Bếp lửa 2
5. Về Bắc Ninh tôi bị cảm khản tiếng mất một tuần phải nghỉ làm việc. Những buổi sáng mùa đông buồn rầu thêm. Tôi nằm lỳ trên giường không buồn trở dậy. Những tiếng ồn ào từ trong lớp học giờ làm việc, ngoài sân giờ ra chơi, bay lên qua một khoảng xa cách lắm, tôi đợi từng bước chân ngoài hành lang.
Mỗi bữa cơm ông già gác mang lại phòng cho tôi một bát cháo
nóng - buổi trưa kèm theo một tờ báo hằng ngày. Tôi lười, thoái thác không xuống
phòng ăn. Tôi đọc báo, nhìn cuộc đời bình thản qua như những cuộn mây xám thường
ngoài cửa sổ buổi chiều. Và tôi ngủ những giấc ngủ đầy hơi thở nóng và mồ hôi
cùng trống ngực.
Linh mục Tân đến thăm tôi hàng ngày khoảng 4 giờ chiều và ở
phòng tôi chừng mười lăm phút. Nhiên săn sóc tôi vào buổi tối khi những tiếng
chuông khóa lễ chiểu đã im. Nhiên thường ngồi nói chuyện. Anh kể về gia đình, về
thời thơ ấu, và ơn trên đã kêu gọi anh để dâng mình cho Chúa, bằng giọng bình
thản như đọc một đoạn sách thánh kinh. Bà nội anh muốn có một người con dâng
mình cho Chúa, nhưng cha anh lại là con một. Tiếp theo Nhiên là đứa cháu độc nhất.
Đứa cháu độc nhất ấy nghe ở linh hồn mình từ nhỏ âm vang lời kêu gọi của Thiên
chúa và Nhiên mong rằng sẽ làm thoả mãn khát vọng của những người sinh thành.
Trong những lúc ấy tôi nhó lên ngọn điện yếu mỏng chập chờn như muốn tắt.
Đại không sang, những thư từ của tôi được cho vào phong bì lớn
dán kín gởi sang trường. Tôi nhận được thư của Francoise trách tôi lười viết,
nàng hỏi tôi có nhận được thư của nàng không. Nàng cho biết hiện công tác vận động
những gia đình có con em chiến đấu ở Đông Dương để làm kiến nghị yêu cầu chấm dứt
chiến tranh ở đây. Đồng thời cùng với một nhóm bạn hữu thanh niên nàng đã gặp
Sartre, chất vấn về vấn đề cộng sản và cách mạng. Nàng bảo nàng hơi đen và gầy
hơn nhưng cũng cao hơn. Nàng vừa kỷ niệm sinh nhật thứ mười chín của nàng.
"Pauvre Francoise!"
Hoà tả những trận mưa ở đồn điền dài ba trang giấy mỏng. Và
Ngọc:
"Mày ơi!"
"Mày còn thì giờ để ý đến tao ư? Tao tưởng mày nghĩ đến
thân phận mày cũng đáng đủ lắm rồi. Thằng Bảo cho tao lãng mạn và chắc rằng
chúng mày cũng đồng ý với nhau. Nhưng hỡi ôi! Lãng mạn phải là chúng mày mới
đúng. Đau khổ cho nhiều vào, đọc sách cho nhiều vào, xót thương mình chưa đủ rồi
xót thương người…. để mơ mộng: cách mạng. Ôi chao cách mạng. Cách mạng để làm
gì? Những con ngựa bị hành hạ đau quá thì lồng lên hất thằng dô kề ngã mà chạy.
Chạy đi đâu? Thằng dô kề nó sẽ túm được, nó đánh đập tàn nhẫn hơn và lại xỏ
cương trèo lên lưng.
Thế nào tao cũng bỏ đất này đi, tao can đảm thú thực như thế,
chết ở chỗ khác yên thân hơn. Còn hơn chúng mày lòng tin đã mất mà không dám
thú thực, mà vẫn cố gắng giả tin.
Bằng chứng là chúng mày có tự do đâu, thằng Bảo vợ cái be nước
mắm, mày bỏ trường này rồi cũng đến trường khác. A-men, mày đang tìm đến với
Chúa đấy.
Cầu Chúa che chở cho cái thằng sâu kiến lúc nào cũng tưởng
mình lớn ngang đức Chúa. Làm dấu thánh giá và quỳ xuống."
Tôi quên lá thư của Ngọc. Ngọc mở ở bàn đêm đầu giường. Buổi
chiều tôi ngủ chập chờn, khi mở mắt Nhiên ngồi cạnh và đã bật đèn. Nhiên hỏi:
"Anh không ăn cháo? Để tôi bổ cam anh xơi."
Tôi ngồi dậy nói:
"Cám ơn anh, tôi có thể làm lấy được."
Tôi bổ cam ở bàn, nhìn ra cửa sổ, gió khoan khoái một chút.
Nhiên hỏi:
"Anh cho là có Thượng Đế hay không?"
Tôi suy nghĩ rồi trả lời:
"Câu hỏi ấy chưa bao giờ làm tôi thắc mắc cả.’’
Tôi không nghĩ đến nó.
Nhiên lại hỏi:
"Anh có nhận rằng ở đời có một cái gọi là Thiện, một cái
gọi là Ác, có công bằng, có tự do, có bác ái…"
Tôi trông thẳng vào mặt Nhiên đáp:
"Có chứ tại sao không?"
"Vậy mà anh lại không tin Thượng Đế thì lạ thật?"
"Tôi tưởng những ý niệm ấy họp nhau thành một ý niệm
hoàn hảo hơn tất cả là Thượng Đế. Thường thường người ta nghĩ một vài ý niệm
khó thoả hiệp được với nhau như bình đẳng và tự do, những đạt đến sự hoà hiệp
chính là tìm về Thượng Đế rồi còn gì?"
Tôi bước vài bước đắn đo:
"Tôi nhắc lại với anh tôi không suy nghĩ về vấn đề ấy.
Theo tôi có những lúc người ta giải quyết giữa người với người và Thượng Đế
không nên có mặt ở lúc ấy. Thượng Đế cần một hình ảnh tinh khiết. Có mặt khi
không cần thiết, Thượng Đế sẽ bị nhơ nhuốc lây và có thể bị mất ngôi. Mà ngôi
Thượng Đế có lẽ cần thiết lúc khác."
"Thượng Đế sẽ giải quyết những vấn đề của loài người nếu
loài người biết tìm về đến Người."
"Không, tôi không tin như thế, Thượng Đế không sống cái
sống xác thịt của nhân loại. Khi Thượng Đế nhập thể thành người như Chúa Jesus
hay Phật tổ thì chính ở người ấy Thượng Đế đã bị lôi kéo vào tấm thảm kịch
riêng tư của loài người và chỉ có thể thoát ra với sự thất bại…"
Những buổi tiếp theo, Nhiên thưa sang thăm tôi – tôi nằm nghe
tiếng động ngoài hành lang và lòng mình.
Tôi trả lời Ngọc:
"Ngọc,
Con sâu ở giữa tim giữa hồn, giữa não, mày nhớ không? Đi đâu
cũng vẫn chỉ là mày – đau khổ và nhục nhã. Mà nào riêng có đất nước này hổ nhục
thôi đâu, mọi nơi mắt mày cũng chỉ nhìn thấy như đây. Không trốn được đâu, trừ
khi mày trốn được lòng mày.
Nhưng thôi tao vẫn cầu chúc cho mày đi đi cho thoả dồn nén, để
ngó thấy ở bất cứ một góc địa cầu nào những điều ghê tởm không muốn ngó, rồi
mày sẽ trở lại. Tất nhiên chán chường hơn nữa, nhưng từ chỗ chán chường cuối
cùng ấy tao còn mày hay mất mày vĩnh viễn.
Ngọc ơi! Mày còn nhảy xuống biển ngủ ở dưới ấy không? Con sâu
ở giữa tim, giữa hồn, giữa não.
Trước khi đi hãy thư cho bạn mày: Tâm."
Lễ Chúa Giáng sinh đến gần với những ngày rét cóng hơn. Nhà
trường vắng ngắt, những giáo sư ngoài như tôi đã về Hà Nội cả. Mặt sân cứng ướt
hiu quạnh trơ trọi không cây cối, tôi bước trên sạn vụn theo một cửa ngách sang
nhà thờ. Màu đá xám cao và lạnh lẽo thêm.
Những chiếc đèn màu hình ngôi sao, những dây hoa giấy sặc sỡ
buồn cười.
Vòm nhà thờ sâu, ánh sáng mờ ảo.
Tôi đi bên những hàng ghế mộc, đến máng cỏ Chúa hài đồng. Tôi
đứng cách xa ngắm những hình tượng được xếp đặt khéo léo. Vài người đàn bà nhà
quê mình như ở chợ rẽ vào, quỳ gối kính cẩn.
Rồi tôi xuống Đáp Cầu cho đến hết buổi sáng.
Tôi vẫn chưa biết nên về Hà Nội hay nên giam mình một tuần lễ
nữa trong chuỗi ngày rét mướt ở tỉnh lỵ. Con đường dốc, những sườn núi trơ đất
và đá đỏ, gió và hơi nước quyến lấy nhau ở không trung làm thành khói đặc nặng
nề, không một tiếng động ngoài một tiếng nổ của động cơ. Chiếc xe hàng đã đổ hết
khách ở Bắc Ninh chỉ còn lại vài người. thị xã tiêu điều với những nhà méo lệch.
Quán chợ lụp xụp nhớp nháp; chợ còn lại dẫy tường trắng loang lổ vết tích cũ.
Bữa cơm ăn với vợ chồng Long trong một gian buồng hẹp ấm. Mâm
bằng gỗ.
Tôi trở về Bắc Ninh gần ba giờ chiều.
Tôi ngồi trong một quán nước ở bến xe trong sự náo nhiệt ấm
áp của những người xuôi ngược và những người làm xe. Ở đây có những bát nước
chè tươi nóng, điếu thuốc lào. Trời mưa bay. Bỗng tôi trông thấy Hạnh, nàng mặc
tấm áo dài thâm đi ở ngoài. Nàng chào tôi và ghé vào quán.
Tôi hỏi:
“Cô đi Hà Nội?”
“Vâng”, Hạnh đáp.
Tôi mời nàng uống nước và chúng tôi uống những bát nước chè
tươi xanh nóng rộp lưỡi. Hạnh hỏi tôi:
“Anh cũng về Hà Nội?”
Tôi chưa biết trả lời thế nào Hạnh đã tiếp:
“Nếu tiện anh đi xe của em cùng về.”
Nàng nói tự nhiên còn tôi lúng túng. Hạnh lại nói:
“Chỉ sợ anh đi xe chở hàng thôi.”
Hạnh đưa tôi ra xe, chiếc xe cam nhông chuyên chở hàng hoá.
Sau xe trống, ngoài một thùng đựng ét xăng của nhà binh bỏ không và mấy tấm bao
tải.
Tôi và Hạnh ngồi phía trên cùng người tài xế và người phụ xe ở
đằng sau. Xe ra khỏi thị xã cùng với hạt mưa dầy hơn. Người tài xế đứng tuổi
hai bàn tay khô khan gân guốc chụp trên đầu chiếc mũ cát két dạ. Anh phụ xe trẻ
tuổi nói qua lỗ hổng lên với bác tài một câu gì. Hạnh ngồi sát vào tôi và tôi
nhận hơi ấm của nàng.
Nhìn thấy ở ngực Hạnh đeo hình thánh giá, tôi hỏi:
“Em theo đạo?”
Hạnh gật đầu trả lời:
“Khi còn ở hậu phương, bây giờ thì thôi rồi.”
Một lát sau xe chạy đều tốc lực, màu trắng phủ những cánh đồng
hai bên đường. Tôi hỏi Hạnh:
“Em còn nhớ anh xưa hay không?”
Hạnh ngước nhìn tôi rồi trả lời:
“Em nhớ những ngày nghỉ học anh thường hay đi theo em. Hồi ấy
nhà em ở hai nơi, Thị Cầu và Đáp Cầu. Đi về em phải qua nhà anh. Em mặc áo trắng
và cặp tóc và em đã được nghe anh nói là em đẹp nhất Thị Cầu.”
Tôi nắm lấy bàn tay nhỏ bé của Hạnh để vào lòng tay tôi từ
lúc nào, rất cảm động.
Hạnh nói tiếp:
“Một lần anh Long và một người bạn nữa đã thách anh đến vuốt
tóc em và anh đã làm thật. Ở con đường ra đồng trước cửa nhà một người Pháp có
nuôi một đàn ngỗng dữ và em đã về mách nhà anh cái tội trêu trọc em và tội đứng
đó ăn cắp trứng ngỗng.”
Tôi nắm chặt hơn bàn tay Hạnh, có cảm giác hổ thẹn về những
hành động ngây thơ táo bạo và tôi đáp:
“Nhưng em cũng biết là bà ngoại anh chẳng bao giờ trị tội anh
cả.”
Hạnh gật đầu và cái búi tóc nghiêng xuống vai về phía tôi. Hạnh
hỏi lại tôi:
“Học hết lớp nhất anh đi Sài Gòn? Anh làm gì?”
Tôi nói điềm nhiên và thành thật, ngoài ý muốn:
“Anh đã bán báo, làm thợ và học nghề chữa ô tô.”
Đến Hà Nội, mưa to lớn hơn. Chúng tôi cùng đi ăn cơm với
nhau.
Và đêm ấy tôi ngủ với Hạnh ở khách sạn.
6.
Tết đã qua. Mùa xuân kéo dài với những trận mưa phùn làm bẩn
hè phố. Tôi không đặt chân về nhà nữa. Ngọc và tôi ăn Tết cùng gia đình Bảo.
Chiều mùng một, tôi lên đón hai chị em Thanh đi chơi. Thanh
bày bàn thờ trên cái xích đông làm giá sách trước bàn học của Minh. Thanh bảo
tôi lễ tổ tiên. Tôi chắp hai tay và lòng bâng khuâng. Mùng ba Ngọc trở xuống Hải
Phòng. Chúng tôi uống rượu trước khi chia tay. Và Bảo đặt cái bánh chưng lên
bàn và bảo với Ngọc:
“Anh ăn bánh chưng đi, biết đâu chẳng là miếng cuối cùng trước
khi đi.”
“Vâng biết trước thế nào được”, Ngọc trả lời.
Ngoài ngõ những đứa bé nghèo nàn đang đánh đáo. Chúng tôi
không đưa tiễn nhau. Mùng chín tôi trở sang Bắc Ninh. Cái Tết đi qua có lẽ đã
quá vui khiến để lại cho thị trấn này vẻ trơ trẽn. Mưa bay ngoài cửa sổ và sự
chuyển vận của chiến tranh mỗi lúc thêm hấp tấp.
Đại vẫn chưa bỏ ra hậu phương. Trước khi về trường tôi có ghé
nhà thăm và chúc Tết ông Chính. Tình cờ tôi được biết Đại dan díu với Thịnh.
Trong suốt mấy tháng tôi không nhận được một hàng chữ nào của bạn bè. Tôi cùng
về Hà Nội với Hạnh vài lần. Những ngày ấy tôi dành riêng cho mình Hạnh. Gần
nhau, tôi nhận thấy chiến tranh, tổng quát là sự khủng bố tinh thần – đã thổi
vào máu Hạnh sự say đắm nhiệt tình trong yêu đương.
Sau mỗi lần như thế, khi lấy lại bình thường. Hạnh ngượng
ngùng. Một lần nằm cạnh tôi, Hạnh nắm tay tôi để lên ngực nàng và hỏi:
“Anh có khinh em không?”
Lúc ấy tôi đau đớn tất cả thân thể. Trời chạng vạng với mưa bụi
căm căm. Tôi thở dài trả lời:
“Em đừng hỏi và đừng bắt anh phải trả lời.”
Ở Đáp Cầu người ta phong phanh biết sự đi lại giữa Hạnh và
tôi.
Một buổi sáng rét tháng ba tôi lặn lội xuống thăm Long. Tôi
được ăn một bát bún riêu bỏng môi vì cay và nóng của chị Mùi và được chị cho biết
tin là Hạnh không trở về nữa. Chị Mùi nói:
“Cô ấy ra ngoài đến nửa tháng nay không thấy về.”
Tôi hỏi chị:
“Có tin tức gì không chị?”
“Có lẽ bị giữ lại. Người ta nghi cô ấy…”
Long đi Hà Nội vắng. Vợ Long đang có mang. Tôi nghĩ không ở lại
ăn cơm, trên đường về tôi nghĩ nhiều đến Hạnh. Nghĩ đến sự đam mê của Hạnh, tôi
bồn chồn cả người. Tôi tin rằng chẳng có bao giờ gặp lại người con gái ấy nữa.
Lễ Phục sinh tôi thăm Thanh gặp lúc nàng ốm nghỉ nằm nhà. Minh đi học vắng.
Thanh gượng dậy tiếp tôi. Tôi khuyên nàng nằm nghỉ và tôi kê ghế ngồi cạnh giường.
Sau khi hỏi thăm sức khoẻ của Thanh tôi ngồi im và không biết nói chuyện gì.
Tôi nhìn Thanh và mi mắt nàng hơi khép xuống nặng nặng. Nàng thở một cách đắn
đo. Tôi đứng dậy để đốt thuốc lá, Thanh bảo:
"Anh cứ tự nhiên, em không sợ thuốc lá đâu."
Tôi ngồi xuống và thở khói nhè nhẹ. Thanh bỗng nói với tôi:
"Anh rót cho em xin cốc nước."
Tôi sửng sốt vì sự quá đáng của Thanh. Chưa bao giờ Thanh dám
làm thế với tôi cả. Mặt tôi hơi sầm suống. Thanh lại nói tiếp như van lơn:
"Anh cho em xin cốc nước…"
Thanh định nói thêm điều gì lại thôi. Tôi miễn cưỡng làm theo
lời Thanh. Uống xong nước, Thanh nói:
"Em có câu chuyện muốn nói với anh."
Thanh cố ý giừng lại. Tôi hít một hơi thuốc lá dài và thở
khói um khiến Thanh phải sặc.
Nàng quay mặt đi bảo:
"Anh thổi khói vào mặt em."
Tôi thở nhẹ và khói tan dần. Mắt Thanh ướt ngấn nước và da mặt
nàng hồng lên mệt nhọc. Thanh kéo chăn chấm nước mắt nói rất nhỏ:
"Anh Tâm, anh xem Minh đã có thể lấy chồng được
chưa?"
Tôi ngạc nhiên không hiểu.
"Có người hỏi cưới Minh mà em phân vân quá."
Tôi gõ tàn thuốc lá đánh nhịp chân, hỏi:
"Minh năm nay bao nhiêu tuổi?"
"Mười tám."
Chúng tôi cùng im lặng, tôi thì nhìn khói thuốc. Tôi lại hỏi:
"Còn cô?"
"Hai mươi ba. Già rồi còn gì?”
“Ai bảo cô già?”
Thanh không trả lời và hình như mơ mộng điều gì. Một lát,
Thanh hỏi:
“Anh biết người thế nào hỏi Minh không?”
“Ai?”
“Chu.”
Giọng nói của Thanh cố gắng bình thản và mắt Thanh mọng cộm
lên. Tôi nhắc: Chu. Tôi cố gắng nói tự nhiên:
“Cô định sao? Đã hỏi ý kiến Minh chưa?”
“Em bằng lòng.”
Nghĩ hồi lâu, tôi trả lời buông xuống:
“Cũng được.”
Đám cưới Minh giản dị và mau chóng.
Chưa đầy một tháng sau câu chuyện giữa tôi và Thanh, Minh nghỉ
học ở nhà. Trầu cau được chia cho vài chỗ quen biết thân.
Theo ý của Chu, hai bên nhà trai gái mở chung một tiệc khách
sạn Phú Gia.
Khách khứa cũng không nhiều. Tôi phụ với Thanh thu xếp công
việc vì nàng vẫn chưa được khoẻ hẳn. Bữa ăn vào buổi tối gồm chưa đến ba mươi
người.
Mươi người họ hàng thân quyến của Chu, mươi người bạn cùng sở
Chu; bên này có mặt cô Nghĩa, ông Chính, Bảo, Nga – cô thợ cả của Thanh – hai
ba người bạn thợ của Thanh, mấy cô phù dâu và bạn bè của Minh.
Lâu không gặp tôi, cô Nghĩa nói đùa:
“Bao giờ thì anh lập gia đình?”
Thanh cũng đứng đấy cười trả lời thay:
“Dì không biết anh ấy lập gia đình rồi hay sao?”
Cô Nghĩa tưởng thật.
Chu đến. Lần thứ nhì tôi gặp lại Chu trong mấy năm về Hà Nội.
Chu nói:
“Minh đang ngồi khóc ở nhà.”
Tôi bảo:
“Cô gái nào chẳng vậy” - rồi tôi kéo Chu ra ngoài.
“Tôi cần nói chuyện với anh một lát.”
Nhưng khi ra ngoài, gió hơi lạnh, nhìn sang hồ nước im lặng
và thấp thoáng phản chiếu ánh đèn, tôi không biết tôi muốn nói gì với Chu.
Ông Chính gặp tôi hỏi:
“Sao anh ít về nhà?”
Tôi cho là ông quá tàn nhẫn khi đặt câu hỏi. Mà có lẽ ông đã
quỵ luỵ chăng?
Tôi ấp úng. Tôi bắt tay Đại hững hờ.
Thanh giới thiệu tôi với Nga. Tôi nói:
“Chúng tôi đã gặp nhau một lần.”
Nga cúi đầu nhận. Thanh quên buổi tôi lại đón Thanh ở cửa
hàng để lấy cái khăn quàng cho Đại. Đại quàng cái khăn ấy.
Nga hỏi câu mở đầu khiến tôi ngạc nhiên vô cùng:
“Ông viết văn?”
Tôi bị lúng túng và trả lời:
“Thưa cô, không. Tôi chưa bao giờ” - ngừng một giây nhỏ - “À!
thời trước thì có. Cô nghĩ tuổi trẻ người nào đã chẳng từng viết đôi ba dòng.
Làm một vài câu thơ. Bây giờ thì tôi chưa hề nghĩ đến.”
Nga nhìn ý tứ:
“Thế mà tôi vẫn đinh ninh ông viết văn.”
Tôi thấy được không khí thân mật và bạo dạn nói:
“Nếu thế có lẽ chính cô viết văn.”
Nga đáp thẳng thắn:
“Vâng tôi bắt đầu.”
Bảo bước vào với tất cả vẻ cũ kỹ ngô nghê ngày thường của
anh: bộ quần áo kaki kiểu nhà binh. Tôi bảo với Nga khi Bảo còn ở đầu phòng:
“Cô có thể nói chuyện văn chương với ông bạn tôi.”
Đại cũng đi về phía chúng tôi. Tôi khó chịu về sự góp mặt của
những người không ưa nhau, Bảo và Đại.
Bữa ăn chưa xong thì Đại kiếu từ ra về dù Thanh cố mời giữ.
Thanh tiễn Đại ra ngoài.
Tiệc tan vào khoảng hơn mười giờ đêm. Tôi và Bảo đưa Thanh và
Nga về nhà. Thanh giữ Nga về ngủ chung. Chúng tôi qua đường phố hiu quạnh. Mọi
vật ấm lạnh se se, cây cối, vỉa hè, mặt nhà. Thanh và Nga đi sát nhau. Tôi và Bảo
cách xa, Thanh nói:
“Có lẽ anh Đại không bằng lòng điều gì. Em đã xin lỗi với anh
ấy mãi.”
Tôi muốn kêu lên: Hắn là một thằng hèn. Tôi biết hắn về tình
tự với Thịnh. Bảo vẫn trầm ngâm.
Thanh nói, tiếng nói vang trên chòm cây xôn xao:
“Hôm nay không có chị Nga ngủ một mình đến khóc mất” – Không
ai trả lời, chỉ những tiếng bước bâng quơ. “Con gái nào chẳng vậy phải không
anh Tâm?”
Nga lên tiếng:
“Chị đã hứa về ở với tôi cơ mà.”
Tôi tiếp lời:
“Phải đấy cô về ở với cô Nga. Hai người một mình ở với nhau
cho vui.”
“Không, còn mẹ tôi nữa.”
Tôi rùng mình gần như đứng lại vì lạnh.
Có lẽ lạnh, không phải vì câu nói bâng quơ ấy? Sắp sửa đến
ngày giỗ mẹ.
Thanh hát nhỏ, rất nhỏ trong cổ họng, điệu quen thuộc, tôi đã
nghe. Trở về mái nhà xưa.
Bảo bỗng nói với Thanh:
“Từ ngày cô hát trên đài chưa bao giờ tôi được nghe cô cả.”
“Thế thì không bao giờ anh được nghe nữa cả bởi vì tôi đã giải
nghệ.”
Nga: “Giải nghệ?”
Thanh: “Chứ sao!”
Tôi đợi đến một ngã tư mới nói:
“Không, cô nên hát.”
Thanh nhại:
“Không, cô nên giải nghệ.”
Từ đấy không ai nói một lời.
Thanh cứ hát nhỏ như cho mọi người nghe lần cuối. Hàng phố bé
lại trong đêm khuya và lùi xa như tiếng hát.
Khi cánh cửa đã đóng sau lưng Thanh và Nga, tôi tôi còn nghe
thấy tiếng hát ấy ở trên tay tôi. Trở về mái nhà.
Xưa.
Còn lại hai người đàn ông đi chân về ngoại ô.
7.
Những ngày làm việc đều đều tiếp nhau. Nhiên không còn ở lại
trường nữa, anh phải đổi về Nam Định. Hôm chia tay tôi tiễn Nhiên ra bến xe. Rồi
tôi thui thủi trong gian phòng cách biệt những giờ trống. Phòng bên – Nhiên ở
trước – không có người, khoá cửa. Buổi tối vẫn bóng đen nặng nề, với cái sân sỏi,
cột cờ khẳng khiu, nóc nhà thờ lạnh lẽo với những đợt bách kích pháo rung chuyển
xa xa gần gần và ngọn điện đỏ như đầu que diêm chưa tắt. Không ai còn nhớ đến
tôi vì không ai gửi cho tôi chữ nào, Francoise, Bình, Hoà, hay những học trò
tôi không còn nhớ. Ngày nghỉ tôi xuống Đáp Cầu thăm tin tức Hạnh. Ngọn núi bắt
đầu thấy cứng mình vì nghe nắng sắp về dữ dội. Những con đường cỏ hoang không dọn.
Gạch ngói còn nằm im. Quán hàng của chị Nùi đông khách thêm vì sự chuyển vận
binh sĩ không ngừng qua vùng này. Bát bún riêu nóng là món quà thường lệ của
tôi.
Long đã xin được một chân hương sư. Lớp học chữ dưới ngôi
đình cũ chỉ còn mái. Bàn ghế quyên tặng làm bằng đủ mọi thứ: có thể là cánh tủ,
cánh phản, câu đối… Những đứa trẻ nhỏ cũng nô đùa tự nhiên nhưng không đủ át
cái không khí vây quanh. Trời cao, cỏ rậm và bãi tha ma, những ngôi nhà lẩn
lút. Buổi sáng chết lặng đi với những tiếng động tưởng như không có chút nào
liên lạc với nhau. Tiếng búa gõ trên gỗ, tiếng máy nổ, tiếng phi cơ, trẻ con cười
đùa và tiếng bước của thời tiết, trên lá cỏ, và trên nóc nhà.
Ở Hà Nội, Thanh về với Nga, Thanh không hát nữa. Từ ngày ấy
tôi chưa về Hà Nội lần nào mà cũng không muốn về. Một ngày nhận được thư của Ngọc:
"Tâm,
Mày hãy tỏ ra mày tự do. Bằng cách nào? Từ cái chức giáo sư
quèn ấy đi. Nếu không kiếm được công việc làm nào khác thì xuống đây tao nuôi.
Tao cho mày tự do. Mày sẽ sống như cuộc đời của tao đây này. Rồi mày sẽ hiểu tại
sao tao lại nghĩ vậy. Tao đã ăn một cái Tết khá đầy đủ với chúng mày. Cám ơn,
cái Tết cuối cùng đấy vì tao sắp đi rồi. Chuyến này thành sự thực. Mày hãy xuống
mau sống nốt với tao những ngày ở xứ này. Mai kia tao còn nhớ mãi mãi.
Dù con sâu con mọt có nằm giữa tim giữa óc hay giữa… ông cũng
đếch cần. Ông cần mày, cần ngay để ông đi. Truyền lệnh! Ngọc.”
Tôi nằm rất lâu trong bóng tối. Hình như tôi sốt. Cho đến khi
cha Tân vào phòng. Ông nói:
“Thầy không bật đèn lên?”
Tôi ngồi lên xin lỗi và làm theo lời ông. Ông ngồi xuống vẻ mặt
nghiêm trọng. Tôi cất lá thư của Ngọc, khoác thêm áo đến ngồi đối diện với ông.
Vẫn những tiếng nổ thường lệ làm nền cho buổi tối. Ông Tân hỏi:
“Hình như thầy không được khoẻ?”
Tôi vẽ một nụ cười.
“Bị sốt xoàng thôi, cám ơn cha.”
Một lát cha Tân vẫn chưa nói thêm. Tôi bỗng nói:
“Tôi muốn xin phép cha nghỉ độ nửa tháng.”
“Thày có thể nghỉ dài hạn cũng được.”
À đó là lý do ông đến thăm tôi buổi tối hôm nay trong giờ cầu
nguyện của ông. Tôi ngạc nhiên một chút rồi dửng dưng ngay.
“Vâng thế cũng được.”
Tôi ngồi lại trong buồng nghe tiếng sột soạt của bộ quần áo
tu sĩ xa dần ngoài hành lang. Tôi thấy nhẹ nhõm. Tôi không hỏi vì cớ gì ông muốn
tôi nghỉ việc cũng như ông đã quên không nói cho tôi biết. Lối làm việc cẩu thả
của tôi chăng? Những tư tưởng tôi đã nói trong giờ học đáng lẽ không nên nói
chăng? Tôi cũng chẳng buồn quan tâm. Tôi nhẹ nhõm vô cùng và ngủ một giấc thật
say.
Tôi thức dậy sớm khi trời chưa sáng, thu xếp hành lý. Ông già
gác đã thức dậy thấy ánh đèn, lên phòng tôi, ngạc nhiên:
“Thầy sửa soạn đi đâu sớm?”
Tôi hơi buồn vì giọng nói và sự có mặt của ông già. Ông vẫn
khoác tấm áo dạ tôi trông thấy ngày mới đến trường này. Tôi đáp:
“Tôi nghỉ việc rồi.”
Ông già không hỏi gì thêm lẳng lặng giúp tôi một tay. Tôi
nói:
“Từ hôm nay ông không lấy báo cho tôi nữa nhé.”
Tôi đi trong sự vắng lặng hoàn toàn của buổi mai chưa một ai
trở dậy. Vẫn ông già xách giúp tôi cái va ly đi sau như ngày mới đến. Trời nắng
đục, gác chuông cao và lạnh. Tôi giẫm trên những viên đá sỏi.
Ông già gác đặt va ly xuống mở khóa cổng. Tôi bảo ông:
“Ông nói với cha Tân và cả trường tôi xin lỗi gửi lời từ biệt
vì đi sớm quá. Đi thế này cho mát.”
Và tôi bắt tay, bàn tay răn reo khô khan:
“Chào ông.”
Tiếng cửa sắt đóng sau lưng tôi và phố còn ngủ với những căn
nhà yếu ớt của nó. Bến xe đã ầm tiếng nói cười. Tôi vào quán ăn điểm tâm và nhớ
cuộc gặp gỡ với Hạnh. Mưa thoang thoáng.
Người phu xe nói:
“Đi giờ này là cảm tử nhất.”
Xe ra đầu tỉnh trời đã sáng hẳn, tiếng ồn ào ở phía sau rồi.
Một vài học sinh đi ngang xe cúi đầu chào tôi.
Xuống bến xe ở Hà Nội nắng mới bắt đầu lên. Tôi nghĩ đến ông
Chính và tôi nghĩ phải về nhà.
Nhà khóa trái cửa. Tôi hỏi thăm người ở chung. Ông Chính bệnh
nặng đêm qua, sáng này phải đưa sớm xuống nhà thương Bạch Mai. Tôi gửi hành lý
và thuê xe xuống Bạch Mai.
Ông Chính đã chết.
Tôi đến không kịp nhìn ông lúc hấp hối. Người ta đã mang ông
xuống nhà xác. Ông bị bệnh màng óc. Từ trên gác cao lạnh lùng nhạt nắng, tôi đi
xuống theo những con đường ngang đến nhà xác. Những tiếng động ở đâu, còn tôi
tiến dần đến vào sự im lặng. Tôi nghe thấy một tràng cười rũ rượi. Khu điên gần
đấy. Những cây cao ngó xuống.
Thịnh ngồi gác ủ rũ trên đầu ông Chính và Đại đứng cạnh. Thấy
tôi vào Thịnh khóc nức nở. Tôi giở tấm khăn phủ mặt ông Chính và nước mắt tuôn
tràn. Mặt ông đó còn tất cả sự đau đớn hành hạ trên nếp răn. Tôi cúi đầu rất
lâu để mặc cho nước mắt chảy. Tôi ghi hình ảnh người cha ghẻ lần cuối. Người
thân cuối.
Sao Thịnh lại không khóc nữa và tiếng chim sẻ ríu rít ngoài
kia? Rồi tiếng ai tấm tức. Đó là một thiếu phụ trẻ ngồi bên một cái xác cuối
phòng. Chắc là chồng nàng.
Tôi bảo với Thịnh:
"Chúng tôi đi ra ngoài."
Con đường rợp. Đại húng hắng ho. Thịnh sụt sịt. Tôi chỉ còn một
ý nghĩ: Ông Chính chết, chết đột ngột quá.
“Sao anh ít về nhà?”
Câu trối trăng của ông với tôi đó chăng? Về nhà ư? Còn ít
ngày nữa là đến giỗ mẹ. Tôi thắp hương chỗ nào. Mộ mẹ tôi nằm tận vùng quê ngoại
mà chiến tranh đã vây lấp.
Uống xong bát nước nóng - Thịnh bảo cho khỏi cảm – tôi từ biệt
hai người.
Tôi đến với Thanh.
Thanh va Nga bỏ công việc ra tiếp. Tôi muốn tiếng máy may cứ
nhịp đều. Tôi bảo Thanh:
“Ông Chính mất rồi, sáng nay.”
Thanh nhắc lại:
“Ông Chính mất rồi.”
Tôi thấy Nga kín đáo đưa khăn tay chấm cuối mắt. À, giữa
Thanh và ông Chính có liên lạc gì. Cứ nói ngay với tôi nữa.
“Sao anh ít về nhà?”
Nga bảo:
“Chúng mình có thể về được đấy Thanh ạ.”
Ngoài đường vẫn còn đôi người nhàn rỗi đi dạo nốt mùa xuân muộn
sót.
Tôi theo hai người cho đến khi gặp một bà cụ già ngồi ở đầu
phản: mẹ của Nga. Tôi cúi chào.
Đám ma của ông Chính đưa về nghĩa trang Quảng Thiện. Có mặt Bảo,
Thanh, Nga những học trò của ông Chính, vắng mặt Đại. Một vài người bạn của ông
Chính tôi chưa gặp bao giờ thì thầm ngơ ngác. Nghĩa trang đẹp trên khu đồi nhiều
cây cao. Tôi ném viên đất thứ nhất lên nắp quan tài, Thịnh lăn lộn trên cỏ như
một con chó điên, tóc tai rũ rượi, tay chân cào cấu. Người ta đã mang đặt những
vòng hoa lên nắm đất. Thịnh vẫn úp mặt xuống cỏ. Không có Đại. Tôi chẳng quan
tâm. Thanh và Nga đỡ Thịnh dậy. Và Thịnh cũng im bặt. Chúng tôi đi về.
Buổi tối về nhà. Căn nhà vắng vẻ không hương khói. Thịnh ngồi
co ro trong một góc phản, tôi hỏi:
"Chị không lập bàn thờ thầy?"
Tôi không được tự nhiên khi nói tiếng thầy. Không còn liên lạc
gì nữa. Quá khứ rồi.
"Tôi không ở đây" – Thịnh bình thản trả lời.
"Tôi với anh không có bổn phận gì với nhau. Tôi đợi để trả nhà anh."
"Nhà tôi." Tôi muốn cười lớn. Nhưng tôi cho Thịnh
nghĩ phải. Tôi lại hỏi:
"Anh Đại đâu không thấy về?"
"Anh ấy đi rồi. Anh ấy được liên lạc từ tuần trước nhưng
nán lại vì thầy chết. Anh đi hôm qua."
"Còn chị?"
"Tôi đã nhận được chân vú em đi xa." Tôi quay ra mặt
đường. Tôi đã nhận thấy bụng Thịnh mang thai. Đến lượt Thịnh hỏi tôi:
"Còn anh?"
"Tôi thất nghiệp, tôi cũng không còn gì để ở đây nữa. Chị
có thể bán hết đồ đạc trong nhà này giữ làm vốn, tôi không cần bằng chị."
Chúng tôi im lặng. Ở giữa chúng tôi không còn gì ngoài người
đã chết. Tôi nhớ đến buổi tối trước hôm sang Bắc Ninh tôi đã nói chuyện với ông
Chính. Ở giữa chúng tôi cũng có một người chết. Cuốn Crime et châtiment lật
ngửa ở đầu giường. Tôi muốn kêu lớn: nó là thằng hèn, có nó ở đây tôi đập vào mặt
nó.
Tôi bỏ Thịnh với gian nhà và xuống Bảo.
Vợ Bảo dọn giường cho chúng tôi. Đứa con Bảo khóc và mẹ nó
ru. Nửa đêm chúng tôi thức giấc, tôi nói:
"Mai tôi xuống Phòng với Ngọc."
Bảo không trả lời.
Bảo đưa tôi ra xe xuống Phòng. Chúng tôi đi xe điện xuống bờ
và đi chân lên bến xe. Tay tôi vẫn xách chiếc va ly nhỏ ngày sang Bắc Ninh đựng
chừng ấy thứ quần áo và vật dụng. Bảo hỏi:
"Anh xuống chơi hay ở hẳn dưới với Ngọc?"
Tôi đáp:
"Chưa biết."
Ngồi trên xe đợi chạy, tôi có ý định bỏ dở cuộc đi. Tôi không
biết xuống Ngọc xong tôi sẽ làm gì hoặc đi đâu. Xe đến Hải Phòng đã quá trưa,
tôi ghé quán ăn cơm trước khi tìm địa chỉ Ngọc.
Đến nơi tôi bước lên căn gác trong ngõ Cô Ba Chìa, ọp ẹp trống
trơn trơ một cái bàn mộc và một manh chiếu.
Ngọc đã đi theo một chiếc tàu biển được hai hôm. Người đàn bà
thổi cơm cho Ngọc trao tôi mảnh giấy Ngọc viết lại và nói:
"Ông ấy đi gấp quá. Ông dặn nếu ông xuống ông có thể ở
đây vài hôm rồi hãy về."
Thư của Ngọc:
"Tâm ơi,
Thế là tao đi rồi. Không hiểu sao tao cứ đinh ninh mày sẽ xuống
gặp tao. Nghĩ rằng mặt mày sẽ ngơ ngác như chú chim chích trong rừng sao tao
khoái làm vậy.
Còi tàu đã rúc, khói tàu đã nhả, sóng biển đã vỗ và hồn đây
căng buồm.
Còn bao giờ tôi trở lại mảnh đất này không?
Không biết, mặc.
Tao đi không mang theo hành lý chỉ có hình ảnh mẹ, các em và
chúng mày.
Thế là quá nặng cho một người. Mày sẽ về từ biệt hộ tao với vợ
chồng Bảo.
Ờ tao đi không phải chia ly mà chính chúng mày chia ly hộ tao
mới sướng chứ. Tao đã dặn bà chủ nhà trong trường hợp mày xuống bà sẽ trao bức
thư này, cho mày tá túc vài hôm tùy ý mày. Cứ yên chí ở chơi coi như tao vắng
nhà ít bữa."
Tôi không biết nên bắt đầu như thế nào buổi chiều này.
Ra khỏi nơi Ngọc ở, tôi đứng trước một khúc phố rộng nhưng xơ
xác chạy tới phía nhà ga hiu quạnh. Bên kia đường vài gian nhà đang xây dở.
Tôi đi mãi trong phố đông người và rẽ vào một rạp chiếu bóng.
Tôi dẫn một đứa bé lem luốc ở cửa rạp vào. Tôi trở ra khi buổi chiều lặng lẽ xuống.
Những người đi làm về. Tôi gặp những toán lao động trai gái. Tôi cứ cảm tưởng
Ngọc lẫn đâu trong ấy và trêu cợt tôi.
Dần dần tôi đến khu nhà Tây vắng vẻ. Tôi mong gặp một người
quen.
Ngồi bên kè đá tôi nhìn mặt nước rộng, nước cuộn chảy. Những
chiếc thuyền và những thân tàu.
Một người ngoại quốc biểu diễn trượt nước trên dòng sông. Sau
lưng tôi người ta đi hứng gió. Một vài đôi tình nhân, một vài cặp vợ chồng, một
chiếc xe nôi của con Tây.
Chiều xuống thấp mãi gần mặt nước. Tiếng còi tàu um um.
Tôi đứng lên, đèn đã thắp. Cây cao tối như trong vườn nhà
thương.
Tôi về trải chiếu trên căn góc ọp ẹp Ngọc đã ở. Hắn đi thật rồi, như ông Chính chết như Đại đã đi. Không muỗi nhưng hơi lạnh về giữa đêm. Tôi mê gặp Hạnh và tỉnh giấc. Tôi không nhớ mình đang nằm ở đâu, mình đến đây làm gì. Chưa bao giờ tôi cảm nỗi tuyệt vọng ghê gớm đến như thế. Tôi có thể tự tử được. Nhưng tôi tự nhủ: Cũng thế thôi, phải, cũng thế thôi.
"Thanh,
Không ngờ Thanh còn nhớ đến anh.
Anh cảm động khi đọc thư. Anh tưởng nơi quê hương không còn
ai nhớ đến anh nữa. Đôi lúc anh vẫn ân hận rằng không buộc với xứ sở một dây
liên lạc nào ngoài anh ra. Người ta gặp nhau ngoài phố rồi quên nhau ngay, thì ở
quê hương hay một phương trời nào khác gì nhau.
Một hôm tình cờ anh nghe đài phát thanh nhà và được gặp giọng
hát Thanh.
Vẫn giọng ấy? Trở về mái nhà xưa. Anh định viết cho Thanh
nhưng anh nghĩ biết đâu Thanh đã chẳng quên anh rồi như mọi người. Được thư
Thanh anh phải cám ơn Thanh nhiều.
Thanh lại sống một mình. Nga đã lấy chồng. Chắc Nga đã thôi
viết văn rồi nhỉ? Bên này anh cũng có người bạn gái là văn sĩ nổi danh. Thanh
hát lại là phải, anh đã chẳng nói thế hay sao? Vợ chồng Minh vẫn mạnh khoẻ, được
mấy cháu rồi? Hãy nói với Minh lấy tên anh đặt cho một đứa con của Minh để anh
được đinh ninh anh còn nhiều liên lạc với quê hương.
Chúng ta là những người sinh ra để đi một mình suốt đời.
Thanh hãy can đảm nhận ra điều ấy. Đi một mình suốt đời khó nhọc đấy chứ. Không
một sự gì ràng buộc ta, thật là bất hạnh.
Những buổi trời lạnh, tự sửa soạn bữa ăn lấy, anh nhớ Thanh
hơn hết. Anh chỉ còn có Thanh và chắc Thanh chỉ còn có anh. Hãy cho anh sự tin
tưởng khi anh có dịp trở về quê hương, anh đã có sự ràng buộc thật thà từ trước,
ràng buộc, ấy là Thanh. Không phải những người cùng máu mủ với mình.
Chúng ta phải tự tạo lấy sự ràng buộc nhau để cùng nhau bám
chặt quê hương nếu không chúng ta sẽ mất trong sự quên lãng.
Anh yêu quê hương vô cùng và anh yêu em vô cùng.
Tâm."
Viết xong tại Thủ Dầu Một vào tháng 10-1956
Bạt
Mấy ghi nhận về Bếp lửa
Nhà văn thường là kẻ bất công với chính mình: bất công với những
gì hắn đã viết ra. Hắn thường nhìn lại tác phẩm của hắn với con mắt nghi ngờ,
không toại nguyện. Càng nghi ngờ, không toại nguyện khi đó là tác phẩm đầu tay
mà ngày nào, khi “chưa phải là nhà văn”, hắn đã hoàn tất với tất cả sự say mê
cuồng nhiệt, tình cảm mà mai đây, khi đã là nhà văn rồi, không dễ dầu gì hắn
tìm lại được. Với hắn dường như tác phẩm thật sự là tác phẩm hắn đang viết, sẽ
viết, đang hoàn tất, sẽ không hoàn tất bao giờ. Trong khi cuốn sách đầu tiên, đối
với hắn, chỉ là những bước chân dọ dẫm, những âm vang ngơ ngác của một thời: thời
mới lớn. Dường như tác phẩm đầu tay của một nhà văn luôn luôn gắn bó vào chính
cái thời mới lớn của nhà văn đó. Nó đánh dấu một thời mới lớn, nó chính là cái
thời ngu ngơ bất trắc đó. Cho nên trong chủ quan của nhà văn, nó là cái gì nhất
thiết phải được vượt qua, một cách nào đó, phải được chối bỏ. Nó không còn là một
khởi điểm. Nói là một bước lỗi lầm mà nhà văn muốn quên đi như một nỗi thất bại.
Trường hợp Philippe Sollers mới đây khi lên tiếng phủ nhận và loại bỏ tác phẩm
đầu tay 1 ra khỏi toàn bộ tác phẩm của mình là một
trường hợp điển hình. Tác phẩm đầu tay càng sớm trở thành cổ điển, nó càng là
lý do để tác giả nó hoài nghi và phủ nhận chính nó. Phải chăng đó là ý thức khốn
khổ của nhà văn khi bắt đầu nhận thức rằng mình “chỉ là một nhà văn”, bắt đầu
có một cái nhìn thấu suốt qua căn phần và định mệnh “nhà văn” của mình. Phải
chăng nơi đây, nhà văn cũng không khác gì nhà triết học, nói theo một bực thầy
hiện đại, chính là kẻ ”đời đời khởi nghiệp”. Viết, một cách nào đó, là viết chống
lại những gì mình đã viết, nhất là chống lại những tình cảm sôi nổi ngày nào thể
hiện qua những trang sách đầu tiên. Viết, một cách nào đó, là viết chống lại
tác phẩm đầu tay của mình, một khi “sự kiêu hãnh của tuổi nhỏ (đã) nhường chỗ
cho sự bình tĩnh ý thức”, một khi người ta “bắt đầu cầm bút thực sự”.
Mấy ý nghĩa tự phát và chủ quan trên đây đã đến với tôi sau
khi đọc lại Bếp lửa và sau khi đọc lại bài tựa do chính tác giả viết
lên đầu tác phẩm đầu tay của mình trong lần xuất bản thứ hai (Sáng Tạo, 1965).
Tám năm sau lần xuất bản thứ nhất (1957-1965), Thanh Tâm Tuyền đã có dịp nhìn lại
tác phẩm đầu tay của mình như một kẻ đứng ngoài kinh nghiệm của chính mình,
nhìn vào lại nó bằng một cái nhìn chân thật đến tàn ác, nếu cần. Tác giả muốn
nói gì với chúng ta qua lời thú thật đó? Một cuốn sách chưa thành hình, một tác
phẩm dở dang hay đúng hơn là một kinh nghiệm đã hoàn tất? Cuốn sách của một người
mới lớn liệu có thoát ngoài kinh nghiệm của chính tâm hồn mới lớn đó? “Lúc hắn
viết cuốn sách này, hắn chưa phải là một nhà văn, không muốn là một nhà văn. Hắn
chưa biết mình muốn gì vì hắn muốn tất cả”. Tất cả ở đây phải chăng là toàn thể
cái kinh nghiệm sống mà hắn muốn thể hiện lên những trang sách thứ nhất đó? Cuốn
sách đầu tiên, đó chưa là kinh nghiệm của tác phẩm mà là tác phẩm của một kinh
nghiệm. Cho nên khi nhìn lại cuốn sách đầu tay của mình, để trở lại với một ý
nghĩa ở trên, tôi nghĩ nhà văn có thể phủ nhận nó như một kinh nghiệm, một kinh
nghiệm khốc liệt mà chính hắn đã trải qua, một kinh nghiệm đã làm biến đổi tâm
hồn hắn, đã dìu hắn đến ngồi vào bàn, viết dòng chữ dầu tiên, “Tôi tìm Thanh ở
chỗ làm việc của nàng…”, dòng chữ đầu tiên hay chính là lời nói đã tìm được cơ
hội thốt lên và chính hắn cũng đã tan biến vào lời nói đó.
Có lẽ không phải tình cờ khi phần đông các tác phẩm tiểu thuyết
đầu tay đều viết ngôi thứ nhất. Hãy nói một cách đơn giản hơn: nó là lời nói của
một con người, một kinh nghiệm. Con người đó đã từng sống thật trước khi biến
thành nhân vật tiểu thuyết và tác giả không là kẻ sáng tạo nên nhân vật tiểu
thuyết của mình: hắn chính là nhân vật tiểu thuyết đó (Narcisse chết: hắn là kẻ
không biết dùng chữ, đáng tiếc!)
Tác phẩm hay là một sự nối tiếp của một kinh nghiệm sống, một
thảm kịch sống. Phải chăng chính trong ý nghĩa đó, Bếp lửa nhất thiết
là một cuốn sách, nói theo tác giả, của một người “chưa phải là một nhà văn”.
Viết Bếp lửa, điều này cũng có nghĩa là sống (một lần nữa) cái thảm kịch
của chính nó đồng thời mời gọi người đọc tham dự không phải vào một thế giới
phù phép, giả ảo của chữ nghĩa mà vào thế giới còn nồng nàn hơi thở của sự sống.
Nếu nhận rằng có một hố sâu ngăn cách giữa văn chương và thực tại, giữa chữ và
nghĩa, thì ở đây, sự vinh quang của Bếp lửa chính là ở chỗ nó chưa
rơi vào sự sa đọa của tác phẩm, nó là cuốn sách còn là cuốn sách hiểu trong ý
nghĩa đơn sơ nhất của danh từ, cuốn sách của một người "Chưa phải là một
nhà văn, chưa muốn là một nhà văn". Bởi nhà văn cần thiết là một con
người sa đọa, hắn hy sinh thực tại cho mộng tưởng, hắn hy sinh thế giới cho
hình ảnh, hắn hy sinh sự sống cho chữ nghĩa, vân vân… Hãy nghe Thanh Tâm Tuyền
nói: “Mỗi nhà văn chính là một kẻ sống sót”. Kẻ sống sót với “sự thật” của những
người chết “truyền lưu” cho hắn. Nói khác đi, sự thật chính là sứ mạng của nhà
văn.
Nếu Bếp lửa thể hiện một sự thật, một kinh nghiệm
thì thất bại chính là tên gọi của sự thật, của kinh nghiệm đó. Trong một bài viết
của Thanh Tâm Tuyền, tôi có đi tới một nhận xét: “Đọc Thanh Tâm Tuyền tức là một
cách nào đó tham dự vào cuộc phiêu lưu trắc trở của một kiến thức lạc loài và bất
hạnh". 2
Nhân vật Bếp lửa chính là một trường hợp điển hình
của ý thức khốn khổ đó. Một ý thức khốn khổ hay một ý thức trong cuộc hành
trình vô vọng giữa hư vô và đổ vỡ. Một ý thức mà giấc mộng “biến cải thế giới”,
“thay đổi cuộc đời”, “tự do và lựa chọn”… chỉ còn là một nỗi “đam mê và vô ích”
giữa những thế lực mù quáng của định mệnh của lịch sử không ngừng lấn áp ở mọi
phía. Một ý thức, trong cô đơn và bất lực, bị kết án phải “đi một mình suốt đời”
giữa bốn bề hỗn độn, tối tăm. Cuốn sách mở ra một cuộc hành trình, hành trình
vào cõi đêm thâu. Trên từng câu văn ngắn, trên từng chữ nghĩa cô đơn, người đọc
không đọc mà lắng nghe, lắng nghe cái âm vang lạc loài của những bước chân cô
đơn, quờ quạng. Thảm kịch Bếp lửa là thảm kịch của con người như một
ý thức bị vây khổn. Nó bị kẹt vì nó là một ý thức. Nó khốn khổ vì nó là một ý
thức. Ý thức, đó chính là một căn bệnh khốc liệt nhất, là “con sâu ở giữa tim,
giữa hồn, giữa não”, là cái chết ngày một lớn lên, là sa mạc ngày một rộng mở.
Hay là định nghĩa của con người như một ý thức, một ý thức như một nỗi khốn khổ.
“Đi đâu cũng vẫn chỉ là mày – đau khổ và nhục nhã. Mà nào riêng có đất này hổ
nhục thôi đâu, mọi nơi mắt mày cũng chỉ nhìn thấy như vậy. Không trốn được đâu,
trừ phi mày trốn được lòng mày”. Đi đâu? Đó là câu hỏi khốc liệt từng phút từng
giây đốt cháy tâm tư con người giữa sa mạc quạnh hiu bát ngát. Đi đâu rồi cũng
vẫn thế, ý thức đời đời vẫn là nỗi bất lực đớn đau, ý thức sau cùng chỉ còn là
những tiếng ngọ nguậy của bầy cua trong giỏ, nó vô vọng bẻ gẫy và vượt qua những
giới hạn của mình, tìm đến những chân trời kỳ diệu của ước muốn và mộng tưởng.
Nhân vật Bếp lửa không ngừng loay hoay, tìm kiếm, lặn hụp, phá phách
trong một thế giới đầy ắp những cái ngẫu nhiên, không thường tồn, không tất yếu,
một thế giới rạn nứt, vô phương hàn gắn. Một thế giới về chiều. “Về đâu bây giờ?”
Trong cái thế giới âm u, xám ngắt câu hỏi thốt lên, âm thầm nhưng man rợ làm
sao, bởi đó còn là câu hỏi, bởi đó là tiếng thét gọi của một ý thức đang lâm
vào đường cùng, bởi đáp lại nó, chỉ có niềm im lặng hư vô và bóng tối điệp
trùng. Và cuộc hành trình vẫn tiếp tục, còn mãi mãi tiếp tục với nhân vật Bếp
lửa, cuộc hành trình không hứa hẹn về đâu: “Tôi không nhớ mình đang ở đâu, mình
đến đây làm gì. Chưa bao giờ tôi cảm thấy nỗi tuyệt vọng ghê gớm đến như thế.
Tôi có thể tự tử được. Nhưng tôi tự nhủ: cũng thế thôi”. Họa may, cuộc hành
trình kia rồi sẽ đưa người ta tới cái chết, như một thất bại sau cùng, như một
đoạn đường sau chót của một chuyến phiêu lưu.
Liệu còn có cách kết thúc nào khác cho một câu chuyện như thế?
Cái chết xuất hiện như một người tình đúng hẹn. Cái chết không kết thúc nhưng
hoàn tất, như người ta hoàn tất một tác phẩm, một công trình có ý nghĩa, một ý
nghĩa. ”Tôi có thể tự tử được”. Tưởng tượng nhân vật Bếp lửa đã thốt
lên câu đó với tất cả sung sướng của tâm hồn. Tưởng tượng đó cũng là câu văn hồn
nhiên trong sáng nhất của Bếp Lửa. Bởi thảm kịch ý thức đã đạt tới độ cao
của nó: ”Chưa bao giờ tôi cảm thấy nỗi tuyệt vọng ghê gớm đến như thế”: Cái chết
như một cách giải quyết sau cùng. Thất bại sau cùng là chiến thắng đầu tiên của
ý thức khốn khổ.
Nhưng tại sao nhân vật Bếp lửa đã không chấp nhận
cái chết lựa chọn và tự do đó? Tôi nghĩ rằng hơn ai hết hắn thừa hiểu rằng cái
chết thể hiện sự tự do tuyệt đối của con người như một khả năng lựa chọn, đồng
thời chính nó cũng phủ nhận con người như một khả năng lựa chọn, đồng thời cũng
chính nó hủy diệt khả năng lựa chọn đó. “Cũng thế thôi”. Cái chết không thay đổi
được gì. Hơn thế nữa, cái chết ở đây còn là sự thất bại của chính sự thất bại.
Trong viễn tưởng đó, ta có thể nói Bếp lửa là hành
trình của một ý thức khốn khổ còn Là ý thức khốn khổ, là kinh nghiệm của một sự
thất bại. Chấp nhận con người như một nỗi thất bại, phải chăng đó cũng là cách
chấp nhận chính đời sống này. Cái chết là khởi điểm của Bếp lửa nhưng
không là cùng đích của nó. Đúng hơn nó là sự hình thành của một thái độ. Phải
chăng đó cũng là một giá trị cao cả của Bếp lửa?
Huỳnh Phan Anh
Chú thích:
|
Une Curieuse Solitude |
|
|
Đi tìm tác phẩm văn chương, Đồng Tháp xuất bản, trang 174 |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét