Bếp lửa 1
Tựa
Lần in thứ tư (1973)
Malraux có viết: “Người ta không thể nào viết lại một quyển
tiểu thuyết.”
Tôi không tin như thế. Trong nhiều năm sau khi quyển sách này
được xuất bản, dường như tôi đã hì hục viết một Bếp lửa khác. Mỗi lần
sửa lỗi ấn loát để cho tái bản, tôi đều muốn được viết lại nó. Kể cả bây giờ,
sau mười bảy năm.
Đây không phải là quyển tiểu thuyết đầu tay của tôi.
Quyển đầu tay được một nhà xuất bản nhận in năm 1955, vào
phút chót tôi đổi ý, rút lại sách, quyết định không xuất bản.
Quyển Bếp lửa rất có thể đã chịu chung số phận của
quyển đầy tay, nếu không may mắn gặp ông Nguyễn Đình Vượng.
Được viết một hơi - khoảng đâu hai ba tháng - được in ngay
sau khi viết - không có một quãng cách nào để kịp lùi, nhìn lại -, quyển Bếp
lửa là quyển duy nhất của tôi chỉ có một lần bản thảo.
Trên trang đầu bản thảo có đề câu của Rimbaud: Je est un
autre, nhưng khi đưa in tôi đã xóa bỏ.
Sách in lần đầu ba ngàn cuốn, chẳng rõ bán được bao nhiêu, chỉ
biết ít lâu sau sách được mang bán “son”. Có hai bài viết về quyển sách: một
trên nhật báo Tự Do tại Sài gòn, một trên tuần báo Văn Nghệ của
Hội Nhà văn miền Bắc ở Hà Nội.
Tiếc là tôi không có thói quen lưu giữ tài liệu để có thể in
kèm vào sách khi tái bản.
Đại cương cả hai bài viết đều là lời chê trách giống nhau:
quyển sách bi quan tiêu cực.
Bài trên tờ Văn Nghệ ở Hà Nội chỉ là một cột điểm
sách ngắn vài mươi dòng nhưng bây giờ đã mang đến cho tôi hãnh diện và sung sướng.
Hãnh diện là thứ có ngày nghĩ lại khiến thẹn thùng. Nhưng sung sướng lúc nào
cũng là sung sướng, dù cùng với thời gian có thể lẫn vẻ bùi ngùi. 1
Tôi sung sướng nghĩ các bạn tôi ở Hà Nội đọc cột báo ấy, biết
được tôi vẫn nhớ họ, đã viết về họ, về những ngày của chúng tôi. Họ có thể tức
tối căm giận, nhưng chắc họ cũng cảm động bồi hồi.
Mười bẩy năm đã qua.
Kinh nghiệm dạy cho tôi là lời của Malraux đúng. Tôi đã loay
hoay quá lâu với một quyển sách. Lần này tôi quyết định để là ấn bản chung quyết.
Tôi hiểu đã đến lúc nên viết những quyển sách khác.
Tháng 3-73
Thanh Tâm Tuyền
° ° °
Tựa
Lần in thứ hai (1965)
Cuốn sách mỏng manh, non nớt và chưa thành hình dáng này của
một người mới lớn lên. Hắn lớn lên trong một thành phố đã mất, thành phố bị vây
hãm như một hòn cù lao nổi chờ ngày tan rã không để lại dấu vết, Hắn đọc Marx
tìm thấy giấc mộng “biến cải thế giới”, đọc Rimbaud tìm thấy giấc mộng “thay đổi
cuộc đời”, đọc Dostoievski tìm thấy thái độ “tất cả hay không có gì hết” đọc
Gide tìm thấy “đời sống thành khẩn trung thực”, đọc Malraux tìm thấy cái hào
quang của trí tuệ đối đầu với Định Mệnh, đọc Sartre tìm thấy “cuộc hiện sinh tự
do và lựa chọn”. Hắn lớn lên cùng bè bạn, vượt qua mau tuổi trẻ để suy nghĩ và
mơ ước hành động. Mỗi đứa một lối văn mình theo mỗi cám dỗ lớn lao của hư vô. Hắn
lìa bỏ quê hương, chia tay với bè bạn, dấn mình vào lịch sử, đuổi theo giấc
phiêu lưu của trí tuệ: sự thật được tạo nên từ niềm hư vô của tuổi trẻ bị tước
đoạt.
Bây giờ hắn ba mươi tuổi, hắn vẫn quay tròn như một nỗi tự do
trống rỗng, không làm được gì hơn ngoài một lựa chọn - khó khăn và buồn tủi -:
trở thành một nhà văn. Lúc hắn viết cuốn sách này hắn chưa phải là một nhà văn,
không muốn là một nhà văn. Hắn chưa biết mình muốn gì vì hắn muốn tất cả. Hắn
viết với ý nghĩ trong khi mình viết, người khác chết. Ý nghĩ làm tê liệt hứng
khởi tạo tác. Nên sau cuốn sách được in tình cờ, không dự tính, hắn nằm im
trong sự bất lực hổ thẹn, hắn phá phách tiêu huỷ không thể hoàn thành những dự
thảo, phóng tưởng kế tiếp. Mỗi ngày mỗi nghiền ngẫm trong bất giác của các tình
thế kinh nghiệm, hắn nhận thức hắn chỉ là một nhà văn, không thế lực và hèn mọn
như mỗi người - một nhà văn bị dìm ngập trong thời đại và xã hội của mình như
giới hạn tự nhiên của cõi sống và cõi chết. Hắn dứt bỏ được những mê hoặc, ảo ảnh
- về vai trò của nhà văn - của thứ tiếng nói hoàn toàn vang động và làm biến dạng
đựơc sự vật một cách cụ thể. Tiếng nói của văn chương chỉ là những lời thầm thì
giữa những hỗn độn của lịch sử, lời cô đơn không sức mạnh vì bị lấn áp về mọi
phía.
Sự kiêu hãnh của tuổi nhỏ nhường chỗ cho sự bình tĩnh ý thức.
Hắn bắt đầu cầm bút thực sự, làm việc giữa những đổ vỡ xáo trộn thách thức. Đối
với hắn, cuộc lựa chọn gay go nhất đã xong, hắn biết hắn chỉ còn một tiếng nói
để tìm kiếm bè bạn và quê hương.
Người được đề tặng sách này đã chết.
Hắn, tên Vũ Đạo Ánh, chết vào một buổi sáng chủ nhật đầu
tháng 9 năm 1964, tại một khu rừng tỉnh Bình Dương, một viên đạn xuyên ngực năm
mới ngoài ba mươi tuổi. Vào buổi chiều cuối tháng tám, hắn còn đứng trước một
căn nhà trong hẻm ngoại ô, nhìn qua cửa sổ, đèn trong nhà thắp sáng như mọi người
đi vắng, cất tiếng gọi. Như những ngày mùa thu, mùa đông nơi thành phố xa khuất
cũng hơi ngửa đầu lên cao liếc mầu trời sẫm màu, hắn gọi đứa bạn của thời niên
thiếu nghèo khốn, gọi những mộng phiêu lưu đã bị nghiền nát của tuổi trẻ như một
Thiên đường cửa đóng. Hắn lủi thủi trở về như kẻ bị bỏ rơi, chạy qua thành phố
Sài Gòn buổi tối còn ngơ ngác những âm vang của mấy ngày hỗn loạn. Có lẽ hắn nhớ
tới thành phố của tuổi trẻ, như nhớ tới mấy đứa bạn, hắn đã chạy cuống trong đó
trên chiếc xe đạp tồi tàn giữa những ngày tháng rách bươm, mơ ước cái cơ hội kết
tập được ngày tháng tan rã thành một đời ý nghĩa. Có lẽ hắn muốn gặp đứa bạn để
hỏi: tại sao mày không viết được gì thêm nữa ngoài cuốn sách để tặng tao? Cuốn
sách hắn nhận được vào một ngày cuối năm nào khi còn đóng đồn trên sườn núi
ngoài Trung nhớ quê hương đã lìa bỏ với mẹ và gia đình ở lại, cuốn sách vợ hắn
mang liệm theo xác như một kỷ niệm hắn muốn mang đi. Hắn không gặp đứa bạn và tự
hỏi: Nó ra sao? Đã lâu hắn không gặp, như ngày nào trong thành phố hoài nghi và
khắc khoải, hắn thường tìm bạn và hỏi: thế nào, chúng mình sẽ đi về đâu?
Hắn chết gục nên một gốc cây mau lẹ, không đau đớn. Hắn nằm
đó, ngoẹo sang một bên, gối lên cỏ như một người ngủ mệt sau đoạn đường hiểm trở
của Định Mệnh - Định Mệnh của một thế hệ, những người còn sống là kẻ sống sót.
Hắn đã đi từ tuổi trẻ bị tước đoạt, tới nằm đó trong khu rừng giữa cuộc chiến
phơi mình làm một sự thật thô sơ: ở đây, trong xứ sở khốn nạn này, cuộc chiến
phải chấp nhận không phải là lối phiêu lưu trốn chạy ngông cuồng. Cái chết của
hắn không phải là một huyền thoại Rimbaud, một huyền thoại Lawrence, tên bạn hắn
hiểu được như vậy.
Chúng muốn gì? Người chết cho kẻ khác sống sót. Chúng muốn
gì?
Những nhà phê bình ở Hà Nội đã gọi các nhân vật trong cuốn
sách này là bọn tôi mọi nô lệ, họ hỏi: trong khi họ xây dựng xã hội chủ nghĩa,
bọn này đi đâu? Những người ở Hà Nội không khi nào tự đặt câu hỏi với mình, những
câu họ thường đặt cho kẻ địch. Bọn chúng đã đi trong thống khổ của lịch sử với
cái chết, cái chết như sự từ chối quyết liệt. Tại sao? Đáng lẽ họ phải tự hỏi:
tại sao? Cái chết lựa chọn không phi lý, nó sẽ làm nảy sinh sự thật, sự thật của
những người chết truyền lưu cho kẻ sống sót.
Mỗi nhà văn chính là một kẻ sống sót.
Sài Gòn, 1965
Thanh Tâm Tuyền
° ° °
1.
Tôi tìm Thanh ở chỗ làm việc của nàng. Thanh là em họ tôi.
Bên trong cửa hiệu những cô gái chăm chú vào công việc của họ.
Thanh bỏ cuộn len hồng xuống phản đón tôi. Nàng cười:
“Em đang có ý muốn gặp anh lắm.”
Tôi gật đầu. Người con gái đứng tuổi ngồi ở máy ngước mắt
nhìn tôi có vẻ nghi ngờ. Có lẽ cô là người điển khiển cửa hiệu. Tôi lễ phép
chào cô, lần thứ nhất tôi đến đây. Tôi bảo Thanh:
“Thế nào cô đã giúp anh việc anh nhờ chưa?”
“Sẵn sàng rồi ạ. Anh đợi em một tý.”
Thanh quay vào trong tìm kiếm. Trong khi ấy tôi ngắm những tủ
kính sáng bầy vải vóc, len sợi, những chiếc áo dài, áo len đã hoàn thành. Tôi
nhìn những ngón tay thoăn thoắt với mũi đan và tấm vải dạ trải dưới những mái
cúi. Người con gái đứng tuổi ở bàn máy lên tiếng:
“Mời ông ngồi chơi.”
Tôi hơi nhích người đáp lễ:
“Cám ơn cô.”
Và tôi vẫn đứng nguyên cạnh quầy hàng. Thanh đưa cho tôi một
gói giấy báo và mở ra nói:
“Chỉ mới có khăn quàng thôi, áo thì em chưa tìm được cái nào
vừa ý cả.”
Tôi không nhìn đến màu của cái khăn và gói gọn lại.
“Cám ơn cô lắm. Áo thì cô mua sau hộ anh cũng được.”
Tôi vừa định trở gót.
“Anh chờ em, em có câu chuyện muốn nói với anh – Thanh quay
nói với người con gái đứng tuổi ngồi ở máy - Chị Nga em ra ngoài một lát chị
nhé.”
Nga tươi cười dễ dãi và tôi cúi chào nàng nói khẽ: “Xin phép
cô.”
Ra đến ngoài hè, tôi hỏi:
“Minh đã đi học rồi chứ. Có chuyện gì quan trọng lắm không
cô?”
Thanh không trả lời vào câu hỏi của tôi:
“Anh nên mời em uống một cái gì cho ấm bụng.”
“Cô phải để anh kiểm lại ngân sách cái đã.”
Tôi cười và lúc này gió nhiều ở chùm cây trên đầu.
“Anh làm như anh nghèo lắm ấy.”
“Cũng tạm thôi.”
Thanh đưa tôi vào tiệm trà đầu phố. Tôi gọi cho tôi một cốc
cà phê nóng và Thanh một cốc sữa. Buổi sáng mùa đông ngây ngất, trưa còn xa.
Trong tiệm nước chỉ có hai chúng tôi. Thanh choàng cái khăn đỏ mỏng suốt làm má
đỏ hồng. Tôi nhớ vừa rồi đi cạnh tôi trên vỉa hè nhiều lá vàng lăn chạy, Thanh
rất đẹp. Nàng đang đưa ngón tay vạch trên thành cốc.
“Cô có biết là cô nổi danh rồi không?”
“Ai bảo anh thế?
“Tôi bắt đầu phải nghe cô.”
“Hân hạnh.”
Thanh hát trên đài vô tuyến được vài tháng nay. Giọng nàng ấm
và buồn. Lúc thường tính tình Thanh vui vẻ đua nghịch bao nhiêu thì lúc hát giọng
Thanh ướt nước mắt bấy nhiêu. Tôi không ưa âm nhạc mà nghe Thanh hát cũng cảm động.
Thanh mồ côi cha mẹ và còn em gái là Minh. Hai chị em đùm bọc nhau từ ngày hồi
cư bằng nghề đan may của Thanh. Đôi khi tôi nghĩ tôi có thể yêu Thanh và che chở
cho Thanh, dây thân thích giữa chúng tôi không đáng kể. Có lẽ Thanh cũng cảm thấy
điều ấy ở tôi và sẵn sàng thuận ý nếu tôi ngỏ lời – Thanh thì không dám bộc lộ
trước vì đối với tôi sự kính nể của nàng rất to lớn. Nhưng tôi chưa bao giờ nói
ý nghĩ của tôi cả.
“Anh Tâm”, Thanh ngừng một chút và ngón tay đứng lại trên mặt
bàn. “Hiền hỏi thăm anh…”
Tôi biết đây không phải là câu Thanh định nói với tôi, tôi
tuy thế cũng gật đầu để làm vừa lòng nàng. Hiền là người yêu cũ của tôi.
“Hiền vẫn mạnh khoẻ chứ? Bao giờ thì chia trầu cau.” Tôi hỏi
gỡ rối cho Thanh.
“Hiền còn đợi anh.”
“Cô không nịnh anh cô đấy chứ?”
Thanh nhìn tôi trách móc cho tôi đùa quá đáng bởi vì tôi cười
hơi lớn. Thanh lại im lặng và tôi nhìn vào cái khăn đỏ suốt để đừng phải nghĩ về
Hiền. Một lát Thanh hỏi:
“Anh quen thân với anh Chu phải không anh?”
Tôi hơi ngạc nhiên những câu trả lời:
“Có lẽ.”
Thanh tỏ ý không hiểu câu trả lời. Năm 45, ngày tiếng súng nổ
ở Nam Bộ, Chu và tôi là đôi bạn thân cùng đi từ Nam ra Bắc. Cuộc hành trình của
chúng tôi bằng xe lửa cho tới Đà Nẵng và thuyền Đà Nẵng trở ra. Chính trong
không khí vừa vui mừng vừa Hà Nội và cũng ở Hà Nội tôi và Hiền yêu nhau một năm
trước ngày kháng chiến. Mối tình của chúng tôi càng tha thiết đằm thắm gắn bó
khi không khí chiến tranh, chết chóc tàn phá cũng mãnh liệt. Lần gặp gỡ đầu vào
một đêm tối ở một đại lộ vắng. Trời không lạnh lắm. Không bao giờ tôi quên được
người ta giết nhau trứơc mắt chúng tôi lúc đó. Trong đêm tối một tiếng la thất
thanh rồi hai người bỏ chạy. Tôi không kịp cảm, suy nghĩ gì hết. Hiền run như một
con chim nhỏ trong cánh tay tôi. Chúng tôi ôm nhau đứng đấy cho đến khi hồi tỉnh
và lặng lẽ rẽ sang phố khác. Người chết vẫn nằm kia. Về Hà Nội trở lại, tôi
không thể yêu Hiền được nữa, mặc dù Hiền không quên tôi.
“Thế nghĩa là thế nào?”
“Nghĩa là trước là thân mà bây giờ thì thôi.”
“Cô không phải là đàn ông. Hôm nay người ta có thể thân nhau
lắm mà ngày mai đã hững hờ rồi, vì nhiều nguyên cớ mà cũng có thể chẳng có
nguyên cớ nào hết. Rồi người ta lại có những người thân khác, thân khác nữa, ở
mỗi ngày, mỗi năm, mỗi giai đoạn của cuộc sống.”
Thanh đã trở lại ngoan ngoãn. Nàng nhìn tôi đôi mắt phục
tùng. Tôi hỏi:
“Nhưng tại sao cô lại hỏi tôi về Chu?”
Thanh không trả lời ngay và có vẻ đăm chiêu. Chu bây giờ làm
một hãng buôn ngoại quốc. Tôi chỉ gặp Chu một lần từ ngày hồi cư. Câu nói đùa của
tôi với Chu là:
“Cậu thôi nghiên cứu vấn đề khủng hoảng kinh tế rồi ư?”
Chu thật thà đáp:
“Chuyện viển vông chẳng ích lợi gì cả.”
Tôi lại hỏi Thanh”
“Tại sao cô lại hỏi tôi về Chu?’
“Cô Nghĩa bảo Chu muốn đánh tiếng hỏi em.”
“Nếu thế Chu là một người chồng tốt.”
“Cô nghĩ thế nào về chuyện ấy.”
“Em muốn hỏi ý kiến anh.”
“Cô hoàn toàn tự do.”
Thanh trông thẳng vào mắt tôi, giọng buồn như lúc nàng hát:
“Chúng em cũng chỉ còn anh gọi là thân, bởi thế em muốn được
ý kiến anh về câu chuyện quan trọng này.”
Tôi nghiêm nét mặt:
“Cô cũng biết là tôi cũng chỉ có cô và Minh là thân thuộc…”
Tôi uống nốt cặn cà phê và im. Rồi tôi nói sau một lúc lâu:
“Cô để cho tôi suy nghĩ, trả lời cô sau.”
Nói thế, nhưng tôi không biết tôi sẽ suy nghĩ về cái gì.
Khi đứng lên, Thanh nhắc:
“Anh cầm gói khăn quàng chưa?”
Tôi đưa Thanh về đến cửa hiệu và đi xe điện xuống chợ Hôm
thăm Đại. từ chỗ đỗ xe điện, tôi đi bộ qua một phố không trải nhựa rồi lên những
viên đá xanh, đến phố Lò Đúc.
Căn nhà gác ba từng quét vôi đã đỏ uá, già nua. Qua một cái
sân nhớp nước, tôi leo lên cầu thang ẩm mốc hôi hám. Gian buồng của Đại ở từng
ba là gian buồng chứa vật dụng cũ bỏ không cho thuê với giá ba trăn đồng. Buồng
kê vừa gọn một cái giường và cái bàn gỗ không có ghế thừa đủ một chỗ trống để
bước vào trèo lên giường. Ngoài căn buồng là khoảng sân trời có những dây thép
giăng ngang làm nơi phơi quần áo của những gia đình ở từng gác hai. Hôm nay trời
nhiều hơi nước nên sân quang đãng.
Đại ngồi co ro ở một góc phản đọc sách. Còn một người thanh
niên nữa ngồi học trước bàn. Tôi nói:
“Tôi mang xuống cho cậu cái khăn quàng.”
Đại mở gói: đó là một cái khăn dạ màu xám. Tôi tiếp lời:
“Để dùng lúc nào ra ngoài thôi, ở đây đóng cửa lại thì ấm
chán.”
Đại cười chỉ lên chỗ những miếng trống hình chữ nhật dẹp cao
hai bên giường:
“Anh đừng tưởng tượng, lạnh ghê lắm nhé. Gió hút, tôi phải hy
sinh ánh sáng, dán giấy bít, mà gió còn thổi rách như thường.”
Chúng tôi bước ra sân. Người thanh niên vẫn chăm chú làm việc
không để ý đến sự có mặt của tôi. Đại cầm ở tay cuốn Crime et châtiment.
Tôi hỏi:
“Cậu đến trường luôn không?’’
“Không.’’
“Làm gì ở nhà?’’
“Đọc sách và suy nghĩ.’’
“Suy nghĩ về phép giết người chăng?’’, tôi nói đùa.
Đai không đáp. Chúng tôi đứng nhìn xuống khu xóm lao động
phía dưới. Đại bỗng nói:
“Nó đến trường tìm mình dữ lắm.’’
“Cậu quyết định thế nào?’’
Đại trầm ngâm một phút:
“Chưa.’’
Đại là sinh viên khoa học, đã qua được chứng chỉ căn bản. Hắn
bị gọi động viên và đang trốn.
“Nghĩ gì về Dostoievski?’’ Tôi hỏi.
“Bệnh.’’
Tôi không ưa lối nói cụt lủn của Đại. Hắn rất say đắm chủ
nghĩa cộng sản. Những căn nhà thấp đã bốc khói. Không khí ấm hơn. Tôi nhìn bâng
quơ những ngọn cây.
“Còn cậu có gì thay đổi không?’’ Hắn hỏi tay lật tiếp mấy
trang sách.
“Chiều mai tôi sang Bắc Ninh.’’
Tôi chợt nhớ đến lời hứa với Thanh sẽ cho Thanh biết ý kiến
mình về việc của Chu và nàng. Nhưng tôi không cho là quan trọng, Thanh sẽ quyết
định theo ý riêng của nàng.
“Tại sao lại bỏ Hà Nội?’’
“Tôi chán đây rồi. Sang bên ấy ở ẩn cho qua ngày.’’
“Có chắc ẩn được hay không?’’
“Không biết. Nhưng chắc được, ở ngay trong trường với các linh
mục. Bên này nó nghi ngờ những liên lạc và hành vi của mình quá rồi.’’
“Những liên lạc hành vi nào?’’ Đại hỏi ngạc nhiên.
“Một vài chỗ quen biết hoạt động nội thành, một vài chỗ các đảng
phái khác, thư từ, sách đọc, công việc cũng đủ làm nó khó chịu, còn gì hơn.’’
Tôi ngồi trên bực gạch. Đại trông thẳng mặt tôi nghiêm trang.
Hắn móc túi đưa cho tôi một lá thư.
“Thư của người bạn ở chiến khu Trình Minh Thế.’’
Tôi nhìn qua rồi trao trả cho Đại. Hắn vừa cất lá thư vừa
nói:
“Tôi nghĩ rằng cho đến bây giờ không thể đi khác hơn được. Nó
còn đúng. Mình còn phải nhắm mắt nhận lấy thân phận của giai cấp mình.’’
Nó - Đại muốn nói về chủ nghĩa cộng sản. Tôi cầm lên cuốn
sách của Đại để sang bên và trông vào tấm hình. Tôi nói:
“Tôi cũng nghĩ như thế nhưng tôi lại muốn nghĩ thêm chút nữa.
Tôi không nghĩ đến thân phận giai cấp mình, tôi muốn nghĩ đến thân phận giai cấp
khác, thân phận ngay chính giai cấp vô sản ấy.’’
“Làm thế nào được khi đế quốc còn đủ nanh vuốt. Tôi không tin
lực lượng thứ ba.’’
Câu chuyện ngừng ở đấy như thường lệ. Chúng tôi gặp nhau vì
cùng ham thích nghiên cứu chủ nghĩa mác-xít. Trong khi trở vào buồng. Đại bảo:
“Tôi đang bị đuổi nhà.’’
Người thanh niên vẫn làm việc đều đặn.
Tôi nói:
“Tiện cậu xuống nhà tôi.’’
“Cậu vắng nhà?’’
“Không sao. Ông Chính dễ dãi.’’
Và tôi ra về. Đại đưa tôi xuống tận dưới đường và hình như
còn điều gì muốn nói.
Ông Chính không về nhà buổi trưa. Tôi ở thư viện buổi chiều.
Mưa bụi suốt. Chưa đến sáu giờ trời đã sập xuống. Tôi rời thư viện khi những ngọn
đèn treo được bật soi trên các mặt bàn gỗ dài phẳng nhẵn và lò sưởi sắt dưới
chân các cột được đốt lên. Tôi gặp ông Chính ở phố Hàng Trống nhưng chúng tôi
làm như không nhận ra nhau dù hai người đã đi ngược chiều trên cùng một bờ hè.
Tôi kéo cao cổ áo choàng và nhìn sang phái bên hồ.
Tôi về nhà bẩy giờ, ông Chính vẫn vắng mặt. Tôi đợi ông đến
quá bẩy giờ rưỡi. Người thổi cơm ở chung nhà mang cơm sang và hỏi:
“Cụ chưa về thưa ông?’’
“Có lẽ cụ tôi không về ăn bữa nay.’’
Tôi ngồi ăn mỗi mình. Chín giờ ông Chính về. Tôi nghe được tiếng
chân ông từ ngoài ngõ. Tôi đã đi nằm vì buổi trưa không ngủ và tinh thần căng
thẳng sau mấy tiếng đồng hồ vùi đầu trong thư viện. Ông Chính thay quần áo, sửa
soạn giường của ông, xong lên giường nằm đọc sách.
Chúng tôi biết sắp phải nói với nhau nhưng chưa ai mở đầu.
Ông Chính là cha ghẻ của tôi. Sau khi mẹ tôi mất đi, ông còn
đủ tuổi để có thể lập một gia đình mới và tôi cũng có thể bỏ ông để sống độc
thân. Dù vậy chúng tôi không xa nhau. Có lẽ chúng tôi rất thương nhau nhưng vì
ít nói hoặc vì lẽ gì đó chúng tôi không được tự nhiên khi gần nhau. Chúng tôi
làm việc chung một trường mà tôi chắc ít người rõ sự liên lạc giữa chúng tôi.
Khi tính chuyện rời Hà Nội, tôi có nghĩ đến sự thoải mái cho hai người. Mỗi người
chúng tôi theo đuổi một cuộc đời riêng. Tôi nghe ông Chính trở dậy tìm nước uống
và tôi cũng ngồi lên. Trong khi rót nước, ông hỏi tôi:
“Anh đã nói với trường là anh nghỉ phải không.”
Tôi ngượng ngùng vài giây và trả lời:
“Vâng, tôi cũng định ngày mai nói với thầy mai tôi sang bên ấy.”
“Bắc Ninh?”
“Vâng, một trường công giáo.”
Chúng tôi đã bước qua sự khó khăn và ông Chính đến ngồi trước
mặt tôi. Mỗi lần như thế tôi biết ông muốn nói với tôi điều gì quan trọng. Ông
Chính nói:
“Chắc anh đã tính kỹ rồi?”
“Vâng.”
“Theo tôi anh vẫn có thể ở Hà Nội được.”
Tôi không trả lời mà nhìn thẳng vào ông. Tôi muốn bảo: “Ông
không hiểu được chúng tôi.” Ông Chính đã già xuống nhiều, bàn tay ông úp sấp nổi
gân và run. Năm 45, ông là đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng và có dự vào cuộc
tương tàn lịch sử. Tuy thế tôi cho là hai thế hệ gần nhau nhất vẫn khó đồng ý với
nhau.
“Ở tỉnh nhỏ là một điều phiền phức.” Vẫn ông Chính nói, “Nhất
là…”
“Không, nếu mình chẳng làm gì cũng không ngại.”
“Anh không thấy bên ấy không được an ninh lắm hay sao?”
Tôi lấy cớ đứng lên rót nước uống để chưa trả lời ngay. Xong
tôi nói:
“Dạ, tôi cũng thích sống cái không khí bất trắc một chút. Ở
đây có lẽ bình yên quá.”
Thật ra thành phố này cũng chẳng bình yên. Thỉnh thoảng nó vẫn
rung động vì những tiếng nổ lớn vây quanh và đèn pha thường đốt sáng khoảng trời
đen của nó về đêm tối. Ông Chính nhíu mày. Tôi đã ngồi lại trước mặt ông. Ông hỏi:
“Trường bên ấy có khá không?”
“Lớn và đẹp. Tôi được một buồng yên tĩnh để làm việc và cơm
nước cũng do nhà trường lo.”
Ông Chính ngồi im, lưng cúi xuống. Tôi nghĩ chúng tôi sắp
chia tay đi nghỉ. Ngoài trời mưa thành hạt lên tiếng, hắt qua cửa sổ vào đến chỗ
chúng tôi.
“Mai anh đi buổi sáng hay chiều?”
“Dạ chiều. Chiều để tránh mìn.”
Ông Chính đứng lên khép cửa và cửa sổ. Bóng ông in lên vách.
Ông dừng một phút nhìn qua cửa sổ ra ngoài và hỏi tôi - mưa lúc ấy đổ mạnh khiến
tiếng ông thấp thoáng và tôi sởn gai ốc khắp người vì lạnh:
“Anh Tâm. Tôi muốn anh thành thật trả lời câu hỏi này của
tôi.” Vài giây cách quãng, mưa to hơn. “Giữa chúng ta có xảy ra một chuyện gì
không đẹp không? Anh cứ nói thẳng với tôi.”
Tôi muốn đứng dậy, nhưng không rời chỗ. Tôi nghe trong tiếng
mưa vẫn còn vang tiếng của ông Chính khắp gian phòng.
“Thưa thầy không bao giờ tôi nghĩ lại có thể có câu hỏi ấy giữa
thầy và tôi.” Tôi bị xúc động mạnh.
Ông Chính đã quay người lại. Mắt ông chớp nhanh, ông nói:
“Tôi muốn giữa chúng ta có được sự thẳng thắn.” Ông nuốt nước
bọt. “Dù thế nào chúng ta cũng đã sống với nhau hơn mười lăm năm, lúc có mẹ cũng
như lúc không. Lúc nào tôi cũng coi anh là người thân nhất của đời tôi và tôi
chắc anh cũng như tôi vì anh cũng chẳng còn ai thân thích. Trước khi lấy mẹ,
tôi có một đứa con gái nhưng chúng tôi không sống gần nhau…”
Ông Chính không gọi mẹ anh, ông gọi mẹ để tỏ sự
kính trọng. Sự có mặt của người đàn bà ấy hiện lên giữa chúng tôi. Chính người
đàn bà đau khổ cho đến khi nhắm mắt ấy là người buộc chúng tôi với nhau. Ngay
những giờ phút mong manh nhất, người vẫn với sự âm thầm cố hữu nối kết chúng
tôi; năm 45 tôi ở miền Nam, còm ông Chính ở biên giới Trung Hoa và rồi chúng
tôi lại trở về bên người đàn bà ấy. Và chính bây giờ vẫn còn người ấy, mãi mãi
chăng? Bắp thịt má ông Chính giật giật. Tôi bàng hoàng nói:
“Thầy đừng nên có ý nghĩ ấy. Không hề có một câu chuyện nhỏ
nào cả. Nếu có chỉ là sự vụng về của tôi khiến thầy nghi ngờ thì tôi xin lỗi thầy.
Thầy cũng hiểu những điều dự tính riêng, nhưng bao giờ tôi vẫn là con thầy như
khi còn mẹ và…”
Mưa dịu hơn lúc trước. Ông Chính ngồi xuống.
Chúng tôi đi nằm vào lúc mười một giờ. Tôi thao thức không
sao ngủ được. Mưa dầm và lạnh. Ông Chính chong đèn đọc sách khuya. Tôi biết ông
cũng không ngủ được. Tôi thương ông vô cùng, sự già cả và cô đơn vây lấy ông.
Tôi nhớ đến ngày giỗ mẹ tôi vừa qua, chúng tôi không ai làm gì cả; buổi tối hôm
ấy, ông Chính không về nhà và tôi đi ngủ sớm. Giá có một người đàn bà chúng tôi
sẽ thân nhau ở những chuyện nhỏ nhặt ấy. Khi tôi ngủ, đèn đọc sách của ông
Chính vẫn sáng.
Gần ba giờ sáng. Mưa rơi sâu vào giấc mơ.
--------------------------------
|
"… c’est que l’idéal, jusqu’à présent, a été la
véritable force de dénigrement appliquée au monde et à l’homme… la grande
tentation du néant." Nietzsche (La volonté de puissance) |
2.
Chiều nay là chiều thứ bảy.
Tôi khởi hành khi ông Chính vắng nhà. Hành lý gồm ba bộ quần
áo mặc ngoài, ba bộ lót mình, tài liệu giáo khoa, một vài cuốn tiểu thuyết và
thơ ưa thích trong một va ly nhỏ xách tay.
Ra bến xe, tôi qua những phố Tiên Tsin, Hàng Mã, Hàng Chiếu,
Ô Quan Chưởng. Lúc qua ngã tư Hàng Đường, tôi nhìn thấy đám đông ở dưới chợ Đồng
Xuân và trên đầu Hàng Đào. Tôi có thể nán lại cho đến chiều chủ nhật nhưng tôi
không muốn.
Chuyến xe nhỏ đưa tôi sang Bắc Ninh với tất cả buổi chiều
theo nó. Hành khách chỉ có bốn người – hai người lái buôn ăn mặc nửa tỉnh nửa
quê, và một người chừng có chức nghiệp ở tỉnh nhỏ và tôi. Không có đàn bà. Tôi
và người chừng có chức nghiệp chia nhau trả tiền những chỗ trống để xe chạy sớm.
Tôi ngồi cạnh người tài xế.
Qua Gia Lâm chuyến xe từ biệt những người bạn đường số 5 của
nó, giờ này đã thưa, để chạy vào con đường riêng lẻ loi. Khỏi Cầu Đuống, tôi
hoàn toàn ngồi trong sự bỡ ngỡ. Sở dĩ tôi biết được Cầu Đuống không phải vì tôi
nhận ra nó mà chỉ vì tôi biết tôi phải qua Cầu Đuống. Cây cầu cũng tẻ nhạt như
cảnh xung quanh: đồng ruộng, nhà cửa, chợ búa, rào gai, điếm canh, dòng sông và
những người lính gác, những người khám xe, những người bán hàng bên đường. Cây
cầu kêu dưới bánh xe với tiếng nước xoáy lạnh dưới chân trong buổi chiều ngất
ngư chưa muốn ngã. Người tài xế đã giụi tắt mẩu thuốc lá để rớt những đường
khói nhạt trên mặt kính và tàn lên tay lái. Không ai nói với nhau lời nào.
Tôi không nhận ra đâu là Yên Viên, đâu là Phủ Từ. Cảnh quen mắt
và không thay đổi: những dãy chợ lá lèo tèo vắng ngắt, những người nhà quê ngồi
xổm co ro mặt tái ngoét hai tay thu vào bụng. Thỉnh thoảng một chiếc xe hàng
quay mũi vào lớp chợ thấp chờ đợi với sự trống trải yếu ớt. Không hiểu làm cách
nào những chiếc xe ấy có thể về kịp thành phố trước khi người ta cấm cầu? Không
ai nói một lời nào. Mọi người đều lạ nhau.
Tôi châm lửa đốt thuốc lá.
Chuyến xe đã đến gặp núi. Núi tím lớn làm nhỏ cả thế giới hiện
có của chúng tôi. Những khu đồn chiến tranh với nứa nhọn, dây thép gai đứng đấy
cho chiếc xe đi vào giữa. Đá xanh nhỏ bắn rào sang hai bên đường. Trên chòi
canh, hai con mắt người lính gác tối đen nhìn sang núi.
Chuyến xe dừng lại trạm kiểm soát trước khi vào tình lỵ.
Trong trạm người ta đã thắp đèn. Chúng tôi lần lượt trình thẻ căn cước. Ở trong
trạm người ta nói chuyện với nhau không to lắm. Xe không chạy thẳng vào phố mà
đi vòng quanh những khoảng đường còn bỏ hoang. Bến xe thưa. Hàng quán vắng người,
có những gian quán trống. Không còn chuyến xe nào trở về Hà Nội. Chỉ còn vài
chiếc đậu đấy bỏ không.
Tôi đứng xuống và xốc lại cổ áo, trước mô đất cao chạy dài
như con đê. Trước kia đường xe lửa chạy trên ấy và đây là ga xe lửa. Con đường
dốc Cầu Gỗ nhập vào bến xe, tôi không bước lên để nhìn xuống phía bên kia dốc.
Tôi đi bộ về trường. Các cửa hàng bắt đầu đóng. Hè đường là
những nhóm binh sĩ tụ tập rong chơi. Điện thì mỏng như cánh chỉ một vài tiệm nước
treo đèn măng sông ra trước cửa.
“Thầy là thầy Tâm."
Đó là câu hỏi đầu tiên riêng cho tôi ở buổi chiều nay của ông
già gác trường, ngồi trên bực đá dưới mái hiên sâu thẳng cổng vào. Ông mặc một
cái áo vét tông đã hỏng vai.
Tôi trả lời:
"Phải."
Ông già đưa tôi vào phòng khách nói:
"Thầy đợi đây, tôi đi mời cha Tân."
Ông bỏ tôi một mình và quên bật đèn.
Cha Tân vào, ông già đứng sau lưng. Cha bật đèn lên và hỏi:
"Chào thầy, thầy đi đường có mệt không?"
Chúng tôi bắt tay nhau và tôi trả lời:
"Cám ơn cha, giời lạnh nên không mệt lắm."
Trong khi đưa tôi về phòng riêng, chúng tôi đi qua dãy hành
lang sâu tối om và vang vang trước những lớp học nghỉ ngơi, cha Tân nói:
"Tôi tưởng thầy không sang hôm nay."
Tôi hỏi:
"Tại sao cha lại đoán thế?"
Ông già sách va ly của tôi đi sau.
"Hôm nay chiều thứ bẩy mà", cha Tân cười thành tiếng.
"Các thầy ở bên này về chơi Hà Nội cả rồi. Thầy vắng bạn."
"Ồ, thứ hai các thầy ấy phải trở về chứ, thưa cha?’’
"Tất nhiên’’, cha vừa nói vừa làm tiếng chậc chậc trong
miệng.
Chúng tôi cùng cười. Gian buồng của tôi ở trên gác. Tôi lại
phải đi qua một cái hành lang sâu như ở dưới nữa vì buồng gần cuối dãy. Khi
chúng tôi hết nói chuyện, tôi nghe tiếng sột soạt của bộ áo nhà tu bên cạnh và
tiếng chân không đều của ông già gác. Những căn phòng đóng chặt cửa.
Đứng lại trước cửa buồng của tôi, cha Tân dùng chìa khoá mở cửa
và bảo:
"Đây là buồng của thầy. Thầy cần điều gì cứ hỏi.’’ Cha
quay sang ông già gác vẫn xách cái va ly trên tay: "Ông đưa thầy đi rửa mặt
nghỉ ngơi để dùng bữa.’’
"Cảm ơn cha.’’
Người tu sĩ bước trở lại vào bóng tối sâu hút với tiếng sột
soạt của bộ áo xa dần. Còn hai người, ông già đặt va ly lên một cái ghế và bật
đèn. Đó là một căn buồng vuông vắn. Ở một góc kê một cái giường sắt cho một người,
một bàn đêm đầu giường, một bàn lớn làm việc giữa buồng với hai cái ghế. Buồng
có một cửa sổ đối với cửa ra vào. Trên tường treo một chữ thập lớn bằng gỗ, tượng
bạc chạm nổi. Tôi thay quần áo và ông già thu dọn lại giường chiếu. Tôi yêu cầu
ông phụ tôi kê lại cái bàn làm việc vào một góc khuất. Ông già không nói gì nữa.
Ông đưa tôi đến phòng rửa mặt ở đầu dãy.
Tôi xuống phòng ăn, một phòng rộng và dài, ở phía trong và cuối
sân, nền đất. Gian phòng rất rộng chỉ kê một bàn ăn dài còn trống trải vô cùng.
Điện yếu, người ta thắp nến ở một góc bàn. Cha Tân đứng lên tiếp tôi và giới
thiệu với mọi người.
"Giới thiệu với các thầy, thầy Tâm giáo sư Việt văn mới
của nhà trường.’’
Tôi cúi chào tất cả. Độ gần hai mươi người hầu hết là nhà thầy
mặc áo dài đen. Hai người thanh niên còn nhiều vẻ nhà quê đứng hầu bàn. Tôi ngồi
bên cạnh cha Tân. Người ta đọc một đoạn kinh trước khi cầm đũa. Gió vi vút thổi
từ những phía tối vào. Sau đó tôi mời mọi người. Rất ít tiếng chuyện trò nếu có
chỉ đủ vừa hai người nghe với nhau. Cha Tân bảo tôi:
"Có hai thầy ở ngoài như thầy lại về Hà Nội chơi cả.’’
Tôi mỉm cười và không đáp lại.
Sau bữa cơm trời lạnh thêm nhiều. Về phòng tôi đi cùng với một
nhà thầy. Cha Tân từ biệt tôi để đi dự khoá lễ buổi tối. Chúng tôi không vào mà
đứng tựa lan can ngoài hành lang nhìn xuống sân trường. Ngoài trời tối và gió.
Tiếng chuông nhà thờ chụp xuống.
"Anh vẫn còn học chứ?’’ Người bạn mới hỏi.
"Vâng.’’
"Anh có bị gọi động viên không?’’
"Chưa anh ạ.’’
Đứng lâu, ngoài những dãy lớp học đối diện thấp và căn nhà
làm phòng ăn, tôi nhận thêm được cây cột cờ ở giữa sân. Từ xa vọng lại những tiếng
nổ lớn. Tôi mời người bạn hút thuốc nhưng anh từ chối. Tôi châm lửa, ánh sáng bốc
lên một khoảng nhỏ đủ cho tôi nhìn khuôn mặt người đứng gần.
"Ở bên này không được yên phải không anh?’’
"Vâng, anh sẽ gặp những buổi họp lớp vắng tanh vì học
sinh phần đông ở các làng chung quanh, những dịp hành quân, họ không thể lên tỉnh
được.’’
"Nhưng tâm hồn thì bình yên.’’ Tôi nói.
Có lẽ người bạn hơi ngạc nhiên vì câu nói. Anh ta ngước trông
về phía nhà thờ. Những tiếng nổ gần thêm và rung động mạnh.
"Anh đi tìm sự bình yên của tâm hồn. Anh mất lòng tin rồi
hay sao?’’
Người bạn nhầm tôi là người Công giáo. Tôi không trả lời.
Chúng tôi chia tay vào phòng trong khi tiếng nổ liên tiếp dữ
dội hơn. Người bạn đứng lại ở cửa buồng nói:
"Đã có lần trường bị moóc-chê đấy!’’
Tôi mỉm cười, đốt tiếp điếu thuốc nữa. Tôi đọc sách đến
khuya, súng vẫn không ngớt.
Nửa tháng đi qua. Tôi làm việc ba giờ mỗi ngày về buổi sáng.
Buổi chiều là giờ soạn bài hoặc chấm bài hoặc đọc sách. Buổi tối là cái hành
lang sâu hút và nền trời đen thẫm. Ngoài cha Tân, người bạn độc nhất của tôi là
Nhiên - nhà thầy tôi quen hôm mới đến. Trường không nhận nữ sinh, tôi không
liên lạc với ngoài đường và rất ít xuống dưới ngoài hai bữa ăn, ngại phải đi
qua những phòng học trống. Mỗi buổi trưa ông già gác gõ cửa trao cho tôi tờ báo
hằng ngày.
Trưa nay tôi tỉnh giấc, nghe tiếng chân lạ đi ở ngoài và tiếng
nói vang chạy. Tiếng gõ cửa của ông già gác và ông mang lại cho tôi Đại. Chúng
tôi bắt tay nhau và Đại ngồi xuống ghế. Tôi hỏi ông già:
“Hôm nay chưa có báo hả ông?”
Ông già:
“Không thấy xe thường ngày đi qua, chắc xảy ra chuyện gì. Thầy
đợi tôi ra phố mua vậy.”
Ông già ra khuất, tôi hỏi Đại:
“Hà Nội không có gì lạ chứ?”
Đại lấy trong túi áo ra đưa cho tôi một xấp thư nói:
“Đây là thư của cậu. Tôi đã bị đuổi nhà và xuống ở nhà cậu được
mấy hôm nay. Không thấy cậu về ông Chính bảo tôi sang chơi thăm.”
Tôi cầm xấp thư, cả thảy năm cái: hai cái của Francoise, một
của Bình, một của Hoà, và một cái thư lạ. Tôi để cả vào túi áo hỏi:
“Ông Chính vẫn mạnh?”
Đại gật đầu. Tôi hỏi tiếp:
“Còn chuyện của cậu ra sao?”
“Dạo này bố ráp nhiều. Nhưng sang đây không bị khám xét gắt
gao lắm. Cũng dễ chịu đấy nhỉ?”
Đại đi dạo quanh quan sát căn buồng.
Tôi thay quần áo rồi bảo:
“Chúng ta xuống phố.”
Phố chỉ là một con đường chạy qua cửa trường nhà thờ nối trạm
kiểm soát đầu tỉnh và chợ. Chúng tôi sang bến xe vào một cái quán giữa sự nhộn
nhịp. Chúng tôi ngồi xuống ghế dài trước một cái bàn gỗ thấp có ống đũa, ngọn
đèn dầu, bình điếu thuốc lào. Hai người phu xe, một trẻ một già, bàn cãi về vụ
nổ mìn buổi sáng. Tôi nhìn ra ngoài bến. Từ một chiếc xe hàng sắp chạy một người
thanh niên nhảy xuống đi hấp tấp về phía chúng tôi ngồi gọi:
“Anh Tâm, anh Tâm.”
Hắn có khuôn mặt vuông và miệng rộng, áo len đỏ cũ và áo
Blouson ka ki. Hắn nắm lấy cánh tay tôi hỏi:
“Anh Tâm, anh còn nhớ tôi không? Long đây. Long lớp nhất trường
núi.”
Tôi ngồi dịch một khoảng ghế nói:
“Có tôi nhớ rồi. Anh ngồi xuống đây.” Tôi chỉ Đại, “anh Đại bạn
tôi.”
Long ngượng nghịu vì người thứ ba. Nhưng Long lại quên đi và
nói:
“Xe gần chạy thoáng thấy anh tôi nhớ ngay. Chúng tôi đã về
Đáp Cầu rồi. Tôi về với gia đình cô Mùi tôi. Hôm nào anh lên chơi. Anh làm gì
bên này?”
Tôi đáp:
“Tôi dạy học ở trường gần đây.”
“Hôm nào anh lên chơi. Nhà chúng tôi vẫn ở chỗ cũ.”
Tôi hỏi:
“Không bị phá huỷ hay sao?”
Long cười:
“Có chứ. Nhưng chúng tôi dựng tạm nhà trên nền cũ. Tan hoang
hết cả. Anh lên sẽ biết. Nhiều sự thay đổi lắm."
Long nháy mắt coi như sự thân mật đã tìm thấy giữa chúng tôi.
Tôi hỏi:
"Bây giờ anh đi đâu?"
"Tôi sang Hà Nội. Anh ở đâu hôm nào tôi đón anh đi cho
anh đỡ lạ."
Tôi cho Long biết chỗ ở của tôi và Long bắt tay từ biệt. Khi
Long Khuất, tôi nói với Đại:
“Bạn thân lắm thuở nhỏ. Ngày đi khỏi Đáp Cầu hắn gói kỷ niệm
cho mình ba mươi đồng xu chì và đồng.’’
Đại không nói chỉ mỉm cười. Hắn quàng cái khăn do Thanh mua.
Tôi bỗng nói:
“Tôi cần nhờ cậu một việc.’’
Tôi lấy giấy bút viết cho Thanh một cái thư ngắn trong ấy tôi
khuyên Thanh nên nhận lời lấy Chu. Tôi trao mảnh giấy cho Đại và bảo:
“Cậu đưa hộ tôi mảnh giấy này cho cô Thanh, địa chỉ tôi biên ở
trong ấy. Có thể cậu cho nó vào phong bì kín hộ.”
Đại cầm cất vào ví, xong rồi nói:
“Tôi định bàn với cậu là tôi ra ngoài.”
Tôi trả tiền người bán hàng và bảo Đại:
“Chúng ta ra ngoài kia.”
Trời không một ngọn cây. Những chiếc xe hàng thô lỗ quay đi
quay lại ngang lối đi. Được một quãng ngắn tôi hỏi:
“Bao giờ thì khởi hành?”
“Tôi đã bắt được liên lạc. Chỗ đến là Phú Thọ.”
"Nhưng cậu hẳn biết tôi không đồng ý kiến với cậu. Nhưng
tôi không thể phản đối cũng như khuyên cậu điều gì cả. Ở lại đây ư? Để làm gì mới
được? Bằng chứng là tôi cũng không giải quyết nổi cho tôi. Còn đi? Nhưng cũng để
làm gì mới được?’’
“Hẳn phải có việc để mà làm. Tất cả những người ở bên kia,
người ta không biết người ta đang làm gì hay sao?’’
Chúng tôi đi qua một miếng đất hoang.
“Tôi biết như thế: cậu sẽ đi. Cái chua xót là tất cả chúng ta
đều thành thật, thành thật đến cái độ có thể chết. Tôi cũng mong cậu làm được
điều gì ở đấy như tôi mong tôi sẽ làm được điều gì ở đây.”
Chúng tôi quay trở lại bến xe và đi qua miếng đất hoang. Đại
nói:
“Tôi không thể tưởng được cậu có thể tìm thấy lòng tin ở một
chỗ vô lý đến như thế. Tin rằng mình làm được cái gì ở đây, tôi nhất định không
thể được, đừng vì cá nhân mình.”
“Cậu vẫn còn nghĩ rằng chỉ vì cá nhân thôi ư? Có lẽ tôi hiểu
cậu hơn cậu hiểu tôi.”
Chúng tôi về đến bến xe. Một người đón mời chúng tôi. Đại bắt
tay tôi nói:
“Tôi về Hà Nội.”
Đại lên xe và tôi về trường, lên buồng riêng đọc thư.
Francoise cho tôi hay gia đình nàng đã lên Ba Lê. Nàng trách tôi lười viết,
khen tôi có nhiều nhận xét thú vị về chiến tranh. Nàng đã đi học và gặp nhiều bạn
sinh viên Việt Nam. Nàng đang ở trong thời gian dự bị vào Đảng Cộng sản. Nàng kể
những buổi sinh hoạt tiểu tổ, những buổi đi bán báo Humanité ở trước
cửa nhà thờ Thánh Tâm sáng chủ nhật – và nàng nói hôn tôi mỗi cuối thư.
Bình và Hoà đều ở Nam Việt. Bình ở Sài Gòn. Anh cho tôi biết
về tình hình chính trị ở thủ đô miền Nam. Anh bảo tôi có thể vào Sài Gòn với một
chỗ làm trong hãng anh chủ trương. Nếu cần tôi chỉ việc đánh điện tín, anh sẽ gửi
tiền vận chuyển ra cho tôi. Hoà ở Thủ Dầu Một. Anh dạy học tại nhà một chủ đồn
điền cao su người Pháp. Anh tả cảnh thành phố này, đời sống ở đồn điền và đời sống
của anh. Anh đang dự định viết một cuốn tiểu thuyết và anh gửi cho tôi một bài
thơ “nhớ Hà Nội”.
Còn một bức thư là của một học sinh cũ.
Bức thư gửi qua trường ở Hà Nội. Hắn hỏi thăm sức khoẻ tôi,
tình hình sinh hoạt của tôi và cuối cùng nhờ tôi giải quyết vấn đề sinh kế cho
hắn có thể tiếp tục sự học.
3.
Tôi về thăm nơi đã sống những năm mồ côi đầu tiên thuở nhỏ. Mẹ
tôi buôn bán xa và tôi ở với bà ngoại. Những đồng trinh để mua những bát bánh
đúc nóng, kê, xôi lúa, bánh khúc, quà sáng, đều do bà tôi chu cấp. Ở đây có những
nghĩa địa, ao chuôm, bến sông, đường lên núi, giếng nước, cánh đồng, kè đá… để
bắt dế câu cá, đi đồng, leo trèo, vùng vẫy.
Tôi bảo Long:
“Tôi nhìn những con đường hẹp hơn ngày trước.”
Long chỉ tay vào giải thích:
“Nhà cửa đổ xuống, không ai cất dọn. Cỏ hoang mọc lan tràn với
lại mắt mình lớn lên chứ.”
Chúng tôi theo một con đường mòn - trước kia là đường lớn -
ra phía bờ sông. Đi đến một nơi đường nhiều đá và rộng ra nhưng không có nhà cửa,
tôi hỏi bạn:
“Đây là phố Chi Ly chợ gạo?”
“Phải. Anh nhớ lâu nhỉ?”
“Dân Chi Ly ai mà không nhớ, du côn khét tiếng.”
Chúng tôi cất tiếng cười. Long hỏi:
“Còn nhớ những trận đánh nhau?”
Tôi gật đầu.
Bờ sông là khu đất nhà binh. Người ta biến nó thành sân bay
cho phi cơ quân sự. Bến sông không người tắm. Tôi hỏi:
“Không còn đường lên núi sao?”
Long kéo tay.
“Đi đường này.”
Chúng tôi bước trên những đống gạch vụn bên cạnh những mảnh
tường đổ dở, thấp cao. Qua một chỗ có những người kéo nước tôi hỏi:
“Xóm Giếng?”
“Đúng.”
Tôi nhìn xuống lòng giếng thật rộng nước vẫn trong trông được
những gạch sỏi. Qua một căn nhà, cổng gỗ thấp cánh mở cánh đóng, Long nói:
“Đây là nhà Phú, thầy Phú ngồi trong kia kìa. Nhớ Phú không?”
Tôi thấy một ông già che mắt bằng miếng vải đen đang hút thuốc
lào.
Chúng tôi ra khỏi con đường đổ nát đứng trên dốc. Long bảo:
“Không lên được chùa Núi.”
Một đồn binh đóng trên đỉnh núi. Gió thổi từ cao xuống. Dưới
chân dốc là nhà bà Mùi, bên cạnh là đống gạch vụn lớn. Cỏ rậm hai bờ dốc. Long
chỉ tay:
“Trường mình học quá trên kia.”
Theo tay trỏ, tôi thấy một lớp nhà vàng nhạt.
Long lại nói:
“Tôi đi lấy máy ảnh chụp mấy cái làm kỷ niệm.”
Chúng tôi xuống nhà bà Mùi. Bà mở cửa hàng bún riêu. Chị Mùi
con gái lớn goá chồng. Chị đang tình tiền trên cuốn sổ tay nhỏ. Thấy tôi chị
nói:
“Cậu Long đã đưa cậu Tâm đi hết chưa?”
Tôi nói:
“Chị bán hết nồi bún rồi chứ?”
Long dẫn tôi đi về phía sau, để sang nhà Long. Bà Mùi đang
lúi húi trong bếp quay lại bảo:
“Hai anh em chốc quay về đây ăn cơm nhé.”
Long đáp:
“Vâng.”
Long lấy máy ảnh và hai chúng tôi đi ra một căn nhà đổ. Tôi đứng
lên trên đống gạch vụn, sau lưng là bức tường còn những hàng khẩu hiệu tuyên
truyền từ năm mới nổi cách mạng. Chụp xong hai kiểu, Long hỏi tôi:
“Anh còn nhớ đây là nhà ai không?”
Tôi đáp:
“Không.”
“Nhà Hạnh đây. Hạnh hàng vàng mà ngày xưa chúng mình trêu để
nó về mách nhà cho ấy.”
Tôi kêu lên:
“A - Hạnh. Hạnh về đây chưa?”
Long cười xoà nói:
“Hạnh bây giờ buồn lắm. Gia đình sa sút và goá chồng. Hạnh đi
chợ đường Hà Nội. Anh gặp sẽ không nhận ra đâu. Bây giờ Hạnh không còn đẹp như
xưa. Hôm nào đám cưới tôi, anh sẽ gặp Hạnh.”
Trên đường về tôi nhắc lại kỷ niệm lúc chúng tôi còn đi học.
Về đến nhà, cơm đã dọn. Bà Mùi nấu món tôi ưa thích thuở bé: canh riêu. Chị Mùi
hái ở vườn những quả ớt tươi lớn, ăn chảy nước mắt.
Tôi không trở về Bắc Ninh và ngủ lại. Đĩa đèn dầu thắp lên,
chúng tôi ngồi quanh trên phản nhắc lại chuyện cũ giữa những gia đình chúng
tôi. Tôi ngủ với Long ở gian buồng ngày trước của gia đình tôi – gian buồng độc
nhất may mắn còn nguyên vẹn – Chúng tôi đắp chung chăn và tôi ngủ giấc say đến
sáng.
Những cái bàn dài nối liền dọc theo sân là chỗ tụ họp của đàn
ông. Đàn bà con gái ở trong bếp và trong buồng cưới: đó là một buồng nhỏ cạnh bếp.
Các cụ ngồi trên phản giữa nhà. Những người đàn ông nói chuyện, uống nước cam
chai và hút thuốc lào. Trong bếp người ta thái từng rổ thịt lợn luộc.
Thấy tôi đến chị Mùi vẫy tay vào buồng cưới có Long ở trong ấy.
Chị bảo:
“Cậu Tâm đi phù rể đấy nhé.”
Tôi từ chối:
“Không được quen biết lắm, đi không tiện.”
Long xen vào:
"Anh cứ đi không sao. Hạnh là phù dâu đấy."
Chị Mùi tiếp:
“Cậu đi rồi về đây tôi giới thiệu lại cho."
Một người đàn ông ngó vào buồng và gọi chị Mùi ra ngoài. Long
nói:
“Đấy là anh Hoà. Định hỏi chị Mùi, cũng ở Hà Nội sang.’’
Và Long chỉ những người ngồi ngoài sân hỏi:
“Anh còn nhớ được ai không?’’
Tôi lắc đầu. Long bảo:
“Bạn học cũ cả.’’
Bà Mùi gọi Long để dặn điều gì. Tôi ngồi lại một mình trong
buồng. Giường trải nệm có đôi gối thêu lớn màu hồng, màn trắng nhưng không mới.
Ở một góc là cái bà mộc có ấm nước khay tách và đĩa trầu.
Tôi đi xuống sân và chưa biết ngồi vào chỗ nào thì Hoà lại gần
hỏi chuyện. Chúng tôi theo ngã sau ra đồng. Thỉnh thoảng một giọt nước lớn bay
đập vào mặt. Không hiểu sao, Hoà lại khoe với tôi là hắn làm việc cho Phòng nhì
Pháp và có thế lực. Tôi cũng hỏi cho qua những công việc hắn làm.
Tuy thế khi đón dâu tôi cũng đi bên cạnh Hoà. Trước tôi, Long
đi giữa hai người cùng mặc bồ đồ xám gần giống nhau. Bộ của chú rể màu nâu. Đám
cưới đi chân trên đường chính của thị trấn Đáp Cầu, một bên đường cỏ hoang và
núi đóng đồn binh, một bên là nhà cửa đổ nát ít dấu hiệu của sự sống, ngoài những
đứa trẻ nghèo nàn chạy theo trông. Người ta rẽ vào một đống gạch vụn cao, vòng
ra sau lưng một bức tường chưa đổ hết, và bước vào gian nhà tối. chúng tôi phải
dừng lại ở ngưỡng cửa vì trong nhà đông người. Ánh sáng của nến chập chờn. Có
tiếng hỏi:
“Chú rể đâu?’’
Ở trên rẽ ra một lối để cho Long và hai người phù rể vào. Tôi
và Hoà còn lại ở ngoài. Tôi ra khỏi bức tường để đỡ cảm giác bịt bùng. Không
khí no hơi nước và nặng nề. Trước mắt tôi là núi. Mười lăm phút sau, đám cưới
trở về. Vẫn cụ già mặc áo thụng xanh cầm hương đi đầu. Rồi đến chúng tôi, chú rể
và những người phù rể. Hai họ đi liền và cuối cùng là cô dâu và những người phù
dâu. Ở nhà gái ra, mặt Long đỏ như vừa uống rượu.
Ở nhà cỗ bàn dọn sẵn sàng. Bà Mùi và người con gái lớn đại diện
cho bố mẹ Long chưa hồi cư mời khách ngồi vào mâm. Thứ bậc tuổi tác được định
rõ rệt. Cô dâu và các bạn vào buồng cưới đã được che ở cửa một tấm vải hoa.
Long bận mời các cụ cầm đũa ở trên nhà. Chị Mùi lại gần chỗ tôi và Hoà đứng hỏi
tôi:
“Cậu đã trông thấy mặt cô Hạnh chưa?’’
Tôi trả lời:
“Chưa.’’
Lúc ấy những người đàn ông yêu cầu cô dâu chú rể ra mừng rượu.
Một người nói to:
“Yêu cầu mời cả các cô phù dâu ngồi chung bàn.’’
Long nói:
“Phải từ từ mời được.”
“Mình chú rể nói không nghe. Phải có đôi, có tuyên bố lý do
đây mới ăn.”
Tất cả những người đàn ông ngồi quanh bàn kêu lên: Đồng ý. Và
họ cười ầm ỹ.
Chú rể đi vào buồng rồi quay lại trả lời:
“Xin phép cho cô dâu bị mệt.”
“Không được. Chưa uống rượu chưa mệt.”
Một người khác lên tiếng:
“Thôi nếu cô dâu mệt thì các cô phù dâu thay cũng được.”
Chú rể lại trở vào buồng rồi đi lên nhà trên. Chị Mùi nói:
“Tôi phải vào mời các cô ấy.”
Chị Mùi cầm tay một người con gái đi ra gặp tôi. Chị hỏi:
“Cậu nhớ ai không?”
“Cô Hạnh.”
Hạnh có vẻ ngạc nhiên. Chị Mùi nói:
“Cậu Tâm trước cùng học một trường với cô. Sau cậu ấy vào Sài
Gòn.”
Hạnh búi tóc và mặc áo tím. Trông Hạnh buồn và xanh. Tôi nói:
“Lâu quá cô không nhớ được nhỉ?”
Hạnh hơi mỉm cười nói khẽ:
“Cũng có nhớ.”
Chị Mùi vào bếp. Tôi định mời Hạnh ra sau nói chuyện thì Long
xuống. Long bảo:
“Đây là cô Hạnh, đây là anh Tâm. Cô nhớ không? Anh Tâm nghịch
có tiếng dạo ấy.”
Tôi cười trả lời:
"Dễ còn anh thì hiền lành lắm.’’
Long cười và bỏ đi. Một cô phù dâu đến gọi Hạnh:
“Chị ra ăn cỗ còn về chứ.’’
Hạnh chào tôi và tôi cũng về bàn.
Buổi chiều tôi đi bộ từ Đáp Cầu về trường vì không còn xe.
Tôi qua chợ Thị Cầu, sân đá bóng. Từ sân đá bóng về đầu tỉnh, đường lồi lõm,
cây cối trơ trụi. Ở đầu tỉnh một công an viên giữ tôi lại để xét giấy tờ và đưa
tôi về tận trường. Khoảng đó hơn bẩy giờ tối. Nhà trường vừa xong bữa cơm chiều.
Đại sang và để giấy lại trong đó nói Thanh cần gặp mặt tôi ở Hà Nội.
4.
Ông Chính vắng nhà như thường lệ. Đại đọc sách bên cốc nước
nóng, vẫn Crime et châtiment. Giá sách bày ra sự lục lọi, điều ấy tôi
không ưa. Đại đứng lên nói:
“Cậu đã về.”
Tôi hỏi một câu:
“Ông Chính không có nhà?”
Tôi cởi áo khoác ngoài xoa tay cho ấm và uống một cốc nước.
Tôi hỏi:
“Tại sao nhà lại có nước nóng giờ này?”
Đại mỉm cười:
“Cô Thịnh, con ông Chính mới về.”
Tôi ngạc nhiên bước lại xếp giá sách. Đại tiếp:
“Bây giờ cô ấy trông nom cơm nước.”
Tôi nhìn lại hai căn buồng nhỏ khít nhau, với hai cửa sổ, hai
bộ phản và một cái đi-văng làm bằng những cái thùng. Cái mắc áo tỏ sự ngăn nắp
của bàn tay đàn bà, tôi mang treo áo khoác lên đấy.
Một người đàn bà dưới bếp lên – đó là Thịnh - chị có tất cả
nét của người đã sống nhiều năm ở vùng kháng chiến. Chị chưa đến ba mươi, quấn
tóc và răng đen, mặc một cái áo cánh trắng và một cái áo len xanh màu mực.
Tôi nói:
“Chào chị.”
Đại thân mật:
“Đây là anh Tâm vửa ở Bắc Ninh về.”
Thịnh cười dễ dàng, tay cầm giá đi lại phía thùng dùng làm
đi-văng mở lấy gạo. Chị nói:
“Vừa may anh về tôi mới lấy gạo. Anh đi đường có nguy hiểm
không?”
Tôi im lặng không trả lời. Tôi muốn chị gọi tôi bằng chú hay
cậu.
Khi Thịnh xuống bếp, tôi hỏi Đại:
“Cô Thanh cần gặp tôi?”
Đại gấp cuốn sách và gật đầu. Rồi Đại nói:
“Tôi đã gặp cô Thanh. Cô ấy có bề ngoài hiền và ngoan” - Đại
ngừng một phút nhìn ra ngoài, tôi không trả lời. “Cô ấy có thể là người tốt, rất
tốt. Nhưng tại sao cô lại chọn nghề hát? Anh có nghe biết điều gì không?” – Tôi
vẫn không trả lời. “Cô bị nhiều điều tiếng, người ta đồn cô không đứng đắn.”
Tôi tháo bỏ cái ca-vát cho đỡ vướng cổ, tai tôi nóng bừng.
Tôi rót một cốc nước và muốn bỏ ra phố, xong tôi nói:
“Tôi cảm ơn cậu đã cho biết điều đó” – Tôi ngừng lại đến một
phút. “Nhưng tôi không hiểu cậu có những ý nghĩ gì về Thanh. Làm thế nào ở giữa
một xã hội hư hỏng như thế này, bị tước đoạt hết khí giới, bị ném vào vũng bùn?
Cậu thử nghĩ nếu tôi và cậu cũng là con gái, chúng ta sẽ làm gì?”
Tôi biết tôi sắp chảy nước mắt, tôi thường như thế mỗi khi bị
xúc phạm.
Đại im, tôi nói tiếp:
“Cậu sẽ bảo tôi cậu bỏ ra ngoài ấy. Bỏ ra ngoài cũng là một lối
đánh đĩ, đánh đĩ tinh thần mình. Tôi không muốn nghe, không muốn nghe một lời
nào. Lẽ ra cậu đừng nói với tôi mới phải.”
Đại giận lắm, hắn lắp bắp:
“Không, tôi định…”
Tôi lấy cái áo choàng trên mắc xuống và ra phố. Tôi lang
thang đến chiều tối mới đến nhà Thanh. Minh đang thổi cơm bằng bếp cồn ngay
trong buồng. Cái cặp tóc của Minh làm tôi dịu hẳn. Sau lưng tôi là gian phòng tối
ngăn bằng những miếng vải, ngoài nữa là một cửa hàng da có tiếng máy may chạy.
Minh quay lai reo mừng:
“Ô kìa anh Tâm. Lâu lắm anh mới gặp anh.”
Minh treo cho tôi cái áo vào thành ghế và bắt tôi uống nước
cho ấm người và bảo:
“Anh đi dạy học xa phải không? Sao anh ít về Hà Nội thế? Hôm
nay anh phải ở đây ăn cơm với em và chị Thanh…”
Tôi ngắt lời:
“Cô không để tôi hỏi cô điều gì cả?”
Minh đứng ngay ngắn:
“Xin tuân lệnh.”
Tôi vỗ vai Minh chỉ xuống ghế nói:
“Minh ngồi xuống. Chị Thanh không có nhà?”
“Thưa anh không?”
“Chị đi đâu?”
“Chị em hát ở đài.”
“Cô học hành có tấn tới không?”
“Rất tấn tới nhưng vẫn dốt món anh dạy.”
Minh đứng lên mở nắp soong, khói bồng lên ấm áp. Ghế cơm
xong, Minh nói:
“Anh có nghe chị Thanh hát không?”
Minh mở máy thu thanh và với giọng nhỏ nhẻ:
“Chị Thanh hát hay nhưng em lại không thích nghe. Anh biết tại
sao không?” – Tôi gật đầu. “Em muốn thôi học và chị ấy thôi hát, nhưng chị
không bằng lòng.”
Làn sóng điện rõ dần và Thanh đang hát bài Trở về mái
nhà xưa. Minh ngồi xuống, tôi đốt thuốc lá. Minh bỗng hỏi:
“Anh Đại là bạn thân của anh?”
Tôi đáp:
“Phải. Thì sao?”
Minh nói rất rõ ràng:
“Em không ưa anh ấy. em không ưa cái bộ mặt nghiêm trọng, cái
cử chỉ làm cao thượng, cái giọng nói làm người trên… Anh ấy hay đến đây nói
chuyện với chị Thanh, rủ em với chị Thanh đi phố nhưng em không thích đi cùng với
anh ấy” – Minh tắt máy thu thanh. “Có phải thế không anh?”
Tôi im lặng hít một hơi dài thuốc lá rồi bảo:
“Em xem cơm coi chừng khê thì đen anh lắm.”
Tám giờ kém mười lăm Thanh về. Nàng phủi những giọt mưa trên
vai áo và nói:
“Thiêng thật, đang hát mà em cảm ngay là ở nhà có khách. Em rẽ
vào Hàng Mành mua chả cốm đây nhé.”
Minh dọn cơm bảo chị:
“Ban nãy em có mở cho anh Tâm nghe chị hát.”
Không khí gia đình ấm cúng suốt bữa cơm. Thanh đặt cái bếp cồn
cạnh chỗ ngồi của nàng đun nước sôi pha cà phê. Tôi hỏi:
“Nhà ai uống cà phê mà có?”
Thanh đáp:
“Không, ăn cơm xong Minh sẽ đi mua cà phê chứ. Anh đỡ phải ra
ngoài mưa lạnh.”
Tôi nhìn vào mắt Thanh. Chúng tôi nhắc đến những người thân
đã khuất. Đã từ lâu chúng tôi mới họp mặt nhau. Minh ra phố mua cà phê. Thanh
pha ấm nước sôi vào bình trà và đặt ấm nước thứ hai lên bếp đợi cà phê, tôi đốt
điếu thuốc lá thứ ba.
Thanh nói sau khi bơm cho ngọn lửa đều:
“Có phải anh khuyên em nên nhận lời không?”
Tôi gõ tàn thuốc không trả lời cũng không biểu lộ cử chỉ nào
khác. Mãi thấy Thanh không nói gì tôi mới hỏi:
“Sao?”
Thanh không ngước nói rất khẽ:
“Từ hôm đấy không thấy cô Nghĩa nhắc lại chuyện nữa. Chu có đến
đây gặp em một lần.”
Thanh trầm ngâm. Thanh tìm cuốn len đan dở và xỏ lại những
múi tuột. Nàng bắt đầu làm việc, tôi nói:
“Ngay hôm cô hỏi ý kiến tôi đã cảm giác là chuyện ấy khó
thành, hôm nay tôi có thể nói thẳng như thế.”
Thanh ngừng mũi kim ngẩng lên hỏi:
“Tại sao vậy anh?”
“Tại vì… Tôi khó nói quá.”
“Em không xứng đáng chứ gì?” Thanh nói thẳng giọng chắc nịch.
Tôi thấy tròng mắt nàng rưng rưng.
“Không, không phải thế. Tôi cho rằng những người như Chu
không có quyền phán đoán chúng ta. Chu có dám sống như cô bao giờ đâu để mà dám
phán đoán cô. Những người như thế…”
“Nhưng đôi khi… đôi khi chính mình cũng nhận thấy rằng…”
“Mình nhận thấy, phải. Mình là tội phạm và chỉ mình đủ tư
cách là quan tòa xét xử mà thôi. Ngoài ra không ai được quyền cả, kẻ nào đã dám
sống cái thân phận một người con gái không được che chở - mà phải che chở cho
người khác – trong một hoàn cảnh xã hội như thế này. Những đứa con gái là lượt
tưởng là đoan chính kia đáng lẽ cô có quyền khinh vào mặt họ, nhưng không, đừng
để ý đến họ, coi như họ không có mặt giữa chúng ta… giữa cái xã hội đáng tởm
này…”
Thanh ngồi lặng người, đầu cúi xuống.
Tôi châm một điếu thuốc khác.
Trấn tĩnh xong, Thanh hỏi:
“Còn Đại?”
Tôi im khá lâu:
"Hắn định bỏ ra ngoài."
Minh mua cà phê về, tự tay Thanh pha cho tôi. Tôi uống cà phê
và nói chuyện với Minh. Thanh làm việc và lắng nghe. Mười giờ tôi từ giã hai chị
em Thanh.
Tôi không về nhà mà thuê xe xuống nhà Bảo dưới Hàng Bột, gần
Ô chợ Dừa.
Chiếc xích lô nhịp nhàng ra ngoại ô.
Đường vắng và bóng. Mọi căn nhà đã ngủ, trừ dãy nhà điếm quét
vôi hồng mắc đèn đỏ chăng dây thép gai trên đầu tường. Những bóng người ra vào ở
đây lẩn lút câm nín.
Xe dừng bên đuờng tàu điện. Tôi bước qua đường sắt vào ngõ.
Nhà Bảo cũng không còn tiếng nói, ánh dèn dần hiu hắt trên bàn.
Tôi gõ cửa và nghe tiếng vợ Bảo.
“Ai đấy?”
Tôi chậm rãi trả lời:
“Tôi.”
Trong khi người đàn bà lệt xệt guốc trên nền đất ra phía cửa.
“Anh Tâm đi khuya thế?”
Tôi mang cả luồng gió vào gian nhà. Bảo đã vặn to ngọn đèn ở
trên bàn. Tôi nói với Bảo:
“Hôm nay tôi xuống ngủ với anh.”
Bảo tươi cười hỏi:
“Anh mới về?”
Vợ Bảo thu xếp những hộp gỗ đựng hàng cho gọn cái phản lớn
làm nơi ngủ của tôi và Bảo. Gia đình Bảo bán những thứ hàng vặt vãnh cần dùng
cho mọi người trong xóm: gạo, nước mắm, củi, xà phòng… Chị Bảo giăng màn xong
nói với chồng:
“Anh mời anh Tâm nằm nghỉ không mệt.”
Chị trở về chỗ nằm cũ. Chúng tôi vào màn.
Tôi thao thức rất lâu và cựa mình luôn
Gió trên mái nhà và sau nhà. Gần đấy một con chó thỉnh thoảng
lại tru lên những tiếng kinh hãi. Chuột rúc trong có nhà. Có lẽ vợ Bảo đã ngủ
yên, ôm con trong lòng, thằng bé chép miệng luôn.
Bảo chợt quay sang phía tôi hỏi:
“Tâm vẫn còn thức đấy hả?”
Tôi nói nhỏ:
“Làm sao?”
Bảo thì thầm:
“Thằng Ngọc xuống Hải Phòng rồi. Nó vừa viết thư cho tôi.”
“Thế à? Lâu lắm tôi không được gặp nó, dễ thường đến gần một
năm.”
“Nó làm gì anh có biết không ? Phu khuân vác bến Sáu Kho.”
“Phu khuân vác?”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét