Thứ Ba, 27 tháng 9, 2022

XXXXLời giới thiệu tiểu thuyết "T mất tích" của Thuận

Lời giới thiệu tiểu thuyết
"T mất tích" của Thuận

T mất tích ngừng lại mạch ba tiểu thuyết trước của Thuận [1]. Một vòng đời tiểu thuyết (cycle romanesque) đã không còn lý do tồn tại sau sự hoàn chỉnh của nó. Made in Vietnam, Chinatown - Phố Tàu và Paris 11 tháng 8 là những cái tựa rất gần nhau về ngữ nghĩa, đủ sức tạo ra một chỉnh thể đứng chênh vênh trên những lằn ranh, biên giới địa lý và biên giới tâm lý. T mất tích thả nhân vật (hay đúng hơn là không-nhân vật) vào một thế giới vững chắc hơn, dù bệ đỡ của nó là một sự vắng mặt. Xin lưu ý là trước đó, Thuận đã thực hiện một sự đoạn tuyệt quan trọng khác, ngưng lại mạch của những truyện ngắn viết thời trẻ để cả quyết bước vào địa hạt tiểu thuyết. T là ai? Chắc hẳn trước hết là cái tôi. Cái tôi sau khi tràn ngập từng trang, trong những đoạn văn dài hàng trang không ngắt dòng ở ba tiểu thuyết trước, đã phải gánh chịu hậu quả của chính sự tràn đầy đó: nó không trụ nổi lại trên trang giấy. Nó phải chấp nhận số phận mờ ảo hiện diện sau những nhân vật khác. T, điều này quan trọng hơn rất nhiều, còn là Thuận, là nhà văn. Nhà văn Thuận đang tiến hành một thao tác, một thao tác quan trọng với một dải văn chương cá nhân. Dấu hiệu của mệt mỏi? Lịch sử văn chương Pháp (ở đây nên tập trung vào văn chương Pháp, vì T mất tích mang “tính chất Pháp” nhất trong các tiểu thuyết của Thuận, dù Paris 11 tháng 8 đã lấy nước Pháp làm bối cảnh) từng chứng kiến Romain Gary vì mệt mỏi mà hóa thân thành Émile Ajar để viết một loạt tiểu thuyết mới mẻ, trong đó Cuộc sống ở trước mặt (La Vie devant soi – 1975) giúp nhà văn giành giải Goncourt lần thứ hai. Mệt mỏi, rất có thể, là sự chuẩn bị. Chuẩn bị cho một hành trình khác. Thuận chính thức khép lại một vòng đời tiểu thuyết không thể nói là không thành công, khước từ việc dành cả đời khai thác một mảnh đất sở trường, bằng việc làm cho chính mình tan biến. Sự mệt mỏi của nhà văn báo hiệu sự táo bạo. Một, hoặc những, vòng đời tiểu thuyết khác đã len lỏi xuất hiện, từ chính khoảng khuất của nhân vật chính, của nhà văn đó.
Khi số lượng tác phẩm của một nhà văn đủ lớn, bản thân tác phẩm có lẽ không còn quan trọng bằng những ý nghĩa khác. Quả thật, đã đến lúc quay trở lại với những vấn đề hết sức cơ bản của văn chương: tài năng cần được quan niệm như thế nào? Rimbaud hay Verlaine? Lautréamont hay Mallarmé? Rimbaud là một ngôi sao băng tự nguyện, Lautréamont, sao băng không tự nguyện (Lautréamont mất năm 24 tuổi vì bệnh [2] ). Phê bình xoay quanh Rimbaud và Lautréamont thường xuyên theo lối bới tung huyền thoại, hài lòng với những giai thoại và những khoảnh khắc thiên khải của nhà phê bình. Phê bình văn học thích nhìn vào những gương mặt thiên thần, dù thiên thần cũng có lúc đen tối. Văn chương sùng những gương mặt tuổi trẻ, như một niềm ngây thơ dai dẳng. Các vị trưởng lão của thi ca, vì số phận buộc các “hoàng tử của thơ ca Pháp” (sau khi Verlaine qua đời năm 1896, Mallarmé nhận lại danh hiệu đặc biệt, rất có thể không ai muốn nhận, đó) phải trải qua những cuộc đời dài dặc, không có vinh hạnh được biến mất sớm, chấp nhận tuổi già của thơ ca, chấp nhận sự nổi tiếng nhàm chán từ khi đang còn sống. Nhưng bầu trời không được tạo thành từ những ngôi sao băng, lịch sử văn chương không thành hình nếu không có cái nền của những Verlaine và Mallarmé, để đôi lúc vụt sáng lên với một vài Rimbaud, Lautréamont hay Raymond Radiguet.
Tài năng rất có thể nằm ở độ dài, không phải ở sự ngắn ngủi. Rất có thể một tài năng phải chấp nhận những cuốn sách không lóe sáng, những cơn mệt mỏi sáng tạo kéo dài. Và chỉ trường độ mới có đủ chỗ cho thay đổi. Aragon nếu cuối đời không thay đổi, lấy cái u uẩn tuyệt diệu khỏa lấp những nặng nề của dòng văn ảo tưởng hiện thực thì không có một đại văn hào Aragon. Tồn tại của tài năng là thứ tồn tại trong tồn tại. Chấp nhận được nhà văn mỗi năm xuất bản một cuốn tiểu thuyết là biết chấp nhận nhìn thẳng vào bản chất của tài năng. Một nhà văn viết được liên tục không chỉ là một nhà văn dũng cảm, hay một nhà văn chuyên nghiệp. Hai ý nghĩa đó có, và quan trọng, nhưng ở bản thân người dám cầm cây bút, viết không đứt đoạn là một thử thách với bản thân thuộc tính rời rã và phân mảnh của cuộc đời mỗi con người. Ý nghĩa của một cuộc đời có thể nằm ở nỗ lực chứng minh trong tuyệt vọng, rằng những phân khu lẻ tẻ cốt yếu của sống vẫn có khả năng trở thành một đường cắt đẹp, một chỉnh thể.
Từ T mất tích, Thuận mới bắt đầu gây chú ý thực sự với tư cách nhà văn. T mất tích là cuốn tiểu thuyết về những quan hệ đã mất đi nhân tố quan trọng nhất có khả năng xâu chuỗi những yếu tố khác, nhân tố trung tâm. Người đọc chỉ được cung cấp một khả năng rất nhỏ là mường tượng ra cái yếu tố chủ đạo đó qua những gợi ý lẻ tẻ. Mà mường tượng đó có thật sự cần thiết hay không? Cái tên T vừa xuất hiện là ngay lập tức có những yếu tố khác đẩy nó đi ra xa. Người đọc lúc nào cũng cảm thấy hẫng hụt, như thể sắp biết được thêm về con người giấu mặt ấy, hiểu rằng điều đó vô cùng quan trọng, nhưng lúc nào cũng bị thất vọng. “Việc mất tích của T tôi không kể cho ai”, câu văn tưởng chừng thông báo một tín hiệu, nhưng hóa ra ngay sau đó lại là một câu văn khác mang tính chất chạy trốn; cái trung tâm giả vừa lấp ló xuất hiện ngay lập tức trở về hư vô: “Cũng như T, tôi không có nhiều người thân”. Thật ra người chồng, còn lại cùng đứa con gái không biết nhớ mẹ, có muốn tìm lại T hay không? Hay T vừa là cái cớ để anh ta làm những việc chưa bao giờ làm, cũng là cái cớ để nhà văn kể một câu chuyện chưa bao giờ kể, lại vừa là một giả lý do cho những xung động tiểu thuyết dồn lên, lúc ngập ngừng, lúc thôi thúc?
Có một độ chênh trong T mất tích. Thuận chưa tìm được lối viết tối ưu để diễn đạt điều muốn diễn đạt. Những nhân vật lạnh lùng của Thuận, lạnh lẽo giữa cái “société” theo cả hai nghĩa, xã hội và công ty, hai thiết chế tổ chức cuộc sống bắt buộc của đời sống hiện đại, những nhà tù do thứ quyết định luận thời nay đặt ra, và xa lạ với ngay cả những người thân của mình, có lẽ đòi được nhà văn dành cho một ngôn ngữ ảm đạm hơn, không chứa đựng những chỗ giật nảy lên của những câu như “Cái đói làm tôi hoa mắt. Và bụng thì đình công”, hay “Những người xung quanh cười hưng hức, máy tự động không ngừng tuôn cà phê”. Nhưng lối viết thể hiện trong T mất tích đã rất gần với mức độ mà một người đọc khó tính đòi hỏi. Không có cuốn sách hoàn hảo, và quyết định luận tri thức đòi hỏi phải dành cho người tiếp nhận một phần trăm nhất định cho tự vấn và nghi ngờ, và cả phản bác. Theo nghĩa đó, T mất tích rất có thể mở ra một chặng đường văn chương khác của nhà văn Thuận. Ít nhất đó cũng là điều người ta có thể chờ đợi một cách bình tĩnh từ một cuốn tiểu thuyết khác, và lạ, như T mất tích.
T mất tích là một sự tiếp tục theo hai nghĩa. Một mang tính khẳng định, một khẳng định quyết liệt: Thuận tiếp tục con đường của một nhà văn đầy ý thức. Một mang tính phủ định, một phủ định không dễ dàng: Thuận từ chối làm ngôi sao băng.
Chú thích:
[1] Made in Vietnam, Văn Mới, California, 2003; Chinatown - Phố Tàu, NXB Đà Nẵng, 2005; Paris 11 tháng 8, NXB Đà Nẵng, 2005.
[2] Lautréamont, tên thật là Isodore Ducasse (1846-1870), tác giả của tập thơ văn xuôi huyền thoại Những khúc ca Maldoror (Les Chants de Maldoror), tạo ra một cuộc cách mạng về ngôn ngữ thơ ca, theo đánh giá của các nhà phê bình lớn như Julia Kristeva hoặc Maurice Blanchot.

9/12/2006
Cao Việt Dũng
Nguồn: Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Công ty 
Nhã Nam, 2006, 257 trang, bìa của Trần Trọng Vũ
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Mùa thu đã già 000000

Mùa thu đã già Chương 1 thu chưa tới sao đã già chắc đến lúc bóng nhạn sa lưng đồi   (Vô Danh) 1. Ngồi trên chiếc ghế da cũ đặt tại phòng...