tây giết
nhà văn Nam Cao, tuy ông phải thừa biết Nam Cao đã chết không phải dưới những
viên đạn của thực dân mà dưới bàn tay tàn bạo của một sức mạnh đen tối khác… để
đến gần 50 năm sau, xác chết mới được quật lên từ một hố chung trả lại cho gia
đình. Ám ảnh trong tiềm thức, riêng của Cao Việt Dũng hay của nhiều người trong
thế hệ của anh, là tất cả những tội lỗi lịch sử, những sự kiện lịch sử trắng
hay đen sau cùng phải được phanh phui để cho mọi sự thật hiển hiện, xã hội trả
nợ sòng phẳng quá khứ: những oan khiên tố khổ nông dân được đền bù, những hình
tội vô lý công dân được trang trải… Trả nợ để xã hội và thế hệ anh biết
nhìn vào tương lai thanh thản và không hổ thẹn khi nói đến bất cứ một chính
nghĩa nào.
Tuy bàn về giá trị văn chương và xã hội của hồi ký Lê Vân yêu và sống,
nhưng Cao Việt Dũng đã nói đến tư duy văn học của cả một tầng lớp xã
hội, tầng lớp trẻ, trí thức tương lai của đất nước. Chính từ lớp người trẻ này,
với tư duy đó, sẽ nảy nở những nhà văn, nhà thơ “lớn” sau này của chúng
ta! Dĩ nhiên khách quan ra, ta không khỏi bi quan. Bi quan hơn nữa, nếu nhìn
vào cuộc sống văn nghệ trong xã hội hiện nay. Tất cả cái guồng máy văn học - giữ
toàn quyền thông tin phê bình lý luận, chi phối phát hành xuất bản hay trình diễn
các tác phẩm, và cầm trong tay vận mệnh sinh sống của các nhà thơ các nhà văn
chuyên nghiệp (bám lấy sáng tác của mình mà tồn tại trong cái nghĩa vật chất tối
thiểu - tất cả guồng máy đó vẫn là dưới quyền của những nhà thơ, những nhà văn
may ra có một hai tác phẩm đáng kể, xa vời sự sáng tác, nhưng đã tận tuỵ phần lớn
cuộc đời mình để bảo vệ những lời tuyên huấn cao siêu của Đảng, của nhà nước.
Nhất là nếu ta còn phải nghĩ đến những giải thưởng văn học mà các chủ tịch Hội
Nhà văn tự ban cho chính mình trong bao nhiêu năm qua… thì thật là bi quan! Dưới
mọi khía cạnh, chúng ta có thể nói rằng mấy chục năm qua, đời sống văn học, tư
duy văn học và xã hội Việt Nam chúng ta, phớt phơ không ý thức, ngại ngùng che
đậy và nhỏ nhen, thiếu sự ngang tàng và chân thành khao khát học hỏi, thật
không phải là môi trường chân chính [1] của văn nghệ, để cho văn nghệ trong cái ý
nghĩa cao siêu của nó có thể hiện hành hay nảy nở.
Theo tôi, câu hỏi đặt ra trong bài viết của Chu Văn Sơn đáng lẽ phải là: “Từ
năm 1975 đến giờ, bao nhiêu là tác phẩm văn học đã được xuất bản, mà chúng ta
không thấy có một tác phẩm “lớn” nào, tại sao?”. Đặt câu hỏi như vậy,
thì những lời bàn của tôi ở trên đã một phần nào trả lời rồi. Không thấy có “lớn”,
thì tại vì những tác phẩm được in ra trước hết phải vừa lòng giới cán bộ tư tưởng
cấp cao lỗi thời, và dù có phát hành ra nhưng muốn được phổ biến tới quần chúng
thì phải qua cái guồng máy truyền thông của nhà nước, đáp ứng tiêu chuẩn thầm
kín, liên kết bằng hữu, xã giao tập đoàn chiến hữu xa xưa…
Nói sơ như vậy, chắc bạn cũng hiểu tại sao tôi nghĩ rằng những lời bàn của Chu
Văn Sơn, sau cùng cốt yếu nói thế nào là tác phẩm văn học “lớn” và bằng cách gì
nó “lớn”, đều là sáo ngữ rườm rà của một cán bộ quan liêu hay “hương nguyện trường
quy”! Mà thật thế nào là “lớn”? “Cái bàn nó lớn hơn cái ghế, cái ghế nó lớn
hơn con kiến! Ông Tây, nó lớn hơn thằng Việt Nam!” Vậy, “một tác phẩm văn
học lớn” thật không có nghĩa gì. Nhưng nói tới một tác phẩm nhất định nào, thì
nhà phê bình chân chính chắc có thể nói cho chúng ta biết nó có giá trị hay
không… Nhưng dù có giải văn học cao quý như giải Nobel, thì Linh sơn của
tâm hồn tác giả Cao Hành Kiện, trong mắt rất nhiều học giả và đối với tôi nữa,
vẫn chỉ là một tác phẩm hạng hai… Nói như vậy để thấy rằng một tác phẩm văn
chương nghệ thật có giá trị, phải là giá trị ở ngoài mọi công thức trường quy
và tiêu chuẩn ngoại lai; nếu mỗi lần đọc hay xem hay nghe, chúng ta phải suy
tư, trầm ngâm nghĩ về mình, về xã hội, về cuộc đời…; nếu ta cảm thấy cần phải
tìm lại để học hỏi và cảm nhận rõ thêm tâm huyết, tài nghệ của tác giả, nhận thấy
ở đấy chiều sâu tư tưởng mở ra cho ta một chân trời văn học trí thức, tâm linh
hay lý tính… Với tất cả những ý nghĩ trên, tôi phải tiếc rằng Chu Văn Sơn đã
không biết đặt ngay câu hỏi là làm sao chúng ta từ đây tạo ra được một không
gian cởi mở không giả dối, chân chính văn nghệ mà ở đó những văn nghệ sĩ đều có
khát vọng nghệ thuật cao xa, biết chân thành tự tìm chính mình cũng như tìm hiểu
người khác, nói lên những suy tư tuyệt đối của lòng mình, sẵn sàng san sẻ và thảo
luận cùng bằng hữu, cùng quần chúng những vấn đề xã hội, nghệ thuật, những vấn
đề của thời đại, của thế giới xung quanh. Và như thế, chúng ta may ra sẽ cùng
có quyền biết những tác phẩm văn học Việt Nam giá trị, ngay dù tác giả chỉ nói
về mình hay cái vũ trụ riêng tư của mình, vẫn ghi dấu (như K. Marx có thể nói)
cái thời mà chúng ta sống, cái cõi mà chúng ta cùng bước qua.
Chú thích:
[1] Họa sĩ Bùi Xuân Phái đã viết: “Đúng
là môi trường là cần. Nó tạo ra con người. Môi trường giả dối chỉ tạo ra những
con người đạo đức giả, nghệ thuật giả”.
20/11/2006Cao Tôn
Cao Tôn
.jpg)
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét